Bản dịch
MIL 5.2.4 — CÂU HỎI VỀ SỰ THOÁT KHỎI CÁI BẪY CỦA THẦN CHẾT
4. Maccupāsamuttipañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘Không phải ở bầu trời, không phải ở giữa biển khơi, không phải đã đi vào khe của những ngọn núi mà Tử Thần không thể áp đảo người đứng ở nơi ấy, vì khu vực ấy ở trên trái đất không được tìm thấy.’
Và thêm nữa, các chú thuật hộ trì đã được đức Thế Tôn chỉ ra như là: ‘Ratanasutta, Khandhaparitta, Moraparitta, Dhajagga-paritta, Āṭānāṭiyaparitta, Aṅgulimālaparitta.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu cho dầu đi đến không trung, cho dầu đi đến giữa biển khơi, cho dầu đi đến tòa lâu đài, chòi, hang, động, sườn núi, hốc kẹt, khe núi, bên trong tảng đá mà cũng không được thoát khỏi gông cùm của Thần Chết, như thế thì công việc chú thuật hộ trì là sai trái. Nếu do công việc chú thuật hộ trì mà có sự thoát khỏi gông cùm của Thần Chết, như thế thì lời nói rằng: ‘Không phải ở bầu trời,không được tìm thấy’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, bị thắt lại còn hơn nút thắt, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘Không phải ở bầu trời, không phải ở giữa biển khơi, không phải đã đi vào khe của những ngọn núi mà Tử Thần không thể áp đảo người đứng ở nơi ấy, vì khu vực ấy ở trên trái đất không được tìm thấy.’
Và các bài Kinh hộ trì đã được đức Thế Tôn chỉ ra. Tuy nhiên, điều ấy là dành cho người có tuổi thọ vẫn còn, đã đạt đến tuổi trưởng thành, sự ngăn cản của nghiệp đã được trừ khử, tâu đại vương nhưng không có việc áp dụng hay sự nỗ lực để duy trì đối với người có tuổi thọ đã cạn kiệt. Tâu đại vương, giống như đối với cây đã chết, khô héo, ráo nhựa, hết tươi tắn, sức sống đã bị ngưng lại, sự tạo tác của tuổi thọ đã qua, trong khi rưới nước dầu là một ngàn chậu cũng không thể trở nên tươi tắn hoặc có trạng thái đâm chồi mọc lá xanh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế không có việc áp dụng hay sự nỗ lực để duy trì đối với người có tuổi thọ đã cạn kiệt bằng thuốc men và việc làm chú thuật hộ trì. Tâu đại vương, những thuốc men chữa bệnh ở trên trái đất thì cũng không làm được phận sự gì đối với người có tuổi thọ đã cạn kiệt. Tâu đại vương, chú thuật hộ trì bảo vệ, gìn giữ người có tuổi thọ vẫn còn, đã đạt đến tuổi trưởng thành, sự ngăn cản của nghiệp đã được trừ khử. Vì sự lợi ích ấy mà các chú thuật hộ trì đã được đức Thế Tôn chỉ ra.
Tâu đại vương, giống như người nông dân có thể ngăn cản việc dẫn nước vào khi lúa đã chín đều, cọng lúa đã khô. Trái lại, khi cây lúa còn non, tương tợ như đám mây, đã đạt đến lúc trưởng thành, thì nó phát triển nhờ vào sự cung cấp nước. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với người có tuổi thọ đã cạn kiệt, các việc áp dụng thuốc men và chú thuật hộ trì bị đình chỉ, bị chối bỏ. Trái lại, những người có tuổi thọ vẫn còn, đã đạt đến tuổi trưởng thành, vì lợi ích cho những người ấy chú thuật hộ trì và thuốc men được đề cập đến. Những người ấy lớn mạnh nhờ vào chú thuật hộ trì và thuốc men.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, nếu người có tuổi thọ đã cạn kiệt thì chết, người có tuổi thọ vẫn còn thì sống, như thế thì chú thuật hộ trì và thuốc men là không có lợi ích.”
“Tâu đại vương, có phải ngài đã được nhìn thấy trước đây một loại bệnh nào đó được đẩy lùi bởi các loại thuốc men?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Đã được nhìn thấy hàng trăm.”
“Tâu đại vương, như thế thì lời nói rằng: ‘Việc áp dụng chú thuật hộ trì và thuốc men không có lợi ích’ là sai trái.”
“Thưa ngài Nāgasena, các sự nỗ lực của các thầy thuốc gồm có thuốc men, thức uống, cao bôi được nhìn thấy, nhờ sự nỗ lực ấy của các thầy thuốc mà căn bệnh được đẩy lùi.”
“Tâu đại vương, trong khi những người đang tụng đọc các chú thuật hộ trì thì tiếng của họ được nghe, lưỡi bị khô, tim đập mạnh, cổ họng bị khan tiếng. Nhờ vào sự vận hành ấy của các chú thuật hộ trì mà tất cả các bệnh tật được tiêu trừ, tất cả các sự rủi ro qua đi. Tâu đại vương, phải chăng đại vương đã được nhìn thấy trước đây người nào đó bị rắn cắn đang tẩy trừ nọc độc, đang làm tiêu tan nọc độc, đang rửa sạch bên trên bên dưới nhờ vào câu chú thuật?”
BJT 4“Thưa ngài, đúng vậy. Thậm chí vào lúc này hôm nay điều ấy vẫn tồn tại ở thế gian.”
“Tâu đại vương, như thế thì lời nói rằng: ‘Việc áp dụng chú thuật hộ trì và thuốc men không có lợi ích’ là sai trái. Tâu đại vương, bởi vì người có chú thuật hộ trì đã được thực hiện thì con rắn, có ý định cắn, vẫn không cắn và ngậm lại cái miệng đã há ra. Thậm chí cây côn của các kẻ trộm dầu đã được nâng lên cũng không có tác dụng; chúng buông rơi cây côn và thể hiện sự trìu mến. Ngay cả con long tượng bị lên cơn giận dữ đang lao đến cũng dịu lại. Khối lửa lớn đã phát cháy đang tiến gần cũng bị tắt ngấm. Thậm chí chất độc dữ tợn đã được ăn vào tự biến thành thuốc giải độc hoặc là phát tán theo dạng thức ăn. Những kẻ giết người có ý định giết chết sau khi đến gần thì trở nên trạng thái của người nô lệ. Ngay cả bẫy sập đã được bước lên cũng không hoạt động. Tâu đại vương, hơn nữa đại vương đã được nghe trước đây về con chim công có chú thuật hộ trì đã được thực hiện khiến người thợ săn trong bảy trăm năm đã không thể dụ đến gần bẫy sập. Khi chú thuật hộ trì không được thực hiện thì chính vào ngày ấy người thợ săn đã dụ được nó vào bẫy sập.”
“Thưa ngài, có được nghe. Tiếng đồn ấy đã được loan truyền ở thế gian có cả chư Thiên.”
BJT 5“Tâu đại vương, như thế thì lời nói rằng: ‘Việc áp dụng chú thuật hộ trì và thuốc men không có lợi ích’ là sai trái. Tâu đại vương, hơn nữa đại vương đã được nghe trước đây về người khổng lồ, trong khi gìn giữ người vợ, liền cho vào vỏ bọc, nuốt vào, và mang theo ở trong bụng. Khi ấy, có người thầy pháp đã đi vào miệng của người khổng lồ ấy và vui thú với người vợ. Đến khi người khổng lồ ấy biết được thì ói ra cái bọc rồi mở nó ra. Khi cái bọc được mở ra thì người thầy pháp đã thoát thân theo như ý muốn.”
“Thưa ngài, có được nghe. Tiếng đồn ấy cũng đã được loan truyền ở thế gian có cả chư Thiên.”
“Tâu đại vương, không lẽ người thầy pháp ấy được thoát khỏi sự bắt giữ nhờ vào năng lực của chú thuật hộ trì?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, như thế thì có năng lực của chú thuật hộ trì.”
BJT 6Tâu đại vương, hơn nữa phải chăng đại vương đã được nghe trước đây về một người thầy pháp khác gian díu với hoàng hậu ở nội cung của đức vua xứ Bārāṇasī, trong khi đang bị bắt giữ thì trong phút chốc đã trở nên không còn nhìn thấy nhờ vào năng lực của chú thuật?”
“Thưa ngài, có được nghe.”
“Tâu đại vương, không lẽ người thầy pháp ấy được thoát khỏi sự bắt giữ nhờ vào năng lực của chú thuật hộ trì?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, như thế thì có năng lực của chú thuật hộ trì.”
“Thưa ngài Nāgasena, có phải chú thuật hộ trì bảo vệ cho tất cả?”
“Tâu đại vương, bảo vệ một số người, không bảo vệ một số người.”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì chú thuật hộ trì là không có lợi ích cho tất cả.”
“Tâu đại vương, phải chăng vật thực bảo vệ mạng sống cho tất cả?”
“Thưa ngài, bảo vệ một số người, không bảo vệ một số người.”
“Vì lý do gì?”
“Thưa ngài, khi một số người ăn vào quá nhiều chính vật thực ấy thì bị chết vì bệnh ói mửa.”
“Tâu đại vương, như thế thì vật thực không bảo vệ mạng sống cho tất cả.”
“Thưa ngài Nāgasena, vật thực tước đoạt mạng sống vì hai lý do: Do đã ăn quá nhiều hoặc do năng lực yếu kém của lửa (tiêu hóa). Thưa ngài Nāgasena, vật thực là vật ban cho tuổi thọ, do việc sử dụng sai trái mà tước đoạt mạng sống.”
BJT 7“Tâu đại vương, tương tợ y như thế, chú thuật hộ trì bảo vệ một số người, không bảo vệ một số người. Tâu đại vương, chú thuật hộ trì không bảo vệ vì ba lý do: Do sự ngăn cản của nghiệp, do sự ngăn cản của phiền não, do sự không có niềm tin. Tâu đại vương, chú thuật hộ trì là sự bảo tồn chúng sanh, nhưng buông bỏ sự bảo vệ do việc đã làm của bản thân. Tâu đại vương, giống như người mẹ nuôi dưỡng đứa con đã nhập thai, rồi sanh ra với sự chăm sóc tốt đẹp. Sau khi sanh ra, còn tẩy uế vật dơ, chất bẩn, và nước nhầy, rồi thoa hương thơm quý giá hạng nhất. Vào thời gian sau, khi những người con trai của những kẻ khác đang mắng chửi hoặc đánh (nó), nó đánh lại chúng. Những người ấy nổi giận với nó rồi lôi đến nơi tập thể, và nắm lấy nó đưa đến các vị chủ quản. Nếu người con trai của bà ấy là phạm tội, vượt qua luật lệ, thì đám người (ấy), trong khi lôi kéo nó đến các vị chủ quản, quất roi, đánh đập nó bằng gậy gộc, đùi cui, đầu gối, nắm tay. Tâu đại vương, đối với việc lôi đi, kéo lê, bắt giữ để thực hiện việc đưa đến gặp các vị chủ quản, phải chăng người mẹ của nó gánh chịu?”
BJT 8“Thưa ngài, không đúng.”
“Vì lý do gì?”
“Thưa ngài, vì sự phạm tội của bản thân (người con trai).”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế, sự bảo vệ các chúng sanh trở nên vô hiệu vì sự phạm tội của bản thân.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Câu hỏi đã khéo được giải quyết, bụi rậm đã được làm không còn bụi rậm, bóng tối đã được làm thành ánh sáng, mạng lưới tà kiến đã bị tháo rời, ngài đã tiến đến vị thế cao quý và ưu tú trong số các vị có đồ chúng.”
Câu hỏi về sự thoát khỏi cái bẫy của Thần Chết là thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘‘Na antalikkhe na samuddamajjhe, na pabbatānaṃ vivaraṃ pavissa;
Na vijjatī so jagatippadeso, yatthaṭṭhito mucceyya maccupāsā’ti.
“‘Not in the sky, not in the middle of the sea, nor by entering a cleft of the mountains, is there found that place on earth where, having stood, one might be freed from the snare of death.’”
“‘Dù ở giữa không trung, dù ở giữa biển cả, dù vào trong hang núi, cũng không thoát khỏi vòng vây của thần chết. Không có một nơi nào trên thế gian này, mà người đứng ở đó có thể thoát khỏi vòng vây của thần chết.’”
‘‘Puna bhagavatā parittā ca uddiṭṭhā. Seyyathidaṃ, ratanasuttaṃ mettasuttaṃ khandhaparittaṃ moraparittaṃ dhajaggaparittaṃ āṭānāṭiyaparittaṃ aṅgulimālaparittaṃ. Yadi, bhante nāgasena, ākāsagatopi samuddamajjhagatopi pāsādakuṭileṇaguhāpabbhāradaribilagiri vivarapabbatantaragatopi na muccati maccupāsā, tena hi parittakammaṃ micchā. Yadi parittakaraṇena maccupāsā parimutti bhavati, tena hi ‘na antalikkhe…pe… maccupāsā’ti tampi vacanaṃ micchā. Ayampi ubhato koṭiko pañho gaṇṭhitopi gaṇṭhitaro tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo’’ti.
“Furthermore, protective chants were also taught by the Blessed One, namely: the Ratana Sutta, Mettā Sutta, Khandha Paritta, Mora Paritta, Dhajagga Paritta, Āṭānāṭiya Paritta, and Aṅgulimāla Paritta. If, Venerable Nāgasena, one is not freed from the snare of death even when one has gone into the sky, into the middle of the sea, or into a palace, a hut, a cavern, a cave, a mountain cleft, a fissure, a hole, a chasm, or between mountains, then the practice of protective chanting is in vain. If by the practice of protective chanting there is liberation from the snare of death, then that statement, ‘Not in the sky… one might be freed from the snare of death,’ is also false. This two-horned question, more knotted than a knot, has come to you; it must be resolved by you.”
“Lại nữa, đức Thế Tôn cũng đã chỉ dạy các bài kinh hộ trì. Đó là: kinh Bảo Tạng, kinh Từ Bi, kinh hộ trì về Uẩn, kinh hộ trì về chim công, kinh hộ trì về ngọn cờ, kinh hộ trì A-đà-na-đê-da, kinh hộ trì của ngài Ương-quật-ma-la. Thưa ngài Na-tiên, nếu người ở trên không, người ở giữa biển, người ở trong lâu đài, nhà cửa, hang động, hang núi, khe núi, hố sâu, hang hốc, kẽ núi cũng không thoát khỏi vòng dây của thần chết, như thế thì việc thực hành hộ trì là sai lầm. Nếu nhờ việc thực hành hộ trì mà được giải thoát khỏi vòng dây của thần chết, như thế thì lời nói rằng: ‘Dù ở trên không... cũng không thoát khỏi vòng dây của thần chết’ cũng là sai lầm. Vấn đề nan giải có hai vế này, đã rắc rối lại càng rắc rối hơn, đã đến với ngài, ngài phải giải quyết nó.”
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā ‘na antalikkhe…pe… maccupāsā’ti, parittā ca bhagavatā uddiṭṭhā, tañca pana sāvasesāyukassa vayasampannassa apetakammāvaraṇassa, natthi, mahārāja, khīṇāyukassa ṭhitiyā kiriyā vā upakkamo vā.
“Great king, it was stated by the Blessed One, ‘Not in the sky… one might be freed from the snare of death,’ and protective chants were also taught by the Blessed One. However, that protective chant is for one who has a remaining life-span, who has reached a mature age, and who is free from karmic obstructions. For one whose life-span is exhausted, great king, there is no action or effort for prolonging their existence.”
“Tâu đại vương, đức Thế Tôn đã nói lời này: ‘Dù ở trên không... cũng không thoát khỏi vòng dây của thần chết,’ và đức Thế Tôn cũng đã chỉ dạy các bài kinh hộ trì. Tuy nhiên, điều đó chỉ dành cho người còn thọ mạng, đang trong tuổi sung mãn, và không bị nghiệp chướng ngăn che. Tâu đại vương, đối với người đã hết tuổi thọ, không có hành động hay nỗ lực nào có thể duy trì sự sống được.”
‘‘Yathā mahārāja matassa rukkhassa sukkhassa koḷāpassa nisnehassa uparuddhajīvitassa gatāyusaṅkhārassa kumbhasahassenapi udake ākirante allattaṃ vā pallavitaharitabhāvo vā na bhaveyya. Evameva kho, mahārāja, bhesajjaparittakammena natthi khīṇāyukassa ṭhitiyā kiriyā vā upakkamo vā, yāni tāni, mahārāja, mahiyā osadhāni bhesajjāni, tānipi khīṇāyukassa akiccakarāni bhavanti. Sāvasesāyukaṃ, mahārāja, vayasampannaṃ apetakammāvaraṇaṃ parittaṃ rakkhati gopeti, tassatthāya bhagavatā parittā uddiṭṭhā.
Just as, Your Majesty, for a tree that is dead—dry, hollow, sapless, its life obstructed, its life-sustaining formations gone—moisture or the state of sprouting and greenness would not arise, even if it were sprinkled with a thousand pots of water. In the same way, Your Majesty, for one whose lifespan is exhausted, there is no action or effort by means of medicine or protective chants that can ensure their continuation. Whatever medicinal herbs and remedies exist on earth, Your Majesty, they are also ineffective for one whose lifespan is exhausted. A protective chant, Your Majesty, guards and protects one who has a remaining lifespan, is endowed with youth, and is free from karmic obstruction. For their benefit, the Blessed One has pointed out these protective chants.
“Tâu đại vương, ví như một cái cây đã chết, khô héo, rỗng ruột, không còn nhựa sống, sự sống đã bị đình chỉ, các hành về tuổi thọ đã qua đi, dù có tưới lên ngàn vò nước cũng không thể ẩm ướt hay đâm chồi nảy lộc xanh tươi được. Cũng vậy, tâu đại vương, bằng thuốc men và việc hộ trì, không có hành động hay nỗ lực nào có thể duy trì sự sống cho người đã hết tuổi thọ. Tâu đại vương, những loại thảo dược và thuốc men trên mặt đất cũng trở nên vô hiệu đối với người đã hết tuổi thọ. Tâu đại vương, kinh hộ trì bảo vệ, che chở cho người còn thọ mạng, đang trong tuổi sung mãn, và không bị nghiệp chướng ngăn che. Vì lợi ích của người ấy mà đức Thế Tôn đã chỉ dạy các bài kinh hộ trì.”
‘‘Yathā, mahārāja, kassako paripakke dhaññe mate sassanāḷe udakappavesanaṃ vāreyya, yaṃ pana sassaṃ taruṇaṃ meghasannibhaṃ vayasampannaṃ, taṃ udakavaḍḍhiyā vaḍḍhati. Evameva kho, mahārāja, khīṇāyukassa bhesajjaparittakiriyā ṭhapitā paṭikkhittā, ye pana te manussā sāvasesāyukā vayasampannā, tesaṃ atthāya parittabhesajjāni bhaṇitāni, te parittabhesajjehi vaḍḍhantī’’ti.
Just as, Your Majesty, a farmer would prevent water from entering a field when the grain is ripe and the stalks are dead, whereas the crop that is young, dark as a rain-cloud, and in its prime, grows with an abundance of water. In the same way, Your Majesty, for one whose lifespan is exhausted, the practice of medicine and protective chants is set aside and rejected. But for those humans who have a remaining lifespan and are in their prime, the medicines of protective chants are taught for their benefit; they flourish by means of these protective medicines.
“Tâu đại vương, ví như người nông dân, khi lúa đã chín và thân lúa đã chết, sẽ ngăn không cho nước vào ruộng. Nhưng đối với cây mạ non, xanh như mây, đang trong thời kỳ phát triển, nó sẽ lớn lên nhờ được tưới thêm nước. Cũng vậy, tâu đại vương, đối với người đã hết tuổi thọ, việc dùng thuốc và tụng kinh hộ trì bị gạt bỏ, bị từ chối. Còn những người nào còn thọ mạng, đang trong tuổi sung mãn, thì các pháp hộ trì và thuốc men được giảng dạy vì lợi ích của họ. Họ được tăng trưởng nhờ các pháp hộ trì và thuốc men ấy.”
‘‘Yadi, bhante nāgasena, khīṇāyuko marati, sāvasesāyuko jīvati, tena hi parittabhesajjāni niratthakāni hontī’’ti? ‘‘Diṭṭhapubbo pana tayā, mahārāja, koci rogo bhesajjehi paṭinivattito’’ti? ‘‘Āma, bhante, anekasatāni diṭṭhānī’’ti. ‘‘Tena hi, mahārāja, ‘parittabhesajjakiriyā niratthakā’ti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā bhavatī’’ti.
“Venerable Nāgasena, if one whose lifespan is exhausted dies, and one with a remaining lifespan lives, then are the medicines of protective chants useless?” “Have you ever seen, Your Majesty, any disease turned back by medicines?” “Yes, venerable sir, I have seen hundreds.” “In that case, Your Majesty, the statement, ‘The practice of protective medicine is useless,’ is false.”
“Thưa ngài Na-tiên, nếu người hết tuổi thọ thì chết, người còn tuổi thọ thì sống, như thế thì các pháp hộ trì và thuốc men là vô ích phải không?” – “Tâu đại vương, ngài đã từng thấy bệnh tật nào được đẩy lui nhờ thuốc men chưa?” – “Thưa ngài, vâng, con đã thấy hàng trăm trường hợp.” – “Tâu đại vương, như thế thì lời nói rằng ‘việc thực hành hộ trì và dùng thuốc là vô ích’ là sai lầm.”
‘‘Dissanti, bhante nāgasena, vejjānaṃ upakkamā bhesajjapānānulepā, tena tesaṃ upakkamena rogo paṭinivattatī’’ti. ‘‘Parittānampi, mahārāja, pavattīyamānānaṃ saddo suyyati, jivhā sukkhati, hadayaṃ byāvaṭṭati, kaṇṭho āturati. Tena tesaṃ pavattena sabbe byādhayo vūpasamanti, sabbā ītiyo apagacchantīti.
“Venerable Nāgasena, the efforts of physicians are seen—the drinking of medicines and the application of ointments—and through their efforts, disease is turned back.” “When protective chants are being recited, Your Majesty, their sound is heard, the tongue dries up, the heart flutters, the throat becomes sore. Through their recitation, all diseases are pacified, and all calamities depart.”
“Thưa ngài Na-tiên, người ta thấy rõ những nỗ lực của thầy thuốc, như việc uống thuốc và thoa thuốc. Nhờ những nỗ lực đó của họ mà bệnh tật được đẩy lui.” – “Tâu đại vương, khi các bài kinh hộ trì được trì tụng, người ta cũng nghe thấy âm thanh, lưỡi bị khô, tim đập mạnh, cổ họng đau rát. Nhờ sự trì tụng đó của họ mà tất cả bệnh tật được lắng dịu, tất cả tai ương đều biến mất.”
‘‘Diṭṭhapubbo pana tayā, mahārāja, koci ahinā daṭṭho mantapadena visaṃ pātīyamāno visaṃ cikkhassanto uddhamadho ācamayamāno’’ti? ‘‘Āma, bhante, ajjetarahipi taṃ loke vattatī’’ti. ‘‘Tena hi, mahārāja, ‘parittabhesajjakiriyā niratthakā’ti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā bhavati. Kataparittañhi, mahārāja, purisaṃ ḍaṃsitukāmo ahi na ḍaṃsati, vivaṭaṃ mukhaṃ pidahati, corānaṃ ukkhittalaguḷampi na sambhavati, te laguḷaṃ muñcitvā pemaṃ karonti, kupitopi hatthināgo samāgantvā uparamati, pajjalitamahāaggikkhandhopi upagantvā nibbāyati, visaṃ halāhalampi khāyitaṃ agadaṃ sampajjati, āhāratthaṃ vā pharati, vadhakā hantukāmā upagantvā dāsabhūtā sampajjanti, akkantopi pāso na saṃvarati †.
“Have you ever seen, Your Majesty, someone bitten by a snake being treated with a mantra, causing the poison to be expelled, making them vomit and purge?” “Yes, venerable sir, even today this is practiced in the world.” “In that case, Your Majesty, the statement, ‘The practice of protective medicine is useless,’ is false. For indeed, Your Majesty, a snake wishing to bite a person for whom a protective chant has been made does not bite; it closes its open mouth. For thieves, even a raised club is of no avail; they release the club and show affection. Even an enraged bull elephant, having approached, stops. Even a great, blazing mass of fire, having come near, is extinguished. Even deadly halāhala poison, when ingested, becomes an antidote or serves as nourishment. Assassins, intending to kill, approach and become as servants. Even a snare that is stepped upon does not bind.”
“Tâu đại vương, ngài đã từng thấy ai bị rắn cắn, được người ta dùng thần chú làm cho nọc độc rơi ra, chữa trị nọc độc, nôn ra trên dưới chưa?” – “Thưa ngài, vâng, cho đến ngày nay việc đó vẫn còn tồn tại trên thế gian.” – “Tâu đại vương, như thế thì lời nói rằng ‘việc thực hành hộ trì và dùng thuốc là vô ích’ là sai lầm. Tâu đại vương, thật vậy, con rắn muốn cắn người đã thực hành hộ trì thì không cắn, nó ngậm miệng đang mở lại. Đối với kẻ trộm, dù đã giơ gậy lên cũng không thể đánh được; chúng buông gậy xuống và tỏ lòng yêu mến. Con voi chúa đang nổi giận cũng đến gần rồi dừng lại. Đống lửa lớn đang cháy bừng cũng đến gần rồi tắt ngấm. Nọc độc chết người đã ăn vào cũng trở thành thuốc giải, hoặc lan tỏa thành chất bổ dưỡng. Kẻ sát nhân muốn giết người, khi đến gần lại trở thành như nô lệ. Vòng dây bị dẫm lên cũng không siết lại.”
‘‘Sutapubbaṃ pana tayā, mahārāja, ‘morassa kataparittassa sattavassasatāni luddako nāsakkhi pāsaṃ upanetuṃ, akataparittassa taṃ yeva divasaṃ pāsaṃ upanesī’’ti? ‘‘Āma, bhante, suyyati, abbhuggato so saddo sadevake loke’’ti. ‘‘Tena hi, mahārāja ‘parittabhesajjakiriyā niratthakā’ti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā bhavati.
“Have you ever heard, Your Majesty, that for seven hundred years a hunter was unable to bring a snare near the peacock for whom a protective chant had been made, but for one who had not performed the protective chant, he brought the snare on that very day?” “Yes, venerable sir, it is heard; that account has spread throughout the world with its gods.” “In that case, Your Majesty, the statement, ‘The practice of protective medicine is useless,’ is false.”
“Tâu đại vương, ngài đã từng nghe nói rằng: ‘Đối với con công đã thực hành hộ trì, người thợ săn suốt bảy trăm năm không thể giăng bẫy được, nhưng đối với con công không thực hành hộ trì, ông ta đã giăng bẫy được ngay trong ngày hôm đó’ chưa?” – “Thưa ngài, vâng, con có nghe. Tiếng đồn ấy đã vang khắp thế gian cùng với chư thiên.” – “Tâu đại vương, như thế thì lời nói rằng ‘việc thực hành hộ trì và dùng thuốc là vô ích’ là sai lầm.”
‘‘Sutapubbaṃ pana tayā, mahārāja, ‘dānavo bhariyaṃ parirakkhanto samugge pakkhipitvā gilitvā kucchinā pariharati, atheko vijjādharo tassa dānavassa mukhena pavisitvā tāya saddhiṃ abhiramati, yadā so dānavo aññāsi, atha samuggaṃ vamitvā vivari, saha samugge vivaṭe vijjādharo yathākāmaṃ † pakkāmī’’ti? ‘‘Āma, bhante, suyyati, abbhuggato sopi saddo sadevake loke’’ti. ‘‘Nanu so, mahārāja, vijjādharo parittabalena † gahaṇā mutto’’ti. ‘‘Āma bhante’’ti. ‘‘Tena hi, mahārāja, atthi parittabalaṃ.
“Have you ever heard, Your Majesty, that a dānava, wishing to guard his wife, placed her in a casket, swallowed it, and carried it in his belly? Then a sorcerer entered through that dānava's mouth and took his pleasure with her. When the dānava found out, he vomited up the casket and opened it. As soon as the casket was opened, the sorcerer departed wherever he wished?” “Yes, venerable sir, it is heard; that account has also spread throughout the world with its gods.” “Was not that sorcerer, Your Majesty, freed from capture by the power of a protective chant?” “Yes, venerable sir.” “Therefore, Your Majesty, the power of a protective chant exists.”
“Tâu đại vương, ngài đã từng nghe nói rằng: ‘Một con quỷ dã xoa, để bảo vệ vợ mình, đã đặt nàng vào trong một cái tráp, nuốt vào và mang trong bụng. Bấy giờ, một vị có thần thông đã đi vào qua miệng của con quỷ ấy và vui vẻ với người vợ. Khi con quỷ biết được, nó đã nôn cái tráp ra và mở nó. Ngay khi cái tráp được mở, vị có thần thông đã đi đến bất cứ nơi nào ông muốn’ chưa?” – “Thưa ngài, vâng, con có nghe. Tiếng đồn ấy cũng đã vang khắp thế gian cùng với chư thiên.” – “Tâu đại vương, chẳng phải vị có thần thông ấy đã thoát khỏi bị bắt giữ nhờ vào sức mạnh của hộ trì sao?” – “Thưa ngài, vâng, đúng vậy.” – “Tâu đại vương, như thế thì sức mạnh của hộ trì là có thật.”
‘‘Sutapubbaṃ pana tayā, mahārāja, ‘aparopi vijjādharo bārāṇasirañño antepure mahesiyā saddhiṃ sampaduṭṭho † gahaṇappatto samāno khaṇena adassanaṃ gato mantabalenā’’ti. ‘‘Āma, bhante, suyyatī’’ti. ‘‘Nanu so, mahārāja, vijjādharo parittabalena gahaṇā mutto’’ti? ‘‘Āma bhante’’ti. ‘‘Tena hi, mahārāja, atthi parittabala’’nti.
“Have you ever heard, Your Majesty, that another sorcerer, having misbehaved with the chief queen in the inner palace of the king of Bārāṇasī, was on the verge of being captured when, in an instant, he vanished by the power of a mantra?” “Yes, venerable sir, it is heard.” “Was not that sorcerer, Your Majesty, freed from capture by the power of a protective chant?” “Yes, venerable sir.” “Therefore, Your Majesty, the power of a protective chant exists.”
“Tâu Đại vương, ngài đã từng nghe câu chuyện này chưa: ‘Có một vị trì chú sư khác, trong nội cung của vua xứ Bārāṇasī, đã phạm tội với hoàng hậu, khi sắp bị bắt, trong khoảnh khắc đã biến mất nhờ vào năng lực của thần chú’?”. “Tâu Đại đức, có nghe như vậy.” “Tâu Đại vương, há chẳng phải vị trì chú sư ấy đã thoát khỏi việc bị bắt giữ nhờ vào năng lực của paritta sao?”. “Tâu Đại đức, đúng vậy.” “Vậy thì, tâu Đại vương, năng lực của paritta là có thật.”
‘‘Bhante nāgasena, ‘kiṃ sabbe yeva parittaṃ rakkhatī’ti? ‘‘Ekacce, mahārāja, rakkhati, ekacce na rakkhatī’’ti. ‘‘Tena hi, bhante nāgasena, parittaṃ na sabbatthika’’nti? ‘‘Api nu kho, mahārāja, bhojanaṃ sabbesaṃ jīvitaṃ rakkhatī’’ti? ‘‘Ekacce, bhante, rakkhati, ekacce na rakkhatī’’ti. ‘‘Kiṃ kāraṇā’’ti. ‘‘Yato, bhante, ekacce taṃ yeva bhojanaṃ atibhuñjitvā visūcikāya marantī’’ti. ‘‘Tena hi, mahārāja, bhojanaṃ na sabbesaṃ jīvitaṃ rakkhatī’’ti? ‘‘Dvīhi, bhante nāgasena, kāraṇehi bhojanaṃ jīvitaṃ harati atibhuttena vā usmādubbalatāya vā, āyudadaṃ, bhante nāgasena, bhojanaṃ durupacārena jīvitaṃ haratī’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, parittaṃ ekacce rakkhati, ekacce na rakkhati.
“Venerable Nāgasena, does a protective chant protect everyone?” “It protects some, Your Majesty; it does not protect others.” “In that case, venerable Nāgasena, a protective chant is not universally effective?” “Does food, Your Majesty, protect the life of everyone?” “It protects some, venerable sir; it does not protect others.” “For what reason?” “Because, venerable sir, some people, having overeaten that very food, die from cholera.” “In that case, Your Majesty, food does not protect the life of everyone?” “Venerable Nāgasena, for two reasons food takes away life: either through overeating or through weakness of the digestive fire. Although food is a life-giver, venerable Nāgasena, through improper use it takes away life.” “In the same way, Your Majesty, a protective chant protects some, but does not protect others.”
“Bạch Đại đức Nāgasena, có phải paritta hộ trì cho tất cả mọi người không?”. “Tâu Đại vương, hộ trì cho một số người, không hộ trì cho một số người.” “Vậy thì, bạch Đại đức Nāgasena, paritta không có hiệu quả cho tất cả mọi trường hợp?”. “Tâu Đại vương, vậy thức ăn có bảo vệ mạng sống cho tất cả mọi người không?”. “Bạch Đại đức, bảo vệ cho một số người, không bảo vệ cho một số người.” “Vì lý do gì?”. “Bạch Đại đức, bởi vì một số người sau khi ăn quá nhiều chính thức ăn đó đã chết vì bệnh thổ tả.” “Vậy thì, tâu Đại vương, thức ăn không bảo vệ mạng sống cho tất cả mọi người?”. “Bạch Đại đức Nāgasena, vì hai lý do mà thức ăn đoạt đi mạng sống: do ăn quá nhiều hoặc do tỳ vị hư nhược. Bạch Đại đức Nāgasena, thức ăn vốn ban cho tuổi thọ, nhưng do sử dụng sai cách mà đoạt đi mạng sống.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, paritta hộ trì cho một số người, không hộ trì cho một số người.”
‘‘Tīhi, mahārāja, kāraṇehi parittaṃ na rakkhati kammāvaraṇena, kilesāvaraṇena, asaddahanatāya. Sattānurakkhaṇaṃ, mahārāja, parittaṃ attanā katena ārakkhaṃ jahati, yathā, mahārāja, mātā puttaṃ kucchigataṃ poseti, hitena upacārena janeti, janayitvā asucimalasiṅghāṇikamapanetvā uttamavarasugandhaṃ upalimpati, so aparena samayena paresaṃ putte akkosante vā paharante vā pahāraṃ deti. Te tassa kujjhitvā parisāya ākaḍḍhitvā taṃ gahetvā sāmino upanenti, yadi pana tassā putto aparaddho hoti velātivatto. Atha naṃ sāmino manussā ākaḍḍhayamānā daṇḍamuggarajāṇumuṭṭhīhi tāḷenti pothenti, api nu kho, mahārāja, tassa mātā labhati ākaḍḍhanaparikaḍḍhanaṃ gāhaṃ sāmino upanayanaṃ kātu’’nti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Kena kāraṇena, mahārājā’’ti. ‘‘Attano, bhante, aparādhenā’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, sattānaṃ ārakkhaṃ parittaṃ attano aparādhena vañjhaṃ karotī’’ti †. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, suvinicchito pañho, gahanaṃ agahanaṃ kataṃ, andhakāro āloko kato, viniveṭhitaṃ diṭṭhijālaṃ, tvaṃ gaṇivarapavaramāsajjā’’ti.
“Your Majesty, for three reasons a protective chant does not protect: due to the obstruction of kamma, the obstruction of defilements, and lack of faith. A protective chant, Your Majesty, though for the protection of beings, forsakes that protection because of one's own deeds. It is like a mother, Your Majesty, who nurtures a child in her womb, gives birth with beneficial care, and after birth, cleanses away impurities and anoints the child with the finest perfumes. Later, that son insults or strikes the sons of others. Angered, they drag him before an assembly and bring him before their lord. If that son is an offender, a transgressor of the law, then the lord's men drag him about, beating and striking him with sticks, clubs, knees, and fists. Now, Your Majesty, is his mother able to prevent him from being dragged about, seized, and brought before the lord?” “No, venerable sir.” “For what reason, Your Majesty?” “Because of his own offense, venerable sir.” “In the same way, Your Majesty, a protective chant that should be a safeguard for beings is rendered barren by one's own offense.” “Excellent, venerable Nāgasena! The question is well-resolved. The tangled has been made untangled, darkness has been made light. Having approached you, the best and foremost among leaders of schools, the net of views has been disentangled.”
“Tâu Đại vương, vì ba lý do mà paritta không hộ trì: do nghiệp chướng, do phiền não chướng, và do không có lòng tin. Tâu Đại vương, paritta vốn để hộ trì chúng sinh, nhưng lại mất đi sự hộ trì do hành động của chính người đó. Ví như, tâu Đại vương, người mẹ nuôi dưỡng đứa con trong bụng, sinh con ra với sự chăm sóc tốt lành vì lợi ích của con. Sau khi sinh, bà lau sạch những thứ dơ bẩn, phân, nước mũi và thoa cho con những hương thơm hảo hạng. Về sau, đứa con ấy mắng chửi hoặc đánh đập con của người khác, nó liền đánh trả. Những người kia tức giận, lôi nó ra giữa đám đông, bắt giữ rồi giao nộp cho chủ. Nếu đứa con của bà ấy có tội, vi phạm luật lệ, thì người của vị chủ kia sẽ lôi nó đi, dùng gậy, chày, đầu gối, nắm đấm mà đánh đập. Tâu Đại vương, liệu người mẹ của đứa bé ấy có thể kéo, giằng, bắt giữ, và đưa con đến gần vị chủ được không?”. “Bạch Đại đức, không thể được.” “Vì lý do gì, tâu Đại vương?”. “Bạch Đại đức, vì lỗi lầm của chính nó.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, paritta vốn hộ trì chúng sinh, nhưng lại trở nên vô hiệu do lỗi lầm của chính họ.” “Lành thay, bạch Đại đức Nāgasena, vấn đề đã được giải quyết thấu đáo, điều phức tạp đã được làm cho đơn giản, bóng tối đã được làm cho sáng tỏ, lưới tà kiến đã được tháo gỡ, nhờ con đã được gặp ngài, bậc thầy đứng đầu các giáo đoàn.”
Maccupāsamuttipañho catuttho.
The Fourth Question Concerning Liberation from the Snare of Death.
Vấn đề về sự giải thoát khỏi vòng vây của thần chết, chương thứ tư.