Bản dịch
MIL 5.2.3 — CÂU HỎI VỀ VIỆC SỢ HÃI HAY KHÔNG SỢ HÃI SỰ CHẾT
3. Maccubhāyanābhāyanapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Tất cả run sợ hình phạt, tất cả sợ hãi sự chết.’ Và thêm nữa Ngài đã nói rằng: ‘Vị A-la-hán đã vượt qua mọi sự sợ hãi.’Thưa ngài Nāgasena, phải chăng vị A-la-hán không run sợ đối với mọi sự sợ hãi về hình phạt? Hay là các chúng sanh địa ngục bị đốt cháy, bị đun sôi, bị đốt nóng, bị đun nóng ở địa ngục, trong khi đang chết từ đại địa ngục có màng lưới lửa cháy rực ấy, mới sợ hãi sự chết? Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘Tất cả run sợ hình phạt, tất cả sợ hãi sự chết,’ như thế thì lời nói rằng ‘Vị A-la-hán đã vượt qua mọi sự sợ hãi’ là sai trái. Nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘Vị A-la-hán đã vượt qua mọi sự sợ hãi,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Tất cả run sợ hình phạt, tất cả sợ hãi sự chết’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
“Tâu đại vương, lời nói này đã được nói bởi đức Thế Tôn: ‘Tất cả run sợ hình phạt, tất cả sợ hãi sự chết’ là không liên quan đến các vị A-la-hán. Các vị A-la-hán là ngoại lệ trong sự việc này. Nhân gây sợ hãi đã được các vị A-la-hán trừ diệt. Tâu đại vương, những chúng sanh nào có phiền não, có tà kiến về bản ngã quá lố, có tính khí thăng trầm theo lạc và khổ, thì điều đã được nói bởi đức Thế Tôn: ‘Tất cả run sợ hình phạt, tất cả sợ hãi sự chết’ là liên quan đến những người ấy. Tâu đại vương, đối với vị A-la-hán tất cả cảnh giới tái sanh đã bị chặt đứt, nguồn sản xuất đã bị tiêu hoại, sự nối liền với việc tái sanh đã bị hủy diệt, khung sườn đã bị phá vỡ, tất cả các điều kiện của hữu đã bị tiêu hủy, tất cả các hành đã bị trừ tuyệt, thiện và bất thiện đã bị thủ tiêu, vô minh đã bị tiêu tan, thức không còn chủng tử đã được tạo lập, tất cả phiền não đã được đốt cháy, các pháp thế gian đã được vượt lên; vì thế vị A-la-hán không run sợ đối với tất cả các nỗi sợ hãi. Tâu đại vương, ở đây bốn vị quan đại thần của đức vua là trung thành, đã đạt danh tiếng, được tin cậy, được phong tước vị có quyền hành lớn lao. Rồi vào lúc có sự việc cần làm nào đó sanh khởi, đức vua ra lệnh đến tất cả dân chúng ở trong lãnh địa của mình rằng: ‘Hết thảy tất cả hãy nộp thuế cho trẫm. Các khanh, bốn quan đại thần, hãy hoàn thành sự việc cần làm ấy.’ Tâu đại vương, phải chăng sự run sợ do nỗi sợ hãi về thuế có thể sanh khởi cho bốn vị quan đại thần ấy?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, vì lý do gì?”
“Thưa ngài, bốn người ấy đã được đức vua phong tước vị tối cao. Không có thuế má đối với họ. Họ vượt qua khỏi các loại thuế má. Điều đã được đức vua ra lệnh: ‘Hết thảy tất cả hãy nộp thuế cho trẫm’ là liên quan đến những người còn lại.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế lời nói này đã được nói bởi đức Thế Tôn là không liên quan đến các vị A-la-hán. Các vị A-la-hán là ngoại lệ trong sự việc này. Nhân gây sợ hãi đã được các vị A-la-hán trừ diệt. Tâu đại vương, những chúng sanh nào có phiền não, có tà kiến về bản ngã quá lố, có tính khí thăng trầm theo lạc và khổ, thì điều đã được nói bởi đức Thế Tôn: ‘Tất cả run sợ hình phạt, tất cả sợ hãi sự chết’ là liên quan đến những người ấy. Do đó, vị A-la-hán không run sợ đối với tất cả các nỗi sợ hãi.”
“Thưa ngài Nāgasena, lời nói ấy không bao gồm phần còn lại, lời nói ‘tất cả’ ấy là trừ ra phần còn lại. Về việc ấy, xin ngài hãy nói cho trẫm thêm về lý do để xác định lời nói ấy.”
“Tâu đại vương, ở đây người trưởng làng ở ngôi làng có thể ra lệnh cho viên mõ làng rằng: ‘Này ông mõ làng, hết thảy tất cả dân làng ở trong làng hãy mau chóng tụ tập lại trước mặt tôi.’ Người ấy, sau khi chấp nhận: ‘Tốt lằm, thưa trưởng làng,’ đã đứng ở giữa làng thông báo ba lần rằng: ‘Hết thảy tất cả dân làng ở trong làng hãy mau mau tụ tập lại trước mặt trưởng làng.’ Sau đó, do lời nói của viên mõ làng, các dân làng đã cấp tốc tụ tập lại rồi báo cho ông trưởng làng rằng: ‘Thưa trưởng làng, tất cả dân làng đã tụ tập lại. Ngài có việc gì cần làm, xin hãy tiến hành điều ấy.’
Tâu đại vương, người trưởng làng ấy, trong khi bảo những người chủ chốt tụ tập lại, thì ra lệnh cho tất cả dân làng như thế, và những người (dân làng) ấy dầu được ra lệnh nhưng không phải tất cả đều tụ tập lại, chỉ có những người chủ chốt tụ tập lại. Và người trưởng làng chấp nhận như thế: ‘Chỉ bấy nhiêu là dân làng của tôi.’ Những người khác đã không đến là nhiều hơn: đàn bà, đàn ông, tớ gái, tôi nam, người làm thuê, nhân công, khách lữ hành, người bệnh, bò, trâu, dê, cừu, chó; tất cả những ai không đến đều không tính. Điều đã được ra lệnh: ‘Tất cả hãy tụ tập lại’ chỉ liên quan đến những người chủ chốt. Tâu đại vương, tương tợ y như thế lời nói này đã được nói bởi đức Thế Tôn là không liên quan đến các vị A-la-hán. Các vị A-la-hán là ngoại lệ trong sự việc này. Nhân gây sợ hãi đã được các vị A-la-hán trừ diệt. Tâu đại vương, những chúng sanh nào có phiền não, có tà kiến về bản ngã quá lố, có tính khí thăng trầm theo lạc và khổ, thì điều đã được nói bởi đức Thế Tôn: ‘Tất cả run sợ hình phạt, tất cả sợ hãi sự chết’ là liên quan đến những người ấy. Do đó, vị A-la-hán không run sợ đối với tất cả các nỗi sợ hãi.
Tâu đại vương, có lời nói thiếu sót với ý nghĩa thiếu sót, có lời nói thiếu sót với ý nghĩa không thiếu sót, có lời nói không thiếu sót với ý nghĩa thiếu sót, có lời nói không thiếu sót với ý nghĩa không thiếu sót. Ý nghĩa nên được tiếp thu theo từng trường hợp một.
Tâu đại vương, ý nghĩa nên được tiếp thu theo năm cách: theo đoạn văn trích dẫn, theo nghĩa chính yếu, theo truyền thống của vị thầy, theo ý định, theo tính chất vượt trên lý do. Chính ở đây, ‘đoạn văn trích dẫn’ là đoạn Kinh thích hợp, ‘nghĩa chính yếu’ là phù hợp với Kinh, ‘truyền thống của vị thầy’ là học thuyết của vị thầy, ‘ý định’ là quan niệm của bản thân, ‘tính chất vượt trên lý do’ là lý do đã được tổng hợp từ bốn cách này. Tâu đại vương, ý nghĩa nên được tiếp thu theo năm lý do này. Câu hỏi ấy nên được giải quyết một cách khéo léo đúng y như thế.”
BJT 2“Thưa ngài Nāgasena, hãy là như vậy, trẫm chấp nhận điều ấy. Xem như các vị A-la-hán là ngoại lệ trong sự việc này, và các chúng sanh còn lại run sợ. Trái lại, các chúng sanh địa ngục ở nơi địa ngục, trong khi cảm nhận các thọ khổ, sắc bén, nhức nhối, với tất cả các phần thân thể và tứ chi bị thiêu đốt, bị đốt cháy, với miệng khóc lóc, rên rỉ thảm thương, than vãn, van xin, bị nhận lãnh các nỗi khổ đau sắc bén không thể chịu đựng, không có sự bảo vệ, không nơi nương nhờ, ở tình trạng không có chốn nương nhờ, không ít sầu bệnh, có cảnh giới tái sanh tận sau cùng, chốn đến kế tiếp toàn là sầu muộn, có sự đốt cháy và chói sáng nóng bức, mãnh liệt, dữ tợn, và thô tháo, có các âm thanh ồn ào của tiếng gào thét gây ra sự khiếp đảm và sợ hãi, bị bao vây bởi màng lưới lửa sáu màu kết lại với nhau, với cường độ của ngọn lửa tỏa nóng đến một trăm do-tuần ở xung quanh, trong khi nói đến đại địa ngục cùng cực, nóng bức, có phải họ sợ hãi sự chết?”
“Tâu đại vương, đúng vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, chẳng lẽ địa ngục là phải chịu cảm thọ toàn là khổ đau? Hơn nữa, tại sao các chúng sanh địa ngục phải chịu cảm thọ toàn là khổ đau lại sợ hãi sự chết trong khi lìa khỏi địa ngục? Ở địa ngục có cái gì mà họ thích thú?”
“Tâu đại vương, không phải các chúng sanh địa ngục ấy thích thú nơi địa ngục, chúng quả có mong muốn được giải thoát khỏi địa ngục. Tâu đại vương, điều ấy là oai lực của sự chết, vì điều ấy mà sự run sợ sanh khởi ở các chúng sanh ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, trẫm không tin điều ấy là việc sự run sợ sự chết sanh khởi ở những người có mong muốn được giải thoát. Thưa ngài Nāgasena, việc những người ấy đạt được điều đã mong mỏi; sự kiện ấy nực cười. Xin ngài hãy giúp cho trẫm hiểu bằng lý lẽ.”
BJT 3“Tâu đại vương, cái ‘sự chết’ này là cơ sở đem lại sự run sợ cho những người chưa nhìn thấy Sự Thật; hạng người này run sợ và bị kích động về việc này. Tâu đại vương, và người nào sợ hãi rắn mãng xà, người ấy trong khi sợ hãi sự chết thì sợ hãi rắn mãng xà. Và người nào sợ hãi voi … (như trên) … sợ hãi sư tử, hổ, báo, gấu, chó sói, trâu rừng, bò mộng, lửa, nước, chông, gai. Và người nào sợ hãi gươm đao, người ấy trong khi sợ hãi sự chết thì sợ hãi gươm đao. Tâu đại vương, việc chúng sanh còn phiền não run sợ, sợ hãi sự chết, điều ấy là quyền lực của thực chất và bản thể của sự chết. Tâu đại vương, mặc dầu có mong muốn được giải thoát chúng sanh địa ngục cũng run sợ sự chết.
Tâu đại vương, ở đây có bệnh mỡ đóng cục sanh khởi ở thân thể của người đàn ông. Người ấy bị khổ sở vì căn bệnh ấy, có ước muốn được thoát khỏi hẳn cơn nguy kịch, nên cho mời người thầy thuốc phẫu thuật. Người thầy thuốc phẫu thuật, sau khi chấp nhận người ấy, sẽ đem lại dụng cụ để lấy đi căn bệnh ấy của người ấy, sẽ mài bén con dao mổ, sẽ đặt thanh dẹp cho việc đốt nóng ở ngọn lửa, sẽ cho nghiền nát chất kiềm và muối ở đá nghiền, tâu đại vương, phải chăng sự run sợ có thể sanh khởi ở người bệnh ấy do việc mổ xẻ bằng con dao bén, do việc đốt nóng bằng hai thanh dẹp, do việc đắp vào chất kiềm và muối?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
BJT 4“Tâu đại vương, như thế người bệnh ấy, mặc dầu có ước muốn được giải thoát khỏi căn bệnh, cũng có sự run sợ do nỗi sợ hãi về cảm thọ sanh khởi. Tâu đại vương, tương tợ y như thế các chúng sanh địa ngục, mặc dầu có ước muốn được giải thoát khỏi địa ngục, cũng có sự run sợ do nỗi sợ hãi về sự chết sanh khởi. Tâu đại vương, ở đây có người là kẻ phạm tội đối với chủ nhân bị bắt, bị tống vào phòng giam với sự trói lại bằng sợi xích, có ước muốn được tự do. Chủ nhân ấy, có ý muốn trả tự do, bảo đưa người ấy đến, tâu đại vương, phải chăng sự run sợ do việc nhìn thấy chủ nhân sẽ sanh khởi ở người ấy, là kẻ phạm tội đối với chủ nhân, trong khi biết rằng: ‘Ta đã làm quấy’?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, như thế người ấy, là kẻ phạm tội đối với chủ nhân, mặc dầu có ước muốn được tự do, cũng có sự run sợ do nỗi sợ hãi chủ nhân sanh khởi. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với các người ở địa ngục, mặc dầu có ước muốn được giải thoát khỏi địa ngục, sự run sợ do nỗi sợ hãi về sự chết cũng sẽ sanh khởi ở nơi họ.”
“Thưa ngài, xin hãy nói thêm về lý do khác nữa, nhờ vào lý do ấy trẫm có thể xác định niềm tin.”
BJT 5“Tâu đại vương, ở đây có người nam bị cắn bởi rắn độc có nọc độc ở nanh. Do tác động của nọc độc ấy, người ấy ngã xuống, té lên, lăn qua, lăn lại. Khi ấy, có một người nam khác với câu bùa chú có năng lực đem lại con rắn độc có nọc độc ở nanh ấy, rồi cho hút ngược trở lại nọc độc ở nanh ấy, tâu đại vương đối với người nam bị nhiễm nọc độc ấy, khi con rắn có nộc độc ở nanh ấy đang tiến đến gần với nguyên nhân tốt lành, phải chăng nỗi run sợ có thể sanh khởi ở người ấy?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, ở hình thức tương tợ như thế, trong khi con rắn đang tiến đến gần, mặc dầu với nguyên nhân tốt lành, nỗi run sợ cũng sanh khởi ở người ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với các chúng sanh ở địa ngục, mặc dầu có ước muốn được giải thoát khỏi địa ngục, sự run sợ do nỗi sợ hãi về sự chết cũng sanh khởi nơi họ. Tâu đại vương, đối với tất cả chúng sanh sự chết là điều không được mong muốn. Do đó, các chúng sanh ở địa ngục, mặc dầu có ước muốn được giải thoát khỏi địa ngục, cũng sợ hãi về sự chết.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc sợ hãi hay không sợ hãi sự chết là thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Netaṃ, mahārāja, vacanaṃ bhagavatā arahante upādāya bhaṇitaṃ ‘sabbe tasanti daṇḍassa, sabbe bhāyanti maccuno’ti. Ṭhapito arahā tasmiṃ vatthusmiṃ, samūhato bhayahetu arahato. Ye te, mahārāja, sattā sakilesā, yesañca adhimattā attānudiṭṭhi, ye ca sukhadukkhesu unnatāvanatā, te upādāya bhagavatā bhaṇitaṃ ‘sabbe tasanti daṇḍassa, sabbe bhāyanti maccuno’ti. Arahato, mahārāja, sabbagati upacchinnā, yoni viddhaṃsitā, paṭisandhi upahatā, bhaggā phāsukā, samūhatā sabbabhavālayā, samucchinnā sabbasaṅkhārā, hataṃ kusalākusalaṃ, vihatā avijjā, abījaṃ viññāṇaṃ kataṃ, daḍḍhā sabbakilesā, ativattā lokadhammā, tasmā arahā na tasati sabbabhayehi.
“Great king, the Blessed One did not speak that statement with reference to Arahants: ‘All tremble at the rod, all fear death.’ The Arahant is excepted in that matter; for the Arahant, the cause of fear has been eradicated. The Blessed One spoke that statement with reference to those beings, great king, who are defiled, who have an excessive view of self, and who are elated and dejected in pleasure and pain. For the Arahant, great king, all destinations are cut off, the origin is destroyed, rebirth-linking is abolished, the ribs are broken, all attachments to existence are uprooted, all formations are eliminated, the wholesome and the unwholesome are destroyed, ignorance is dispelled, consciousness is made seedless, all defilements are burned away, and worldly conditions are transcended. Therefore, the Arahant does not tremble at any fear.”
“Tâu Đại vương, lời dạy này của Đức Thế Tôn: ‘Tất cả chúng sanh đều kinh sợ hình phạt, tất cả chúng sanh đều sợ hãi cái chết’ không phải được nói ra nhắm đến các vị A-la-hán. Vị A-la-hán được đặt ra ngoài trường hợp ấy, vì nguyên nhân của sự sợ hãi đã được vị A-la-hán nhổ bỏ. Tâu Đại vương, những chúng sanh nào còn phiền não, những chúng sanh nào có thân kiến mãnh liệt, và những chúng sanh nào có tâm thăng trầm trong hạnh phúc và đau khổ, chính nhắm đến các chúng sanh ấy mà Đức Thế Tôn đã dạy rằng: ‘Tất cả chúng sanh đều kinh sợ hình phạt, tất cả chúng sanh đều sợ hãi cái chết’. Tâu Đại vương, đối với vị A-la-hán, mọi nẻo tái sanh đã bị cắt đứt, nguồn gốc (sanh y) đã bị phá hủy, sự nối liền (tái sanh) đã bị tiêu diệt, các xương sườn (của sự tồn tại) đã bị bẻ gãy, mọi sự ái luyến trong các cõi hữu đã được nhổ bỏ, mọi hành đã được cắt đứt hoàn toàn, thiện và bất thiện đã bị hủy diệt, vô minh đã bị loại trừ, thức đã được làm cho không còn mầm mống, mọi phiền não đã bị thiêu rụi, các pháp thế gian đã được vượt qua. Do đó, vị A-la-hán không kinh sợ trước mọi sự sợ hãi.”
‘‘Idha, mahārāja, rañño cattāro mahāmattā bhaveyyuṃ anurakkhā laddhayasā vissāsikā ṭhapitā mahati issariye ṭhāne. Atha rājā kismiñci deva karaṇīye samuppanne yāvatā sakavijite sabbajanassa āṇāpeyya ‘sabbeva me baliṃ karontu, sādhetha tumhe cattāro mahāmattā taṃ karaṇīya’nti. Api nu kho, mahārāja, tesaṃ catunnaṃ mahāmattānaṃ balibhayā santāso uppajjeyyā’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Kena kāraṇena mahārājā’’ti. ‘‘Ṭhapitā te, bhante, raññā uttamaṭṭhāne, natthi tesaṃ bali, samatikkantabalino te, avasese upādāya raññā āṇāpitaṃ ‘sabbeva me baliṃ karontū’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, netaṃ vacanaṃ bhagavatā arahante upādāya bhaṇitaṃ, ṭhapito arahā tasmiṃ vatthusmiṃ, samūhato bhayahetu arahato, ye te, mahārāja, sattā sakilesā, yesañca adhimattā attānudiṭṭhi, ye ca sukhadukkhesu unnatāvanatā, te upādāya bhagavatā bhaṇitaṃ ‘sabbe tasanti daṇḍassa, sabbe bhāyanti maccuno’ti. Tasmā arahā na tasati sabbabhayehī’’ti.
“Suppose, great king, a king had four chief ministers, who were his attendants, of established renown, trusted, and appointed to high positions of authority. Then, should some royal duty arise, the king would command all the people in his domain: ‘Let all pay me tribute; you four ministers, see that this task is done.’ Now, great king, would any fear or anxiety on account of the tribute arise in those four ministers?” “Certainly not, venerable sir.” “For what reason, great king?” “Because, venerable sir, they have been appointed by the king to the highest positions. There is no tribute for them; they have gone beyond tribute. The king’s command, ‘Let all pay me tribute,’ was given with reference to the others.” “In the very same way, great king, the Blessed One did not speak that statement with reference to Arahants. The Arahant is excepted in that matter; for the Arahant, the cause of fear has been eradicated. It is with reference to those beings, great king, who are defiled, who have an excessive view of self, and who are elated and dejected in pleasure and pain, that the Blessed One said: ‘All tremble at the rod, all fear death.’ Therefore, the Arahant does not tremble at any fear.”
“Tâu Đại vương, ví như ở đời này, một vị vua có bốn vị đại thần thân cận, có danh vọng, được tin cậy, được đặt vào địa vị có quyền lực lớn. Rồi khi có một công việc nào đó phát sanh, nhà vua ra lệnh cho tất cả mọi người trong vương quốc của mình rằng: ‘Tất cả hãy đóng thuế cho ta, còn bốn vị đại thần các khanh hãy lo hoàn thành công việc ấy.’ Tâu Đại vương, liệu sự kinh sợ có khởi lên nơi bốn vị đại thần ấy vì sợ thuế không?” “Bạch Ngài, chắc chắn là không.” “Tâu Đại vương, vì lý do gì?” “Bạch Ngài, họ đã được nhà vua đặt vào địa vị cao nhất, họ không phải đóng thuế, họ đã vượt trên việc đóng thuế. Lệnh của nhà vua được ban ra là nhắm đến những người còn lại: ‘Tất cả hãy đóng thuế cho ta.’ Cũng vậy, tâu Đại vương, lời dạy này không phải được Đức Thế Tôn nói ra nhắm đến các vị A-la-hán. Vị A-la-hán được đặt ra ngoài trường hợp ấy, vì nguyên nhân của sự sợ hãi đã được vị A-la-hán nhổ bỏ. Tâu Đại vương, những chúng sanh nào còn phiền não, những chúng sanh nào có thân kiến mãnh liệt, và những chúng sanh nào có tâm thăng trầm trong hạnh phúc và đau khổ, chính nhắm đến các chúng sanh ấy mà Đức Thế Tôn đã dạy rằng: ‘Tất cả chúng sanh đều kinh sợ hình phạt, tất cả chúng sanh đều sợ hãi cái chết’. Do đó, vị A-la-hán không kinh sợ trước mọi sự sợ hãi.”
‘‘Netaṃ, bhante nāgasena, vacanaṃ sāvasesaṃ, niravasesavacanametaṃ ‘sabbe’ti. Tattha me uttariṃ kāraṇaṃ brūhi taṃ vacanaṃ patiṭṭhāpetu’’nti.
“Venerable Nāgasena, this statement, ‘all,’ is not a statement with an exception; it is a statement without exception. Please give me a further reason to establish that statement.”
“Bạch Ngài Nāgasena, lời dạy này ‘tất cả’ không phải là một lời nói có ngoại lệ, đây là một lời nói không có ngoại lệ. Về điểm này, xin Ngài hãy cho trẫm biết thêm lý do để xác lập lời dạy ấy.”
‘‘Idha, mahārāja, gāme gāmassāmiko āṇāpakaṃ āṇāpeyya ‘ehi, bho āṇāpaka, yāvatā gāme gāmikā, te sabbe sīghaṃ mama santike sannipātehī’ti. So ‘sādhu sāmī’ti sampaṭicchitvā gāmamajjhe ṭhatvā tikkhattuṃ saddamanussāveyya ‘yāvatā gāme gāmikā, te sabbe sīghasīghaṃ sāmino santike sannipatantū’ti. Tato te gāmikā āṇāpakassa vacanena turitaturitā sannipatitvā gāmassāmikassa ārocenti ‘sannipatitā, sāmi, sabbe gāmikā, yaṃ te karaṇīyaṃ taṃ karohī’ti. Iti so, mahārāja, gāmassāmiko kuṭipurise sannipātento sabbe gāmike āṇāpeti, te ca āṇattā na sabbe sannipatanti, kuṭipurisā yeva sannipatanti, ‘ettakā yeva me gāmikā’ti gāmassāmiko ca tathā sampaṭicchati, aññe bahutarā anāgatā itthipurisā dāsidāsā bhatakā kammakarā gāmikā gilānā gomahiṃsā ajeḷakā suvānā, ye anāgatā, sabbe te agaṇitā, kuṭipurise yeva upādāya āṇāpitattā ‘sabbe sannipatantū’ti. Evameva kho, mahārāja, netaṃ vacanaṃ bhagavatā arahante upādāya bhaṇitaṃ, ṭhapito arahā tasmiṃ vatthusmiṃ, samūhato bhayahetu arahato, ye te, mahārāja, sattā sakilesā, yesañca adhimattā attānudiṭṭhi, ye ca sukhadukkhesu unnatāvanatā, te upādāya bhagavatā bhaṇitaṃ ‘sabbe tasanti daṇḍassa, sabbe bhāyanti maccuno’ti. Tasmā arahā na tasati sabbabhayehi.
“Suppose, great king, that in a village the headman were to order a crier: ‘Come, crier, quickly gather all the villagers before me.’ Agreeing with ‘Very well, master,’ the crier would stand in the middle of the village and call out three times: ‘Let all the villagers quickly assemble before the master!’ Then those villagers, urged by the crier’s words, would hastily assemble and report to the headman: ‘Master, all the villagers have assembled. Now do what you must.’ In this way, great king, the headman, intending to summon the heads of households, gives the order to all the villagers, yet not all who are ordered assemble; only the heads of households assemble. And the headman accepts it thus: ‘These are all my villagers.’ The many others who do not come—women and men, female and male slaves, hired workers, servants, the sick, cattle, buffaloes, goats, sheep, and dogs—all these are not counted, because the order ‘Let all assemble’ was given with reference only to the heads of households. In the very same way, great king, the Blessed One did not speak that statement with reference to Arahants. The Arahant is excepted in that matter; for the Arahant, the cause of fear has been eradicated. It is with reference to those beings, great king, who are defiled, who have an excessive view of self, and who are elated and dejected in pleasure and pain, that the Blessed One said: ‘All tremble at the rod, all fear death.’ Therefore, the Arahant does not tremble at any fear.”
“Tâu Đại vương, ví như ở đời này, trong một ngôi làng, người trưởng làng ra lệnh cho một người truyền tin rằng: ‘Này người truyền tin, hãy mau tập hợp tất cả dân làng trong làng lại cho ta.’ Người ấy vâng lời: ‘Thưa ông, vâng ạ,’ rồi đi đến giữa làng và rao lên ba lần: ‘Tất cả dân làng trong làng hãy mau mau tập hợp lại trước mặt ông trưởng làng!’ Sau đó, những người dân làng ấy, theo lời của người truyền tin, vội vã tập hợp lại và báo cho trưởng làng rằng: ‘Thưa ông, tất cả dân làng đã tập hợp, xin ông hãy làm việc cần làm.’ Như vậy, tâu Đại vương, người trưởng làng ấy, trong khi muốn tập hợp các gia chủ, đã ra lệnh cho tất cả dân làng. Và dù được lệnh, không phải tất cả đều tập hợp; chỉ có các gia chủ tập hợp mà thôi. Và người trưởng làng cũng chấp nhận như vậy: ‘Đây là tất cả dân làng của ta.’ Còn rất nhiều người khác đã không đến: đàn bà, đàn ông, nam nữ nô tỳ, người làm thuê, người làm công, các dân làng khác, người bệnh, bò, trâu, dê, cừu, chó; tất cả những ai không đến đều không được tính đến, bởi vì lệnh ‘tất cả hãy tập hợp’ được ban ra chỉ nhắm đến các gia chủ mà thôi. Cũng vậy, tâu Đại vương, lời dạy này không phải được Đức Thế Tôn nói ra nhắm đến các vị A-la-hán. Vị A-la-hán được đặt ra ngoài trường hợp ấy, vì nguyên nhân của sự sợ hãi đã được vị A-la-hán nhổ bỏ. Tâu Đại vương, những chúng sanh nào còn phiền não, những chúng sanh nào có thân kiến mãnh liệt, và những chúng sanh nào có tâm thăng trầm trong hạnh phúc và đau khổ, chính nhắm đến các chúng sanh ấy mà Đức Thế Tôn đã dạy rằng: ‘Tất cả chúng sanh đều kinh sợ hình phạt, tất cả chúng sanh đều sợ hãi cái chết’. Do đó, vị A-la-hán không kinh sợ trước mọi sự sợ hãi.”
‘‘Atthi, mahārāja, sāvasesaṃ vacanaṃ sāvaseso attho, atthi sāvasesaṃ vacanaṃ niravaseso attho, atthi niravasesaṃ vacanaṃ sāvaseso attho, atthi niravasesaṃ vacanaṃ niravaseso attho. Tena tena attho sampaṭicchitabbo.
“Great king, there is speech with an exception and meaning with an exception; there is speech with an exception but meaning without an exception; there is speech without an exception but meaning with an exception; and there is speech without an exception and meaning without an exception. In each case, the meaning should be accepted accordingly.”
“Tâu Đại vương, có loại lời nói có ngoại lệ và ý nghĩa cũng có ngoại lệ; có loại lời nói có ngoại lệ nhưng ý nghĩa không có ngoại lệ; có loại lời nói không có ngoại lệ nhưng ý nghĩa có ngoại lệ; có loại lời nói không có ngoại lệ và ý nghĩa cũng không có ngoại lệ. Ý nghĩa cần được thấu hiểu tùy theo từng trường hợp.”
‘‘Pañcavidhehi, mahārāja, kāraṇehi attho sampaṭicchitabbo āhaccapadena rasena ācariyavaṃsena † adhippāyā kāraṇuttariyatāya. Ettha hi āhaccapadanti suttaṃ adhippetaṃ. Rasoti suttānulomaṃ. Ācariyavaṃsoti ācariyavādo. Adhippāyoti attano mati. Kāraṇuttariyatāti imehi catūhi samentaṃ † kāraṇaṃ. Imehi kho, mahārāja, pañcahi kāraṇehi attho sampaṭicchitabbo. Evameso pañho suvinicchito hotī’’ti.
“Great king, the meaning is to be accepted on the basis of five factors: by the direct statement, by the contextual essence, by the lineage of teachers, by one's own intention, and by overarching reason. Herein, ‘direct statement’ refers to the Sutta. ‘Contextual essence’ refers to what is in conformity with the Sutta. ‘Lineage of teachers’ refers to the doctrine of the teachers. ‘One's own intention’ refers to one's own opinion. ‘Overarching reason’ refers to a reason that is in accord with these four. Great king, it is by these five factors that the meaning is to be accepted. In this way, this question is well resolved.”
“Tâu Đại vương, ý nghĩa cần được thấu hiểu qua năm phương pháp: qua lời dạy trực tiếp (āhaccapada), qua sự tương hợp (rasa), qua truyền thống các vị thầy (ācariyavaṃsa), qua ý kiến riêng (adhippāya), và qua tính ưu việt của lý lẽ (kāraṇuttariyatā). Ở đây, ‘lời dạy trực tiếp’ có nghĩa là kinh điển. ‘Sự tương hợp’ có nghĩa là sự phù hợp với kinh điển. ‘Truyền thống các vị thầy’ có nghĩa là học thuyết của các vị luận sư. ‘Ý kiến riêng’ có nghĩa là quan điểm của chính mình. ‘Tính ưu việt của lý lẽ’ có nghĩa là lý do hòa hợp với bốn điều trên. Tâu Đại vương, chính nhờ năm phương pháp này mà ý nghĩa cần được thấu hiểu. Như vậy, vấn đề này được giải quyết một cách tốt đẹp.”
‘‘Hotu, bhante nāgasena, tathā taṃ sampaṭicchāmi. Ṭhapito hotu arahā tasmiṃ vatthusmiṃ, tasantu avasesā sattā, niraye pana nerayikā sattā dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vedayamānā jalitapajjalitasabbaṅgapaccaṅgā ruṇṇakāruññakanditaparidevitalālappitamukhā asayhatibbadukkhābhibhūtā atāṇā asaraṇā asaraṇībhūtā anappasokāturā antimapacchimagatikā ekantasokaparāyaṇā uṇhatikhiṇacaṇḍakharatapanatejavanto bhīmabhayajanakaninādamahāsaddā saṃsibbitachabbidhajālāmālākulā samantā satayojanānupharaṇaccivegā kadariyā tapanā mahānirayā cavamānā maccuno bhāyantī’’ti? ‘‘Āma, mahārājā’’ti.
“Let it be so, Venerable Nāgasena, I accept it thus. Let the Arahant be set aside in this matter; let the remaining beings tremble. But as for the beings in hell, experiencing painful, intense, and bitter feelings; with all their major and minor limbs blazing and burning; with mouths weeping, piteously crying, wailing, lamenting, and muttering; overwhelmed by unbearable and intense suffering; without protection, without refuge, having become refuge-less; afflicted by no little sorrow; having reached the final, lowest destination; with sorrow as their only refuge; full of hot, sharp, fierce, harsh, and burning heat; with great sounds of terrifying and fear-inducing roars; entangled in an interwoven six-fold garland of flames; with the force of their blaze spreading a hundred yojanas all around—when departing from those wretched, tormenting great hells, do they fear death?” “Yes, great king.”
“Bạch Đại đức Nāgasena, xin hãy là như vậy, con xin chấp nhận lời ấy như thế. Vị A-la-hán xin hãy được đặt ra ngoài trong trường hợp này, các chúng sanh còn lại hãy cứ sợ hãi. Nhưng còn các chúng sanh trong địa ngục, khi đang phải chịu đựng những cảm thọ đau đớn, dữ dội, khốc liệt, với tất cả các chi phần lớn nhỏ đều bị thiêu đốt rực rỡ, với gương mặt khóc lóc, than van, kêu gào, rên rỉ, ai oán, bị những nỗi khổ đau dữ dội không thể chịu đựng nổi áp đảo, không nơi nương tựa, không nơi ẩn náu, trở thành kẻ không nơi nương tựa, bị sầu muộn không ít hành hạ, đi đến cảnh giới cuối cùng thấp hèn nhất, hoàn toàn lấy sầu muộn làm nơi nương tựa, với ngọn lửa nóng bỏng, sắc bén, dữ dội, khắc nghiệt, thiêu đốt, với những tiếng gầm rú lớn lao, kinh hoàng, gây ra sự sợ hãi, bị bao vây bởi sáu loại vòng hoa lửa đan xen, với sức mạnh của ngọn lửa lan tỏa một trăm do-tuần khắp bốn phương, khi chết đi từ đại địa ngục tàn khốc, thiêu đốt ấy, họ có còn sợ hãi cái chết không?” “Thưa Đại vương, có.”
‘‘Nanu, bhante nāgasena, nirayo ekantadukkhavedanīyo, kissa pana te nerayikā sattā ekantadukkhavedanīyā nirayā cavamānā maccuno bhāyanti, kissa niraye ramantī’’ti? ‘‘Na te, mahārāja, nerayikā sattā niraye ramanti, muñcitukāmāva te nirayā. Maraṇasseva so †, mahārāja, ānubhāvo, yena tesaṃ santāso uppajjatī’’ti. ‘‘Etaṃ kho, bhante nāgasena, na saddahāmi, yaṃ muccitukāmānaṃ cutiyā santāso uppajjatīti, hāsanīyaṃ, bhante nāgasena, taṃ ṭhānaṃ, yaṃ te patthitaṃ labhanti, kāraṇena maṃ saññāpehī’’ti.
“Venerable Nāgasena, is not hell a place where only painful feeling is experienced? Why then do those beings in hell, who experience only painful feeling, fear death when they are passing away from hell? Why do they delight in hell?” “Great king, those beings in hell do not delight in hell; they only wish to be released from hell. It is the power of death itself, great king, by which terror arises in them.” “Venerable Nāgasena, I do not believe this, that terror arises at passing away for those who wish to be released. That situation is a cause for joy, Venerable Nāgasena, that they obtain what they have wished for. Persuade me with a reason.”
“Bạch Đại đức Nāgasena, chẳng phải địa ngục là nơi chỉ toàn cảm thọ khổ đau hay sao? Vậy tại sao những chúng sanh trong địa ngục ấy, vốn chỉ toàn cảm thọ khổ đau, khi chết đi từ địa ngục lại sợ hãi cái chết? Tại sao họ lại vui thích trong địa ngục?” “Thưa Đại vương, những chúng sanh trong địa ngục ấy không vui thích trong địa ngục, họ chỉ muốn được giải thoát khỏi địa ngục. Thưa Đại vương, đó chính là uy lực của cái chết, do đó mà sự kinh hoàng khởi sanh nơi họ.” “Bạch Đại đức Nāgasena, con thật không tin điều này, rằng sự kinh hoàng lại khởi sanh từ cái chết đối với những kẻ muốn được giải thoát. Bạch Đại đức Nāgasena, trường hợp đó thật đáng vui mừng, khi họ đạt được điều mà họ mong mỏi. Xin hãy dùng lý do để làm cho con hiểu rõ.”
‘‘Maraṇanti kho, mahārāja, etaṃ adiṭṭhasaccānaṃ tāsanīyaṭṭhānaṃ, etthāyaṃ jano tasati ca ubbijjati ca. Yo ca, mahārāja, kaṇhasappassa bhāyati, so maraṇassa bhāyanto kaṇhasappassa bhāyati. Yo ca hatthissa bhāyati…pe… sīhassa…pe… byagghassa…pe… dīpissa…pe… acchassa…pe… taracchassa…pe… mahiṃsassa…pe… gavayassa…pe… aggissa…pe… udakassa…pe… khāṇukassa…pe… kaṇṭakassa bhāyati. Yo ca sattiyā bhāyati, so maraṇassa bhāyanto sattiyā bhāyati. Maraṇasseva so †, mahārāja, sarasasabhāvatejo †, tassa sarasasabhāvatejena sakilesā sattā maraṇassa tasanti bhāyanti, muccitukāmāpi, mahārāja, nerayikā sattā maraṇassa tasanti bhāyanti.
“Death, great king, is indeed a cause for terror for those who have not seen the truths; in this matter, people tremble and are agitated. And whoever, great king, fears a black snake, fears the black snake because he fears death. And whoever fears an elephant… a lion… a tiger… a leopard… a bear… a hyena… a buffalo… a wild ox… fire… water… a stump… or a thorn; and whoever fears a spear, fears the spear because he fears death. That, great king, is the inherent power and nature of death itself. Because of that inherent power and nature, beings with defilements tremble and fear death. Even the beings in hell, great king, though they wish to be released, tremble and fear death.”
“Thưa Đại vương, cái chết là một điều đáng kinh hãi đối với những người chưa thấy được chân lý. Về điều này, chúng sanh vừa kinh hãi vừa run sợ. Thưa Đại vương, người nào sợ rắn hổ mang, người đó vì sợ chết mà sợ rắn hổ mang. Người nào sợ voi… sư tử… cọp… báo… gấu… linh cẩu… trâu… bò tót… lửa… nước… gốc cây… gai… Người nào sợ ngọn giáo, người đó vì sợ chết mà sợ ngọn giáo. Thưa Đại vương, đó chính là uy lực tự nhiên của cái chết. Do uy lực tự nhiên ấy của cái chết mà các chúng sanh còn phiền não đều kinh hãi và sợ sệt cái chết. Thưa Đại vương, ngay cả khi muốn được giải thoát, các chúng sanh trong địa ngục vẫn kinh hãi và sợ sệt cái chết.”
‘‘Idha, mahārāja, purisassa kāye medo gaṇṭhi uppajjeyya. So tena rogena dukkhito upaddavā parimuccitukāmo bhisakkaṃ sallakattaṃ āmantāpeyya. Tassa vacanaṃ so bhisakko sallakatto sampaṭicchitvā tassa rogassa uddharaṇāya upakaraṇaṃ upaṭṭhāpeyya, satthakaṃ tikhiṇaṃ kareyya, yamakasalākā † aggimhi pakkhipeyya, khāralavaṇaṃ nisadāya pisāpeyya, api nu kho, mahārāja, tassa āturassa tikhiṇasatthakacchedanena yamakasalākādahanena khāraloṇappavesanena tāso uppajjeyyā’’ti? ‘‘Āma bhante’’ti. ‘‘Iti, mahārāja, tassa āturassa rogā muccitukāmassāpi vedanābhayā santāso uppajjati. Evameva kho, mahārāja, nirayā muccitukāmānampi nerayikānaṃ sattānaṃ maraṇabhayā santāso uppajjati.
“Suppose, great king, a man were to have a fatty tumor arise on his body. Afflicted by that disease and desiring to be freed from the affliction, he would summon a physician and surgeon. That physician and surgeon, having accepted his request, would prepare the instruments for removing that disease: he would sharpen a small knife, place a pair of probes in the fire, and have alkaline salt ground on a stone. Now, great king, would terror arise in that patient from the cutting with the sharp knife, the cauterizing with the pair of probes, and the insertion of the alkaline salt?” “Yes, venerable sir.” “Thus, great king, even though that patient desires to be freed from the disease, terror arises in him from the fear of the painful feeling. In the same way, great king, for the beings in hell who desire to be freed from hell, terror arises from the fear of death.”
“Thưa Đại vương, ví như ở đây, trên thân một người đàn ông có một khối u mỡ nổi lên. Người ấy đau khổ vì căn bệnh đó, muốn thoát khỏi tai ương nên cho mời một vị thầy thuốc phẫu thuật. Vị thầy thuốc phẫu thuật ấy sau khi nhận lời, liền chuẩn bị dụng cụ để loại bỏ khối u đó: mài dao cho thật sắc, nung cặp kẹp trong lửa, giã kiềm và muối trên phiến đá. Thưa Đại vương, liệu người bệnh ấy có kinh hãi trước việc bị cắt bởi con dao sắc, bị đốt bởi cặp kẹp nung, và bị xát kiềm muối vào không?” “Bạch Đại đức, có.” “Như vậy, thưa Đại vương, người bệnh ấy dù muốn thoát khỏi bệnh tật nhưng vẫn kinh hãi vì sợ đau đớn. Cũng thế, thưa Đại vương, các chúng sanh trong địa ngục dù muốn thoát khỏi địa ngục nhưng vẫn kinh hãi vì sợ cái chết.”
‘‘Idha, mahārāja, puriso issarāparādhiko baddho saṅkhalikabandhanena gabbhe pakkhitto parimuccitukāmo assa, tamenaṃ so issaro mocetukāmo pakkosāpeyya. Api nu kho, mahārāja, tassa issarāparādhikassa purisassa ‘katadoso aha’nti jānantassa issaradassanena santāso uppajjeyyā’’ti? ‘‘Āma bhante’’ti. ‘‘Iti, mahārāja, tassa issarāparādhikassa purisassa parimuccitukāmāssāpi issarabhayā santāso uppajjati. Evameva kho, mahārāja, nirayā muccitukāmānampi nerayikānaṃ sattānaṃ maraṇabhayā santāso uppajjatī’’ti.
“Suppose, great king, a man who has committed an offense against a ruler is bound with chains and thrown into a dungeon, and he desires to be freed. That ruler, wishing to release him, has him summoned. Now, great king, for that man who has committed an offense against the ruler, knowing, ‘I have committed a fault,’ would terror arise upon seeing the ruler?” “Yes, venerable sir.” “Thus, great king, for that man who has committed an offense against the ruler, even though he desires to be freed, terror arises from fear of the ruler. In the same way, great king, for the beings in hell who desire to be freed from hell, terror arises from the fear of death.”
“Thưa Đại vương, ví như ở đây, một người đàn ông phạm tội với vua, bị xiềng xích trói lại, tống vào ngục, và muốn được giải thoát. Vị vua ấy muốn tha cho anh ta nên cho gọi đến. Thưa Đại vương, liệu người đàn ông phạm tội với vua ấy, khi biết rằng ‘mình đã có lỗi’, có kinh hãi khi nhìn thấy nhà vua không?” “Bạch Đại đức, có.” “Như vậy, thưa Đại vương, người đàn ông phạm tội với vua ấy dù muốn được giải thoát nhưng vẫn kinh hãi vì sợ nhà vua. Cũng thế, thưa Đại vương, các chúng sanh trong địa ngục dù muốn thoát khỏi địa ngục nhưng vẫn kinh hãi vì sợ cái chết.”
‘‘Aparampi, bhante, uttariṃ kāraṇaṃ brūhi, yenāhaṃ kāraṇena okappeyya’’nti. ‘‘Idha, mahārāja, puriso daṭṭhavisena āsīvisena daṭṭho bhaveyya, so tena visavikārena pateyya uppateyya vaṭṭeyya pavaṭṭeyya, athaññataro puriso balavantena mantapadena taṃ daṭṭhavisaṃ āsīvisaṃ ānetvā taṃ daṭṭhavisaṃ paccācamāpeyya, api nu kho, mahārāja, tassa visagatassa purisassa tasmiṃ daṭṭhavise sappe sotthihetu upagacchante santāso uppajjeyyā’’ti? ‘‘Āma bhante’’ti. Iti, mahārāja, tathārūpe ahimhi sotthihetupi upagacchante tassa santāso uppajjati. Evameva kho, mahārāja, nirayā muccitukāmānampi nerayikānaṃ santānaṃ maraṇabhayā santāso uppajjati. Aniṭṭhaṃ, mahārāja, sabbasattānaṃ maraṇaṃ, tasmā nerayikā sattā nirayā parimuccitukāmāpi maccuno bhāyantī’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Venerable sir, give me a further, higher reason by which I may be convinced.” “Suppose, great king, a man were bitten by a snake with potent venom. Due to the effects of that poison, he would fall down, jump up, roll about, and thrash around. Then another man, with a powerful mantra, would bring that same venomous snake and have it suck the venom back out. Now, great king, for that poisoned man, would terror arise when that venomous snake approaches for the sake of his well-being?” “Yes, venerable sir.” “Thus, great king, even when such a snake approaches for the sake of his well-being, terror arises in him. In the same way, great king, for the beings in hell who desire to be freed from hell, terror arises from the fear of death. Death, great king, is undesirable to all beings. Therefore, the beings in hell, even though they desire to be freed from hell, fear death.” “Excellent, Venerable Nāgasena, it is so; I accept it thus.”
“Bạch Đại đức, xin ngài hãy cho con biết thêm một lý do cao hơn nữa, để con có thể tin tưởng.” “Thưa Đại vương, ví như ở đây, một người đàn ông bị một con rắn độc cắn, do nọc độc phát tác, anh ta ngã xuống, co giật, lăn lộn, quằn quại. Bấy giờ, một người khác dùng một câu thần chú hiệu nghiệm gọi con rắn độc ấy đến và bắt nó hút nọc độc ra. Thưa Đại vương, liệu người bị trúng độc ấy, khi thấy con rắn độc đến gần vì mục đích chữa lành, có kinh hãi không?” “Bạch Đại đức, có.” “Như vậy, thưa Đại vương, dù con rắn như thế đến gần vì mục đích chữa lành, người ấy vẫn kinh hãi. Cũng thế, thưa Đại vương, các chúng sanh trong địa ngục dù muốn thoát khỏi địa ngục nhưng vẫn kinh hãi vì sợ cái chết. Thưa Đại vương, cái chết là điều không mong muốn đối với tất cả chúng sanh, do đó các chúng sanh trong địa ngục dù muốn thoát khỏi địa ngục vẫn sợ hãi cái chết.” “Lành thay, bạch Đại đức Nāgasena, con xin chấp nhận điều này đúng là như vậy.”
Maccubhāyanābhāyanapañho tatiyo.
The Third Question on Fearing and Not Fearing Death.
Câu hỏi thứ ba về việc sợ và không sợ cái chết.