Bản dịch
MIL 5.2.2 — CÂU HỎI VỀ CÂU TRẢ LỜI NÊN ĐƯỢC ĐÌNH CHỈ
2. Abyākaraṇīyapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Ānanda, không có bàn tay nắm lại của vị thầy ở các giáo lý của đức Như Lai.’ Và thêm nữa khi được trưởng lão Māluṅkyaputta hỏi câu hỏi, Ngài đã không trả lời. Thưa ngài Nāgasena, câu hỏi này có hai đầu mối và sẽ được nương vào một đầu mối: hoặc là do sự không biết hoặc là do việc che giấu. Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘Này Ānanda, không có bàn tay nắm lại của vị thầy ở các giáo lý của đức Như Lai,’ như thế thì do không biết mà đã không trả lời cho trưởng lão Māluṅkyaputta. Nếu trong khi biết mà đã không trả lời, như thế thì có bàn tay nắm lại của vị thầy ở các giáo lý của đức Như Lai. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Ānanda, không có bàn tay nắm lại của vị thầy ở các giáo lý của đức Như Lai,’và câu hỏi được hỏi bởi trưởng lão Māluṅkyaputta đã không được trả lời. Nhưng điều ấy không phải do sự không biết, không phải do việc che giấu. Tâu đại vương, đây là bốn cách trả lời câu hỏi. Bốn cách nào? ‘Câu hỏi nên được trả lời dứt khoát, câu hỏi nên được trả lời sau khi phân tích, câu hỏi nên được trả lời bằng sự hỏi lại, câu hỏi nên được đình chỉ.’
Tâu đại vương, câu hỏi nên được trả lời dứt khoát là câu hỏi nào? ‘Có phải sắc là vô thường?’ là câu hỏi nên được trả lời dứt khoát. ‘Có phải thọ là vô thường,’ ‘Có phải tưởng là vô thường,’ ‘Có phải các hành là vô thường,’ ‘Có phải thức là vô thường’ là câu hỏi nên được trả lời dứt khoát. Đây là câu hỏi nên được trả lời dứt khoát.
Câu hỏi nên được trả lời sau khi phân tích là câu hỏi nào? ‘Chẳng lẽ sắc là vô thường’ là câu hỏi nên được trả lời sau khi phân tích. ‘Chẳng lẽ thọ là vô thường,’ ‘Chẳng lẽ tưởng là vô thường,’ ‘Chẳng lẽ các hành là vô thường,’ ‘Chẳng lẽ thức là vô thường’ là câu hỏi nên được trả lời sau khi phân tích. Đây là câu hỏi nên được trả lời sau khi phân tích.
Câu hỏi nên được trả lời bằng sự hỏi lại là câu hỏi nào? ‘Phải chăng nhận thức mọi thứ bằng con mắt?’ Đây là câu hỏi nên được trả lời bằng sự hỏi lại.
Câu hỏi nên được đình chỉ là câu hỏi nào? ‘Thế giới là thường còn’ là câu hỏi nên được đình chỉ. ‘Thế giới là không thường còn,’ ‘Thế giới là có giới hạn,’ ‘Thế giới là không có giới hạn,’ ‘Thế giới là có giới hạn và không có giới hạn,’ ‘Thế giới không phải là có giới hạn và cũng không phải là không có giới hạn,’ ‘Mạng sống là vật ấy thân thể là vật ấy,’ ‘Mạng sống là vật khác thân thể là vật khác,’ ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu ở nơi khác sau khi chết,’ ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết,’ ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu và không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết,’ ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết’ là câu hỏi nên được đình chỉ. Đây là câu hỏi nên được đình chỉ.
Tâu đại vương, đức Thế Tôn đã không trả lời câu hỏi nên được đình chỉ ấy của trưởng lão Māluṅkyaputta. Vậy thì vì lý do gì mà câu hỏi ấy là nên được đình chỉ? Không có nguyên nhân hay là lý do cho việc làm sáng tỏ nó, do đó câu hỏi ấy là nên được đình chỉ. Đối với chư Phật Thế Tôn, không có việc thốt lên lời nói không có lý do, không có nguyên nhân.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc trả lời nên được đình chỉ là thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Katamo ca, mahārāja, ekaṃsabyākaraṇīyo pañho? ‘Rūpaṃ anicca’nti ekaṃsabyākaraṇīyo pañho, ‘vedanā aniccā’ti…pe… ‘saññā aniccā’ti…pe… ‘saṅkhārā aniccā’ti…pe… ‘viññāṇaṃ anicca’’nti ekaṃsabyākaraṇīyo pañho, ayaṃ ekaṃsabyākaraṇīyo pañho.
“And what, great king, is a question to be answered categorically? ‘Is form impermanent?’—this is a question to be answered categorically. ‘Is feeling impermanent?’… ‘Is perception impermanent?’… ‘Are formations impermanent?’… ‘Is consciousness impermanent?’—this is a question to be answered categorically. This is a question to be answered categorically.”
– Tâu Đại vương, câu hỏi cần được trả lời một cách dứt khoát là gì? ‘Sắc là vô thường phải không?’ là câu hỏi cần được trả lời một cách dứt khoát. ‘Thọ là vô thường phải không?’... ‘Tưởng là vô thường phải không?’... ‘Các hành là vô thường phải không?’... ‘Thức là vô thường phải không?’ là câu hỏi cần được trả lời một cách dứt khoát. Đây là câu hỏi cần được trả lời một cách dứt khoát.
‘‘Katamo vibhajjabyākaraṇīyo pañho? ‘Aniccaṃ pana rūpa’nti vibhajjabyākaraṇīyo pañho, ‘aniccā pana vedanā’ti…pe… ‘aniccā pana saññā’ti…pe… ‘aniccā pana saṅkhārā’ti…pe… ‘aniccaṃ pana viññāṇa’nti vibhajjabyākaraṇīyo pañho, ayaṃ vibhajjabyākaraṇīyo pañho.
“What is a question to be answered analytically? ‘But is form impermanent?’—this is a question to be answered analytically. ‘But is feeling impermanent?’… ‘But is perception impermanent?’… ‘But are formations impermanent?’… ‘But is consciousness impermanent?’—this is a question to be answered analytically. This is a question to be answered analytically.”
– Câu hỏi cần được trả lời bằng cách phân tích là gì? ‘Vậy sắc là vô thường phải không?’ là câu hỏi cần được trả lời bằng cách phân tích. ‘Vậy thọ là vô thường phải không?’... ‘Vậy tưởng là vô thường phải không?’... ‘Vậy các hành là vô thường phải không?’... ‘Vậy thức là vô thường phải không?’ là câu hỏi cần được trả lời bằng cách phân tích. Đây là câu hỏi cần được trả lời bằng cách phân tích.
‘‘Katamo paṭipucchābyākaraṇīyo pañho? ‘Kiṃ nu kho cakkhunā sabbaṃ vijānātī’ti ayaṃ paṭipucchābyākaraṇīyo pañho.
“What is a question to be answered with a counter-question? ‘Does one know everything with the eye?’ This is a question to be answered with a counter-question.”
– Câu hỏi cần được trả lời bằng một câu hỏi ngược lại là gì? ‘Có phải người ta biết tất cả mọi thứ bằng mắt không?’ Đây là câu hỏi cần được trả lời bằng một câu hỏi ngược lại.
‘‘Katamo ṭhapanīyo pañho? ‘Sassato loko’ti ṭhapanīyo pañho, ‘asassato loko’ti. ‘Antavā loko’ti. ‘Anantavā loko’ti. ‘Antavā ca anantavā ca loko’ti. ‘Nevantavā nānantavā loko’ti. ‘Taṃ jīvaṃ taṃ sarīra’nti. ‘Aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīra’nti. ‘Hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti. ‘Na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti. ‘Hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti. ‘Neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti ṭhapanīyo pañho, ayaṃ ṭhapanīyo pañho.
“What is a question to be set aside? ‘Is the world eternal?’—this is a question to be set aside. ‘Is the world not eternal?’ ‘Is the world finite?’ ‘Is the world infinite?’ ‘Is the world both finite and infinite?’ ‘Is the world neither finite nor infinite?’ ‘Is the life principle the same as the body?’ ‘Is the life principle one thing and the body another?’ ‘Does a Tathāgata exist after death?’ ‘Does a Tathāgata not exist after death?’ ‘Does a Tathāgata both exist and not exist after death?’ ‘Does a Tathāgata neither exist nor not exist after death?’—this is a question to be set aside. This is a question to be set aside.”
– Câu hỏi cần được gác lại là gì? ‘Thế giới là thường hằng phải không?’ là câu hỏi cần được gác lại. ‘Thế giới là không thường hằng phải không?’ ‘Thế giới là hữu biên phải không?’ ‘Thế giới là vô biên phải không?’ ‘Thế giới vừa hữu biên vừa vô biên phải không?’ ‘Thế giới không hữu biên cũng không vô biên phải không?’ ‘Sinh mạng và thân thể là một phải không?’ ‘Sinh mạng và thân thể là khác nhau phải không?’ ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết không?’ ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết không?’ ‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết không?’ ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết không?’ là câu hỏi cần được gác lại. Đây là câu hỏi cần được gác lại.
‘‘Bhagavā, mahārāja, therassa mālukyaputtassa taṃ ṭhapanīyaṃ pañhaṃ na byākāsi. So pana pañho kiṃ kāraṇā ṭhapanīyo? Na tassa dīpanāya hetu vā kāraṇaṃ vā atthi, tasmā so pañho ṭhapanīyo. Natthi buddhānaṃ bhagavantānaṃ akāraṇamahetukaṃ giramudīraṇa’’nti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Great king, the Blessed One did not answer that question of the elder Mālukyaputta, as it was a question to be set aside. For what reason was that question to be set aside? There is no root-cause or proximate cause for its explanation; therefore, that question is to be set aside. The Buddhas, the Blessed Ones, do not utter speech that is without cause or reason.” “Excellent, Venerable Nāgasena, I accept it as being just so.”
– Tâu Đại vương, đức Thế Tôn đã không trả lời câu hỏi cần được gác lại đó của Trưởng lão Mālukyaputta. Vì lý do gì mà câu hỏi đó cần được gác lại? Bởi vì không có nguyên nhân hay lý do nào để giải thích nó, cho nên câu hỏi đó cần được gác lại. Chư Phật, chư Thế Tôn không nói lời nào vô cớ, vô duyên. – Lành thay, bạch đức Nāgasena, con xin chấp nhận như vậy.
Abyākaraṇīyapañho dutiyo.
The Second Question Not to Be Answered.
Vấn đề về những câu hỏi không được trả lời, phần thứ hai.