Bản dịch
MIL 5.2.1 — CÂU HỎI VỀ CÁC ĐIỀU NHỎ NHẶT VÀ TIỂU TIẾT
1. Khuddānukhuddakapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, Ta thuyết giảng Giáo Pháp sau khi đã hiểu biết tận tường, không phải không do Thắng Trí.’ Và còn nữa, ở sự quy định về Luật Ngài đã nói như vầy: ‘Này Ānanda, sau khi Ta tịch diệt, Hội Chúng trong khi mong muốn hãy hủy bỏ các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết.’ Thưa ngài Nāgasena, về việc đức Thế Tôn bảo hủy bỏ các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết sau khi Ngài đã tịch diệt, phải chăng các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết đã được quy định sai, hay là đã được quy định khi không có sự việc (xảy ra), sau khi đã không nhận biết? Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘Này các tỳ khưu, Ta thuyết giảng Giáo Pháp sau khi đã hiểu biết tận tường, không phải không do Thắng Trí,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Này Ānanda, sau khi Ta tịch diệt, Hội Chúng trong khi mong muốn hãy hủy bỏ các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết’ là sai trái. Nếu ở sự quy định về Luật, đức Như Lai đã nói như vầy: ‘Này Ānanda, sau khi Ta tịch diệt, Hội Chúng trong khi mong muốn hãy hủy bỏ các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết,’ như thế thì lời nói: ‘Này các tỳ khưu, Ta thuyết giảng Giáo Pháp sau khi đã hiểu biết tận tường, không phải không do Thắng Trí’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, tinh vi, tế nhị, vô cùng khôn khéo, vô cùng sâu xa, khó phân giải. Nó được dành cho ngài. Ở đây, xin ngài hãy thể hiện sự triển khai về năng lực trí tuệ của ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, Ta thuyết giảng Giáo Pháp sau khi đã hiểu biết tận tường, không phải không do Thắng Trí.’ Và ở sự quy định về Luật Ngài đã nói như vầy: ‘Này Ānanda, sau khi Ta tịch diệt, Hội Chúng trong khi mong muốn hãy hủy bỏ các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết.’ Tâu đại vương, đức Như Lai đã nói điều ấy trong khi thử thách các vị tỳ khưu rằng: ‘Sau khi Ta tịch diệt, các đệ tử của Ta, trong khi hết bị ràng buộc với Ta, thì sẽ loại bỏ các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết, hay là sẽ gắn bó?’ Tâu đại vương, giống như đức Chuyển Luân Vương có thể nói với các con trai như vầy: ‘Này các con, lãnh thổ rộng lớn này được bao bọc bởi đại dương ở tất cả các phương. Này các con, để duy trì chừng ấy (lãnh thổ) bằng binh lực là việc làm khó khăn. Này các con, sau khi ta băng hà các con hãy buông bỏ các khu vực biên địa.’ Tâu đại vương, phải chăng sau khi vua cha băng hà các hoàng tử có thể buông lơi tất cả các khu vực biên địa ấy là phần lãnh thổ đã nắm trong tay?”
“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, các vị vua còn ham muốn nhiều hơn. Các hoàng tử vì lòng tham đối với vương quốc có thể tóm thâu lãnh thổ hai lần ba lần hơn thế nữa, làm sao họ có thể buông lơi phần lãnh thổ đã nắm trong tay?”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai trong khi thử thách các vị tỳ khưu đã nói như vầy: ‘Này Ānanda, sau khi Ta tịch diệt, Hội Chúng trong khi mong muốn hãy hủy bỏ các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết.’
Tâu đại vương, nhằm sự giải thoát hoàn toàn khổ đau, những người con trai của đức Phật với lòng tham muốn về Giáo Pháp có thể gìn giữ còn nhiều hơn một trăm năm mươi điều học, làm sao các vị lại buông lơi điều học đã được quy định theo truyền thống?”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà đức Thế Tôn đã nói về ‘các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết,’ ở đây đám người này là mê muội, bị sanh khởi nỗi phân vân, bị tác động, bị khởi lên sự nghi ngờ. Các điều học nhỏ nhặt ấy là các điều nào? Các điều học tiểu tiết là các điều nào?”
“Tâu đại vương, điều học nhỏ nhặt là tội dukkaṭa (đã làm sai trái). Điều học tiểu tiết là tội dubbhāsita (đã nói sai trái). Hai loại này là các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết. Tâu đại vương, các vị đại trưởng lão trước đây đã nêu lên sự phân vân về điều này. Do đức Thế Tôn mà câu hỏi này đã được nêu ra; nó cũng đã gây ra sự không đồng nhất trong cuộc thảo luận về việc duy trì Giáo Pháp bởi các vị ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều bí ẩn của đấng Chiến Thắng bị bỏ quên bấy lâu, vào lúc này hôm nay đã được mở ra, đã được làm rõ ràng ở thế gian.”
Câu hỏi về các điều nhỏ nhặt và tiểu tiết là thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. ‘‘Bhante nāgasena, bhāsitampetaṃ bhagavatā ‘abhiññāyāhaṃ, bhikkhave, dhammaṃ desemi no anabhiññāyā’ti. Puna ca vinayapaññattiyā evaṃ bhaṇitaṃ ‘ākaṅkhamāno, ānanda, saṅgho mamaccayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhanatū’ti. Kiṃ nu kho, bhante nāgasena, khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni duppaññattāni, udāhu avatthusmiṃ ajānitvā paññattāni, yaṃ bhagavā attano accayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhanāpeti? Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṃ ‘abhiññāyāhaṃ, bhikkhave, dhammaṃ desemi no anabhiññāyā’ti, tena hi ‘ākaṅkhamāno, ānanda, saṅgho mamaccayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhanatū’ti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi tathāgate vinayapaññattiyā evaṃ bhaṇitaṃ ‘ākaṅkhamāno, ānanda, saṅgho mamaccayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhanatū’ti tena hi ‘abhiññāyāhaṃ, bhikkhave, dhammaṃ desemi no anabhiññāyā’ti tampi vacanaṃ micchā. Ayampi ubhato koṭiko pañho sukhumo nipuṇo gambhīro sugambhīro dunnijjhāpayo, so tavānuppatto, tattha te ñāṇabalavipphāraṃ dassehī’’ti.
1. “Venerable Nāgasena, this was spoken by the Blessed One: ‘Monks, I teach the Dhamma through direct knowledge, not without direct knowledge.’ And again, in the Vinaya it was said thus: ‘Ānanda, should the Sangha wish, after my passing, let them abolish the minor and lesser training rules.’ Now, Venerable Nāgasena, were the minor and lesser training rules poorly formulated, or were they established without knowing the occasion, that the Blessed One would have the Sangha abolish the minor and lesser training rules after his passing? If, Venerable Nāgasena, the Blessed One said, ‘Monks, I teach the Dhamma through direct knowledge, not without direct knowledge,’ then the statement, ‘Ānanda, should the Sangha wish, after my passing, let them abolish the minor and lesser training rules,’ is false. If in the Vinaya the Tathāgata said thus: ‘Ānanda, should the Sangha wish, after my passing, let them abolish the minor and lesser training rules,’ then the statement, ‘Monks, I teach the Dhamma through direct knowledge, not without direct knowledge,’ is also false. This double-edged question is subtle, intricate, profound, very profound, hard to fathom, and has come to you; display there the power and range of your wisdom.”
1. “Bạch ngài Nāgasena, điều này đã được đức Thế Tôn nói: ‘Này các Tỳ khưu, Ta thuyết giảng Chánh pháp sau khi đã liễu tri, chứ không phải không liễu tri.’ Và rồi, trong phần chế định giới luật, lại có nói như sau: ‘Này Ānanda, nếu Tăng chúng muốn, sau khi ta diệt độ, có thể bãi bỏ các học giới nhỏ và phụ.’ Bạch ngài Nāgasena, vậy là thế nào? Có phải các học giới nhỏ và phụ đã được chế định một cách tồi tệ, hay chúng được chế định mà không biết rõ trường hợp thích đáng, đến nỗi đức Thế Tôn lại cho phép bãi bỏ các học giới nhỏ và phụ sau khi Ngài diệt độ? Bạch ngài Nāgasena, nếu đức Thế Tôn đã nói: ‘Này các Tỳ khưu, Ta thuyết giảng Chánh pháp sau khi đã liễu tri, chứ không phải không liễu tri,’ thì lời nói: ‘Này Ānanda, nếu Tăng chúng muốn, sau khi ta diệt độ, có thể bãi bỏ các học giới nhỏ và phụ’ là sai. Nếu Như Lai đã nói trong phần chế định giới luật rằng: ‘Này Ānanda, nếu Tăng chúng muốn, sau khi ta diệt độ, có thể bãi bỏ các học giới nhỏ và phụ,’ thì lời nói: ‘Này các Tỳ khưu, Ta thuyết giảng Chánh pháp sau khi đã liễu tri, chứ không phải không liễu tri’ cũng là sai. Câu hỏi này có hai đầu, vi tế, tinh xảo, sâu sắc, rất sâu sắc, khó mà thấu triệt được. Câu hỏi ấy đã đến với ngài, xin ngài hãy thể hiện sự lan tỏa sức mạnh trí tuệ của ngài về vấn đề này.”
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā ‘abhiññāyāhaṃ, bhikkhave, dhammaṃ desemi no anabhiññāyā’ti, vinayapaññattiyāpi evaṃ bhaṇitaṃ ‘ākaṅkhamāno, ānanda, saṅgho mamaccayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhanatū’ti, taṃ pana, mahārāja, tathāgato bhikkhū vīmaṃsamāno āha ‘ukkalessanti † nu kho mama sāvakā mayā vissajjāpīyamānā mamaccayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni, udāhu ādiyissantī’ti.
“Great king, this was spoken by the Blessed One: ‘Monks, I teach the Dhamma through direct knowledge, not without direct knowledge.’ And in the Vinaya it was said thus: ‘Ānanda, should the Sangha wish, after my passing, they may abolish the minor and lesser training rules.’ But, great king, the Tathāgata, while examining the monks, said: ‘Will my disciples, when allowed by me, after my passing, abolish the minor and lesser training rules, or will they adopt them?’”
“Tâu Đại vương, điều này đã được đức Thế Tôn nói: ‘Này các Tỳ khưu, Ta thuyết giảng Chánh pháp sau khi đã liễu tri, chứ không phải không liễu tri,’ và trong phần chế định giới luật cũng có nói rằng: ‘Này Ānanda, nếu Tăng chúng muốn, sau khi ta diệt độ, có thể bãi bỏ các học giới nhỏ và phụ.’ Tuy nhiên, tâu Đại vương, Như Lai nói điều đó là để thử nghiệm các Tỳ khưu rằng: ‘Liệu các đệ tử của ta, khi được ta cho phép, sau khi ta diệt độ, sẽ bãi bỏ các học giới nhỏ và phụ, hay họ sẽ tuân giữ chúng?’”
‘‘Yathā, mahārāja, cakkavattī rājā putte evaṃ vadeyya ‘ayaṃ kho, tātā, mahājanapado sabbadisāsu sāgarapariyanto, dukkaro, tātā, tāvatakena balena dhāretuṃ, etha tumhe, tātā, mamaccayena paccante paccante dese pajahathā’ti. Api nu kho te, mahārāja, kumārā pituaccayena hatthagate janapade sabbe te paccante paccante dese muñceyyu’’nti? ‘‘Na hi bhante, rājato †, bhante, luddhatarā † kumārā rajjalobhena taduttariṃ diguṇatiguṇaṃ janapadaṃ pariggaṇheyyuṃ †, kiṃ pana te hatthagataṃ janapadaṃ muñceyyu’’nti? ‘‘Evameva kho, mahārāja, tathāgato bhikkhū vīmaṃsamāno evamāha ‘ākaṅkhamāno, ānanda, saṅgho mamaccayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhanatū’ti. Dukkhaparimuttiyā, mahārāja, buddhaputtā dhammalobhena aññampi uttariṃ diyaḍḍhasikkhāpadasataṃ gopeyyuṃ, kiṃ pana pakatipaññattaṃ sikkhāpadaṃ muñceyyu’’nti?
“Just as, great king, a wheel-turning monarch might say to his sons: ‘Here, dear ones, is this great territory extending to the ocean’s edge in all directions. It is difficult, dear ones, to maintain with so little power. Come, dear ones, after my passing, abandon the border regions in the outlying districts.’ Would those princes, great king, upon their father's passing, relinquish all those border regions in the outlying districts of the territory that has come into their hands?” “No, venerable sir. The princes, venerable sir, are more greedy than the king. Out of greed for kingship, they would acquire twice or thrice as much territory additionally. How much less would they relinquish territory already in their grasp?” “Just so, great king, the Tathāgata, examining the monks, spoke thus: ‘If the Sangha wishes, Ānanda, after my passing, it may abolish the minor and lesser training rules.’ The Buddha’s sons, great king, for the sake of liberation from suffering and out of love for the Dhamma, would protect even an additional one hundred and fifty rules of training. How much less would they relinquish a training rule originally laid down?”
“Tâu Đại vương, ví như một vị vua chuyển luân có thể nói với các hoàng tử của mình rằng: ‘Này các con, vương quốc rộng lớn này có đại dương làm ranh giới ở khắp mọi phương. Này các con, thật khó để cai quản với một lực lượng như vậy. Này các con, sau khi ta qua đời, các con hãy từ bỏ các vùng đất ở biên thùy.’ Tâu Đại vương, liệu các hoàng tử ấy, sau khi vua cha qua đời, có từ bỏ các vùng đất ở biên thùy đã nằm trong tay họ không?” “Bạch ngài, chắc chắn là không. Bạch ngài, các hoàng tử còn tham lam hơn cả nhà vua. Vì lòng tham ái vương quốc, họ sẽ chiếm thêm những vùng đất gấp hai, gấp ba lần. Cớ sao họ lại từ bỏ vùng đất đã nằm trong tay mình?” “Cũng vậy, tâu Đại vương, Như Lai, vì muốn thử nghiệm các Tỳ khưu, đã nói như sau: ‘Này Ānanda, nếu Tăng chúng muốn, sau khi ta diệt độ, có thể bãi bỏ các học giới nhỏ và phụ.’ Tâu Đại vương, các Phật tử, vì muốn giải thoát khỏi khổ đau và vì lòng khao khát Chánh pháp, họ sẽ giữ gìn thêm một trăm năm mươi học giới khác nữa. Cớ sao họ lại từ bỏ một học giới đã được chế định thông thường?”
‘‘Bhante nāgasena, yaṃ bhagavā āha ‘khuddānukhuddakāni sikkhāpadānī’ti, etthāyaṃ jano sammūḷho vimatijāto adhikato saṃsayapakkhando. Katamāni tāni khuddakāni sikkhāpadāni, katamāni anukhuddakāni sikkhāpadānīti? Dukkaṭaṃ, mahārāja, khuddakaṃ sikkhāpadaṃ, dubbhāsitaṃ anukhuddakaṃ sikkhāpadaṃ, imāni dve khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni, pubbakehipi, mahārāja, mahātherehi ettha vimati uppāditā, tehipi ekajjhaṃ na kato dhammasaṇṭhitipariyāye bhagavatā eso pañho upadiṭṭhoti. Ciranikkhittaṃ, bhante nāgasena, jinarahassaṃ ajjetarahi loke vivaṭaṃ pākaṭaṃ kata’’nti.
“Venerable Nāgasena, when the Blessed One said, ‘the minor and lesser training rules,’ people are confused, have doubt, and fall into uncertainty. Which are the minor training rules, and which are the lesser training rules?” “A dukkaṭa offense, great king, is a minor training rule; a dubbhāsita offense is a lesser training rule. These are the two minor and lesser training rules. Even in the past, great king, the great elders had doubt about this, and this question, pointed out by the Blessed One in the discourse on the stability of the Dhamma, was not settled unanimously by them.” “Long hidden, venerable Nāgasena, is the secret of the Victor. Now, in the world, it has been revealed and made clear.”
– Bạch đức Nāgasena, về lời mà đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Các điều học nhỏ nhặt và phụ thuộc,’ ở đây người đời bị mê mờ, sanh nghi ngờ, và rơi vào hoang mang. Những điều học nhỏ nhặt ấy là gì, những điều học phụ thuộc ấy là gì? – Tâu Đại vương, tội đột-cát-la là điều học nhỏ nhặt, tội đột-bà-tư-đa là điều học phụ thuộc. Hai điều này là các điều học nhỏ nhặt và phụ thuộc. Tâu Đại vương, ngay cả các vị Đại Trưởng lão thời xưa cũng đã sanh nghi ngờ ở điểm này. Vấn đề này đã được đức Thế Tôn chỉ dạy trong phần trình bày về nền tảng của Giáo pháp, nhưng các vị ấy cũng đã không giải quyết được một cách dứt khoát. – Bạch đức Nāgasena, điều bí mật của bậc Chiến Thắng đã được gác lại từ lâu, nay đã được làm cho sáng tỏ, hiển nhiên trong đời.
Khuddānukhuddakapañho paṭhamo.
The First Question on the Minor and Lesser Rules.
Vấn đề về các điều học nhỏ nhặt và phụ thuộc, phần thứ nhất.