Bản dịch
MIL 5.1.10 — CÂU HỎI VỀ SỰ NHẬN THỨC
10 Iddhibaladassanapañha
ĐỐI VỚI NĂNG LỰC CỦA THẦN THÔNG
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Ānanda, bốn nền tảng về thần thông của Như Lai đã được tu tập, được thực hành thường xuyên, được tạo thành phương tiện, được tạo thành nền tảng, được thiết lập, được tích lũy, được khởi đầu tốt đẹp. Này Ānanda, Như Lai trong khi mong muốn có thể tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Từ nay cho đến hết ba tháng, Như Lai sẽ viên tịch Niết Bàn.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘Này Ānanda, bốn nền tảng về thần thông của Như Lai đã được tu tập,có thể tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp,’ như thế thì giới hạn ba tháng là sai trái. Nếu việc giới hạn ba tháng là sự thật, như thế thì lời nói rằng: ‘có thể tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp’ là sai trái. Đối với các đức Như Lai, không có việc đã phát biểu về điều không có cơ sở. Chư Phật Thế Tôn có lời nói không rồ dại, có lời nói chân thật, có lời nói không hai nghĩa. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, thâm sâu, vô cùng khôn khéo, khó phân giải. Nó được dành cho ngài. Xin ngài hãy phá vỡ mạng lưới tà kiến này. Xin ngài hãy xác định về điều chắc thật. Xin ngài hãy đánh đổ học thuyết của những kẻ khác.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Ānanda, bốn nền tảng về thần thông của Như Lai đã được tu tập,có thể tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp.’ Và giới hạn ba tháng đã được nói đến. Và hơn nữa, kiếp ấy được gọi là kiếp của tuổi thọ. Tâu đại vương, đức Thế Tôn không phải là đang tán dương năng lực của bản thân mà đã nói như vậy. Tuy nhiên, tâu đại vương, đức Thế Tôn trong khi đang tán dương năng lực của thần thông mà đã nói như vậy: ‘Này Ānanda, bốn nền tảng về thần thông của Như Lai đã được tu tập,có thể tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp.’ Tâu đại vương, giống như con ngựa thuần chủng của đức vua có sự di chuyển nhanh với tốc độ của gió. Đức vua trong khi tán dương năng lực về tốc độ của con ngựa có thể nói ở giữa dân chúng gồm có thị dân, dân chúng, nhân công, binh lính, Bà-la-môn, gia chủ, và các quan đại thần như vầy: ‘Này các khanh, con ngựa quý giá này của trẫm trong khi mong muốn có thể đi dọc theo trái đất được bao quanh bởi nước của biển cả rồi đi về đây trong giây lát.’ Dầu không phô bày sự di chuyển nhanh chóng cho hội chúng ấy, nhưng sự nhanh chóng ấy của nó được biết đến, và nó có khả năng đi dọc theo trái đất được bao quanh bởi nước của biển cả trong giây lát.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn không phải là đang tán dương năng lực của bản thân mà đã nói như vậy. Tuy nhiên, điều ấy đã được nói (bởi đức Thế Tôn) sau khi ngồi xuống ở giữa các vị A-la-hán có ba Minh, sáu Thắng Trí, không ô nhiễm, có các lậu hoặc đã cạn kiệt, cùng với chư Thiên và nhân loại rằng: ‘Này Ānanda, bốn nền tảng về thần thông của Như Lai đã được tu tập, được thực hành thường xuyên, được tạo thành phương tiện, được tạo thành nền tảng, được thiết lập, được tích lũy, được khởi đầu tốt đẹp. Này Ānanda, Như Lai trong khi mong muốn có thể tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp.’ Tâu đại vương, và năng lực thần thông ấy của đức Thế Tôn được biết đến, và đức Thế Tôn có khả năng tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp nhờ vào năng lực thần thông. Nhưng đức Thế Tôn không phô bày năng lực thần thông cho hội chúng ấy. Tâu đại vương, đức Thế Tôn không có mong muốn đối với tất cả các hữu, và đối với đức Thế Tôn tất cả các hữu là bị chê trách. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, cũng như phân bò dầu chỉ chút ít cũng có mùi thối, này các tỳ khưu, tương tợ y như thế Ta không ca ngợi về sự hiện hữu dầu chỉ chút ít, thậm chí chỉ là thời gian của một khảy móng tay.’ Tâu đại vương, sau khi xem tất cả các hữu, các cảnh giới, và các nguồn đưa đến tái sanh là tương đương với phân bò, phải chăng đức Thế Tôn còn thể hiện sự ước muốn và tham đắm ở các hữu thông qua năng lực của thần thông?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, chính vì điều ấy trong khi tán dương năng lực của thần thông đức Thế Tôn đã gầm lên tiếng rống sư tử của bậc Giác Ngộ có hình thức như thế.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự nhận thức
đối với năng lực của thần thông là thứ mười.
Phẩm Năng Lực của Thần Thông là phẩm thứ nhất.
(Ở phẩm này có mười câu hỏi)
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. ‘‘Bhante nāgasena, bhāsitampetaṃ bhagavatā ‘tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṃ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṃ vā’ti. Puna ca bhaṇitaṃ ‘ito tiṇṇaṃ māsānaṃ accayena tathāgato parinibbāyissatī’ti. Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṃ ‘tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā…pe… kappāvasesaṃ vā’ti, tena hi temāsaparicchedo micchā. Yadi, bhante, tathāgatena bhaṇitaṃ ‘ito tiṇṇaṃ māsānaṃ accayena tathāgato parinibbāyissatī’ti, tena hi ‘‘tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā…pe… kappāvasesaṃ vā’ti tampi vacanaṃ micchā. Natthi tathāgatānaṃ aṭṭhāne gajjitaṃ. Amoghavacanā buddhā bhagavanto tathavacanā advejjhavacanā. Ayampi ubhato koṭiko pañho gambhīro sunipuṇo dunnijjhāpayo tavānuppatto, bhindetaṃ diṭṭhijālaṃ, ekaṃse ṭhapaya, bhinda paravāda’’nti.
10. “Venerable Nāgasena, this was spoken by the Blessed One: ‘Indeed, Ānanda, the four bases of psychic power have been developed, cultivated, made a vehicle of, made a basis, established, practiced, and well undertaken by the Tathāgata. If he so desires, Ānanda, the Tathāgata could remain for an aeon or the remainder of an aeon.’ Yet it was also said: ‘After the passing of three months from now, the Tathāgata will attain final Nibbāna.’ If, Venerable Nāgasena, the Blessed One said, ‘Indeed, Ānanda, the four bases of psychic power have been developed… or the remainder of an aeon,’ then this three-month limit is false. If, Venerable, the Tathāgata said, ‘After the passing of three months from now, the Tathāgata will attain final Nibbāna,’ then that statement, ‘the four bases of psychic power have been developed… or the remainder of an aeon’ is also false. There is no baseless roaring for the Tathāgatas. The Buddhas, the Blessed Ones, their words are not in vain, they speak what is true, their words are not twofold. This double-edged question too is profound, exceedingly subtle, hard to fathom, and has come to you. Break this net of views, establish one side, shatter the doctrines of others.”
10. “Thưa Đại đức Nāgasena, điều này đã được Đức Thế Tôn nói: ‘Này Ānanda, bốn thần túc đã được Như Lai tu tập, làm cho sung mãn, làm cho như cỗ xe, làm cho như vật nền, làm cho vững chắc, làm cho thuần thục, làm cho khéo khởi sự. Này Ānanda, do mong muốn, Như Lai có thể sống đến hết kiếp hoặc phần còn lại của kiếp.’ Và lại có lời nói rằng: ‘Sau ba tháng kể từ nay, Như Lai sẽ nhập Vô Dư Niết-bàn.’ Thưa Đại đức Nāgasena, nếu Đức Thế Tôn đã nói: ‘Này Ānanda, bốn thần túc đã được Như Lai tu tập... (v.v.)... hoặc phần còn lại của kiếp,’ thì khi ấy, việc ấn định ba tháng là sai. Thưa Đại đức, nếu Đức Như Lai đã nói: ‘Sau ba tháng kể từ nay, Như Lai sẽ nhập Vô Dư Niết-bàn,’ thì khi ấy, lời nói rằng: ‘Này Ānanda, bốn thần túc đã được Như Lai tu tập... (v.v.)... hoặc phần còn lại của kiếp’ cũng là sai. Các đấng Như Lai không có lời nói sấm sét vô cớ. Các vị Phật, các đấng Thế Tôn có lời nói không luống uổng, có lời nói như thật, có lời nói không hai nghĩa. Vấn đề này cũng có hai đầu, sâu sắc, vi tế, khó lĩnh hội, đã đến lượt ngài. Xin ngài hãy phá tan lưới tà kiến này, hãy đặt nó vào một phía, hãy phá tan tà thuyết.”
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā ‘tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā…pe… kappāvasesaṃ vā’ti, temāsaparicchedo ca bhaṇito, so ca pana kappo āyukappo vuccati. Na, mahārāja, bhagavā attano balaṃ kittayamāno evamāha, iddhibalaṃ pana mahārāja, bhagavā parikittayamāno evamāha ‘tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā…pe… kappāvasesaṃ vā’ti.
“Great king, this was indeed spoken by the Blessed One: ‘Ānanda, the Tathāgata has developed the four bases of psychic power… or the remainder of an aeon.’ And the limit of three months was also stated. And that aeon, moreover, is called the lifespan-aeon. Great king, the Blessed One did not speak thus proclaiming his own strength; rather, great king, the Blessed One spoke thus proclaiming the power of iddhi: ‘Ānanda, the Tathāgata has developed the four bases of psychic power… or the remainder of an aeon.’”
“Tâu Đại vương, điều này đã được Đức Thế Tôn nói: ‘Này Ānanda, bốn thần túc đã được Như Lai tu tập... (v.v.)... hoặc phần còn lại của kiếp,’ và việc ấn định ba tháng cũng đã được nói đến. Hơn nữa, kiếp ấy được gọi là kiếp-tuổi thọ. Tâu Đại vương, Đức Thế Tôn không nói như vậy để tuyên dương sức mạnh của bản thân, nhưng tâu Đại vương, Đức Thế Tôn nói như vậy là để tuyên dương thần thông lực: ‘Này Ānanda, bốn thần túc đã được Như Lai tu tập... (v.v.)... hoặc phần còn lại của kiếp.’”
‘‘Yathā, mahārāja, rañño assājānīyo bhaveyya sīghagati anilajavo, tassa rājā javabalaṃ parikittayanto sanegamajānapadabhaṭabalabrāhmaṇagahapatikaamaccajanamajjhe evaṃ vadeyya ‘ākaṅkhamāno me, bho, ayaṃ hayavaro sāgarajalapariyantaṃ mahiṃ anuvicaritvā khaṇena idhāgaccheyyā’ti, na ca taṃ javagatiṃ tassaṃ parisāyaṃ dasseyya, vijjati ca so javo tassa, samattho ca so khaṇena sāgarajalapariyantaṃ mahiṃ anuvicarituṃ. Evameva kho, mahārāja, bhagavā attano iddhibalaṃ parikittayamāno evamāha, tampi tevijjānaṃ chaḷabhiññānaṃ arahantānaṃ vimalakhīṇāsavānaṃ devamanussānañca majjhe nisīditvā bhaṇitaṃ ‘tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṃ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṃ vā’ti. Vijjati ca taṃ, mahārāja, iddhibalaṃ bhagavato, samattho ca bhagavā iddhibalena kappaṃ vā ṭhātuṃ kappāvasesaṃ vā, na ca bhagavā taṃ iddhibalaṃ tassaṃ parisāyaṃ dasseti, anatthiko, mahārāja, bhagavā sabbabhavehi, garahitā ca tathāgatassa sabbabhavā. Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā ‘seyyathāpi, bhikkhave, appamattakopi gūtho duggandho hoti. Evameva kho ahaṃ, bhikkhave, appamattakampi bhavaṃ na vaṇṇemi antamaso accharāsaṅghātamattampī’ti api nu kho, mahārāja, bhagavā sabbabhavagatiyoniyo gūthasamaṃ disvā iddhibalaṃ nissāya bhavesu chandarāgaṃ kareyyā’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Tena hi, mahārāja, bhagavā iddhibalaṃ parikittayamāno evarūpaṃ buddhasīhanādamabhinadī’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Just as, great king, a king might have a thoroughbred horse, swift in gait, with the speed of the wind. The king, proclaiming its swift power, might declare in the midst of an assembly of townsfolk, countryfolk, soldiers, brahmins, householders, and ministers: ‘Sirs, if I wished, this excellent horse could traverse the earth bounded by the ocean’s waters and return here in an instant.’ Yet he would not display that swift gait in that assembly, though that swiftness does exist in it, and it is capable of traversing the earth bounded by the ocean’s waters in an instant. In the very same way, great king, the Blessed One, proclaiming his power of iddhi, spoke thus. And this was spoken while seated in the midst of those with the three knowledges, those with the six direct knowledges, the stainless Arahants with taints destroyed, and gods and humans: ‘Ānanda, the Tathāgata has developed, cultivated, made a vehicle of, made a basis, established, practiced, and well undertaken the four bases of psychic power. If he so wished, Ānanda, the Tathāgata could remain for an aeon or the remainder of an aeon.’ And that power of iddhi, great king, does exist in the Blessed One, and the Blessed One is capable, by means of the power of iddhi, of remaining for an aeon or the remainder of an aeon. Yet the Blessed One does not display that power of iddhi in that assembly. The Blessed One, great king, has no need for any state of existence; all states of existence are censured by the Tathāgata. And this was spoken by the Blessed One, great king: ‘Just as, monks, even a small amount of excrement is foul-smelling, in the very same way, monks, I do not praise even a small amount of existence, not even for the duration of a finger-snap.’ Seeing all states of existence, destinations, and births as being like excrement, would the Blessed One, great king, relying on the power of iddhi, create desire and lust for states of existence?” “Certainly not, venerable sir.” “Therefore, great king, the Blessed One, proclaiming the power of iddhi, roared such a Buddha’s lion’s roar.” “Excellent, Venerable Nāgasena, I accept it as just so.”
“Tâu Đại vương, ví như một vị vua có một con ngựa thuần chủng, chạy nhanh, tốc độ như gió. Vị vua ấy, khi muốn ca ngợi sức mạnh tốc độ của nó, có thể nói giữa đám đông gồm dân chúng từ các thị trấn và làng mạc, binh lính, Bà-la-môn, gia chủ, và các vị đại thần rằng: ‘Này quý vị, nếu muốn, con ngựa quý này của ta có thể đi khắp mặt đất cho đến tận bờ đại dương rồi quay trở lại đây trong chốc lát.’ Nhưng vị ấy không biểu diễn tốc độ đó trước hội chúng ấy. Tuy nhiên, tốc độ ấy thực sự tồn tại nơi con ngựa, và nó thực sự có khả năng đi khắp mặt đất cho đến tận bờ đại dương trong chốc lát. Cũng vậy, tâu Đại vương, đức Thế Tôn, khi muốn tuyên thuyết về năng lực thần thông của mình, đã nói như sau. Và lời này được nói ra giữa các vị A-la-hán tam minh, lục thông, vô lậu, đã đoạn tận các lậu hoặc, cùng với chư thiên và loài người: ‘Này Ānanda, Như Lai đã tu tập, đã làm cho sung mãn, đã làm như cỗ xe, đã làm như nền tảng, đã thiết lập, đã tích lũy, đã khéo khởi sự bốn như ý túc. Này Ānanda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến hết kiếp hoặc phần còn lại của kiếp.’ Tâu Đại vương, năng lực thần thông ấy thực sự tồn tại nơi đức Thế Tôn, và đức Thế Tôn thực sự có khả năng nhờ thần thông mà sống đến hết kiếp hoặc phần còn lại của kiếp. Nhưng đức Thế Tôn không biểu diễn năng lực thần thông ấy trước hội chúng đó. Tâu Đại vương, đức Thế Tôn không còn mong muốn bất cứ sự hiện hữu nào; tất cả các cõi hiện hữu đều bị Như Lai quở trách. Tâu Đại vương, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các Tỳ khưu, ví như dù chỉ một chút phân cũng có mùi hôi thối. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, Ta không tán thán bất cứ sự hiện hữu nào, dù chỉ là một chút, dù chỉ trong khoảnh khắc búng ngón tay.’ Tâu Đại vương, liệu đức Thế Tôn, khi đã thấy tất cả các cõi hiện hữu, các cảnh giới, các nơi tái sanh đều giống như phân, lại có thể y vào năng lực thần thông mà khởi lên lòng tham muốn và ái luyến đối với các cõi hiện hữu chăng?” “Bạch ngài, chắc chắn là không.” “Vậy thì, tâu Đại vương, đức Thế Tôn, khi tuyên thuyết về năng lực thần thông của mình, đã rống lên tiếng rống của sư tử của bậc Phật như vậy.” “Lành thay, bạch ngài Nāgasena, con xin thọ nhận điều này đúng như vậy.”
Iddhibaladassanapañho dasamo.
The tenth question on the display of psychic power is concluded.
Câu hỏi thứ mười về việc biểu diễn thần thông.
Iddhibalavaggo paṭhamo.
The first chapter on the power of iddhi is concluded.
Phẩm Thần Thông Lực, phẩm thứ nhất.
Imasmiṃ vagge dasa pañhā.
In this chapter, there are ten questions.
Trong phẩm này có mười câu hỏi.