Bản dịch
MIL 5.1.9 — CÂU HỎI VỀ TÍNH CHẤT
9. Uttarikaraṇīyapañha
KHÔNG VIỆC GÌ CẦN PHẢI LÀM THÊM NỮA
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài đã nói rằng: ‘Bất cứ việc gì cần phải làm đối với đức Như Lai, tất cả các việc ấy đã được hoàn tất ở ngay tại gốc cây Bồ Đề. Đối với đức Như Lai, không có việc gì cần phải làm thêm nữa, hoặc sự tích lũy thêm đối với việc đã làm.’ Và ba tháng thiền tịnh này được ghi nhận. Thưa ngài Nāgasena, nếu bất cứ việc gì cần phải làm đối với đức Như Lai, tất cả các việc ấy đã được hoàn tất ở ngay tại gốc cây Bồ Đề. Đối với đức Như Lai, không có việc gì cần phải làm thêm nữa, hoặc sự tích lũy thêm đối với việc đã làm, như thế thì lời nói ‘ba tháng thiền tịnh’ là sai trái. Nếu có ba tháng thiền tịnh, như thế thì lời nói ‘bất cứ việc gì cần phải làm đối với đức Như Lai, tất cả các việc ấy đã được hoàn tất ở ngay tại gốc cây Bồ Đề’ cũng là sai trái. Không có thiền tịnh đối với người có việc cần phải làm đã được làm xong, thiền tịnh là chỉ riêng đối với người có việc cần phải làm. Giống như chỉ riêng đối với người bị bệnh thì có việc cần phải làm với thuốc men, còn đối với người không bị bệnh thì có việc gì với thuốc men? Chỉ riêng đối với người đói thì có việc cần phải làm với thức ăn, còn đối với người không đói thì có việc gì với thức ăn? Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế không có thiền tịnh đối với người có việc cần phải làm đã được làm xong, thiền tịnh là chỉ riêng đối với người có việc cần phải làm. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh. Nó được dành cho ngài, nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, bất cứ việc gì cần phải làm đối với đức Như Lai, tất cả các việc ấy đã được hoàn tất ở ngay tại gốc cây Bồ Đề. Đối với đức Như Lai, không có việc gì cần phải làm thêm nữa, hoặc sự tích lũy thêm đối với việc đã làm, và đức Như Lai có thiền tịnh ba tháng. Tâu đại vương, thiền tịnh quả là có nhiều công đức. Tất cả các đức Như Lai đều thiền tịnh rồi mới đạt đến bản thể Toàn Tri. Trong khi nhớ lại đức tính đã được thực hiện tốt đẹp ấy, các Ngài tiến hành thiền tịnh. Tâu đại vương, giống như người nam đã nhận được ân huệ, đã đạt được của cải nhờ vào sự thân cận đức vua. Trong khi nhớ lại đức tính đã được thực hiện tốt đẹp ấy, gã liên tục đi đến phục vụ đức vua. Tâu đại vương, tương tợ y như thế tất cả các đức Như Lai đều thiền tịnh rồi mới đạt đến bản thể Toàn Tri. Trong khi nhớ lại đức tính đã được thực hiện tốt đẹp ấy, các Ngài tiến hành thiền tịnh.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người nam bị nhiễm bệnh, khổ sở, có bệnh trầm trọng, sau khi đến gặp người thầy thuốc thì thành tựu sự an vui. Trong khi nhớ lại đức tính đã được thực hiện tốt đẹp ấy, gã thường xuyên đi đến gặp người thầy thuốc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế tất cả các đức Như Lai đều thiền tịnh rồi mới đạt đến bản thể Toàn Tri. Trong khi nhớ lại đức tính đã được thực hiện tốt đẹp ấy, các Ngài tiến hành thiền tịnh.
BJT 3Tâu đại vương, hơn nữa đây là hai mươi tám đức tính của thiền tịnh. Trong khi thấy rõ những đức tính này, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh. Hai mươi tám đức tính gì? Tâu đại vương, ở đây thiền tịnh hộ trì bản thân người đang thiền tịnh, làm tăng trưởng tuổi thọ, ban cho sức mạnh, lấp lại tội lỗi, loại trừ điều tai tiếng, đem lại danh tiếng, xua đi sự không hứng thú, cung cấp sự hứng thú, loại trừ sự sợ hãi, làm sanh lên sự tự tin, loại trừ sự lười biếng, tạo ra sự tinh tấn, loại trừ sự tham đắm, loại trừ sự sân hận, loại trừ sự si mê, tiêu diệt sự ngã mạn, phá vỡ sự suy tư, làm cho tâm chuyên nhất, làm cho tâm được trong sáng, sanh ra sự tươi vui, tạo sự kính trọng, làm cho đạt được sự lợi ích, tạo sự cung kính, khiến cho thành tựu hỷ, tạo sự hân hoan, làm cho thấy được bản thể của các sự tạo tác, diệt trừ sự nối liền với việc tái sanh, ban cho toàn bộ Sa-môn hạnh. Tâu đại vương, đây là hai mươi tám đức tính của thiền tịnh. Trong khi thấy rõ những đức tính này, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh.
Tâu đại vương, hơn nữa với ý muốn tận hưởng sự an tịnh, an lạc, sự hứng thú trong việc chứng đạt, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh với ý định dứt khoát. Tâu đại vương, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh vì bốn lý do. Vì bốn lý do gì? Tâu đại vương, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh vì tính chất an lạc của việc cư trú, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh nhằm sự gia tăng đức hạnh của việc không phạm lỗi lầm, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh vì đường lối trọn vẹn của bậc Thánh, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh vì đã được tán dương, khen ngợi, ca tụng của tất cả chư Phật. Tâu đại vương, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh vì bốn lý do này. Tâu đại vương, như thế các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh không phải vì có việc gì cần phải làm, không phải vì sự tích lũy thêm đối với việc đã làm. Quả vậy, các đức Như Lai tiến hành thiền tịnh vì thấy được tính chất đặc biệt về đức tính (của thiền tịnh).”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về tính chất không việc gì cần phải làm thêm nữa
là thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. ‘‘Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha ‘yaṃ kiñci karaṇīyaṃ tathāgatassa, sabbaṃ taṃ bodhiyā yeva mūle pariniṭṭhitaṃ, natthi tathāgatassa uttariṃ karaṇīyaṃ, katassa vā paticayo’ti, idañca temāsaṃ paṭisallānaṃ dissati. Yadi, bhante nāgasena, yaṃ kiñci karaṇīyaṃ tathāgatassa, sabbaṃ taṃ bodhiyā yeva mūle pariniṭṭhitaṃ, natthi tathāgatassa uttariṃ karaṇīyaṃ, katassa vā paticayo, tena hi ‘temāsaṃ paṭisallīno’ti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi temāsaṃ paṭisallīno, tena hi ‘yaṃ kiñci karaṇīyaṃ, tathāgatassa, sabbaṃ taṃ bodhiyā yeva mūle pariniṭṭhita’nti tampi vacanaṃ micchā. Natthi katakaraṇīyassa paṭisallānaṃ, sakaraṇīyasseva paṭisallānaṃ yathā nāma byādhitasseva bhesajjena karaṇīyaṃ hoti, abyādhitassa kiṃ bhesajjena. Chātasseva bhojanena karaṇīyaṃ hoti, achātassa kiṃ bhojanena. Evameva kho, bhante nāgasena, natthi katakaraṇīyassa paṭisallānaṃ, sakaraṇīyasseva paṭisallānaṃ. Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo’’ti.
9. Venerable Nāgasena, you say: ‘Whatever was to be done by the Tathāgata, all of that was fully accomplished at the root of the Bodhi tree. There is nothing further for the Tathāgata to do, nor any accumulation to what has been done.’ And yet, this three-month seclusion is seen. If, venerable Nāgasena, whatever was to be done by the Tathāgata was all fully accomplished at the root of the Bodhi tree, and there is nothing further for him to do, nor any accumulation to what has been done, then the statement, ‘He was in seclusion for three months,’ is false. But if he was in seclusion for three months, then the statement, ‘Whatever was to be done by the Tathāgata, all of that was fully accomplished at the root of the Bodhi tree,’ is also false. For one who has done what was to be done, there is no seclusion; seclusion is only for one who has something to do. Just as there is a need for medicine for one who is sick, but what need for medicine has one who is not sick? There is a need for food for one who is hungry, but what need for food has one who is not hungry? Even so, venerable Nāgasena, for one who has done what was to be done, there is no seclusion; seclusion is only for one who has something to do. This two-pronged question has now come to you; it must be resolved by you.
9. “Thưa ngài Nāgasena, các ngài nói rằng: ‘Bất cứ việc gì cần làm của Như Lai, tất cả đã được hoàn tất ngay tại cội Bồ-đề. Như Lai không còn việc gì phải làm thêm nữa, cũng không cần tích lũy thêm cho việc đã làm.’ Và lại thấy có việc (Ngài) độc cư trong ba tháng. Thưa ngài Nāgasena, nếu bất cứ việc gì cần làm của Như Lai, tất cả đã được hoàn tất ngay tại cội Bồ-đề, Như Lai không còn việc gì phải làm thêm nữa, cũng không cần tích lũy thêm cho việc đã làm, thì lời nói ‘Ngài đã độc cư trong ba tháng’ là sai. Nếu Ngài đã độc cư trong ba tháng, thì lời nói ‘Bất cứ việc gì cần làm của Như Lai, tất cả đã được hoàn tất ngay tại cội Bồ-đề’ cũng là sai. Người đã làm xong việc cần làm thì không có việc độc cư, chỉ người còn việc phải làm mới có việc độc cư. Ví như chỉ người có bệnh mới cần đến thuốc, người không bệnh thì cần thuốc làm gì? Chỉ người đói mới cần đến thức ăn, người không đói thì cần thức ăn làm gì? Cũng vậy, thưa ngài Nāgasena, người đã làm xong việc cần làm thì không có việc độc cư, chỉ người còn việc phải làm mới có việc độc cư. Câu hỏi lưỡng nan này đã đến với ngài, ngài phải giải quyết nó.”
‘‘Yaṃ kiñci, mahārāja, karaṇīyaṃ tathāgatassa, sabbaṃ taṃ bodhiyā yeva mūle pariniṭṭhitaṃ, natthi tathāgatassa uttariṃ karaṇīyaṃ, katassa vā paticayo, bhagavā ca temāsaṃ paṭisallīno, paṭisallānaṃ kho, mahārāja, bahuguṇaṃ, sabbepi tathāgatā paṭisallīyitvā sabbaññutaṃ pattā, taṃ te sukataguṇamanussarantā paṭisallānaṃ sevanti. Yathā, mahārāja, puriso rañño santikā laddhavaro paṭiladdhabhogo taṃ sukataguṇamanussaranto aparāparaṃ rañño upaṭṭhānaṃ eti. Evameva kho, mahārāja, sabbepi tathāgatā paṭisallīyitvā sabbaññutaṃ pattā, taṃ te sukataguṇamanussarantā paṭisallānaṃ sevanti.
Great King, whatever was to be done by the Tathāgata, all of that was fully accomplished at the root of the Bodhi tree. There is nothing further for the Tathāgata to do, nor any accumulation to what has been done. And the Blessed One was in seclusion for three months. Seclusion, Great King, has many virtues. All Tathāgatas, having entered seclusion, have attained omniscience. Recollecting that well-practiced virtue, they resort to seclusion. Just as, Great King, a man who has received a boon from a king and obtained possessions, recollecting that well-bestowed favor, attends upon the king again and again, even so, Great King, all Tathāgatas, having entered seclusion, have attained omniscience. Recollecting that well-practiced virtue, they resort to seclusion.
“Tâu Đại vương, bất cứ việc gì cần làm của Như Lai, tất cả đã được hoàn tất ngay tại cội Bồ-đề. Như Lai không còn việc gì phải làm thêm nữa, cũng không cần tích lũy thêm cho việc đã làm. Và Đức Thế Tôn đã độc cư trong ba tháng. Tâu Đại vương, sự độc cư có nhiều lợi ích. Tất cả các đấng Như Lai sau khi độc cư đã đạt đến Nhất thiết trí. Các Ngài, trong khi tưởng nhớ đến lợi ích tốt đẹp ấy, đã thực hành việc độc cư. Ví như, tâu Đại vương, một người đã nhận được ân huệ, đã nhận được tài sản từ nhà vua, trong khi tưởng nhớ đến lợi ích tốt đẹp ấy, người ấy lại đến hầu hạ nhà vua nhiều lần. Cũng vậy, tâu Đại vương, tất cả các đấng Như Lai sau khi độc cư đã đạt đến Nhất thiết trí. Các Ngài, trong khi tưởng nhớ đến lợi ích tốt đẹp ấy, đã thực hành việc độc cư.
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, puriso āturo dukkhito bāḷhagilāno bhisakkamupasevitvā sotthimanuppatto taṃ sukataguṇamanussaranto aparāparaṃ bhisakkamupasevati. Evameva kho, mahārāja, sabbepi tathāgatā paṭisallīyitvā sabbaññutaṃ pattā, taṃ te sukataguṇamanussarantā paṭisallānaṃ sevanti.
“Or just as, great king, a man who is sick, suffering, and gravely ill, having attended upon a physician and attained well-being, remembering that well-done service, repeatedly attends upon the physician—so too, great king, all Tathāgatas, having secluded themselves, attained omniscience; and they, recollecting that well-done virtue, cultivate seclusion.”
“Hoặc lại ví như, tâu Đại vương, một người bị bệnh, đau khổ, bệnh nặng, sau khi đến gần thầy thuốc đã được an lành, trong khi tưởng nhớ đến lợi ích tốt đẹp ấy, người ấy lại đến gần thầy thuốc nhiều lần. Cũng vậy, tâu Đại vương, tất cả các đấng Như Lai sau khi độc cư đã đạt đến Nhất thiết trí. Các Ngài, trong khi tưởng nhớ đến lợi ích tốt đẹp ấy, đã thực hành việc độc cư.
‘‘Aṭṭhavīsati kho panime, mahārāja, paṭisallānaguṇā, ye guṇe samanussarantā † tathāgatā paṭisallānaṃ sevanti. Katame aṭṭhavīsati? Idha, mahārāja, paṭisallānaṃ paṭisallīyamānaṃ attānaṃ rakkhati, āyuṃ vaḍḍheti, balaṃ deti, vajjaṃ pidahati, ayasamapaneti, yasamupaneti, aratiṃ vinodeti, ratimupadahati, bhayamapaneti, vesārajjaṃ karoti, kosajjamapaneti, vīriyamabhijaneti, rāgamapaneti, dosamapaneti, mohamapaneti, mānaṃ nihanti, vitakkaṃ bhañjati, cittaṃ ekaggaṃ karoti, mānasaṃ snehayati †, hāsaṃ janeti, garukaṃ karoti, lābhamuppādayati, namassiyaṃ karoti, pītiṃ pāpeti, pāmojjaṃ karoti, saṅkhārānaṃ sabhāvaṃ dassayati, bhavappaṭisandhiṃ ugghāṭeti, sabbasāmaññaṃ deti. Ime kho, mahārāja, aṭṭhavīsati paṭisallānaguṇā, ye guṇe samanussarantā tathāgatā paṭisallānaṃ sevanti.
“Great king, there are these twenty-eight benefits of seclusion, recollecting which the Tathāgatas cultivate seclusion. What are the twenty-eight? Here, great king, one who cultivates seclusion protects oneself, increases lifespan, gives strength, covers faults, removes dishonor, brings honor, dispels discontent, establishes contentment, removes fear, produces confidence, dispels sloth, generates energy, removes lust, removes hatred, removes delusion, destroys conceit, breaks down thoughts, makes the mind one-pointed, makes the mind supple, generates mirth, makes one respected, produces gain, makes one worthy of reverence, causes one to attain rapture, creates gladness, shows the nature of conditioned phenomena, severs the link to future existence, and gives all the fruits of the ascetic life. These, great king, are the twenty-eight benefits of seclusion, recollecting which the Tathāgatas cultivate seclusion.”
“Tâu Đại vương, có hai mươi tám điều lợi ích này của việc độc cư, do nhận thấy các điều lợi ích ấy mà các đấng Như Lai thực hành việc độc cư. Hai mươi tám điều ấy là gì? Tâu Đại vương, ở đây, người đang thực hành việc độc cư thì bảo vệ được bản thân, làm tăng trưởng tuổi thọ, ban cho sức mạnh, che đậy lỗi lầm, loại trừ tiếng xấu, đem lại danh thơm, xua tan sự bất mãn, mang đến sự hoan hỷ, loại trừ sự sợ hãi, tạo ra sự dạn dĩ, loại trừ sự lười biếng, phát sinh sự tinh tấn, loại trừ tham, loại trừ sân, loại trừ si, diệt trừ ngã mạn, phá tan tầm, làm cho tâm được nhất điểm, làm cho ý được nhu nhuyến, phát sinh sự vui vẻ, làm cho được kính trọng, làm phát sinh lợi lộc, làm cho được đảnh lễ, làm cho đạt đến sự hoan hỷ, tạo ra sự vui mừng, cho thấy bản chất của các pháp hữu vi, nhổ lên sự tái sanh trong các cõi, ban cho tất cả quả vị Sa-môn. Tâu Đại vương, đây chính là hai mươi tám điều lợi ích của việc độc cư, do nhận thấy các điều lợi ích ấy mà các đấng Như Lai thực hành việc độc cư.”
‘‘Api ca kho, mahārāja, tathāgatā santaṃ sukhaṃ samāpattiratiṃ anubhavitukāmā paṭisallānaṃ sevanti pariyositasaṅkappā. Catūhi kho, mahārāja, kāraṇehi tathāgatā paṭisallānaṃ sevanti. Katamehi catūhi? Vihāraphāsutāyapi, mahārāja, tathāgatā paṭisallānaṃ sevanti, anavajjaguṇabahulatāyapi tathāgatā paṭisallānaṃ sevanti, asesaariyavīthitopi tathāgatā paṭisallānaṃ sevanti, sabbabuddhānaṃ thutathomitavaṇṇitapasatthatopi tathāgatā paṭisallānaṃ sevanti. Imehi kho, mahārāja, catūhi kāraṇehi tathāgatā paṭisallānaṃ sevanti. Iti kho, mahārāja, tathāgatā paṭisallānaṃ sevanti na sakaraṇīyatāya, na katassa vā paticayāya, atha kho guṇavisesadassāvitāya tathāgatā paṭisallānaṃ sevantī’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Moreover, great king, the Tathāgatas, their intentions fulfilled, cultivate seclusion, wishing to experience the peaceful and blissful delight of attainment. For four reasons, great king, do the Tathāgatas cultivate seclusion. What are the four? For the comfort of dwelling, great king, the Tathāgatas cultivate seclusion; for the abundance of faultless qualities, the Tathāgatas cultivate seclusion; because it is the path of all Noble Ones, the Tathāgatas cultivate seclusion; and because it is praised, commended, lauded, and extolled by all Buddhas, the Tathāgatas cultivate seclusion. For these four reasons, great king, do the Tathāgatas cultivate seclusion. Thus, great king, the Tathāgatas cultivate seclusion, not because there is something left to be done, nor for the accumulation of what has been done, but rather because they see its special qualities.” “Excellent, Venerable Nāgasena, I accept it as such.”
“Lại nữa, tâu Đại vương, các đấng Như Lai đã hoàn tất các ý nguyện, mong muốn hưởng thụ sự hoan hỷ trong thiền định vốn an tịnh và an lạc, nên thực hành việc độc cư. Tâu Đại vương, các đấng Như Lai thực hành việc độc cư vì bốn lý do. Bốn lý do ấy là gì? Tâu Đại vương, các đấng Như Lai thực hành việc độc cư vì sự an trú thoải mái, vì có nhiều phẩm chất vô tội, vì đó là con đường của tất cả các bậc Thánh, và vì được tất cả các vị Phật tán thán, ca ngợi, tuyên dương, khen ngợi. Tâu Đại vương, vì bốn lý do này mà các đấng Như Lai thực hành việc độc cư. Như vậy, tâu Đại vương, các đấng Như Lai thực hành việc độc cư không phải vì còn có việc phải làm, cũng không phải để tích lũy thêm những gì đã làm, mà là do thấy được những phẩm chất đặc biệt nên các đấng Như Lai thực hành việc độc cư.” “Lành thay, thưa Đại đức Nāgasena, con xin thọ nhận điều này đúng như vậy.”
Uttarikaraṇīyapañho navamo.
The ninth question concerning what is to be done further is concluded.
Vấn đề thứ chín về việc cần làm thêm.