Bản dịch
MIL 5.1.8 — CÂU HỎI VỀ VIỆC CẮT ĐỨT PHÁP BẤT THIỆN
8. Akusalacchedanapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, đức Thế Tôn đã đạt đến bản thể Toàn Tri sau khi thiêu đốt tất cả pháp bất thiện, hay là đã đạt đến bản thể Toàn Tri khi pháp bất thiện còn dư sót.”
“Tâu đại vương, đức Thế Tôn đã đạt đến bản thể Toàn Tri sau khi thiêu đốt tất cả pháp bất thiện. Không có pháp bất thiện còn dư sót ở đức Thế Tôn.”
“Thưa ngài, phải chăng các thọ khổ trước đây đã khởi lên ở cơ thể của đức Như Lai?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Ở Rājagaha, bàn chân của đức Thế Tôn đã bị cắt đứt bởi miểng đá, cơn bệnh xuất huyết đã phát khởi, khi cơ thể bị tiết ra chất dơ Jīvaka đã cho sử dụng liều thuốc xổ, khi cơn bệnh gió phát khởi vị trưởng lão thị giả đã tìm kiếm nước nóng.”
BJT 2“Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai đã đạt đến bản thể Toàn Tri sau khi thiêu đốt tất cả pháp bất thiện, như thế thì lời nói rằng: ‘Bàn chân của đức Thế Tôn đã bị cắt đứt bởi miểng đá, cơn bệnh xuất huyết đã phát khởi’ là sai trái. Nếu bàn chân của đức Như Lai đã bị cắt đứt bởi miểng đá, cơn bệnh xuất huyết đã phát khởi, như thế thì lời nói: ‘Đức Như Lai đã đạt đến bản thể Toàn Tri sau khi thiêu đốt tất cả pháp bất thiện’ cũng là sai trái. Thưa ngài, không có cảm thọ tách rời khỏi nghiệp, tất cả cảm thọ ấy có gốc rễ ở nghiệp, được cảm nhận chỉ do nghiệp. Câu hỏi này có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 3“Tâu đại vương, không hẳn tất cả cảm thọ ấy có gốc rễ ở nghiệp. Tâu đại vương, các cảm thọ sanh lên do tám lý do, do các lý do ấy chúng sanh phàm phu cảm nhận các thọ. Do tám lý do nào? Tâu đại vương, một số cảm thọ sanh lên có nguồn sanh khởi là gió; tâu đại vươn … (như trên) … có nguồn sanh khởi là mật; tâu đại vươn … (như trên) … có nguồn sanh khởi là đàm; tâu đại vươn … (như trên) … có liên quan đến sự tụ hội (của gió, mật, đàm); tâu đại vươn … (như trên) … do sự thay đổi của mùa tiết; tâu đại vươn … (như trên) … do sự sinh hoạt không đều đặn; tâu đại vươn … (như trên) … có liên quan đến việc ra sức; tâu đại vương một số cảm thọ sanh lên do quả thành tựu của nghiệp. Tâu đại vương, do tám lý do này chúng sanh phàm phu cảm nhận các thọ. Ở đây, những chúng sanh nào nói rằng: ‘Nghiệp đày đọa các chúng sanh,’ những người ấy phủ nhận lý do. Lời nói ấy của những người ấy là sai trái.
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, việc có liên quan đến gió, việc có liên quan đến mật, việc có liên quan đến đàm, việc có liên quan đến sự tụ hội (của gió, mật, đàm), việc do sự thay đổi của mùa tiết, việc do sự sinh hoạt không đều đặn, việc có liên quan đến việc ra sức, tất cả các việc ấy có nguồn sanh khởi cũng ở nghiệp, tất cả các việc ấy tạo thành cũng do nghiệp.”
“Tâu đại vương, nếu tất cả các bệnh tật ấy có nguồn sanh khởi chỉ là nghiệp, thì chúng không có các đặc điểm để phân loại. Tâu đại vương, gió trong khi bị rối loạn thì bị rối loạn theo mười cách: do lạnh, do nóng, do đói, do khát, do ăn quá độ, đo đứng, do tinh tấn, do chạy, do việc ra sức, do quả thành tựu của nghiệp. Trong số đó, có chín cách sanh lên không ở quá khứ, không ở vị lai, mà ở bản thể hiện tại. Vì thế, không nên nói rằng: ‘Tất cả các thọ có sự tạo thành do nghiệp.’
Tâu đại vương, mật trong khi bị rối loạn thì bị rối loạn theo ba cách: do lạnh, do nóng, do vật thực không đều. Tâu đại vương, đàm trong khi bị rối loạn thì bị rối loạn theo ba cách: do lạnh, do nóng, do thức ăn thức uống. Tâu đại vương, cái nào là gió, cái nào là mật, cái nào là đàm, sau khi bị rối loạn do các sự rối loạn bởi chúng, sau khi có sự trộn lẫn thì kéo theo thọ của từng cái một. Tâu đại vương, thọ do sự thay đổi của mùa tiết sanh lên do sự thay đổi của mùa tiết, thọ do sự sinh hoạt không đều đặn sanh lên do sự sinh hoạt không đều đặn. Tâu đại vương, thọ có liên quan đến việc ra sức thì có cái do hành động, có cái do quả thành tựu của nghiệp. Thọ sanh lên do quả thành tựu của nghiệp sanh lên do nghiệp đã làm trước đây. Tâu đại vương, như thế do quả thành tựu của nghiệp thì ít, phần còn lại thì nhiều hơn. Ở đây, những kẻ ngu vượt quá (khi cho rằng): ‘Tất cả đều do quả thành tựu của nghiệp;’ thiếu đi trí tuệ của đức Phật không thể thực hiện việc xác định đối với nghiệp ấy.
Tâu đại vương, hơn nữa việc bàn chân của đức Thế Tôn đã bị cắt đứt bởi miểng đá, cảm thọ ấy không có nguồn sanh khởi là gió, không có nguồn sanh khởi là mật, không có nguồn sanh khởi là đàm, không có liên quan đến sự tụ hội (của gió, mật, đàm), không do sự thay đổi của mùa tiết, không do sự sinh hoạt không đều đặn, không do quả thành tựu của nghiệp, chỉ có liên quan đến việc ra sức. Tâu đại vương, bởi vì Devadatta đã buộc oan trái với đức Như Lai nhiều trăm ngàn kiếp sống. Do sự oan trái ấy, kẻ ấy đã cầm lấy hòn đá to nặng rồi buông ra (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ làm cho rơi ở đỉnh đầu.’ Khi ấy, có hai tảng đá khác đã tiến đến hứng chịu hòn đá ấy khi còn chưa chạm vào đức Như Lai. Do sự va chạm của chúng, có miểng đá bị bể đã rơi vào bàn chân của đức Thế Tôn và làm chảy máu. Tâu đại vương, thọ ấy nảy sanh đến đức Thế Tôn hoặc là do quả thành tựu của nghiệp hoặc là do hành động; không có thọ khác ở trên việc ấy.
Tâu đại vương, giống như hạt giống không nẩy mầm hoặc là do tính chất tồi tệ của thửa ruộng, hoặc là do tính chất tồi tệ của hạt giống. Tâu đại vương, tương tợ y như thế ấy thọ ấy nảy sanh đến đức Thế Tôn hoặc là do quả thành tựu của nghiệp hoặc là do hành động; không có thọ khác ở trên việc ấy.
Tâu đại vương, hoặc là giống như vật thực trở nên lổn cổn hoặc là do tính chất tồi tệ của bao tử, hoặc là do tính chất tồi tệ của thức ăn. Tâu đại vương, tương tợ y như thế ấy thọ ấy nảy sanh đến đức Thế Tôn hoặc là do quả thành tựu của nghiệp hoặc là do hành động; không có thọ khác ở trên việc ấy.
Tâu đại vương, hơn nữa đối với đức Thế Tôn không có thọ do quả thành tựu của nghiệp, không có thọ do sự sinh hoạt không đều đặn. Đối với đức Thế Tôn, thọ sanh lên do các nguồn sanh khởi còn lại. Hơn nữa, không thể đoạt lấy mạng sống đức Thế Tôn bởi thọ ấy. Tâu đại vương, các thọ được ưa thích hay không được ưa thích, tốt hay xấu, rơi xuống ở thân tứ đại này. Tâu đại vương, ở đây cục đất được ném lên không trung thì rơi xuống đại địa cầu. Tâu đại vương, phải chăng cục đất ấy rơi xuống đại địa cầu do nghiệp đã làm trước đây?”
BJT 5“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, không có nhân ấy ở đại địa cầu, mà do nhân ấy đại địa cầu nhận chịu quả thành tựu thiện hay bất thiện. Thưa ngài, cục đất ấy rơi xuống đại địa cầu do nhân hiện tại không có liên quan đến nghiệp.”
“Tâu đại vương, đại địa cầu là như thế nào thì đức Như Lai nên được xem xét như vậy. Giống như cục đất rơi xuống đại địa cầu không do nghiệp đã làm trước đây, tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với đức Như Lai miểng đá ấy đã rơi xuống ở bàn chân không do nghiệp đã làm trước đây. Tâu đại vương, vả lại ở đây con người cắt xẻ và đào xới đại địa cầu, tâu đại vương, phải chăng con người cắt xẻ và đào xới đại địa cầu do nghiệp đã làm trước đây?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế ấy miểng đá nào đã rơi xuống ở bàn chân của đức Thế Tôn, miểng đá ấy đã rơi xuống ở bàn chân của đức Thế Tôn không do nghiệp đã làm trước đây. Tâu đại vương, còn cơn bệnh xuất huyết đã phát khởi đến đức Thế Tôn, cơn bệnh ấy đã phát khởi không do nghiệp đã làm trước đây, nó đã phát khởi có liên quan đến chính sự tụ hội (của gió, mật, đàm). Tâu đại vương, mọi cơn bệnh thuộc về thân đã phát khởi ở đức Thế Tôn, chúng đã không sanh ra do nghiệp, mà đã được sanh ra từ nguồn sanh khởi nào đó trong số sáu nguồn sanh khởi. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở lời giải thích cho Moliyasīvaka ở đoạn Varalañchaka (Dấu Ấn Cao Quý) thuộc Saṁyuttanikāya (Tương Ưng Bộ) rằng:
‘Này Sīvaka, ở đây, một số cảm thọ sanh lên có nguồn sanh khởi là mật. Này Sīvaka, tự bản thân nên biết về điều này là một số cảm thọ sanh lên có nguồn sanh khởi là mật. Này Sīvaka, ngay cả đối với thế gian điều này cũng được chấp nhận là sự thật rằng một số cảm thọ sanh lên có nguồn sanh khởi là mật. Này Sīvaka, về điều này những Sa-môn, Bà-la-môn nào có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Bất cứ điều gì mà người nam này cảm giác được, là lạc, hay là khổ, hay là không khổ không lạc, tất cả điều ấy có nhân là việc đã làm trong quá khứ,’ họ vượt quá điều đã được tự mình biết, họ vượt quá điều đã được chấp nhận là sự thật ở thế gian. Vì thế, Ta nói rằng: ‘Điều sai trái thuộc về các Sa-môn, Bà-la-môn ấy.’ Này Sīvaka, ở đây, một số cảm thọ sanh lên có nguồn sanh khởi là đàm. Này Sīvak … (như trên) … có nguồn sanh khởi là gió. Này Sīvak … (như trên) … có nguồn sanh khởi là sự tụ hội (của gió, mật, đàm). Này Sīvak … (như trên) … do sự thay đổi của mùa tiết. Này Sīvak … (như trên) … do sự sinh hoạt không đều đặn. Này Sīvak … (như trên) … có liên quan đến việc ra sức. Này Sīvaka một số cảm thọ sanh lên do quả thành tựu của nghiệp. Này Sīvaka tự bản thân nên biết về điều này là một số cảm thọ sanh lên có nguồn sanh khởi là quả thành tựu của nghiệp. Này Sīvaka, ngay cả đối với thế gian điều này cũng được chấp nhận là sự thật rằng một số cảm thọ sanh lên có nguồn sanh khởi là quả thành tựu của nghiệp. Này Sīvaka, về điều này những Sa-môn, Bà-la-môn nào có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Bất cứ điều gì mà người nam này cảm giác được, là lạc, hay là khổ, hay là không khổ không lạc, tất cả điều ấy có nhân là việc đã làm trong quá khứ,’ họ vượt quá điều đã được tự mình biết, họ vượt quá điều đã được chấp nhận là sự thật ở thế gian. Vì thế, Ta nói rằng: ‘Điều sai trái thuộc về các Sa-môn, Bà-la-môn ấy.’
Tâu đại vương, như thế không hẳn tất cả các thọ sanh ra do quả thành tựu của nghiệp. Tâu đại vương, sau khi thiêu đốt tất cả pháp bất thiện, đức Thế Tôn đã đạt đến bản thể Toàn Tri, xin đại vương hãy ghi nhớ điều này như thế.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự cắt đứt pháp bất thiện là thứ tám.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
8. ‘‘Bhante nāgasena, tathāgato sabbaṃ akusalaṃ jhāpetvā sabbaññutaṃ patto, udāhu sāvasese akusale sabbaññutaṃ patto’’ti? ‘‘Sabbaṃ, mahārāja, akusalaṃ jhāpetvā bhagavā sabbaññutaṃ patto, natthi bhagavato sesekaṃ akusala’’nti.
8. “Venerable Nāgasena, did the Tathāgata attain omniscience having burnt up all that is unwholesome, or did he attain omniscience with some unwholesome states remaining?” “Great king, the Blessed One attained omniscience having burnt up all that is unwholesome. There is no remainder of the unwholesome in the Blessed One.”
8. Thưa Ngài Nāgasena, có phải Đức Như Lai đã đạt được nhất thiết trí sau khi đã thiêu đốt tất cả các pháp bất thiện, hay Ngài đã đạt được nhất thiết trí khi các pháp bất thiện vẫn còn sót lại? Tâu Đại vương, Đức Thế Tôn đã đạt được nhất thiết trí sau khi đã thiêu đốt tất cả các pháp bất thiện. Nơi Đức Thế Tôn không còn sót lại pháp bất thiện nào cả.
‘‘Kiṃ pana, bhante, dukkhā vedanā tathāgatassa kāye uppannapubbā’’ti? ‘‘Āma, mahārāja, rājagahe bhagavato pādo sakalikāya † khato, lohitapakkhandikābādho uppanno, kāye abhisanne jīvakena vireko kārito, vātābādhe uppanne upaṭṭhākena therena uṇhodakaṃ pariyiṭṭha’’nti.
8. “But, venerable sir, has painful feeling ever arisen in the Tathāgata's body?” “Yes, great king. At Rājagaha, the Blessed One's foot was wounded by a stone splinter. A sickness of bloody dysentery arose, and when his body was congested, Jīvaka administered a purgative. When a wind-illness arose, the elder attendant prepared warm water.”
Thưa Ngài, có phải khổ thọ đã từng sanh khởi trong thân của Đức Như Lai không? Vâng, tâu Đại vương, tại thành Rājagaha, bàn chân của Đức Thế Tôn đã bị một mảnh đá làm bị thương, bệnh kiết lỵ ra máu đã sanh khởi, khi thân thể bị căng cứng, Jīvaka đã cho Ngài dùng thuốc xổ, khi bệnh phong sanh khởi, vị trưởng lão thị giả đã tìm nước nóng.
‘‘Yadi, bhante nāgasena, tathāgato sabbaṃ akusalaṃ jhāpetvā sabbaññutaṃ patto, tena hi bhagavato pādo sakalikāya khato, lohitapakkhandikā ca ābādho uppannoti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi tathāgatassa pādo sakalikāya khato, lohitapakkhandikā ca ābādho uppanno, tena hi tathāgato sabbaṃ akusalaṃ jhāpetvā sabbaññutaṃ pattoti tampi vacanaṃ micchā. Natthi, bhante, vinā kammena vedayitaṃ, sabbaṃ taṃ vedayitaṃ kammamūlakaṃ, taṃ kammeneva vedayati, ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo’’ti †.
“Venerable Nāgasena, if the Tathāgata attained omniscience having burnt up all that is unwholesome, then the statement that the Blessed One's foot was wounded by a stone splinter and that a sickness of bloody dysentery arose would be false. If the Tathāgata's foot was wounded by a stone splinter and a sickness of bloody dysentery arose, then the statement that the Tathāgata attained omniscience having burnt up all that is unwholesome would also be false. Venerable sir, there is no feeling without kamma; all such feeling is rooted in kamma, and one experiences it only through kamma. This two-horned question has come to you, and it must be resolved by you.”
Thưa Ngài Nāgasena, nếu Đức Như Lai đã đạt được nhất thiết trí sau khi đã thiêu đốt tất cả các pháp bất thiện, thì lời nói rằng bàn chân của Đức Thế Tôn đã bị một mảnh đá làm bị thương và bệnh kiết lỵ ra máu đã sanh khởi là sai lầm. Nếu bàn chân của Đức Như Lai đã bị một mảnh đá làm bị thương và bệnh kiết lỵ ra máu đã sanh khởi, thì lời nói rằng Đức Như Lai đã đạt được nhất thiết trí sau khi đã thiêu đốt tất cả các pháp bất thiện cũng là sai lầm. Thưa Ngài, không có sự cảm thọ nào mà không do nghiệp. Tất cả sự cảm thọ ấy đều có nghiệp làm gốc rễ, người ta cảm thọ nó chính là do nghiệp. Câu hỏi lưỡng nan này đã đến với Ngài, Ngài phải giải quyết nó.
‘‘Na hi, mahārāja, sabbaṃ taṃ vedayitaṃ kammamūlakaṃ. Aṭṭhahi, mahārāja, kāraṇehi vedayitāni uppajjanti, yehi kāraṇehi puthū sattā vedanā vediyanti. Katamehi aṭṭhahi? Vātasamuṭṭhānānipi kho, mahārāja, idhekaccāni vedayitāni uppajjanti, pittasamuṭṭhānānipi kho, mahārāja…pe… semhasamuṭṭhānānipi kho, mahārāja…pe… sannipātikānipi kho, mahārāja…pe… utupariṇāmajānipi kho, mahārāja…pe… visamaparihārajānipi kho, mahārāja…pe… opakkamikānipi kho, mahārāja…pe… kammavipākajānipi kho, mahārāja, idhekaccāni vedayitāni uppajjanti. Imehi kho, mahārāja, aṭṭhahi kāraṇehi puthū sattā vedanā vedayanti. Tattha ye te puggalā ‘satte kammaṃ vibādhatī’ti vadeyyuṃ, te ime puggalā sattakāraṇaṃ paṭibāhanti. Tesaṃ taṃ vacanaṃ micchā’’ti. ‘‘Bhante nāgasena, yañca vātikaṃ yañca pittikaṃ yañca semhikaṃ yañca sannipātikaṃ yañca utupariṇāmajaṃ yañca visamaparihārajaṃ yañca opakkamikaṃ, sabbete kammasamuṭṭhānā yeva, kammeneva te sabbe sambhavantī’’ti.
“Great king, not all such feeling is rooted in kamma. Feelings arise from eight causes, great king, and it is due to these causes that various beings experience feelings. What are the eight? Some feelings, great king, arise from wind. Some feelings, great king, arise from bile. Some feelings, great king, arise from phlegm. Some feelings, great king, arise from a combination of these. Some feelings, great king, arise from changes in season. Some feelings, great king, arise from improper care. Some feelings, great king, arise from external assault. And some feelings, great king, arise as the result of kamma. It is due to these eight causes, great king, that various beings experience feelings. Therein, those people who would say, ‘Beings are afflicted only by kamma,’ reject the other seven causes. Their statement is false.” “Venerable Nāgasena, that which is due to wind, bile, phlegm, their combination, change of season, improper care, or external assault—all these have kamma as their origin. All of them arise only because of kamma.”
Tâu Đại vương, không phải tất cả sự cảm thọ ấy đều có nghiệp làm gốc rễ. Tâu Đại vương, các cảm thọ sanh khởi do tám nguyên nhân, do những nguyên nhân này mà nhiều chúng sanh cảm nhận các cảm thọ. Do tám nguyên nhân nào? Tâu Đại vương, ở đây, một số cảm thọ sanh khởi do gió làm nhân sanh; tâu Đại vương, ... do mật làm nhân sanh; tâu Đại vương, ... do đàm làm nhân sanh; tâu Đại vương, ... do sự kết hợp (của ba thứ trên) làm nhân sanh; tâu Đại vương, ... do sự thay đổi thời tiết sanh ra; tâu Đại vương, ... do sự chăm sóc không điều độ sanh ra; tâu Đại vương, ... do sự tấn công (từ bên ngoài) sanh ra; tâu Đại vương, ở đây, một số cảm thọ sanh khởi do quả của nghiệp sanh ra. Tâu Đại vương, do tám nguyên nhân này mà nhiều chúng sanh cảm nhận các cảm thọ. Trong số đó, những người nói rằng ‘nghiệp hành hạ chúng sanh’, những người này đã bác bỏ bảy nguyên nhân (còn lại). Lời nói của họ là sai lầm. Thưa Ngài Nāgasena, những gì do gió, do mật, do đàm, do sự kết hợp, do thay đổi thời tiết, do chăm sóc không điều độ, do sự tấn công (từ bên ngoài), tất cả chúng đều do nghiệp làm nhân sanh, tất cả chúng đều phát sinh từ nghiệp.
‘‘Yadi, mahārāja, tepi sabbe kammasamuṭṭhānāva ābādhā bhaveyyuṃ, na tesaṃ koṭṭhāsato lakkhaṇāni bhaveyyuṃ. Vāto kho, mahārāja, kuppamāno dasavidhena kuppati sītena uṇhena jighacchāya vipāsāya atibhuttena ṭhānena padhānena ādhāvanena upakkamena kammavipākena. Tatra ye te nava vidhā, na te atīte, na anāgate, vattamānake bhave uppajjanti, tasmā na vattabbā ‘kammasambhavā sabbā vedanā’ti. Pittaṃ, mahārāja, kuppamānaṃ tividhena kuppati sītena uṇhena visamabhojanena. Semhaṃ, mahārāja, kuppamānaṃ tividhena kuppati sītena uṇhena annapānena. Yo ca, mahārāja, vāto yañca pittaṃ yañca semhaṃ, tehi tehi kopehi kuppitvā missī hutvā sakaṃ sakaṃ vedanaṃ ākaḍḍhati. Utupariṇāmajā, mahārāja, vedanā utupariyāmena uppajjati. Visamaparihārajā vedanā visamaparihārena uppajjati. Opakkamikā, mahārāja, vedanā atthi kiriyā, atthi kammavipākā, kammavipākajā vedanā pubbe katena kammena uppajjati. Iti kho, mahārāja, appaṃ kammavipākajaṃ, bahutaraṃ avasesaṃ. Tattha bālā ‘sabbaṃ kammavipākajaṃ yevā’ti atidhāvanti. Taṃ kammaṃ na sakkā vinā buddhañāṇena vavatthānaṃ kātuṃ.
“Great king, if all those illnesses were to arise from kamma, there would be no distinguishing characteristics according to their different types. Wind, great king, when agitated, is agitated in ten ways: by cold, by heat, by hunger, by thirst, by overeating, by standing, by exertion, by running, by assault, and by the result of kamma. Therein, those nine types do not arise in the past, nor in the future; they arise only in the present existence. Therefore, it should not be said that ‘all feelings are born of kamma.’ Bile, great king, when agitated, is agitated in three ways: by cold, by heat, and by improper food. Phlegm, great king, when agitated, is agitated in three ways: by cold, by heat, and by food and drink. And, great king, when wind, bile, and phlegm are agitated by their respective causes, they mix together and each draws forth its own particular feeling. A feeling born of a change in season, great king, arises from a change in season. A feeling born of improper care arises from improper care. A feeling from an external assault, great king, can be a [present] action or it can be a result of kamma. A feeling that is the result of kamma arises from kamma done previously. Thus, great king, that which is born of the result of kamma is little; the remainder is much more. Therein, fools rush to the conclusion that ‘everything is just the result of kamma.’ It is not possible to make a determination of that kamma without the knowledge of a Buddha.”
Tâu Đại vương, nếu tất cả các bệnh tật ấy đều do nghiệp sanh khởi, thì sẽ không có các đặc điểm theo từng phần của chúng. Tâu Đại vương, gió khi bị xáo trộn thì xáo trộn theo mười cách: do lạnh, do nóng, do đói, do khát, do ăn quá no, do tư thế, do cố gắng, do chạy, do sự tấn công, do quả của nghiệp. Trong ấy, chín cách kia không sanh khởi ở quá khứ, không sanh khởi ở vị lai, chúng chỉ sanh khởi trong đời hiện tại. Do đó, không nên nói rằng: ‘Tất cả các cảm thọ đều do nghiệp tạo ra’. Tâu Đại vương, mật khi bị xáo trộn thì xáo trộn theo ba cách: do lạnh, do nóng, do ăn uống không điều độ. Tâu Đại vương, đàm khi bị xáo trộn thì xáo trộn theo ba cách: do lạnh, do nóng, do ăn uống. Tâu Đại vương, gió ấy, mật ấy, và đàm ấy, khi bị xáo trộn bởi những nguyên nhân gây xáo trộn riêng của chúng, chúng hòa lẫn vào nhau và lôi kéo cảm thọ riêng của mỗi thứ. Tâu Đại vương, cảm thọ sanh do thời tiết thay đổi thì sanh khởi do sự thay đổi của thời tiết. Cảm thọ sanh do sinh hoạt không điều độ thì sanh khởi do sự sinh hoạt không điều độ. Tâu Đại vương, có cảm thọ do sự tấn công từ bên ngoài; có loại do hành động (trong hiện tại), có loại do quả của nghiệp. Cảm thọ sanh do quả của nghiệp thì sanh khởi do nghiệp đã tạo trong quá khứ. Như vậy, tâu Đại vương, cảm thọ sanh do quả của nghiệp thì ít, phần còn lại thì nhiều hơn. Trong trường hợp này, những kẻ ngu si lại chạy theo quan điểm rằng: ‘Tất cả đều do quả của nghiệp’. Nghiệp ấy không thể được phân định nếu không có Phật trí.
‘‘Yaṃ pana, mahārāja, bhagavato pādo sakalikāya khato, taṃ vedayitaṃ neva vātasamuṭṭhānaṃ, na pittasamuṭṭhānaṃ, na semhasamuṭṭhānaṃ, na sannipātikaṃ, na utupariṇāmajaṃ, na visamaparihārajaṃ, na kammavipākajaṃ, opakkamikaṃ yeva. Devadatto hi, mahārāja, bahūni jātisatasahassāni tathāgate āghātaṃ bandhi, so tena āghātena mahatiṃ garuṃ silaṃ gahetvā ‘matthake pātessāmī’ti muñci, athaññe dve selā āgantvā taṃ silaṃ tathāgataṃ asampattaṃ yeva sampaṭicchiṃsu, tāsaṃ pahārena papaṭikā bhijjitvā bhagavato pāde patitvā ruhiraṃ † uppādesi, kammavipākato vā, mahārāja, bhagavato esā vedanā nibbattā kiriyato vā, tatuddhaṃ natthaññā vedanā.
“But, great king, as for the feeling when the Blessed One's foot was wounded by a stone splinter, that feeling did not arise from wind, nor from bile, nor from phlegm, nor from their combination, nor from a change in season, nor from improper care, nor was it born of the result of kamma; it was solely due to an external assault. For, great king, Devadatta had harbored hatred toward the Tathāgata for many hundreds of thousands of lifetimes. Seized by that hatred, he took up a massive, heavy boulder and hurled it, thinking, ‘I will drop it on his head.’ But two other rocks came and intercepted that boulder before it could reach the Tathāgata. From their impact, a fragment broke off, fell on the Blessed One’s foot, and caused blood to flow. Great king, this feeling of the Blessed One was thus produced from a present action. A feeling is produced either from the result of kamma or from a present action; beyond these two, there is no other cause.”
Tâu Đại vương, còn cảm thọ mà Đức Thế Tôn đã phải chịu khi bàn chân bị một mảnh đá làm tổn thương, cảm thọ ấy không phải do gió sanh khởi, không phải do mật sanh khởi, không phải do đàm sanh khởi, không phải do sự kết hợp (của ba thứ trên), không phải do thời tiết thay đổi, không phải do sinh hoạt không điều độ, không phải do quả của nghiệp, mà chính là do sự tấn công từ bên ngoài. Tâu Đại vương, vì Devadatta đã mang lòng oán hận đối với đức Như Lai trong nhiều trăm ngàn kiếp, do lòng oán hận ấy, y đã lấy một tảng đá lớn và nặng, rồi ném đi với ý định: ‘Ta sẽ cho nó rơi trúng đầu’. Bấy giờ, hai tảng đá khác đến và hứng lấy tảng đá ấy trước khi nó kịp đến gần đức Như Lai. Do sự va chạm của chúng, một mảnh đá vỡ ra, rơi trúng bàn chân của Đức Thế Tôn và làm chảy máu. Tâu Đại vương, cảm thọ này của Đức Thế Tôn phát sanh hoặc do quả của nghiệp, hoặc do hành động (hiện tại); ngoài hai điều này ra, không có cảm thọ nào khác.
‘‘Yathā, mahārāja, khettaduṭṭhatāya vā bījaṃ na sambhavati bījaduṭṭhatāya vā. Evameva kho, mahārāja, kammavipākato vā bhagavato esā vedanā nibbattā kiriyato vā, tatuddhaṃ natthaññā vedanā.
Great King, just as a seed does not sprout due to a defect in the field or a defect in the seed, even so, Great King, this feeling of the Blessed One has arisen either from the result of kamma or from present action. Beyond that, there is no other feeling.
Tâu Đại vương, ví như hạt giống không thể nảy mầm hoặc do đất xấu, hoặc do hạt giống xấu. Cũng vậy, tâu Đại vương, cảm thọ này của Đức Thế Tôn phát sanh hoặc do quả của nghiệp, hoặc do hành động (hiện tại); ngoài hai điều này ra, không có cảm thọ nào khác.
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, koṭṭhaduṭṭhatāya vā bhojanaṃ visamaṃ pariṇamati āhāraduṭṭhatāya vā, evameva kho, mahārāja, kammavipākato vā bhagavato esā vedanā nibbattā kiriyato vā, tatuddhaṃ natthaññā vedanā. Api ca, mahārāja, natthi bhagavato kammavipākajā vedanā, natthi visamaparihārajā vedanā, avasesehi samuṭṭhānehi bhagavato vedanā uppajjati, tāya ca pana vedanāya na sakkā bhagavantaṃ jīvitā voropetuṃ.
Or just as, Great King, food is improperly digested due to a defect in the stomach or a defect in the food itself, even so, Great King, this feeling of the Blessed One has arisen either from the result of kamma or from present action. Beyond that, there is no other feeling. Moreover, Great King, for the Blessed One there is no feeling born from the result of kamma, nor is there feeling born from an improper regimen; the feeling of the Blessed One arises from the remaining causes. And yet, by that feeling, it is not possible to deprive the Blessed One of life.
Hoặc lại nữa, tâu Đại vương, ví như thức ăn không được tiêu hóa tốt hoặc do bộ phận tiêu hóa bị hỏng, hoặc do thức ăn không tốt. Cũng vậy, tâu Đại vương, cảm thọ này của Đức Thế Tôn phát sanh hoặc do quả của nghiệp, hoặc do hành động (hiện tại); ngoài hai điều này ra, không có cảm thọ nào khác. Hơn nữa, tâu Đại vương, Đức Thế Tôn không có cảm thọ sanh do quả của nghiệp, không có cảm thọ sanh do sinh hoạt không điều độ; cảm thọ của Đức Thế Tôn sanh khởi do các nguyên nhân còn lại. Và với cảm thọ ấy, không thể đoạt mạng sống của Đức Thế Tôn được.
‘‘Nipatanti, mahārāja, imasmiṃ cātumahābhūtike † kāye iṭṭhāniṭṭhā subhāsubhavedanā. Idha, mahārāja, ākāse khitto leḍḍu mahāpathaviyā nipatati, api nu kho so, mahārāja, leḍḍu pubbe katena mahāpathaviyā nipatī’’ti? ‘‘Na hi, bhante, natthi so, bhante, hetu mahāpathaviyā, yena hetunā mahāpathavī kusalākusalavipākaṃ paṭisaṃvedeyya, paccuppannena, bhante, akammakena hetunā so leḍḍu mahāpathaviyaṃ nipatati. Yathā, mahārāja, mahāpathavī, evaṃ tathāgato daṭṭhabbo. Yathā leḍḍu pubbe akatena mahāpathaviyaṃ nipatati, evameva kho, mahārāja, tathāgatassa pubbe akatena sā sakalikāpāde nipatitā.
Great King, desirable and undesirable, pleasant and unpleasant feelings befall this body composed of the four great elements. Here, Great King, a clod of earth thrown into the sky falls upon the great earth. Now, Great King, does that clod fall upon the great earth because of a past deed?" "Certainly not, venerable sir. Venerable sir, there is no such cause in the great earth by which the great earth could experience the result of wholesome or unwholesome kamma. Venerable sir, that clod falls upon the great earth due to a present, non-kammic cause." "Great King, as the great earth is, so should the Tathāgata be seen. Just as the clod falls upon the great earth not because of a past deed, even so, Great King, that splinter fell upon the Tathāgata’s foot not because of a past deed.
Tâu Đại vương, trong thân thể được cấu tạo từ bốn đại này, các cảm thọ dễ chịu và khó chịu, tốt và xấu thường rơi xuống. Ở đây, tâu Đại vương, một hòn sỏi được ném lên không trung rồi rơi xuống đất. Tâu Đại vương, có phải hòn sỏi ấy rơi xuống đất là do nghiệp đã tạo trong quá khứ chăng? – Thưa không, bạch ngài. Bạch ngài, đất không có nguyên nhân nào để có thể cảm nhận được quả của nghiệp thiện và ác. Bạch ngài, hòn sỏi ấy rơi xuống đất do một nguyên nhân hiện tại, không liên quan đến nghiệp quá khứ. Tâu Đại vương, nên xem đức Như Lai cũng giống như đất. Ví như hòn sỏi rơi xuống đất không phải do nghiệp đã tạo trong quá khứ, cũng vậy, tâu Đại vương, mảnh đá ấy đã rơi trúng bàn chân của đức Như Lai không phải do nghiệp đã tạo trong quá khứ.
‘‘Idha pana, mahārāja, manussā mahāpathaviṃ bhindanti ca khaṇanti ca, api nu kho, mahārāja, te manussā pubbe katena mahāpathaviṃ bhindanti ca khaṇanti cā’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, yā sā sakalikā bhagavato pāde nipatitā, na sā sakalikā pubbe katena bhagavato pāde nipatitā. Yopi, mahārāja, bhagavato lohitapakkhandikābādho uppanno, sopi ābādho na pubbe katena uppanno, sannipātikeneva uppanno, ye keci, mahārāja, bhagavato kāyikā ābādhā uppannā, na te kammābhinibbattā, channaṃ etesaṃ samuṭṭhānānaṃ aññatarato nibbattā.
Furthermore, Great King, people here break up and dig the great earth. Now, Great King, do those people break up and dig the great earth because of a past deed?" "Certainly not, venerable sir." "Even so, Great King, that splinter which fell upon the Blessed One’s foot did not fall upon his foot because of a past deed. And the affliction of dysentery that arose in the Blessed One, that affliction too did not arise because of a past deed; it arose only from a confluence of the humors. Whatever bodily afflictions arose in the Blessed One, Great King, they were not produced by kamma; they arose from one or another of these six causes.
Lại nữa, tâu Đại vương, ở đây con người phá vỡ và đào xới đất. Tâu Đại vương, có phải những người ấy phá vỡ và đào xới đất là do nghiệp đã tạo trong quá khứ chăng? – Thưa không, bạch ngài. – Cũng vậy, tâu Đại vương, mảnh đá đã rơi trúng bàn chân của Đức Thế Tôn, mảnh đá ấy không phải đã rơi trúng bàn chân của Đức Thế Tôn do nghiệp đã tạo trong quá khứ. Tâu Đại vương, cả chứng bệnh kiết lỵ ra máu của Đức Thế Tôn cũng vậy, chứng bệnh ấy không sanh khởi do nghiệp đã tạo trong quá khứ, mà chỉ sanh khởi do sự kết hợp (của gió, mật, đàm). Tâu Đại vương, bất cứ bệnh tật nào về thân sanh khởi nơi Đức Thế Tôn, chúng không phải do nghiệp tạo ra, mà được sanh khởi từ một trong sáu nguyên nhân này.
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā devātidevena saṃyuttanikāyavaralañchake moḷiyasīvake † veyyākaraṇe –
And this was spoken, Great King, by the Blessed One, the god beyond gods, in the exposition to Moḷiya Sīvaka, which bears the excellent seal of the Saṃyutta Nikāya:
Tâu Đại vương, điều này đã được Đức Thế Tôn, vị trời vượt trên các vị trời, thuyết giảng trong bài kinh giải đáp Moḷiyasīvaka, thuộc Tương Ưng Bộ ưu việt –
‘‘‘Pittasamuṭṭhānānipi kho, sīvaka, idhekaccāni vedayitāni uppajjanti. Sāmampi kho etaṃ, sīvaka, veditabbaṃ, yathā pittasamuṭṭhānānipi idhekaccāni vedayitāni uppajjanti. Lokassapi kho etaṃ, sīvaka, saccasammataṃ, yathā pittasamuṭṭhānānipi idhekaccāni vedayitāni uppajjanti. Tatra, sīvaka, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṃvādino evaṃdiṭṭhino ‘‘yaṃ kiñcāyaṃ purisapuggalo paṭisaṃvedeti sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā, sabbaṃ taṃ pubbe katahetū’’ti. Yañca sāmaṃ ñātaṃ, tañca atidhāvanti, yañca loke saccasammataṃ, tañca atidhāvanti. Tasmā tesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ micchāti vadāmi.
‘Sīvaka, some feelings arise here that are caused by bile. This, Sīvaka, is to be known for oneself: that some feelings arise here that are caused by bile. This, Sīvaka, is also acknowledged as true in the world: that some feelings arise here that are caused by bile. In this matter, Sīvaka, those ascetics and brahmins who have such a doctrine and view, that ‘Whatever this individual person experiences, whether pleasant, painful, or neither-painful-nor-pleasant, all of that is due to past deeds’—they overstep what is known by themselves, and they overstep what is acknowledged as true in the world. Therefore, I say of those ascetics and brahmins that they are wrong.
“Này Sīvaka, ở đây có một số cảm thọ sanh khởi do mật gây ra. Này Sīvaka, điều này tự mình cũng nên biết rằng có một số cảm thọ sanh khởi ở đây do mật gây ra. Này Sīvaka, điều này cũng được thế gian công nhận là sự thật rằng có một số cảm thọ sanh khởi ở đây do mật gây ra. Trong trường hợp đó, này Sīvaka, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Bất cứ điều gì mà người này cảm thọ, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc, tất cả đều do nhân đã làm trong quá khứ,’ họ đã vượt qua cả điều tự mình biết và vượt qua cả điều được thế gian công nhận là sự thật. Vì vậy, Ta nói rằng (lời nói của) các Sa-môn, Bà-la-môn ấy là sai lầm.
‘‘‘Semhasamuṭṭhānānipi kho, sīvaka, idhekaccāni vedayitāni uppajjanti. Vātasamuṭṭhānānipi kho, sīvaka…pe… sannipātikānipi kho, sīvaka…pe… utupariṇāmajānipi kho, sīvaka…pe… visamaparihārajānipi kho, sīvaka…pe… opakkamikānipi kho, sīvaka…pe… kammavipākajānipi kho, sīvaka, idhekaccāni vedayitāni uppajjanti. Sāmampi kho etaṃ, sīvaka, veditabbaṃ, yathā kammavipākajānipi idhekaccāni vedayitāni uppajjanti. Lokassapi kho etaṃ, sīvaka, saccasammataṃ, yathā kammavipākajānipi idhekaccāni vedayitāni uppajjanti. Tatra, sīvaka, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṃvādino evaṃdiṭṭhino ‘‘yaṃ kiñcāyaṃ purisapuggalo paṭisaṃvedeti sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā, sabbaṃ taṃ pubbe katahetū’’ti. Yañca sāmaṃ ñātaṃ, tañca atidhāvanti, yañca loke saccasammataṃ, tañca atidhāvanti. Tasmā tesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ micchāti vadāmī’’’ti.
‘Sīvaka, some feelings arise here that are caused by phlegm... Sīvaka, some feelings arise here that are caused by wind... Sīvaka, some feelings arise here that are caused by a confluence of the humors... Sīvaka, some feelings arise here that are born of a change in season... Sīvaka, some feelings arise here that are born of an improper regimen... Sīvaka, some feelings arise here that are caused by external assault... Sīvaka, some feelings arise here that are born of the result of kamma. This, Sīvaka, is to be known for oneself: that some feelings arise here that are born of the result of kamma. This, Sīvaka, is also acknowledged as true in the world: that some feelings arise here that are born of the result of kamma. In this matter, Sīvaka, those ascetics and brahmins who have such a doctrine and view, that ‘Whatever this individual person experiences, whether pleasant, painful, or neither-painful-nor-pleasant, all of that is due to past deeds’—they overstep what is known by themselves, and they overstep what is acknowledged as true in the world. Therefore, I say of those ascetics and brahmins that they are wrong.’
“Này Sīvaka, ở đây có một số cảm thọ sanh khởi do đàm gây ra. Này Sīvaka, (có một số cảm thọ sanh khởi) do gió gây ra... Này Sīvaka, (có một số cảm thọ sanh khởi) do sự kết hợp (của các thể dịch) gây ra... Này Sīvaka, (có một số cảm thọ sanh khởi) do thời tiết thay đổi gây ra... Này Sīvaka, (có một số cảm thọ sanh khởi) do sự chăm sóc không điều độ gây ra... Này Sīvaka, (có một số cảm thọ sanh khởi) do sự tấn công gây ra... Này Sīvaka, ở đây có một số cảm thọ sanh khởi do quả của nghiệp gây ra. Này Sīvaka, điều này tự mình cũng nên biết rằng có một số cảm thọ sanh khởi ở đây do quả của nghiệp gây ra. Này Sīvaka, điều này cũng được thế gian công nhận là sự thật rằng có một số cảm thọ sanh khởi ở đây do quả của nghiệp gây ra. Trong trường hợp đó, này Sīvaka, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Bất cứ điều gì mà người này cảm thọ, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc, tất cả đều do nhân đã làm trong quá khứ,’ họ đã vượt qua cả điều tự mình biết và vượt qua cả điều được thế gian công nhận là sự thật. Vì vậy, Ta nói rằng (lời nói của) các Sa-môn, Bà-la-môn ấy là sai lầm.”
‘‘Itipi, mahārāja, na sabbā vedanā kammavipākajā, sabbaṃ, mahārāja, akusalaṃ jhāpetvā bhagavā sabbaññutaṃ pattoti evametaṃ dhārehī’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
Therefore, Great King, not all feelings are born of the result of kamma. Great King, you should understand it thus: the Blessed One attained omniscience after having burned away all that is unwholesome." "Excellent, venerable Nāgasena, I accept it just so.
“Tâu Đại vương, cũng như vậy, không phải tất cả cảm thọ đều do quả của nghiệp. Tâu Đại vương, sau khi đã thiêu đốt tất cả bất thiện, Đức Thế Tôn đã đạt đến Nhất thiết trí, xin hãy ghi nhớ điều này như vậy.” “Lành thay, thưa ngài Nāgasena, con xin chấp nhận điều này đúng như vậy.”
Akusalacchedanapañho aṭṭhamo.
The Eighth Question on the Cutting Off of the Unwholesome.
Câu hỏi về việc đoạn trừ bất thiện, (phẩm) thứ tám.