Bản dịch
MIL 5.1.7 — CÂU HỎI VỀ SỰ BIẾN MẤT CỦA CHÁNH PHÁP
7. Saddhammantaradhānapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Ānanda, giờ đây Chánh Pháp sẽ tồn tại chỉ còn năm trăm năm.’ Và thêm nữa, vào thời điểm viên tịch Niết Bàn, được hỏi bởi du sĩ ngoại đạo Subhadda, đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Này Subhadda, nếu các tỳ khưu này sống chân chánh, thế gian sẽ không thiếu vắng các vị A-la-hán.’ Đây là lời nói không thiếu sót, đây là lời nói đầy đủ, đây là lời nói không thay đổi. Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Này Ānanda, giờ đây Chánh Pháp sẽ tồn tại chỉ còn năm trăm năm,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Thế gian sẽ không thiếu vắng các vị A-la-hán’ là sai trái. Nếu đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Thế gian sẽ không thiếu vắng các vị A-la-hán,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Này Ānanda, giờ đây Chánh Pháp sẽ tồn tại chỉ còn năm trăm năm’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, bị rối rắm còn hơn bụi rậm, mạnh mẽ hơn người lực sĩ, bị thắt lại còn hơn nút thắt, nó được dành cho ngài. Ở đây, xin ngài hãy phô bày sự triển khai về năng lực trí tuệ của ngài như là con kình ngư di chuyển ở giữa biển khơi.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Ānanda, giờ đây Chánh Pháp sẽ tồn tại chỉ còn năm trăm năm.’ Và vào thời điểm viên tịch Niết Bàn, có lời đã được nói cho du sĩ ngoại đạo Subhadda rằng: ‘Này Subhadda, nếu các tỳ khưu này sống chân chánh, thế gian sẽ không thiếu vắng các vị A-la-hán.’ Tâu đại vương, hơn nữa lời nói ấy của đức Thế Tôn là có ý nghĩa khác nhau và có văn tự khác nhau. Điều này là giới hạn của Giáo Pháp, điều kia là sự làm sáng tỏ về việc thực hành. Cả hai điều ấy là cách biệt xa vời với nhau. Tâu đại vương, giống như bầu không gian là cách biệt xa vời với trái đất, địa ngục là cách biệt xa vời với cõi trời, thiện là cách biệt xa vời với bất thiện, lạc là cách biệt xa vời với khổ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế cả hai điều ấy là cách biệt xa vời với nhau. Tâu đại vương, tuy nhiên chớ làm cho câu hỏi của đại vương là vô bổ. Tôi sẽ so sánh và giảng giải cho đại vương về phần cốt yếu. Điều mà đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Này Ānanda, giờ đây Chánh Pháp sẽ tồn tại chỉ còn năm trăm năm,’ trong khi làm sáng tỏ sự hoại diệt ấy Ngài đã xác định phần còn lại rằng: ‘Này Ānanda, Chánh Pháp có thể tồn tại một ngàn năm nếu các tỳ khưu ni không xuất gia. Này Ānanda, giờ đây Chánh Pháp sẽ tồn tại chỉ còn năm trăm năm.’ Tâu đại vương, đức Thế Tôn trong khi nói như vậy phải chăng Ngài nói về sự biến mất của Chánh Pháp hay là Ngài bác bỏ về sự lãnh hội?”
“Thưa ngài, không phải vậy.”
“Tâu đại vương, trong khi công bố về việc bị tiêu hoại, trong khi làm sáng tỏ, Ngài đã xác định phần còn lại. Tâu đại vương, giống như người bị phá sản, sau khi nắm chắc phần còn lại, có thể làm sáng tỏ đối với dân chúng rằng: ‘Phần hàng hóa của tôi bị mất mát là chừng này, đây là phần còn lại.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn, trong khi làm sáng tỏ việc bị tiêu hoại, đã thuyết giảng cho chư Thiên và nhân loại rằng: ‘Này Ānanda, giờ đây Chánh Pháp sẽ tồn tại chỉ còn năm trăm năm.’
Tâu đại vương, tuy nhiên điều đã được nói bởi đức Thế Tôn rằng: ‘Này Ānanda, giờ đây Chánh Pháp sẽ tồn tại chỉ còn năm trăm năm;’ điều ấy là giới hạn của Giáo Pháp. Còn điều mà vào thời điểm viên tịch Niết Bàn, trong lúc công bố cho các vị Sa-môn, Ngài đã nói cho du sĩ ngoại đạo Subhadda rằng: ‘Này Subhadda, nếu các tỳ khưu này sống chân chánh, thế gian sẽ không thiếu vắng các vị A-la-hán;’ điều ấy là sự làm sáng tỏ về việc thực hành. Hơn nữa, đại vương đã khiến cho sự giới hạn và sự làm sáng tỏ trở thành có chung điều cốt yếu. Nếu đại vương có sự mong muốn, tôi sẽ thuyết giảng. Xin đại vương hãy chăm chú lắng nghe, hãy chú ý với tâm không bị xao lãng. Tâu đại vương, ở đây có hồ nước tràn đầy nước mới, trong khi sẽ tràn bờ thì đã được giới hạn lại, đã được làm con đê bao quanh, khi nước ở chính cái hồ ấy chưa bị tháo cạn, có đám mây lớn ở phía trên tuần tự đổ mưa liên tục. Tâu đại vương, phải chăng nước ở hồ nước ấy có thể đi đến sự cạn kiệt, đi đến sự tháo cạn?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, vì lý do gì?”
“Thưa ngài, vì sự liên tục của cơn mưa.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế cái hồ nước Chánh Pháp cao quý trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, được tràn đầy nước mới không ô nhiễm là tánh hạnh, giới đức, phận sự, và sự thực hành, là vượt lên trên, vượt qua khỏi cảnh giới tột cùng của hiện hữu, và tồn tại. Nếu những người con trai của đức Phật trong Giáo Pháp này có thể liên lục, có thể đổ xuống tuần tự cơn mưa từ đám mây tánh hạnh, giới đức, phận sự, và sự thực hành, như thế hồ nước Chánh Pháp cao quý trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng có thể tồn tại thời gian lâu dài, và thế gian sẽ không thiếu vắng các vị A-la-hán. Liên quan đến ý nghĩa này là điều đã được đức Thế Tôn nói đến rằng: ‘Này Subhadda, nếu các tỳ khưu này sống chân chánh, thế gian sẽ không thiếu vắng các vị A-la-hán.’
BJT 3Tâu đại vương, hơn nữa ở đây trong khi đống lửa lớn đang rực cháy, người ta tuần tự đem lại các thứ cỏ, củi, phân bò khô. Tâu đại vương, phải chăng khối lửa ấy có thể nguội tắt?”
“Thưa ngài, không đúng. Khối lửa ấy có thể rực cháy hơn nữa, có thể tỏa sáng còn nhiều hơn nữa.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế Giáo Pháp cao quý của đấng Chiến Thắng rực cháy, tỏa sáng ở mười ngàn thế giới với tánh hạnh, giới đức, phận sự, và sự thực hành.
Tâu đại vương, nếu những người con trai của đức Phật được hội đủ năm chi phần của sự nỗ lực, thường xuyên không bị xao lãng, có thể nỗ lực còn hơn thế nữa, có thể học tập với lòng ước muốn đã được sanh khởi về Tam Học, có thể làm đầy đủ một cách trọn vẹn về sự thực hành và sự kiêng cữ về giới, như thế Giáo Pháp cao quý này của đấng Chiến Thắng có thể tồn tại thời gian lâu dài còn hơn thế nữa, và thế gian sẽ không thiếu vắng các vị A-la-hán. Liên quan đến ý nghĩa này là điều đã được đức Thế Tôn nói đến rằng: ‘Này Subhadda, nếu các tỳ khưu này sống chân chánh, thế gian sẽ không thiếu vắng các vị A-la-hán.’
BJT 4Tâu đại vương, hơn nữa ở đây họ có thể đánh bóng tuần tự tấm gương trơn láng, bằng phẳng, khéo được đánh bóng, có ánh sáng, hoàn toàn trong sáng, bằng bột phấn đỏ trơn và mịn. Tâu đại vương, phải chăng vết bẩn, bùn, bụi bặm có thể hiện lên ở tấm gương ấy?”
“Thưa ngài, không đúng. Ngược lại, nó còn trở nên trong sáng hơn nữa.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế Giáo Pháp cao quý của đấng Chiến Thắng, tự nhiên vốn không có vết nhơ, đã xa lìa hẳn vết nhơ và bụi bặm phiền não. Nếu những người con trai của đức Phật có thể nhẫn nại thực hành Giáo Pháp cao quý của đấng Chiến Thắng với tánh hạnh, giới đức, phận sự, sự thực hành, sự giảm thiểu, và hạnh từ khước, như thế Giáo Pháp cao quý này của đấng Chiến Thắng có thể tồn tại thời gian lâu dài, và thế gian sẽ không thiếu vắng các vị A-la-hán;’ điều đã được đức Thế Tôn nói rằng: ‘Này Subhadda, nếu các tỳ khưu này sống chân chánh, thế gian sẽ không thiếu vắng các vị A-la-hán’ là có liên quan đến ý nghĩa này. Tâu đại vương, Giáo Pháp của bậc Đạo Sư có căn bản là sự thực hành, có cốt lõi là sự thực hành, còn tồn tại khi nào sự thực hành chưa bị biến mất.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều ngài nói là: ‘Sự biến mất của Chánh Pháp,’ sự biến mất của Chánh Pháp ấy là gì?”
“Tâu đại vương, đây là ba sự biến mất của Giáo Pháp. Ba điều gì? Sự biến mất của việc chứng đắc, sự biến mất của việc thực hành, sự biến mất của tướng mạo. Tâu đại vương, khi việc chứng đắc bị biến mất, thì ngay cả đối với những người thực hành tốt đẹp cũng không có sự lãnh hội Giáo Pháp. Khi việc thực hành bị biến mất, thì điều học và sự quy định bị biến mất, chỉ còn tướng mạo tồn tại. Khi tướng mạo bị biến mất, thì có sự đứt đoạn của truyền thống. Tâu đại vương, đây là ba sự biến mất của Giáo Pháp.”
“Thưa ngài Nāgasena, câu hỏi thâm sâu đã khéo được giảng giải, đã được làm rõ, nút thắt đã được mở ra, lời tuyên thuyết của ngoại đạo đã bị hư hoại, đã bị đổ vỡ, đã được làm cho không còn hào quang, ngài đã tiến đến vị thế cao quý nhất trong số các vị có đồ chúng.”
Câu hỏi về sự biến mất của Chánh Pháp là thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā ‘pañceva dāni, ānanda, vassasatāni saddhammo ṭhassatī’ti. Parinibbānasamaye ca subhaddassa paribbājakassa bhaṇitaṃ ‘ime ca, subhadda, bhikkhū sammā vihareyyuṃ, asuñño loko arahantehi assā’ti. Tañca pana, mahārāja, bhagavato vacanaṃ nānatthañceva hoti nānābyañjanañca, ayaṃ sāsanaparicchedo, ayaṃ paṭipatti paridīpanāti dūraṃ vivajjitā te ubho aññamaññaṃ. Yathā, mahārāja, nabhaṃ pathavito dūraṃ vivajjitaṃ, nirayaṃ saggato dūraṃ vivajjitaṃ, kusalaṃ akusalato dūraṃ vivajjitaṃ, sukhaṃ dukkhato dūraṃ vivajjitaṃ. Evameva kho, mahārāja, te ubho aññamaññaṃ dūraṃ vivajjitā.
“Great king, this was spoken by the Blessed One: ‘Now, Ānanda, the true Dhamma will endure for only five hundred years.’ And at the time of his final nirvana, it was said to the wanderer Subhadda: ‘If, Subhadda, these monks were to live rightly, the world would not be devoid of arahants.’ However, great king, those words of the Blessed One have different meanings and different phrasing. The former is a delimitation of the Dispensation; the latter is an elucidation of the practice. Thus, those two statements are far removed from one another. Just as, great king, the sky is far removed from the earth, hell is far removed from heaven, the wholesome is far removed from the unwholesome, and happiness is far removed from suffering, even so, great king, are those two statements far removed from one another.”
“Tâu Đại vương, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Ānanda, hiện nay Chánh pháp sẽ tồn tại năm trăm năm’. Và vào lúc sắp nhập Vô dư Niết-bàn, ngài cũng đã nói với du sĩ Subhadda rằng: ‘Này Subhadda, nếu các vị tỳ khưu này sống đúng Chánh pháp, thế gian sẽ không trống vắng các bậc A-la-hán’. Tâu Đại vương, hai lời dạy này của đức Thế Tôn có ý nghĩa khác nhau và văn tự cũng khác nhau. Lời dạy này là sự phân định về thời gian của giáo pháp. Lời dạy kia là sự trình bày về sự thực hành. Do đó, hai lời dạy này cách xa nhau. Tâu Đại vương, cũng như bầu trời cách xa mặt đất, địa ngục cách xa cõi trời, điều thiện cách xa điều ác, hạnh phúc cách xa đau khổ. Tâu Đại vương, cũng thế, hai lời dạy này cách xa nhau.”
‘‘Api ca, mahārāja, mā te pucchā moghā assa †, rasato te saṃsanditvā kathayissāmi ‘pañceva dāni, ānanda, vassasatāni saddhammo ṭhassatī’ti yaṃ bhagavā āha, taṃ khayaṃ paridīpayanto sesakaṃ paricchindi, vassasahassaṃ, ānanda, saddhammo tiṭṭheyya, sace bhikkhuniyo na pabbājeyyuṃ. Pañceva dāni, ānanda, vassasatāni saddhammo ṭhassatīti. Api nu kho, mahārāja, bhagavā evaṃ vadanto saddhammassa antaradhānaṃ vā vadeti abhisamayaṃ vā paṭikkosatī’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Naṭṭhaṃ, mahārāja, parikittayanto sesakaṃ paridīpayanto paricchindi. Yathā, mahārāja, puriso naṭṭhāyiko sabbasesakaṃ gahetvā janassa paridīpeyya ‘ettakaṃ me bhaṇḍaṃ naṭṭhaṃ, idaṃ sesaka’nti. Evameva kho, mahārāja, bhagavā naṭṭhaṃ paridīpayanto sesakaṃ devamanussānaṃ kathesi ‘pañceva dāni, ānanda, vassasatāni saddhammo ṭhassatī’ti. Yaṃ pana, mahārāja, bhagavatā bhaṇitaṃ ‘pañceva dāni, ānanda, vassasatāni saddhammo ṭhassatī’ti, sāsanaparicchedo eso.
“Furthermore, great king, may your question not be in vain. I will explain by connecting them according to their essence. When the Blessed One said, ‘Now, Ānanda, the true Dhamma will endure for only five hundred years,’ he was defining the remainder while explaining the loss. He defined it thus: ‘Ānanda, the true Dhamma would have endured for a thousand years if nuns had not gone forth. But now, Ānanda, the true Dhamma will endure for only five hundred years.’ Tell me, great king, in speaking thus, was the Blessed One declaring the disappearance of the true Dhamma, or was he denouncing its realization?” “Certainly not, venerable sir.” “Great king, he defined the remainder by proclaiming what was lost and explaining what was left. Just as, great king, a man who has lost property, taking all that remains, might show it to the people, saying, ‘This much of my property is lost, and this is what remains,’ even so, great king, the Blessed One, explaining what was lost, told gods and humans what remained: ‘Now, Ānanda, the true Dhamma will endure for only five hundred years.’ That which was spoken by the Blessed One, great king, ‘Now, Ānanda, the true Dhamma will endure for only five hundred years,’ is a delimitation of the Dispensation.”
“Hơn nữa, tâu Đại vương, câu hỏi của ngài không nên vô ích. Thần sẽ kết hợp ý nghĩa của chúng lại và giải thích cho ngài. Lời mà đức Thế Tôn đã dạy: ‘Này Ānanda, hiện nay Chánh pháp sẽ tồn tại năm trăm năm’, là ngài đã phân định phần còn lại trong khi chỉ ra sự suy giảm. ‘Này Ānanda, Chánh pháp đã có thể tồn tại một ngàn năm, nếu các vị tỳ khưu ni không xuất gia. Hiện nay, này Ānanda, Chánh pháp sẽ tồn tại năm trăm năm’. Tâu Đại vương, khi đức Thế Tôn nói như vậy, có phải ngài nói về sự biến mất của Chánh pháp hay ngài khiển trách sự chứng ngộ không?” “Thưa không, tâu ngài.” “Tâu Đại vương, ngài đã phân định bằng cách tuyên bố phần đã mất và chỉ ra phần còn lại. Tâu Đại vương, ví như một người bị mất tài sản, sau khi thu gom tất cả những gì còn lại, sẽ chỉ cho mọi người thấy: ‘Từng này tài sản của tôi đã mất, đây là phần còn lại’. Cũng vậy, tâu Đại vương, đức Thế Tôn, trong khi chỉ ra phần đã mất, đã nói với chư thiên và loài người về phần còn lại: ‘Này Ānanda, hiện nay Chánh pháp sẽ tồn tại năm trăm năm’. Tâu Đại vương, lời mà đức Thế Tôn đã dạy: ‘Này Ānanda, hiện nay Chánh pháp sẽ tồn tại năm trăm năm’, đó là sự phân định về thời gian của giáo pháp.”
‘‘Yaṃ pana parinibbānasamaye subhaddassa paribbājakassa samaṇe parikittayanto āha ‘ime ca, subhadda, bhikkhū sammā vihareyyuṃ, asuñño loko arahantehi assā’ti, paṭipattiparidīpanā esā, tvaṃ pana taṃ paricchedañca paridīpanañca ekarasaṃ karosi. Yadi pana te chando, ekarasaṃ katvā kathayissāmi, sādhukaṃ suṇohi manasikarohi avikkhittamānaso †.
“But as for what he said at the time of his final nirvana to the wanderer Subhadda, speaking of the ascetics—‘If, Subhadda, these monks were to live rightly, the world would not be devoid of arahants’—that is an elucidation of the practice. You, however, make that delimitation and this elucidation to be of a single essence. If you wish, I will speak, making them of a single essence. Listen well, apply your mind, and be undistracted.”
“Còn lời mà ngài đã nói với du sĩ Subhadda vào lúc sắp nhập Vô dư Niết-bàn, khi nói về các vị sa môn: ‘Này Subhadda, nếu các vị tỳ khưu này sống đúng Chánh pháp, thế gian sẽ không trống vắng các bậc A-la-hán’, đó là sự trình bày về sự thực hành. Còn ngài thì lại gộp sự phân định và sự trình bày ấy thành một ý nghĩa duy nhất. Nếu ngài muốn, thần sẽ gộp chúng thành một ý nghĩa duy nhất và giải thích. Xin hãy lắng nghe kỹ, chú tâm với tâm không xao lãng.”
‘‘Idha, mahārāja, taḷāko bhaveyya navasalilasampuṇṇo sammukhamuttariyamāno paricchinno parivaṭumakato, apariyādiṇṇe yeva tasmiṃ taḷāke udakūpari mahāmegho aparāparaṃ anuppabandho abhivasseyya, api nu kho, mahārāja, tasmiṃ taḷāke udakaṃ parikkhayaṃ pariyādānaṃ gaccheyyā’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Kena kāraṇena mahārājā’’ti? ‘‘Meghassa, bhante, anuppabandhatāyā’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, jinasāsanavarasaddhammataḷāko ācārasīlaguṇavattapaṭipattivimalanavasalilasampuṇṇo uttariyamāno bhavaggamabhibhavitvā ṭhito. Yadi tattha buddhaputtā ācārasīlaguṇavattapaṭipattimeghavassaṃ aparāparaṃ anuppabandhāpeyyuṃ abhivassāpeyyuṃ. Evamidaṃ jinasāsanavarasaddhammataḷāko ciraṃ dīghamaddhānaṃ tiṭṭheyya, arahantehi loko asuñño bhaveyya, imamatthaṃ bhagavatā sandhāya bhāsitaṃ ‘ime ca, subhadda, bhikkhū sammā vihareyyuṃ, asuñño loko arahantehi assā’ti.
“Suppose, great king, there were a reservoir, full of fresh water, overflowing its banks, enclosed, and formed by an embankment. While the water in that reservoir was not yet exhausted, a great cloud were to rain down upon it again and again without interruption. Tell me, great king, would the water in that reservoir go to ruin and exhaustion?” “Certainly not, venerable sir.” “For what reason, great king?” “Because of the uninterrupted rain, venerable sir.” “Even so, great king, the great reservoir of the true Dhamma in the Victor’s Dispensation stands full of the pure, fresh water of conduct, virtue, good qualities, and practice, overflowing and reaching up to the very peak of existence. If the sons of the Buddha were to cause the rain of conduct, virtue, good qualities, and practice to fall again and again without interruption, then this great reservoir of the true Dhamma in the Victor’s Dispensation would endure for a long, long time, and the world would not be devoid of arahants. It was with reference to this that the Blessed One said: ‘If, Subhadda, these monks were to live rightly, the world would not be devoid of arahants.’”
“Tâu Đại vương, ở đây, giả sử có một hồ chứa nước được đắp bờ, được phân định, đầy nước mới, nước tràn bờ. Khi nước trong hồ chứa đó chưa cạn, một đám mây lớn lại liên tục không ngừng trút mưa xuống trên mặt nước. Tâu Đại vương, nước trong hồ chứa đó có thể cạn kiệt, vơi đi không?” “Thưa không, tâu ngài.” “Vì lý do gì, tâu Đại vương?” “Thưa ngài, vì mưa không ngừng.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, hồ Chánh pháp cao quý của giáo pháp đức Chiến Thắng, đầy ắp dòng nước mới tinh khiết của giới hạnh, đức hạnh, phẩm chất, bổn phận và sự thực hành, đứng vững, tràn lên đến tận cõi hữu đỉnh. Nếu ở đó, các vị Phật tử làm cho cơn mưa của giới hạnh, đức hạnh, phẩm chất, bổn phận và sự thực hành trút xuống liên tục không ngừng, thì hồ Chánh pháp cao quý của giáo pháp đức Chiến Thắng này sẽ tồn tại lâu dài, và thế gian sẽ không trống vắng các bậc A-la-hán. Đức Thế Tôn đã nói điều này với ý nghĩa đó: ‘Này Subhadda, nếu các vị tỳ khưu này sống đúng Chánh pháp, thế gian sẽ không trống vắng các bậc A-la-hán’.”
‘‘Idha pana, mahārāja, mahati mahāaggikkhandhe jalamāne aparāparaṃ sukkhatiṇakaṭṭhagomayāni upasaṃhareyyuṃ, api nu kho so, mahārāja, aggikkhandho nibbāyeyyā’’ti? ‘‘Na hi, bhante, bhiyyo bhiyyo so aggikkhandho jaleyya, bhiyyo bhiyyo pabhāseyyā’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, dasasahassiyā † lokadhātuyā jinasāsanavarampi ācārasīlaguṇavattapaṭipattiyā jalati pabhāsati. Yadi pana, mahārāja, taduttariṃ buddhaputtā pañcahi padhāniyaṅgehi samannāgatā satatamappamattā padaheyyuṃ, tīsu sikkhāsu chandajātā sikkheyyuṃ, cārittañca sīlaṃ samattaṃ paripūreyyuṃ, evamidaṃ jinasāsanavaraṃ bhiyyo bhiyyo ciraṃ dīghamaddhānaṃ tiṭṭheyya, asuñño loko arahantehi assāti imamatthaṃ bhagavatā sandhāya bhāsitaṃ ‘ime ca, subhadda, bhikkhū sammā vihareyyuṃ, asuñño loko arahantehi assā’ti.
“Furthermore, great king, suppose a great mass of fire were burning, and people were to bring to it again and again dry grass, sticks, and cow dung. Tell me, great king, would that mass of fire be extinguished?” “Certainly not, venerable sir. That mass of fire would blaze all the more and shine all the more.” “Even so, great king, in the ten-thousandfold world-system, the excellent Dispensation of the Victor blazes and shines through conduct, virtue, good qualities, and practice. If, furthermore, the sons of the Buddha, endowed with the five factors of striving, were to strive constantly and heedfully, were to train with keen desire in the three trainings, and were to fulfill completely the virtue of proper conduct, then this excellent Dispensation of the Victor would endure for a very, very long time, and the world would not be devoid of arahants. It was with reference to this that the Blessed One said: ‘If, Subhadda, these monks were to live rightly, the world would not be devoid of arahants.’”
“Hơn nữa, tâu Đại vương, ở đây, khi một đống lửa lớn đang cháy bừng, nếu người ta liên tục mang đến cỏ khô, củi khô, phân bò khô, tâu Đại vương, đống lửa đó có thể bị dập tắt không?” “Thưa không, tâu ngài, đống lửa đó sẽ cháy càng lúc càng mạnh, tỏa sáng càng lúc càng rực rỡ.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, trong mười ngàn thế giới, giáo pháp cao quý của đức Phật cũng bùng cháy và tỏa sáng nhờ vào giới hạnh, đức hạnh, phẩm chất, bổn phận và sự thực hành. Tâu Đại vương, hơn thế nữa, nếu các vị Phật tử, được trang bị năm chi phần của sự tinh tấn, luôn luôn không lơ là, nỗ lực, và nếu họ, với lòng mong muốn, thực hành ba học giới, và nếu họ thực hành đầy đủ giới hạnh, thì giáo pháp cao quý của đức Phật này sẽ tồn tại càng lúc càng lâu dài, và thế gian sẽ không trống vắng các bậc A-la-hán. Với ý nghĩa này, đức Thế Tôn đã dạy: ‘Này Subhadda, nếu các vị tỳ khưu này sống đúng Chánh pháp, thế gian sẽ không trống vắng các bậc A-la-hán’.”
‘‘Idha pana, mahārāja, siniddhasamasumajjitasappabhāsavimalādāsaṃ † saṇhasukhumagerukacuṇṇena aparāparaṃ majjeyyuṃ, api nu kho, mahārāja, tasmiṃ ādāse malakaddamarajojallaṃ jāyeyyā’’ti? ‘‘Na hi, bhante, aññadatthu vimalataraṃ yeva bhaveyyā’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, jinasāsanavaraṃ pakatinimmalaṃ byapagatakilesamalarajojallaṃ, yadi taṃ buddhaputtā ācārasīlaguṇavattapaṭipattisallekhadhutaguṇena jinasāsanavaraṃ sallakkheyyuṃ †, evamidaṃ jinasāsanavaraṃ ciraṃ dīghamaddhānaṃ tiṭṭheyya, asuñño ca loko arahantehi assāti imamatthaṃ bhagavatā sandhāya bhāsitaṃ ‘ime ca, subhadda, bhikkhū sammā vihareyyuṃ, asuñño loko arahantehi assā’ti. Paṭipattimūlakaṃ, mahārāja, satthusāsanaṃ paṭipattikāraṇaṃ paṭipattiyā anantarahitāya tiṭṭhatī’’ti.
“Now, great king, suppose they were to repeatedly polish a mirror that is smooth, even, well-polished, radiant, and immaculate with fine, subtle red ochre powder—would any stain, mud, dust, or dirt arise in that mirror?” “No, venerable sir. On the contrary, it would become even more immaculate.” “Just so, great king, the excellent Dispensation of the Conqueror is naturally pure, free from the stain, mud, dust, and dirt of defilements. If the sons of the Buddha were to observe the excellent Dispensation of the Conqueror by means of the qualities of good conduct, virtue, observance, practice, effacement, and asceticism, then this excellent Dispensation would endure for a long time, and the world would not be empty of arahants. It was with this meaning in mind that the Blessed One said, ‘Subhadda, if these monks were to live rightly, the world would not be empty of arahants.’ The Teacher’s Dispensation, great king, is rooted in practice; it has practice as its cause, and it endures so long as the practice has not disappeared.”
Lại nữa, tâu Đại vương, ở đây, nếu người ta dùng bột đất son mịn màng, tinh tế mà lau chùi nhiều lần một tấm gương trong sạch không tỳ vết, sáng chói, được lau chùi kỹ lưỡng, bằng phẳng, và trơn láng, thì tâu Đại vương, liệu trong tấm gương ấy có thể sanh ra vết bẩn, bùn nhơ, bụi bặm, cáu ghét chăng? Thưa Ngài, không thể được. Trái lại, nó chỉ trở nên trong sạch hơn mà thôi. Cũng vậy, tâu Đại vương, giáo pháp cao thượng của bậc Chiến Thắng vốn tự nhiên trong sạch, đã loại trừ các phiền não, vết bẩn, bụi bặm, cáu ghét. Nếu các Phật tử ghi nhận giáo pháp cao thượng của bậc Chiến Thắng bằng đức hạnh của sự tu tập khổ hạnh, sự gọt giũa, sự thực hành, bổn phận, phẩm hạnh, giới đức, và cách hành xử, thì giáo pháp cao thượng này của bậc Chiến Thắng sẽ tồn tại lâu dài, trường cửu, và thế gian sẽ không trống rỗng các vị A-la-hán. Với ý nghĩa này, Đức Thế Tôn đã thuyết rằng: ‘Này Subhadda, nếu các Tỳ-khưu này sống một cách chân chánh, thế gian sẽ không trống rỗng các vị A-la-hán’. Tâu Đại vương, giáo pháp của Bậc Đạo Sư có sự thực hành làm gốc rễ, có sự thực hành làm nguyên nhân. Khi sự thực hành chưa biến mất thì giáo pháp vẫn tồn tại.
‘‘Bhante nāgasena, ‘saddhammantaradhāna’nti yaṃ vadesi, katamaṃ taṃ saddhammantaradhāna’’nti? ‘‘Tīṇimāni, mahārāja, sāsanantaradhānāni. Katamāni tīṇi? Adhigamantaradhānaṃ paṭipattantaradhānaṃ liṅgantaradhānaṃ, adhigame, mahārāja, antarahite suppaṭipannassāpi dhammābhisamayo na hoti, paṭipattiyā antarahitāya sikkhāpadapaññatti antaradhāyati, liṅgaṃyeva tiṭṭhati, liṅge antarahite paveṇupacchedo hoti, imāni kho, mahārāja, tīṇi antaradhānānī’’ti.
“Venerable Nāgasena, you speak of ‘the disappearance of the true Dhamma.’ What is that disappearance of the true Dhamma?” “There are these three disappearances of the Dispensation, great king. Which three? The disappearance of attainment, the disappearance of practice, and the disappearance of the outward sign. When attainment disappears, great king, even for one who is well-practiced, there is no realization of the Dhamma. When practice disappears, the prescription of the training rules vanishes; only the outward sign remains. When the outward sign disappears, the lineage is cut off. These, great king, are the three disappearances.”
Thưa Ngài Nāgasena, điều mà Ngài nói là ‘sự biến mất của Chánh pháp’, sự biến mất của Chánh pháp ấy là gì? Tâu Đại vương, có ba sự biến mất của giáo pháp này. Ba sự biến mất ấy là gì? Sự biến mất của sự chứng đắc, sự biến mất của sự thực hành, và sự biến mất của hình tướng. Tâu Đại vương, khi sự chứng đắc biến mất, dù cho người thực hành tốt cũng không có sự liễu ngộ pháp. Khi sự thực hành biến mất, sự chế định học giới cũng biến mất, chỉ còn lại hình tướng. Khi hình tướng biến mất, sự truyền thừa bị cắt đứt. Tâu Đại vương, đây chính là ba sự biến mất.
‘‘Suviññāpito, bhante nāgasena, pañho, gambhīro uttānīkato, gaṇṭhi bhinno, naṭṭhā paravādā bhaggā nippabhā katā, tvaṃ gaṇivaravasabhamāsajjāti.
“Venerable Nāgasena, the question has been well explained, the profound made plain, the knot untied. Having approached you, the bull among the best of teachers, opposing arguments are destroyed, shattered, and rendered powerless.”
Thưa Ngài Nāgasena, câu hỏi đã được làm cho dễ hiểu, điều sâu sắc đã được làm cho rõ ràng, nút thắt đã được tháo gỡ. Các tà thuyết đã bị tiêu diệt, bị phá vỡ, bị làm cho lu mờ khi chúng đối diện với Ngài, bậc tối thắng trong các vị lãnh đạo giáo phái.
Saddhammantaradhānapañho sattamo.
The seventh question on the disappearance of the True Dhamma.
Câu hỏi thứ bảy về sự biến mất của Chánh pháp.