Bản dịch
MIL 5.1.6 — CÂU HỎI VỀ SỰ NHẬP VÀO BÀO THAI
6. Gabbhāvakkantipañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, sự nhập vào bào thai được hội tụ bởi ba yếu tố. Ở đây, người mẹ và người cha kết hợp với nhau, người mẹ có kinh nguyệt, và chúng sanh đi đầu thai đã sẵn sàng. Này các tỳ khưu, sự nhập vào bào thai được hội tụ bởi ba yếu tố này.’ Đây là lời nói không thiếu sót, đây là lời nói đầy đủ, đây là lời nói không thay đổi, đây là lời nói xứng đáng, đã được nói (bởi đức Thế Tôn) sau khi ngồi xuống ở giữa chư Thiên và nhân loại. Và việc nhập vào bào thai này được hội tụ bởi hai yếu tố đã được nhìn thấy: ‘Vào thời kỳ kinh nguyệt của nữ đạo sĩ Pārikā, lỗ rún của nàng đã bị chạm vào bởi ngón tay cái bên phải của đạo sĩ Dukūla, do việc chạm vào lỗ rún ấy của vị ấy mà đứa bé trai Sāma được sanh ra. Vào thời kỳ kinh nguyệt của cô gái Bà-la-môn, lỗ rún của nàng cũng đã bị chạm vào bởi ngón tay cái bên phải của vị ẩn sĩ Mātaṅga, do việc chạm vào lỗ rún ấy của vị ấy mà thanh niên Bà-la-môn Maṇḍavya được sanh ra.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘Này các tỳ khưu, sự nhập vào bào thai được hội tụ bởi ba yếu tố,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Bé trai Sāma và thanh niên Bà-la-môn Maṇḍavya, cả hai người ấy được sanh ra do sự chạm vào lỗ rún’ là sai trái. Nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘Bé trai Sāma và thanh niên Bà-la-môn Maṇḍavya, cả hai người ấy được sanh ra do sự chạm vào lỗ rún,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, sự nhập vào bào thai được hội tụ bởi ba yếu tố’ là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, vô cùng sâu xa, vô cùng khôn khéo, là lãnh vực dành cho những bậc có sự giác ngộ. Nó được dành cho ngài. Xin ngài hãy chặt đứt sự phân vân. Xin ngài hãy nắm giữ ngọn đèn cao quý của trí tuệ.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, sự nhập vào bào thai được hội tụ bởi ba yếu tố. Ở đây, người mẹ và người cha kết hợp với nhau, người mẹ có kinh nguyệt, và chúng sanh đi đầu thai đã sẵn sàng. Sự nhập vào bào thai được hội tụ bởi ba yếu tố như vậy.’ Và có điều đã được nói là: ‘Bé trai Sāma và thanh niên Bà-la-môn Maṇḍavya, cả hai người ấy được sanh ra do sự chạm vào lỗ rún.’”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì câu hỏi khéo được giải quyết bằng lý lẽ nào, xin ngài giúp cho trẫm hiểu bằng lý lẽ ấy.”
BJT 3“Tâu đại vương, phải chăng đại vương đã được nghe trước đây là thanh niên Saṁkicca, đạo sĩ Isisiṅga, và trưởng lão Kumārakassapa, những người ấy được sanh ra do việc này?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có được nghe. Việc sanh ra của những người ấy được loan truyền. Hai con nai cái, nhằm vào thời kinh nguyệt, đã đi đến chỗ tiểu tiện của hai vị đạo sĩ rồi uống nước tiểu có lẫn tinh dịch của họ, do tinh dịch ở nước tiểu ấy mà thanh niên Saṁkicca và đạo sĩ Isisiṅga được sanh ra. Trưởng lão Udāyi đã đi đến chỗ ngụ của tỳ khưu ni, trong lúc suy tưởng đến chỗ kín của vị tỳ khưu ni với tâm ái luyến, đã bị xuất ra tinh dịch ở y ca-sa. Khi ấy, đại đức Udāyi đã bảo vị tỳ khưu ni ấy điều này: ‘Này sư tỷ, hãy đi và đem lại nước. Tôi sẽ giặt y nội.’—‘Thưa ngài, hãy đưa đây. Chính tôi sẽ giặt.’ Sau đó, vị tỳ khưu ni ấy, đang ở vào thời kinh nguyệt, đã dùng miệng nuốt vào một phần tinh dịch ấy, còn một phần đã đưa vào chỗ kín. Do việc ấy, trưởng lão Kumārakassapa đã được sanh ra.’ Và người ta đã nói về điều ấy như vậy.”
“Tâu đại vương, vậy ngài có tin vào lời nói ấy không?”
“Thưa ngài, có chứ. Chúng tôi chấp nhận lý do trong trường hợp ấy là vững chãi, vì lý do ấy chúng tôi tin rằng: ‘Họ đã được sanh ra bởi lý do ấy.’”
“Tâu đại vương, ở đây điều gì là lý do?”
“Thưa ngài, phải chăng khi hạt giống được gieo vào mảnh đất ẩm đã được chuẩn bị kỹ lưỡng thì sẽ nhanh chóng nẩy mầm?”
“Tâu đại vương, đúng vậy.”
“Thưa ngài, tương tợ y như thế vị tỳ khưu ni ấy, khi đang có kinh nguyệt, khi noãn sào đã được thành lập, khi máu kinh có sức chảy đã ngưng lại, khi điều kiện đã được xác định, cô ấy đã nhận lấy tinh dịch ấy rồi đưa vào ở chỗ noãn sào ấy. Vì thế, bào thai đã thành tựu cho cô ấy. Chúng tôi ghi nhận lý do như vậy đối với việc sanh ra của những người ấy.”
“Tâu đại vương, điều ấy là như vậy. Theo đó, tôi chấp nhận là do sự xâm nhập vào tử cung mà bào thai được hình thành. Tâu đại vương, phải chăng ngài chấp nhận là có sự nhập vào bào thai của trưởng lão Kumārakassapa?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, lành thay! Đại vương đã đi theo đường lối của tôi. Mặc dầu chỉ theo một cách thức trong khi nói về việc nhập vào bào thai, đại vương cũng sẽ đi theo sự thuyết phục của tôi. Giờ đến hai con nai cái đã đạt được bào thai sau khi uống nước tiểu, đối với chúng thì đại vương có tin về sự nhập vào bào thai không?”
“Thưa ngài, có chứ. Bất cứ vật gì được ăn, được uống, được nhai, được liếm, thì tất cả trôi xuống noãn sào, rồi đạt đến sự phát triển ở nơi đã đi đến. Thưa ngài Nāgasena, giống như bất cứ cái gì gọi là dòng nước chảy, tất cả đều chảy xuôi về đại dương, rồi đạt đến sự phát triển ở nơi đã đi đến. Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế bất cứ vật gì được ăn, được uống, được nhai, được liếm, thì tất cả đều trôi xuống noãn sào, rồi đạt đến sự phát triển ở nơi đã đi đến. Vì lý do ấy, trẫm tin về sự nhập vào bào thai cũng do vật đã được đưa vào miệng.”
“Tâu đại vương, lành thay! Đại vương đã đi theo đường lối của tôi một cách vững chắc hơn. Cũng do việc uống vào miệng mà có sự hội tụ của hai trường hợp. Tâu đại vương, phải chăng đại vương chấp nhận là có sự nhập vào bào thai của Saṁkicca, của đạo sĩ Isisiṅga, và của trưởng lão Kumārakassapa?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Đã được hội tụ thì trôi xuống.”
BJT 5“Tâu đại vương, bé trai Sāma và thanh niên Bà-la-môn Maṇḍavya đều có chung một tính chất, được xếp vào ba sự hội tụ theo trường hợp đầu tiên. Tôi sẽ nói về lý do của trường hợp này. Tâu đại vương, đạo sĩ Dukūla và nữ đạo sĩ Pārikā, cả hai người ấy đã có sự cư ngụ ở trong rừng, có khuynh hướng viễn ly, là những người theo đuổi mục đích tối thượng, do quyền năng của sự khổ hạnh họ đã hâm nóng cho đến thế giới Phạm Thiên. Khi ấy, Thiên chủ Sakka ngày đêm đi đến phục vụ cho họ. Trong khi quan tâm đến họ bằng tâm từ được thể hiện với sự kính trong, Thiên chủ Sakka đã nhìn thấy sự hư hoại thị giác của cả hai người họ vào thời vị lai xa xăm, sau khi nhìn thấy đã nói với họ rằng: ‘Này hai vị, hãy thực hiện cho trẫm một việc. Tốt thay, hai vị hãy sanh ra một người con trai. Nó sẽ là người phục vụ và đỡ đần cho hai vị.’ ‘Này Kosiya, thôi đi! Chớ có lời nói như vậy.’ Họ đã không chấp nhận lời nói ấy của vị ấy. Là người có lòng bi mẫn, có sự mong mỏi điều lợi ích, Thiên chủ Sakka đã nói với họ như thế đến lần thứ nhì, đến lần thứ ba rằng: ‘Này hai vị, hãy thực hiện cho trẫm một việc. Tốt thay, hai vị hãy sanh ra một người con trai. Nó sẽ là người phục vụ và đỡ đần cho hai vị.’ Đến lần thứ ba, họ đã nói rằng: ‘Này Kosiya, thôi đi! Ngài chớ ràng buộc chúng tôi vào việc không có lợi ích. Thân này sẽ không tan rã cho đến khi nào? Thân này có sự tan rã là pháp tự nhiên, hãy để nó tan rã. Cho dầu trái đất đang bị tan rã, cho dầu đỉnh núi đang rơi xuống, cho dầu bầu trời đang bị nứt ra, cho dầu mặt trăng mặt trời đang sụp xuống, chúng tôi cũng không bao giờ hòa nhập với các pháp thế tục. Ngài chớ đến gần đối mặt với chúng tôi. Chúng tôi nghĩ ngài là hạng làm điều không có lợi ích; điều ấy là sự tin chắc khi ngài đi đến gần.’
Do đó, trong khi không đạt được tâm ý của họ, Thiên chủ Sakka đã thể hiện sự kính trọng, chắp tay lên, thỉnh cầu lần nữa: ‘Nếu hai vị không nỗ lực để thực hiện lời nói của trẫm, vậy thì lúc nào nữ đạo sĩ là đến thời kỳ, có kinh nguyệt, khi ấy thưa đạo sĩ, ông có thể chạm vào lỗ rún bằng ngón tay cái bên phải, do việc ấy nàng ấy sẽ mang thai. Chính điều ấy là sự đã được hội tụ của việc nhập vào bào thai.’ ‘Này Kosiya, tôi có thể thực hiện điều ấy. Chỉ chừng ấy thì sự khổ hạnh của chúng tôi sẽ không bị đổ vỡ. Hãy là như thế.’ Họ đã chấp nhận.
Hơn nữa, vào thời điểm ấy, ở cõi Trời có vị Thiên tử có thiện căn dồi dào, có tuổi thọ đã cạn kiệt, đã đạt đến sự chấm dứt tuổi thọ, có khả năng hạ sanh theo như ước muốn, thậm chí vào gia tộc của đức Chuyển Luân. Khi ấy, Thiên chủ Sakka đã đi đến gặp vị Thiên tử ấy và nói như vầy: ‘Thưa ngài, hãy đến, là ngày vô cùng rạng rỡ cho ngài. Việc thành công có ý nghĩa đã đến, là việc trẫm đã đi đến phục vụ cho ngài, ngài sẽ có chốn cư ngụ ở nơi đáng yêu, sẽ có sự tái sanh ở gia tộc thích hợp, sẽ có sự được nuôi dưỡng bởi cha mẹ tốt lành, hãy đến, hãy làm theo lời nói của trẫm.’ Rồi đã chắp tay ở đỉnh đầu thỉnh cầu đến lần thứ nhì, thỉnh cầu đến lần thứ ba. Do đó, vị Thiên tử ấy đã nói như vầy: ‘Thưa ngài, gia tộc nào mà ngài liên tục ca tụng lập đi lập lại?’ ‘Là đạo sĩ Dukūla và nữ đạo sĩ Pārikā.’ Lắng nghe lời nói của vị ấy, vị Thiên tử đã hoan hỷ chấp nhận: ‘Thưa ngài, tốt lắm! Vậy hãy theo ước muốn của ngài. Thưa ngài, tôi đang mong ước có thể sanh ra ở chủng loại đã được mong mỏi. Vậy tôi được sanh ra ở chủng loại nào: noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hay hóa sanh?’ ‘Thưa ngài, ngài được sanh ra theo lối thai sanh.’
BJT 6Khi ấy, Thiên chủ Sakka, sau khi tính đếm ngày thọ sanh, đã thông báo cho đạo sĩ Dukūla rằng: ‘Vào ngày ấy, nữ đạo sĩ sẽ đến thời kỳ, có kinh nguyệt, thưa ngài, khi ấy ngài nên chạm vào lỗ rún bằng ngón tay cái bên phải.’ Tâu đại vương, vào ngày ấy nữ đạo sĩ đã đến thời kỳ, có kinh nguyệt, và vị Thiên tử đã đi đến, đã hiện diện ở nơi ấy. Và vị đạo sĩ đã chạm vào lỗ rún của vị nữ đạo sĩ bằng ngón tay cái bên phải. Như thế, các việc ấy đã là ba sự hội tụ. Do việc chạm vào lỗ rún, ái luyến đã sanh khởi ở người nữ đạo sĩ. Hơn nữa, ái luyến ấy của cô ta là do việc chạm vào lỗ rún. Xin đại vương chớ nghĩ rằng việc chạm vào lỗ rún ấy chính là sự hư hỏng. Cười giỡn cũng là sự hội tụ. Ngợi khen cũng là sự hội tụ. Chú tâm cũng là sự hội tụ. Do sự sanh khởi của ái luyến đã được tạo ra trước đó, do sự chạm vào mà sự hội tụ được sanh lên. Do sự hội tụ mà có sự nhập thai.
BJT 7Tâu đại vương, sự nhập vào bào thai do sự chạm vào thì cũng không ở vào trường hợp hư hỏng. Tâu đại vương, giống như ngọn lửa đang cháy xua đi sự lạnh cho người đã đến gần mặc dầu không có sự chạm vào. Tâu đại vương, tương tợ y như thế sự nhập vào bào thai do sự chạm vào thì cũng không ở vào trường hợp hư hỏng. Tâu đại vương, sự nhập vào bào thai của chúng sanh là do bốn tác động: Do tác động của nghiệp, do tác động của nguồn gốc, do tác động của chủng loại, do tác động của sự thỉnh cầu. Hơn nữa, tất cả chúng sanh này có sự tạo thành do nghiệp, có sự sanh lên do nghiệp.
Tâu đại vương, sự nhập vào bào thai của chúng sanh do tác động của nghiệp nghĩa là thế nào? Tâu đại vương, các chúng sanh có thiện căn dồi dào sanh lên theo như ước muốn ở gia tộc Sát-đế-lỵ giàu có, hoặc ở gia tộc Bà-la-môn giàu có, hoặc ở gia tộc người tại gia giàu có, hoặc ở giữa chư Thiên, hoặc từ nguồn gốc noãn sanh, hoặc từ nguồn gốc thai sanh, hoặc từ nguồn gốc thấp sanh, hoặc từ nguồn gốc hóa sanh. Tâu đại vương, giống như người nam có tài sản lớn, có của cải lớn, có dồi dào vàng bạc, dồi dào vật sở hữu dự phòng, có dồi dào tài sản và ngũ cốc, có dồi dào thân quyến và phe nhóm, sau khi cho ra tài sản đến hai ba lần rồi mua theo như ước muốn bất cứ vật gì được mong mỏi bởi tâm, hoặc là tớ gái, hay tớ trai, hoặc là ruộng, vườn, làng mạc, thị trấn, hay là xứ sở. Tâu đại vương, tương tợ y như thế các chúng sanh có thiện căn dồi dào sanh lên theo như ước muốn ở gia tộc Sát-đế-lỵ giàu có, hoặc ở gia tộc Bà-la-môn giàu có, hoặc ở gia tộc người tại gia giàu có, hoặc ở giữa chư Thiên, hoặc từ nguồn gốc noãn sanh, hoặc từ nguồn gốc thai sanh, hoặc từ nguồn gốc thấp sanh, hoặc từ nguồn gốc hóa sanh. Sự nhập vào bào thai của chúng sanh do tác động của nghiệp nghĩa là như vậy.
BJT 8Tâu đại vương, sự nhập vào bào thai của chúng sanh do tác động của nguồn gốc nghĩa là thế nào? Tâu đại vương, đối với giống gà mái thì có sự nhập vào bào thai do cơn gió, đối với loài hạc thì có sự nhập vào bào thai do cơn mưa. Thậm chí toàn bộ chư Thiên không nằm trong bào thai cũng là chúng sanh. Đối với các hạng ấy thì có sự nhập vào bào thai bằng nhiều cách thức khác nhau. Tâu đại vương, giống như những con người đi lại trên trái đất theo nhiều cách thức khác nhau, một số trùm kín phía trước, một số trùm kín phía sau, một số thì lõa thể, một số thì cạo đầu mang vải màu trắng, một số thì buộc tràng hoa, một số thì cạo đầu mặc y ca-sa, một số thì mặc y ca-sa cột búi tóc, một số thì bện tóc mang y bằng vỏ cây, một số thì mặc da thú, một số quấn các sợi dây. Tất cả những con người này đi lại trên trái đất theo nhiều cách thức khác nhau. Tâu đại vương, tương tợ y như thế chúng sanh chính là tất cả các hạng ấy. Đối với các hạng ấy thì có sự nhập vào bào thai bằng nhiều cách thức khác nhau. Sự nhập vào bào thai của chúng sanh do tác động của nguồn gốc nghĩa là như vậy.
BJT 9Tâu đại vương, sự nhập vào bào thai của chúng sanh do tác động của chủng loại nghĩa là thế nào? Tâu đại vương, chủng loại nghĩa là có bốn chủng loại: noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh. Ở đây nếu chúng sanh đi đầu thai từ bất cứ nơi đâu đi đến rồi sanh lên ở chủng loại noãn sanh, trong trường hợp ấy nó là hạng noãn sanh … (như trên) … ở chủng loại thai san … (như trên) … ở chủng loại thấp san … (như trên) … sanh lên ở chủng loại hóa sanh, trong trường hợp ấy nó là hạng hóa sanh. Các chúng sanh như thế ấy hiện hữu trong các chủng loại ấy. Tâu đại vương, giống như các con thú hay loài có cánh nào đó đi đến núi Hi-mã-lạp hoặc núi Sineru, tất cả bọn chúng lìa bỏ màu sắc của mình và trở thành màu sắc vàng chói. Tâu đại vương, tương tợ y như thế chúng sanh đi đầu thai nào đó từ bất cứ nơi đâu đi đến rồi nhập vào nguồn gốc noãn sanh thì lìa bỏ vóc dáng thuộc về bản chất và trở thành hạng noãn sanh … (như trên) … nhập vào nguồn gốc thai san … (như trên) … thấp san … (như trên) … hóa sanh thì lìa bỏ vóc dáng thuộc về bản chất và trở thành hạng hóa sanh. Sự nhập vào bào thai của chúng sanh do tác động của chủng loại nghĩa là như vậy.
BJT 10Tâu đại vương, sự nhập vào bào thai của chúng sanh do tác động của của sự thỉnh cầu nghĩa là thế nào? Tâu đại vương, ở đây có gia tộc không có con trai, có nhiều của cải thừa tự, có đức tin, tịnh tín, có giới hạnh, có tư cách tốt đẹp, sống theo hạnh khắc khổ, và có vị Thiên tử có thiện căn dồi dào và đến thời tử vong. Khi ấy, Thiên chủ Sakka vì lòng thương tưởng đến gia tộc ấy đã thỉnh cầu vị Thiên tử ấy rằng: ‘Thưa ngài, xin ngài hãy ngự đến tử cung của người vợ chánh ở gia tộc kia.’ Do nguyên nhân thỉnh cầu của vị ấy, vị Thiên tử ngự đến gia tộc ấy. Tâu đại vương, giống như những người có lòng mong mỏi phước báu sau khi thỉnh cầu vị Sa-môn xứng đáng được phát tâm, thì đi về nhà (nghĩ rằng): ‘Vị này sau khi đến sẽ là nguồn an lạc cho toàn bộ gia tộc.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế Thiên chủ Sakka sau khi thỉnh cầu vị Thiên tử ấy thì đi đến gia tộc ấy. Sự nhập vào bào thai của chúng sanh do tác động của sự thỉnh cầu nghĩa là như vậy.
BJT 11Tâu đại vương, cậu bé trai Sāma được Thiên chủ Sakka thỉnh cầu đã nhập bào tử cung của nữ đạo sĩ Pārikā. Mẹ và cha là người có giới hạnh, có tư cách tốt đẹp. Người thỉnh cầu là Sakka. Cậu bé trai Sāma được sanh ra do tâm nguyện của ba người. Tâu đại vương, ở đây có người nam rành rẽ cách thức gieo hạt giống ở thửa ruộng ẩm được cày kỹ lưỡng. Trong khi hạt giống ấy đang được ngăn ngừa tai họa, phải chăng có thể có tai họa nào đó cho sự phát triển của nó?”
“Thưa ngài, không thể. Hạt giống không bị hãm hại thì có thể tăng trưởng nhanh chóng.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế cậu bé trai Sāma, được thoát khỏi các tai họa đã khởi lên, đã được sanh ra do tâm nguyện của ba người. Tâu đại vương, phải chăng đại vương đã được nghe trước đây có xứ sở rộng lớn, giàu có, thịnh vượng, có dân cư, đã bị tiêu diệt hoàn toàn bởi tâm khởi sân của các vị ẩn sĩ?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Điều được nghe là ở trái đất khu rừng Daṇḍaka, khu rừng Mejjha, khu rừng Kāliṅga, khu rừng Mātaṅga, tất cả các khu rừng ấy đã trở thành không còn là rừng, có trạng thái không phải là rừng, và toàn bộ các xứ sở này cũng đã đi đến hoại diệt bởi tâm khởi sân của các vị ẩn sĩ.”
“Tâu đại vương, nếu các xứ sở vô cùng giàu có bị tiêu diệt bởi tâm khởi sân của những vị ấy, phải chăng có sự an lạc nào đó có thể sanh lên bởi sự hoan hỷ ở tâm của các vị ấy?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, chính vì điều ấy cậu bé trai Sāma đã được sanh ra do sự hoan hỷ ở tâm của ba hạng có năng lực là: được tạo ra bởi hai vị ẩn sĩ, được tạo ra bởi vị Thiên nhân, được tạo ra do phước báu.”
“Tâu đại vương, xin đại vương hãy ghi nhớ điều này như thế. Tâu đại vương, được thỉnh cầu bởi Thiên chủ Sakka, ba vị Thiên tử này đã sanh lên ở gia tộc. Ba vị nào? Cậu bé trai Sāma, (vương tử) Mahāpanāda, và đức vua Kusa. Cả ba người này đều là các đức Bồ Tát.”
“Thưa ngài Nāgasena, sự nhập vào bào thai đã đã khéo được giải thích. Lý do đã được giảng giải rõ ràng. Ánh sáng đã được tạo ra ở nơi tăm tối. Cục rối đã được tháo gỡ. Học thuyết của những kẻ khác không còn chói sáng. Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự nhập vào bào thai là thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Sivirājacakkhudānapañho
5. The Question concerning King Sivi's Gift of Eyes.
5. Câu hỏi về việc vua Sivi bố thí đôi mắt
5. ‘‘Bhante nāgasena, tumhe evaṃ bhaṇatha ‘sivirājena yācakassa cakkhūni dinnāni, andhassa sato puna dibbacakkhūni uppannānī’ti, etampi vacanaṃ sakasaṭaṃ saniggahaṃ sadosaṃ ‘hetusamugghāte ahetusmiṃ avatthusmiṃ natthi dibbacakkhussa uppādo’ti sutte vuttaṃ, yadi, bhante nāgasena, sivirājena yācakassa cakkhūni dinnāni, tena hi ‘puna dibbacakkhūni uppannānī’ti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā; yadi dibbacakkhūni uppannāni, tena hi ‘sivirājena yācakassa cakkhūni dinnānī’ti yaṃ vacanaṃ, tampi micchā. Ayampi ubhato koṭiko pañho gaṇṭhitopi gaṇṭhitaro veṭhatopi veṭhataro gahanatopi gahanataro, so tavānuppatto, tattha chandamabhijanehi nibbāhanāya paravādānaṃ niggahāyā’’ti.
5. “Venerable Nāgasena, you say thus: ‘King Sivi gave his eyes to a supplicant, and though he was blind, divine eyes arose again in him.’ But this statement is faulty, censurable, and flawed, for it is said in a sutta: ‘When the cause is destroyed, without a cause, without a basis, there is no arising of the divine eye.’ If, Venerable Nāgasena, King Sivi gave his eyes to the supplicant, then the statement ‘divine eyes arose again’ is false. If divine eyes arose, then the statement ‘King Sivi gave his eyes to the supplicant’ is also false. This is a two-horned question, more knotted than a knot, more entwined than a coil, and more tangled than a thicket. It has come to you; now generate the will for its resolution and for the refutation of other doctrines.”
5. “Bạch ngài Nāgasena, các ngài nói rằng: ‘Vua Sivi đã bố thí đôi mắt cho một người ăn xin, và sau khi bị mù, đôi mắt thần lại phát sinh’. Lời nói này cũng có lỗi, đáng bị khiển trách, có sai lầm. Trong kinh có nói: ‘Khi nhân bị diệt trừ, không có nhân, không có cơ sở, thì không có sự phát sinh của thiên nhãn’. Bạch ngài Nāgasena, nếu vua Sivi đã bố thí đôi mắt cho người ăn xin, thì lời nói ‘đôi mắt thần lại phát sinh’ là sai. Nếu đôi mắt thần đã phát sinh, thì lời nói ‘vua Sivi đã bố thí đôi mắt cho người ăn xin’ cũng là sai. Câu hỏi này cũng là một câu hỏi lưỡng nan, còn rắc rối hơn cả một nút thắt, còn quấn quýt hơn cả một cuộn rối, còn phức tạp hơn cả một sự phức tạp. Câu hỏi đó đã đến với ngài. Xin ngài hãy khởi lên ý muốn để giải quyết nó và để bác bỏ tà kiến của người khác.”
6. Gabbhāvakkantipañho
6. The Question on Descent into the Womb
6. Câu hỏi về sự nhập thai
6. ‘‘Bhante nāgasena, bhāsitampetaṃ bhagavatā ‘tiṇṇaṃ kho pana, bhikkhave, sannipātā gabbhassa avakkanti † hoti, idha mātāpitaro ca sannipatitā honti, mātā ca utunī hoti, gandhabbo ca paccupaṭṭhito hoti, imesaṃ kho, bhikkhave, tiṇṇaṃ sannipātā gabbhassa avakkanti hotī’ti, asesavacanametaṃ, nissesavacanametaṃ, nippariyāyavacanametaṃ, arahassavacanametaṃ, sadevamanussānaṃ majjhe nisīditvā bhaṇitaṃ, ayañca dvinnaṃ sannipātā gabbhassa avakkanti dissati, dukūlena tāpasena pārikāya tāpasiyā utunikāle dakkhiṇena hatthaṅguṭṭhena nābhi parāmaṭṭhā, tassa tena nābhiparāmasanena sāmakumāro nibbatto. Mātaṅgenāpi isinā brāhmaṇakaññāya utunikāle dakkhiṇena hatthaṅguṭṭhena nābhi parāmaṭṭhā, tassa tena nābhiparāmasanena maṇḍabyo nāma māṇavako nibbattoti. Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṃ ‘tiṇṇaṃ kho pana, bhikkhave, sannipātā gabbhassa avakkanti hotī’ti. Tena hi sāmo ca kumāro maṇḍabyo ca māṇavako ubhopi te nābhiparāmasanena nibbattāti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi, bhante, tathāgatena bhaṇitaṃ ‘sāmo ca kumāro maṇḍabyo ca māṇavako nābhiparāmasanena nibbattā’’ti, tena hi ‘tiṇṇaṃ kho pana, bhikkhave, sannipātā gabbhassa avakkanti hotī’ti yaṃ vacanaṃ, tampi micchā. Ayampi ubhato koṭiko pañho sugambhīro sunipuṇo visayo buddhimantānaṃ, so tavānuppatto, chinda vimatipathaṃ, dhārehi ñāṇavarappajjota’’nti.
6. “Venerable Nāgasena, this was said by the Blessed One: ‘Monks, the descent of an embryo into the womb occurs through the conjunction of three things. Here, the mother and father are united, the mother is in her season, and a being to be reborn is present. Monks, through the conjunction of these three things, the descent of an embryo into the womb occurs.’ This statement is complete, without remainder, direct, and unconcealed, spoken while seated in the midst of gods and humans. And yet, the descent of an embryo into the womb is seen to occur through the conjunction of two things: the ascetic Dukūla touched the navel of the female ascetic Pārikā with his right thumb when she was in her season, and through that touching of the navel, the boy Sāma was conceived. Also, the sage Mātaṅga touched the navel of a brahmin maiden with his right thumb when she was in her season, and through that touching of the navel, the youth named Maṇḍabya was conceived. If, Venerable Nāgasena, the Blessed One said, ‘Monks, the descent of an embryo into the womb occurs through the conjunction of three things,’ then the statement that both the boy Sāma and the youth Maṇḍabya were conceived through the touching of the navel is false. If, venerable sir, the Tathāgata said, ‘The boy Sāma and the youth Maṇḍabya were conceived through the touching of the navel,’ then the statement ‘Monks, the descent of an embryo into the womb occurs through the conjunction of three things’ is also false. This question is a two-horned dilemma, very profound, very subtle, a matter for the wise. It has come to you. Cut through this path of perplexity; hold up the excellent torch of wisdom.”
6. ‘Thưa ngài Nāgasena, điều này đã được đức Thế Tôn nói: ‘Này các Tỳ khưu, do sự hội hợp của ba yếu tố mà có sự nhập thai. Ở đây, cha và mẹ giao hợp, người mẹ có kinh nguyệt, và hương ấm có mặt. Này các Tỳ khưu, do sự hội hợp của ba yếu tố này mà có sự nhập thai.’ Đây là lời nói không còn gì hơn, lời nói không còn thiếu sót, lời nói không có ẩn ý, lời nói không bí mật, được nói ra khi đang ngự giữa chư Thiên và loài người. Tuy nhiên, lại thấy có sự nhập thai do sự hội hợp của hai yếu tố: ẩn sĩ Dukūla đã dùng ngón tay cái bên phải chạm vào rốn của nữ ẩn sĩ Pārikā vào lúc nàng có kinh nguyệt, do việc chạm vào rốn ấy mà hoàng tử Sāma được sanh ra. Cũng vậy, ẩn sĩ Mātaṅga đã dùng ngón tay cái bên phải chạm vào rốn của một thiếu nữ Bà-la-môn vào lúc nàng có kinh nguyệt, do việc chạm vào rốn ấy mà một thanh niên tên là Maṇḍabya được sanh ra. Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Thế Tôn đã nói: ‘Này các Tỳ khưu, do sự hội hợp của ba yếu tố mà có sự nhập thai,’ thì lời nói rằng: ‘Hoàng tử Sāma và thanh niên Maṇḍabya, cả hai vị ấy được sanh ra do việc chạm vào rốn’ là sai. Thưa ngài, nếu đức Như Lai đã nói: ‘Hoàng tử Sāma và thanh niên Maṇḍabya được sanh ra do việc chạm vào rốn,’ thì lời nói rằng: ‘Này các Tỳ khưu, do sự hội hợp của ba yếu tố mà có sự nhập thai’ cũng là sai. Câu hỏi này có hai đầu, rất sâu sắc, rất vi tế, là lĩnh vực của những người có trí tuệ. Câu hỏi ấy đã đến với ngài, xin ngài hãy chặt đứt con đường hoài nghi, hãy thắp lên ngọn đuốc trí tuệ bậc cao.’
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā ‘tiṇṇaṃ kho pana, bhikkhave, sannipātā gabbhassa avakkanti hoti, idha mātāpitaro ca sannipatitā honti, mātā ca utunī hoti, gandhabbo ca paccupaṭṭhito hoti, evaṃ tiṇṇaṃ sannipātā gabbhassa avakkanti hotī’ti. Bhaṇitañca ‘sāmo ca kumāro maṇḍabyo ca māṇavako nābhiparāmasanena nibbattā’’ti. ‘‘Tena hi, bhante nāgasena, yena kāraṇena pañho suvinicchito hoti, tena kāraṇena maṃ saññāpehī’’ti.
6. “Great king, this was indeed said by the Blessed One: ‘Monks, the descent of an embryo occurs through the conjunction of three things. Here, the mother and father are united, the mother is in her season, and a being to be reborn is present. Thus, through the conjunction of these three, the descent of an embryo occurs.’ And it was also said: ‘The boy Sāma and the youth Maṇḍabya were conceived through the touching of the navel.’” “In that case, Venerable Nāgasena, explain to me the reason by which this question may be well resolved.”
‘Tâu Đại vương, điều này đã được đức Thế Tôn nói: ‘Này các Tỳ khưu, do sự hội hợp của ba yếu tố mà có sự nhập thai. Ở đây, cha và mẹ giao hợp, người mẹ có kinh nguyệt, và hương ấm có mặt. Như vậy, do sự hội hợp của ba yếu tố mà có sự nhập thai.’ Và cũng đã được nói rằng: ‘Hoàng tử Sāma và thanh niên Maṇḍabya được sanh ra do việc chạm vào rốn.’ ‘Vậy thì, thưa ngài Nāgasena, xin ngài hãy cho tôi biết lý do nào khiến câu hỏi được giải quyết tốt đẹp.’
‘‘Sutapubbaṃ pana tayā, mahārāja, saṃkicco ca kumāro isisiṅgo ca tāpaso thero ca kumārakassapo ‘iminā nāma te nibbattā’’ti? ‘‘Āma, bhante, suyyati, abbhuggatā tesaṃ jāti, dve migadhenuyo tāva utunikāle dvinnaṃ tāpasānaṃ passāvaṭṭhānaṃ āgantvā sasambhavaṃ passāvaṃ piviṃsu, tena passāvasambhavena saṃkicco ca kumāro isisiṅgo ca tāpaso nibbattā. Therassa udāyissa bhikkhunupassayaṃ upagatassa rattacittena bhikkhuniyā aṅgajātaṃ upanijjhāyantassa sambhavaṃ kāsāve mucci. Atha kho āyasmā udāyi taṃ bhikkhuniṃ etadavoca ‘gaccha bhagini, udakaṃ āhara antaravāsakaṃ dhovissāmī’ti. ‘Āharayya ahameva dhovissāmī’ti. Tato sā bhikkhunī utunisamaye taṃ sambhavaṃ ekadesaṃ mukhena aggahesi, ekadesaṃ aṅgajāte pakkhipi, tena thero kumārakassapo nibbattoti etaṃ jano āhā’’ti.
“Have you ever heard, great king, how the boy Saṅkicca, the ascetic Isisiṅga, and the Elder Kumārakassapa were conceived?” “Yes, venerable sir, it is heard; the story of their conception is widespread. Two female deer, during their season, came to the place where two ascetics urinated and drank the urine containing semen. Through that urine and semen, the boy Saṅkicca and the ascetic Isisiṅga were conceived. As for the Elder Udāyī, when he had gone to the nuns’ quarters, he gazed with a mind full of lust at a nun’s private parts, and semen was released onto his robe. Then the Venerable Udāyī said to that nun, ‘Go, sister, bring water; I will wash my inner robe.’ She replied, ‘Bring it, venerable sir; I myself will wash it.’ Then that nun, during her season, took a portion of that semen in her mouth and placed a portion in her private parts. Through this, the Elder Kumārakassapa was conceived. This is what people say.”
“Tâu Đại vương, ngài có từng nghe rằng vương tử Saṅkicca, đạo sĩ Isisiṅga, và trưởng lão Kumārakassapa đã được sanh ra bởi nguyên nhân này chăng?” “Thưa vâng, tâu ngài, hạ thần có nghe, sự sanh của các vị ấy đã được lan truyền rộng rãi. Trước hết, có hai con nai cái trong thời kỳ động dục đã đến nơi đi tiểu của hai vị đạo sĩ và uống nước tiểu có lẫn tinh dịch. Do nước tiểu và tinh dịch ấy mà vương tử Saṅkicca và đạo sĩ Isisiṅga đã được sanh ra. Trưởng lão Udāyi, khi đến trú xứ của tỳ-khưu-ni, với tâm tham ái nhìn chăm chú vào bộ phận sinh dục của vị tỳ-khưu-ni, tinh dịch đã xuất ra dính vào y. Bấy giờ, tôn giả Udāyi nói với vị tỳ-khưu-ni ấy rằng: ‘Này hiền muội, hãy đi lấy nước, ta sẽ giặt nội y.’ Vị ấy thưa: ‘Bạch ngài, chính con sẽ giặt.’ Sau đó, vị tỳ-khưu-ni ấy, trong thời kỳ rụng trứng, đã lấy một phần tinh dịch ấy ngậm vào miệng, một phần đặt vào bộ phận sinh dục của mình. Do đó, trưởng lão Kumārakassapa đã được sanh ra. Dân chúng đã nói như vậy.”
‘‘Api nu kho tvaṃ, mahārāja, saddahasi taṃ vacana’’nti? ‘‘Āma bhante, balavaṃ tattha mayaṃ kāraṇaṃ upalabhāma, yena mayaṃ kāraṇena saddahāma ‘iminā kāraṇena nibbattā’’ti. ‘‘Kiṃ panettha, mahārāja, kāraṇa’’nti? ‘‘Suparikammakate, bhante, kalale bījaṃ nipatitvā khippaṃ saṃviruhatī’’ti. ‘‘Āma mahārājā’’ti. ‘‘Evameva kho, bhante, sā bhikkhunī utunī samānā saṇṭhite kalale ruhire pacchinnavege ṭhitāya dhātuyā taṃ sambhavaṃ gahetvā tasmiṃ kalale pakkhipi, tena tassā gabbho saṇṭhāsi, evaṃ tattha kāraṇaṃ paccema tesaṃ nibbattiyā’’ti. ‘‘Evametaṃ, mahārāja, tathā sampaṭicchāmi, yonippavesena gabbho sambhavatīti. Sampaṭicchasi pana, tvaṃ mahārāja, therassa kumārakassapassa gabbhāvakkamana’’nti? ‘‘Āma bhante’’ti. ‘‘Sādhu, mahārāja, paccāgatosi mama visayaṃ, ekavidhenapi gabbhāvakkantiṃ kathayanto mamānubalaṃ bhavissasi, atha yā pana tā dve migadhenuyo passāvaṃ pivitvā gabbhaṃ paṭilabhiṃsu, tāsaṃ tvaṃ saddahasi gabbhassāvakkamana’’nti? ‘‘Āma, bhante, yaṃ kiñci bhuttaṃ pītaṃ khāyitaṃ lehitaṃ, sabbaṃ taṃ kalalaṃ osarati, ṭhānagataṃ vuḍḍhimāpajjati. Yathā, bhante nāgasena, yā kāci saritā nāma, sabbā tā mahāsamuddaṃ osaranti, ṭhānagatā vuḍḍhimāpajjanti. Evameva kho, bhante nāgasena, yaṃ kiñci bhuttaṃ pītaṃ khāyitaṃ lehitaṃ, sabbaṃ taṃ kalalaṃ osarati, ṭhānagataṃ vuḍḍhimāpajjati, tenāhaṃ kāraṇena saddahāmi mukhagatenapi gabbhassa avakkanti hotī’’ti. ‘‘Sādhu, mahārāja, gāḷhataraṃ upagatosi mama visayaṃ, mukhapānenapi dvayasannipāto bhavati. Saṃkiccassa ca, mahārāja, kumārassa isisiṅgassa ca tāpasassa therassa ca kumārakassapassa gabbhāvakkamanaṃ sampaṭicchasī’’ti? ‘‘Āma, bhante, sannipāto osaratī’’ti.
“Great king, do you believe that statement?” “Yes, venerable sir. We find a strong reason therein, a reason by which we believe, ‘They were born for this reason.’” “And what, great king, is the reason here?” “Venerable sir, a seed, having fallen upon well-prepared soil, sprouts quickly.” “Indeed, great king.” “In the same way, venerable sir, that bhikkhunī, being in season, when the uterine fluid was settled, the flow of blood had ceased, and the element was stable, took that semen and placed it in the uterine fluid. By that, her pregnancy was established. Thus we understand the reason for their birth.” “So it is, great king. I accept that conception occurs through entry into the womb. But do you, great king, accept the conception of the Elder Kumārakassapa?” “Yes, venerable sir.” “Good, great king, you have returned to my domain. By explaining even one kind of conception, you will support me. Now then, concerning those two does that drank urine and conceived, do you believe in their conception?” “Yes, venerable sir. Whatever is eaten, drunk, chewed, or licked, all of it flows down to the uterine fluid and, having reached its place, it grows. Just as, Venerable Nāgasena, whatever rivers there are, they all flow into the great ocean and, having reached their place, they increase, even so, Venerable Nāgasena, whatever is eaten, drunk, chewed, or licked, all of it flows down to the uterine fluid and, having reached its place, it grows. For that reason, I believe that conception can occur even through that which has entered the mouth.” “Good, great king, you have entered more deeply into my domain. Even through oral ingestion, a twofold conjunction occurs. And do you, great king, accept the conceptions of the boy Saṅkicca, of the ascetic Isisiṅga, and of the Elder Kumārakassapa?” “Yes, venerable sir, the conjunction comes to pass.”
“Tâu Đại vương, ngài có tin lời nói ấy không?” “Thưa vâng, bạch ngài, ở đây chúng thần nhận thấy có lý do vững chắc, do lý do ấy mà chúng thần tin rằng ‘họ đã được sanh ra bởi nguyên nhân này.’” “Tâu Đại vương, ở đây lý do là gì?” “Bạch ngài, trên mảnh đất bùn được chuẩn bị kỹ lưỡng, hạt giống rơi xuống liền nảy mầm nhanh chóng.” “Thưa vâng, tâu Đại vương.” “Cũng vậy, bạch ngài, vị tỳ-khưu-ni ấy đang trong thời kỳ rụng trứng, khi phôi đã hình thành, máu huyết đã ngưng chảy, và yếu tố đã ổn định, đã lấy tinh dịch ấy đặt vào trong phôi đó. Do đó, bào thai đã hình thành nơi vị ấy. Như vậy, ở đây chúng thần tin vào nguyên nhân sự sanh của các vị ấy.” “Tâu Đại vương, sự việc là như vậy, ta chấp nhận như thế, rằng bào thai có thể hình thành qua đường âm đạo. Nhưng tâu Đại vương, ngài có chấp nhận sự nhập thai của trưởng lão Kumārakassapa không?” “Thưa vâng, bạch ngài.” “Lành thay, Đại vương, ngài đã trở lại lĩnh vực của ta. Khi nói về sự nhập thai dù chỉ bằng một cách, ngài sẽ là người hỗ trợ cho ta. Còn về hai con nai cái đã thụ thai sau khi uống nước tiểu, ngài có tin vào sự nhập thai của chúng không?” “Thưa vâng, bạch ngài, bất cứ thứ gì được ăn, uống, nhai, nếm, tất cả đều đi xuống phôi, khi gặp điều kiện thích hợp sẽ phát triển. Bạch ngài Nāgasena, cũng như bất kỳ con sông nào, tất cả đều chảy ra biển lớn, khi gặp điều kiện thích hợp sẽ dâng lên. Cũng vậy, bạch ngài Nāgasena, bất cứ thứ gì được ăn, uống, nhai, nếm, tất cả đều đi xuống phôi, khi gặp điều kiện thích hợp sẽ phát triển. Do lý do đó, hạ thần tin rằng sự nhập thai cũng có thể xảy ra qua đường miệng.” “Lành thay, Đại vương, ngài đã đi vào lĩnh vực của ta một cách vững chắc hơn. Ngay cả việc uống bằng miệng cũng có sự hội hợp của hai yếu tố. Tâu Đại vương, ngài có chấp nhận sự nhập thai của vương tử Saṅkicca, của đạo sĩ Isisiṅga, và của trưởng lão Kumārakassapa không?” “Thưa vâng, bạch ngài, sự hội hợp đã xảy ra.”
‘‘Sāmopi, mahārāja, kumāro maṇḍabyopi māṇavako tīsu sannipātesu antogadhā, ekarasā yeva purimena, tattha kāraṇaṃ vakkhāmi. Dukūlo ca, mahārāja, tāpaso pārikā ca tāpasī ubhopi te araññavāsā ahesuṃ pavivekādhimuttā uttamatthagavesakā, tapatejena yāva brahmalokaṃ santāpesuṃ. Tesaṃ tadā sakko devānamindo sāyaṃ pātaṃ upaṭṭhānaṃ āgacchati. So tesaṃ garukatamettatāya upadhārento addasa anāgatamaddhāne dvinnampi tesaṃ cakkhūnaṃ antaradhānaṃ, disvā te evamāha ‘ekaṃ me, bhonto, vacanaṃ karotha, sādhu ekaṃ puttaṃ janeyyātha, so tumhākaṃ upaṭṭhāko bhavissati ālambano cā’ti. ‘Alaṃ, kosiya, mā evaṃ bhaṇī’ti. Te tassa taṃ vacanaṃ na sampaṭicchiṃsu. Anukampako atthakāmo sakko devānamindo dutiyampi…pe… tatiyampi te evamāha ‘ekaṃ me, bhonto, vacanaṃ karotha, sādhu ekaṃ puttaṃ janeyyātha, so tumhākaṃ upaṭṭhāko bhavissati ālambano cā’ti. Tatiyampi te āhaṃsu ‘alaṃ, kosiya, mā tvaṃ kho amhe anatthe niyojehi, kadāyaṃ kāyo na bhijjissati, bhijjatu ayaṃ kāyo bhedanadhammo, bhijjantiyāpi dharaṇiyā patantepi selasikhare phalantepi ākāse patantepi candimasūriye neva mayaṃ lokadhammehi missayissāma, mā tvaṃ amhākaṃ sammukhabhāvaṃ upagaccha, upagatassa te eso vissāso, anatthacaro tvaṃ maññe’ti.
“Great king, the boy Sāma and the young man Maṇḍabya are both included in the three conjunctions, being of the same nature as the former case. Herein, I will explain the reason. Great king, the ascetic Dukūla and the female ascetic Pārikā both lived in the wilderness, devoted to seclusion and seeking the highest goal. Through the power of their asceticism, they caused heat to arise even up to the Brahma world. At that time, Sakka, the lord of the devas, would come to attend upon them morning and evening. Reflecting out of his profound loving-kindness for them, he foresaw that in the future both of them would lose their sight. Seeing this, he said to them, ‘Good sirs, grant me one request. It would be well if you were to beget a son. He would be your attendant and your support.’ ‘Enough, Kosiya, do not speak thus.’ They did not accept his words. Out of compassion and desiring their welfare, Sakka, the lord of the devas, a second time… and a third time said to them, ‘Good sirs, grant me one request. It would be well if you were to beget a son. He would be your attendant and your support.’ A third time they replied, ‘Enough, Kosiya, do not urge us toward what is not beneficial. When will this body not break apart? Let this body, which is subject to breaking, break. Even if the earth were to shatter, if mountaintops were to fall, if the sky were to split, if the sun and moon were to fall, we would never mix with worldly conditions. Do not come into our presence. Your approach breeds this familiarity, and we think you intend our harm.’”
“Tâu Đại vương, vương tử Sāma và thanh niên Maṇḍabya cũng được bao gồm trong ba trường hợp hội hợp, có cùng bản chất với trường hợp trước. Ở đây, tôi sẽ nói về nguyên nhân. Tâu Đại vương, đạo sĩ Dukūla và nữ đạo sĩ Pārikā, cả hai vị đều sống trong rừng, ưa thích sự tĩnh lặng, tìm cầu lợi ích tối thượng. Với sức nóng của khổ hạnh, họ đã làm nóng đến cõi Phạm thiên. Bấy giờ, Sakka, vua của chư thiên, thường đến hầu hạ họ vào buổi sáng và buổi chiều. Vị ấy, do lòng từ ái kính trọng đối với họ, khi xem xét đã thấy rằng trong tương lai, mắt của cả hai vị sẽ bị mù lòa. Thấy vậy, vị ấy nói với họ rằng: ‘Thưa các ngài, xin hãy làm theo một lời của tôi. Xin hãy sinh một người con. Người con ấy sẽ là người hầu hạ và là chỗ nương tựa cho các ngài.’ ‘Thôi đi, Kosiya, đừng nói như vậy.’ Họ đã không chấp nhận lời nói ấy của vị ấy. Sakka, vua của chư thiên, người có lòng bi mẫn và mong muốn lợi ích, lần thứ hai... lần thứ ba lại nói với họ rằng: ‘Thưa các ngài, xin hãy làm theo một lời của tôi. Xin hãy sinh một người con. Người con ấy sẽ là người hầu hạ và là chỗ nương tựa cho các ngài.’ Lần thứ ba, họ nói rằng: ‘Thôi đi, Kosiya, đừng xúi giục chúng tôi vào việc vô ích. Khi nào thân này sẽ không tan rã? Hãy để thân này tan rã, vì nó có bản chất tan rã. Dù cho đất có vỡ tan, đỉnh núi đá có rơi xuống, không gian có nứt ra, mặt trăng và mặt trời có rơi xuống, chúng tôi cũng sẽ không hòa lẫn với các pháp thế gian. Ngươi đừng đến trước mặt chúng tôi nữa. Vì ngươi đến gần nên mới có sự thân mật này. Ta nghĩ ngươi là kẻ làm điều bất lợi.’”
Tato sakko devānamindo tesaṃ manaṃ alabhamāno garukato pañjaliko puna yāci ‘yadi me vacanaṃ na ussahatha kātuṃ, yadā tāpasī utunī hoti pupphavatī, tadā tvaṃ, bhante, dakkhiṇena hatthaṅguṭṭhena nābhiṃ parāmaseyyāsi, tena sā gabbhaṃ lacchati, sannipāto yevesa gabbhāvakkantiyā’ti. ‘Sakkomahaṃ, kosiya, taṃ vacanaṃ kātuṃ, na tāvatakena amhākaṃ tapo bhijjati, hotū’ti sampaṭicchiṃsu. Tāya ca pana velāya devabhavane atthi devaputto ussannakusalamūlo khīṇāyuko āyukkhayappatto yadicchakaṃ samattho okkamituṃ api cakkavattikulepi. Atha sakko devānamindo taṃ devaputtaṃ upasaṅkamitvā evamāha ‘ehi kho, mārisa, supabhāto te divaso, atthasiddhi upagatā, yamahaṃ te upaṭṭhānamāgamiṃ, ramaṇīye te okāse vāso bhavissati, patirūpe kule paṭisandhi bhavissati, sundarehi mātāpitūhi vaḍḍhetabbo, ehi me vacanaṃ karohī’ti yāci. Dutiyampi…pe… tatiyampi yāci sirasi pañjalikato.
“Then Sakka, the lord of the devas, unable to obtain their consent, reverently joined his palms and pleaded again: ‘If you are unable to grant my request, then, venerable sir, when the female ascetic is in season and flowering, may you touch her navel with your right thumb. By that she will conceive. This is indeed the conjunction for conception.’ ‘I am able to do that, Kosiya. Our asceticism is not broken by such an act. Let it be so,’ they agreed. Now at that time, in the realm of the devas, there was a deva-son of abundant wholesome roots, whose lifespan was exhausted, who had reached the end of his life, and who was capable of descending as he wished, even into the family of a wheel-turning monarch. Then Sakka, the lord of the devas, approached that deva-son and said: ‘Come, good sir, the day has dawned well for you; the attainment of your purpose is at hand. It is for your service that I have come. Your dwelling will be in a delightful place, your rebirth will be in a suitable family, and you will be raised by excellent parents. Come, heed my word.’ A second time… and a third time he pleaded, with hands joined reverently at his head.”
Sau đó, Sakka, vua của chư thiên, không được sự đồng ý của họ, bèn kính cẩn chắp tay thỉnh cầu lần nữa: ‘Nếu các ngài không thể làm theo lời tôi, khi nữ ẩn sĩ đến kỳ kinh nguyệt, thì xin ngài, thưa tôn giả, hãy dùng ngón tay cái bên phải chạm vào rốn của nàng. Nhờ đó, nàng sẽ thọ thai. Đây chính là sự kết hợp để thụ thai.’ ‘Thưa Kosiya, tôi có thể làm theo lời ngài. Chỉ bấy nhiêu đó không làm hỏng sự tu hành của chúng tôi. Cứ như vậy đi,’ họ đã đồng ý. Và vào lúc đó, tại cõi trời, có một vị thiên tử với nhiều thiện căn, đã hết tuổi thọ, đã đến lúc mệnh chung, có khả năng tái sanh tùy ý, ngay cả trong dòng dõi Chuyển Luân Vương. Bấy giờ, Sakka, vua của chư thiên, đến gần vị thiên tử ấy và nói rằng: ‘Này bạn hiền, hãy đến đây. Ngày của bạn đã rạng ngời. Sự thành tựu đã đến. Ta đã đến để hầu hạ bạn. Chỗ ở của bạn sẽ ở một nơi khả ái. Bạn sẽ tái sanh vào một gia đình thích hợp. Bạn sẽ được cha mẹ tốt đẹp nuôi nấng. Hãy đến và làm theo lời ta,’ ngài thỉnh cầu. Lần thứ hai... lần thứ ba ngài thỉnh cầu, chắp tay trên đầu.
Tato so devaputto evamāha ‘katamaṃ taṃ, mārisa, kulaṃ, yaṃ tvaṃ abhikkhaṇaṃ kittayasi punappuna’nti. ‘Dukūlo ca tāpaso pārikā ca tāpasī’ti. So tassa vacanaṃ sutvā tuṭṭho sampaṭicchi ‘sādhu, mārisa, yo tava chando, so hotu, ākaṅkhamāno ahaṃ, mārisa, patthite kule uppajjeyyaṃ, kimhi kule uppajjāmi aṇḍaje vā jalābuje vā saṃsedaje vā opapātike vā’ti? ‘Jalābujāya, mārisa, yoniyā uppajjāhī’ti. Atha sakko devānamindo uppattidivasaṃ vigaṇetvā dukūlassa tāpasassa ārocesi ‘asukasmiṃ nāma divase tāpasī utunī bhavissati pupphavatī, tadā tvaṃ, bhante, dakkhiṇena hatthaṅguṭṭhena nābhiṃ parāmaseyyāsī’ti. Tasmiṃ, mahārāja, divase tāpasī ca utunī pupphavatī ahosi, devaputto ca tatthūpago paccupaṭṭhito ahosi, tāpaso ca dakkhiṇena hatthaṅguṭṭhena tāpasiyā nābhiṃ parāmasi, iti te tayo sannipātā ahesuṃ, nābhiparāmasanena tāpasiyā rāgo udapādi, so panassā rāgo nābhiparāmasanaṃ paṭicca mā tvaṃ sannipātaṃ ajjhācārameva maññi, ūhasanampi † sannipāto, ullapanampi sannipāto, upanijjhāyanampi sannipāto, pubbabhāgabhāvato rāgassa uppādāya āmasanena sannipāto jāyati, sannipātā okkamanaṃ hotīti.
“Then that deva-son said: ‘Good sir, which is that family that you praise so often and repeatedly?’ ‘The ascetic Dukūla and the female ascetic Pārikā.’ Hearing his words, that deva-son was pleased and agreed, saying: ‘Good, good sir, let your wish be fulfilled. Good sir, if I wish, I can be born in a chosen family. In what kind of family shall I be born: among the egg-born, the womb-born, the moisture-born, or the spontaneously-born?’ ‘Be born, good sir, from a womb-born origin.’ Then Sakka, the lord of the devas, having calculated the day of birth, informed the ascetic Dukūla: ‘On such-and-such a day, the female ascetic will be in season and flowering. Then, venerable sir, you should touch her navel with your right thumb.’ On that day, great king, the female ascetic was in season and flowering, the deva-son had arrived and was present there, and the ascetic touched the female ascetic’s navel with his right thumb. Thus these three conjunctions occurred. Through the touching of the navel, passion arose in the female ascetic. And that passion of hers arose on account of the touching of the navel. Do not think that a conjunction is only a transgression. Even smiling is a conjunction, even pleasant speech is a conjunction, even gazing is a conjunction. Because it is a preliminary stage for the arising of passion, a conjunction is born from touching, and from a conjunction, conception occurs.”
Bấy giờ, vị thiên tử ấy nói rằng: ‘Thưa bạn hiền, dòng dõi mà ngài không ngừng tán thán lặp đi lặp lại là dòng dõi nào vậy?’ ‘Đó là ẩn sĩ Dukūla và nữ ẩn sĩ Pārikā.’ Nghe lời ấy, vị thiên tử hoan hỷ và chấp thuận: ‘Lành thay, thưa bạn hiền, mong rằng ý muốn của ngài được thành tựu. Thưa bạn hiền, nếu muốn, tôi có thể sanh vào dòng dõi mong ước. Tôi sẽ sanh vào dòng dõi nào đây? Noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hay hóa sanh?’ ‘Này bạn hiền, hãy sanh vào loài thai sanh.’ Bấy giờ, Sakka, vua của chư thiên, sau khi tính toán ngày sanh, đã báo cho ẩn sĩ Dukūla: ‘Vào ngày kia, nữ ẩn sĩ sẽ đến kỳ kinh nguyệt, thưa tôn giả, khi ấy ngài hãy dùng ngón tay cái bên phải chạm vào rốn của nàng.’ Tâu Đại vương, vào ngày ấy, nữ ẩn sĩ đã đến kỳ kinh nguyệt, vị thiên tử cũng đã đến và hiện diện ở đó, và vị ẩn sĩ đã dùng ngón tay cái bên phải chạm vào rốn của nữ ẩn sĩ. Như vậy, ba sự kết hợp ấy đã xảy ra. Do việc chạm vào rốn, dục ái đã khởi lên nơi nữ ẩn sĩ. Và dục ái ấy của nàng khởi lên duyên theo việc chạm vào rốn. Ngài chớ nên nghĩ rằng sự kết hợp chỉ là sự giao hợp. Cười đùa cũng là kết hợp, nói lời vui vẻ cũng là kết hợp, nhìn chằm chằm cũng là kết hợp. Vì là giai đoạn đầu cho sự phát sinh của dục ái, nên sự kết hợp sanh ra do sự chạm xúc. Từ sự kết hợp mà có sự thụ thai.
‘‘Anajjhācārepi, mahārāja, parāmasanena gabbhāvakkanti hoti. Yathā, mahārāja, aggi jalamāno aparāmasanopi upagatassa sītaṃ byapahanti, evameva kho, mahārāja, anajjhācārepi parāmasanena gabbhāvakkanti hoti.
“Even without transgression, great king, conception occurs through physical contact. Just as, great king, a burning fire, even without being touched, dispels the cold for one who approaches, even so, great king, even without transgression, conception occurs through physical contact.”
Tâu Đại vương, dù không có sự giao hợp, việc thụ thai vẫn xảy ra do sự chạm xúc. Tâu Đại vương, ví như ngọn lửa đang cháy, dù không chạm vào, cũng xua tan cái lạnh của người đến gần. Cũng vậy, tâu Đại vương, dù không có sự giao hợp, việc thụ thai vẫn xảy ra do sự chạm xúc.
‘‘Catunnaṃ, mahārāja, vasena sattānaṃ gabbhāvakkanti hoti kammavasena yonivasena kulavasena āyācanavasena, api ca sabbepete sattā kammasambhavā kammasamuṭṭhānā.
Great King, the descent of beings into the womb occurs by means of four causes: by means of kamma, by means of the mode of birth, by means of lineage, and by means of entreaty. And yet, all these beings are born of kamma and have kamma as their origin.
Tâu Đại vương, sự thụ thai của chúng sanh xảy ra do năng lực của bốn điều: do năng lực của nghiệp, do năng lực của loài, do năng lực của dòng dõi, và do năng lực của sự thỉnh cầu. Hơn nữa, tất cả những chúng sanh này đều sanh ra từ nghiệp, có nghiệp là nguồn gốc.
‘‘Kathaṃ, mahārāja, kammavasena sattānaṃ gabbhāvakkanti hoti? Ussannakusalamūlā, mahārāja, sattā yadicchakaṃ uppajjanti khattiyamahāsālakule vā brāhmaṇamahāsālakule vā gahapatimahāsālakule vā devesu vā aṇḍajāya vā yoniyā jalābujāya vā yoniyā saṃsedajāya vā yoniyā opapātikāya vā yoniyā. Yathā, mahārāja, puriso aḍḍho mahaddhano mahābhogo pahūtajātarūparajato pahūtavittūpakaraṇo pahūtadhanadhañño pahūtañātipakkho dāsiṃ vā dāsaṃ vā khettaṃ vā vatthuṃ vā gāmaṃ vā nigamaṃ vā janapadaṃ vā yaṃ kiñci manasā abhipatthitaṃ, yadicchakaṃ dviguṇatiguṇampi dhanaṃ datvā kiṇāti, evameva kho, mahārāja, ussannakusalamūlā sattā yadicchakaṃ uppajjanti khattiyamahāsālakule vā brāhmaṇamahāsālakule vā gahapatimahāsālakule vā devesu vā aṇḍajāya vā yoniyā jalābujāya vā yoniyā saṃsedajaya vā yoniyā opapātikāya vā yoniyā. Evaṃ kammavasena sattānaṃ gabbhāvakkanti hoti.
How, Great King, does the descent of beings into the womb occur by means of kamma? Great King, beings with abundant roots of merit are reborn wherever they wish: in a wealthy khattiya family, a wealthy brahmin family, or a wealthy householder family; or among the devas; or in an egg-born, womb-born, moisture-born, or spontaneously-born mode of birth. It is like a man, Great King, who is affluent, of great wealth, of great possessions, with abundant gold and silver, with abundant goods and equipment, with abundant wealth and grain, and with a large circle of relatives. Whatever he desires in his mind—be it a female slave or a male slave, a field or a plot of land, a village, a market town, or a province—he buys it as he wishes, even by paying double or triple the price. In the very same way, Great King, beings with abundant roots of merit are reborn wherever they wish: in a wealthy khattiya family, a wealthy brahmin family, or a wealthy householder family; or among the devas; or in an egg-born, womb-born, moisture-born, or spontaneously-born mode of birth. Thus, the descent of beings into the womb occurs by means of kamma.
Tâu Đại vương, sự thụ thai của chúng sanh do năng lực của nghiệp xảy ra như thế nào? Tâu Đại vương, những chúng sanh có nhiều thiện căn, sanh ra tùy theo ý muốn trong dòng dõi Sát-đế-lỵ đại phú, hoặc dòng dõi Bà-la-môn đại phú, hoặc dòng dõi gia chủ đại phú, hoặc trong cõi chư thiên, hoặc thuộc loài noãn sanh, hoặc loài thai sanh, hoặc loài thấp sanh, hoặc loài hóa sanh. Tâu Đại vương, ví như một người giàu có, nhiều của cải, nhiều tài sản, nhiều vàng bạc, nhiều vật dụng, nhiều tiền của và lúa gạo, nhiều quyến thuộc, khi người ấy mong muốn trong tâm bất cứ điều gì, dù là nữ tỳ, nam tỳ, ruộng, đất, làng, thị trấn, hay xứ sở, người ấy mua được theo ý muốn, dù phải trả giá gấp đôi, gấp ba. Cũng vậy, tâu Đại vương, những chúng sanh có nhiều thiện căn, sanh ra tùy theo ý muốn trong dòng dõi Sát-đế-lỵ đại phú, hoặc dòng dõi Bà-la-môn đại phú, hoặc dòng dõi gia chủ đại phú, hoặc trong cõi chư thiên, hoặc thuộc loài noãn sanh, hoặc loài thai sanh, hoặc loài thấp sanh, hoặc loài hóa sanh. Như vậy, sự thụ thai của chúng sanh xảy ra do năng lực của nghiệp.
‘‘Kathaṃ yonivasena sattānaṃ gabbhāvakkanti hoti? Kukkuṭānaṃ, mahārāja, vātena gabbhāvakkanti hoti. Balākānaṃ meghasaddena gabbhāvakkanti hoti. Sabbepi devā agabbhaseyyakā sattā yeva, tesaṃ nānāvaṇṇena gabbhāvakkanti hoti. Yathā, mahārāja, manussā nānāvaṇṇena mahiyā caranti, keci purato paṭicchādenti, keci pacchato paṭicchādenti, keci naggā honti, keci bhaṇḍū honti setapaṭadharā, keci moḷibaddhā honti, keci bhaṇḍū kāsāvavasanā honti, keci kāsāvavasanā moḷibaddhā honti, keci jaṭino vākacīradharā † honti, keci cammavasanā honti, keci rasmiyo nivāsenti, sabbepete manussā nānāvaṇṇena mahiyā caranti, evameva kho, mahārāja, sattā yeva te sabbe, tesaṃ nānāvaṇṇena gabbhāvakkanti hoti. Evaṃ yonivasena sattānaṃ gabbhāvakkanti hoti.
How, Great King, does the descent of beings into the womb occur by means of the mode of birth? For hens, Great King, conception occurs through the wind. For cranes, conception occurs through the sound of thunder. All devas are beings not confined to a womb; for them, conception occurs in various forms. It is like humans, Great King, who move about on the earth in various forms: some cover the front, some cover the back, some are naked, some are shaven-headed, some wear a topknot, some are shaven-headed and wear ochre robes, some wear ochre robes and have a topknot, some have matted hair and wear garments of bark, some wear animal hides, some wear ropes. All these humans move about on the earth in various forms. In the very same way, Great King, all those are indeed beings, and for them, conception occurs in various forms. Thus, the descent of beings into the womb occurs by means of the mode of birth.
Sự thụ thai của chúng sanh do năng lực của loài xảy ra như thế nào? Tâu Đại vương, loài gà thụ thai do gió. Loài hạc thụ thai do tiếng sấm. Tất cả chư thiên đều là những chúng sanh không nằm trong bào thai. Sự thụ thai của họ xảy ra dưới nhiều hình thức khác nhau. Tâu Đại vương, ví như loài người đi lại trên mặt đất với nhiều hình thức khác nhau: có người che phía trước, có người che phía sau, có người ở trần, có người cạo đầu mặc đồ trắng, có người búi tóc, có người cạo đầu mặc y cà-sa, có người mặc y cà-sa và búi tóc, có người bện tóc mặc vỏ cây, có người mặc da thú, có người quấn dây thừng. Tất cả những người này đều đi lại trên mặt đất với nhiều hình thức khác nhau. Cũng vậy, tâu Đại vương, tất cả những chúng sanh ấy, sự thụ thai của họ xảy ra dưới nhiều hình thức khác nhau. Như vậy, sự thụ thai của chúng sanh xảy ra do năng lực của loài.
‘‘Kathaṃ kulavasena sattānaṃ gabbhāvakkanti hoti? Kulaṃ nāma, mahārāja, cattāri kulāni aṇḍajaṃ jalābujaṃ saṃsedajaṃ opapātikaṃ. Yadi tattha gandhabbo yato kutoci āgantvā aṇḍaje kule uppajjati, so tattha aṇḍajo hoti…pe… jalābuje kule…pe… saṃsedaje kule…pe… opapātike kule uppajjati, so tattha opapātiko hoti. Tesu tesu kulesu tādisā yeva sattā sambhavanti. Yathā, mahārāja, himavati nerupabbataṃ ye keci migapakkhino upenti, sabbe te sakavaṇṇaṃ vijahitvā suvaṇṇavaṇṇā honti, evameva kho, mahārāja, yo koci gandhabbo yato kutoci āgantvā aṇḍajaṃ yoniṃ upagantvā sabhāvavaṇṇaṃ vijahitvā aṇḍajo hoti…pe… jalābujaṃ…pe… saṃsedajaṃ…pe… opapātikaṃ yoniṃ upagantvā sabhāvavaṇṇaṃ vijahitvā opapātiko hoti, evaṃ kulavasena sattānaṃ gabbhāvakkanti hoti.
How, Great King, does the descent of beings into the womb occur by means of lineage? Great King, there are four lineages, namely: the egg-born, the womb-born, the moisture-born, and the spontaneously-born. In this regard, if a being destined for rebirth, having come from wherever, arises in the egg-born lineage, it becomes egg-born; if it arises in the womb-born lineage, it becomes womb-born; if it arises in the moisture-born lineage, it becomes moisture-born; if it arises in the spontaneously-born lineage, it becomes spontaneously-born. In each of those respective lineages, beings of that very same kind come into existence. It is like this, Great King: whatever beasts and birds go to Mount Neru in the Himalayas, they all abandon their own color and become golden-hued. In the very same way, Great King, whatever being destined for rebirth, having come from wherever, approaches the egg-born matrix, it abandons its own innate appearance and becomes egg-born; or approaches the womb-born matrix, it abandons its own innate appearance and becomes womb-born; or the moisture-born matrix, it abandons its own innate appearance and becomes moisture-born; or approaches the spontaneously-born matrix, it abandons its own innate appearance and becomes spontaneously-born. Thus, the descent of beings into the womb occurs by means of lineage.
“Thưa Đại vương, do năng lực của dòng dõi, sự nhập thai của chúng sanh xảy ra như thế nào? Thưa Đại vương, cái gọi là dòng dõi có bốn loại: noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, và hóa sanh. Nếu ở đây một hương ấm (gandhabba) từ bất cứ nơi đâu đến và sanh vào dòng dõi noãn sanh, thì ở đó nó trở thành loài noãn sanh... (v.v.)... sanh vào dòng dõi thai sanh... (v.v.)... sanh vào dòng dõi thấp sanh... (v.v.)... sanh vào dòng dõi hóa sanh, thì ở đó nó trở thành loài hóa sanh. Trong mỗi dòng dõi ấy, các chúng sanh tương tự như vậy được sanh ra. Thưa Đại vương, ví như ở Hy-mã-lạp sơn, bất cứ loài thú và chim nào đi đến núi Neru, tất cả chúng đều từ bỏ màu sắc của mình và trở thành màu vàng ròng. Cũng vậy, thưa Đại vương, bất cứ hương ấm nào từ bất cứ nơi đâu đến, khi đi vào thai noãn sanh, nó từ bỏ màu sắc tự nhiên của mình và trở thành loài noãn sanh... (v.v.)... khi đi vào thai sanh... (v.v.)... thấp sanh... (v.v.)... hóa sanh, nó từ bỏ màu sắc tự nhiên của mình và trở thành loài hóa sanh. Như vậy, do năng lực của dòng dõi, sự nhập thai của chúng sanh xảy ra.”
‘‘Kathaṃ āyācanavasena sattānaṃ gabbhāvakkanti hoti? Idha, mahārāja, kulaṃ hoti aputtakaṃ bahusāpateyyaṃ saddhaṃ pasannaṃ sīlavantaṃ kalyāṇadhammaṃ tapanissitaṃ, devaputto ca ussannakusalamūlo cavanadhammo hoti. Atha sakko devānamindo tassa kulassa anukampāya taṃ devaputtaṃ āyācati ‘paṇidhehi, mārisa, asukassa kulassa mahesiyā kucchi’nti. So tassa āyācanahetu taṃ kulaṃ paṇidheti. Yathā, mahārāja, manussā puññakāmā samaṇaṃ manobhāvanīyaṃ āyācitvā gehaṃ upanenti, ayaṃ upagantvā sabbassa kulassa sukhāvaho bhavissatīti. Evameva kho, mahārāja, sakko devānamindo taṃ devaputtaṃ āyācitvā taṃ kulaṃ upaneti. Evaṃ āyācanavasena sattānaṃ gabbhāvakkanti hoti.
How, Great King, does the descent of beings into the womb occur by means of entreaty? Here, Great King, there is a family that is childless, of great wealth, faithful, devout, virtuous, of noble character, and devoted to ascetic practice. And there is a devaputta with abundant roots of merit who is about to pass away. Then Sakka, lord of the devas, out of compassion for that family, entreats that devaputta, saying: ‘My dear sir, direct your mind to the womb of the chief consort of such-and-such a family.’ Because of that entreaty, he directs his mind to that family. It is like people, Great King, who, desiring merit, invite a contemplative who is pleasing to the mind and bring him to their home, thinking, ‘When he comes, he will bring happiness to the entire family.’ In the very same way, Great King, Sakka, lord of the devas, entreats that devaputta and brings him to that family. Thus, the descent of beings into the womb occurs by means of entreaty.
“Thưa Đại vương, do năng lực của sự thỉnh cầu, sự nhập thai của chúng sanh xảy ra như thế nào? Thưa Đại vương, ở đây có một gia tộc không có con, có nhiều tài sản, có đức tin, có lòng tịnh tín, có giới hạnh, có thiện pháp, nương tựa vào sự tu tập. Và có một vị thiên tử có các cội rễ thiện dồi dào, sắp phải mệnh chung. Bấy giờ, Thiên chủ Sakka, vì lòng thương xót gia tộc ấy, đã thỉnh cầu vị thiên tử ấy rằng: ‘Này bạn hiền, hãy hướng tâm đến bào thai của chánh hậu thuộc gia tộc kia.’ Vị ấy, do nhân duyên được thỉnh cầu, đã hướng tâm đến gia tộc ấy. Thưa Đại vương, ví như những người mong cầu phước báu, sau khi thỉnh mời một vị sa-môn khả ái, đã đưa vị ấy về nhà với ý nghĩ rằng: ‘Vị này sau khi đến sẽ mang lại hạnh phúc cho cả gia tộc.’ Cũng vậy, thưa Đại vương, Thiên chủ Sakka sau khi thỉnh cầu vị thiên tử ấy, đã đưa vị ấy đến gia tộc kia. Như vậy, do năng lực của sự thỉnh cầu, sự nhập thai của chúng sanh xảy ra.”
‘‘Sāmo, mahārāja, kumāro sakkena devānamindena āyācito pārikāya tāpasiyā kucchiṃ okkanto. Sāmo, mahārāja, kumāro katapuñño, mātāpitaro sīlavanto kalyāṇadhammā, āyācako sakko, tiṇṇaṃ cetopaṇidhiyā sāmo kumāro nibbatto. Idha, mahārāja, nayakusalo puriso sukaṭṭhe anūpakhette bījaṃ ropeyya, api nu tassa bījassa antarāyaṃ vivajjentassa vuḍḍhiyā koci antarāyo bhaveyyā’’ti? ‘‘Na hi, bhante, nirupaghātaṃ bījaṃ khippaṃ saṃviruheyyā’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, sāmo kumāro mutto uppannantarāyehi tiṇṇaṃ cetopaṇidhiyā nibbatto.
Great King, Prince Sāma, having been entreated by Sakka, lord of the devas, descended into the womb of the female ascetic Pārikā. Great King, Prince Sāma had made merit, his parents were virtuous and of noble character, and the one who entreated was Sakka—thus, Prince Sāma was born through the mental aspiration of these three. Suppose, Great King, a man skilled in agriculture were to plant a seed in a well-plowed, well-watered field. If he were to avert any danger to that seed, would there be any obstacle to its growth?” “Certainly not, venerable sir. The seed, being unimpeded, would sprout quickly.” “In the very same way, Great King, Prince Sāma, free from any arising obstacles, was born through the mental aspiration of these three.
“Thưa Đại vương, vương tử Sāma, do được Thiên chủ Sakka thỉnh cầu, đã nhập vào bào thai của nữ ẩn sĩ Pārikā. Thưa Đại vương, vương tử Sāma đã tạo phước, cha mẹ ngài là những người có giới hạnh, có thiện pháp, người thỉnh cầu là Sakka, do sự hướng tâm của ba người mà vương tử Sāma đã được sanh ra. Thưa Đại vương, ở đây, một người đàn ông khéo léo trong việc cày cấy, gieo hạt giống vào một thửa ruộng đã được cày kỹ và không thiếu nước, nếu người ấy tránh được các hiểm họa cho hạt giống ấy, liệu có chướng ngại nào cho sự phát triển của nó không?” “Bạch ngài, không ạ. Hạt giống không bị trở ngại sẽ nhanh chóng nảy mầm.” “Cũng vậy, thưa Đại vương, vương tử Sāma, thoát khỏi các hiểm họa phát sanh, đã được sanh ra do sự hướng tâm của ba người.”
‘‘Api nu kho, mahārāja, sutapubbaṃ tayā isīnaṃ manopadosena iddho phīto mahājanapado sajano samucchinno’’ti? ‘‘Āma, bhante, suyyati. Mahiyā daṇḍakāraññaṃ † majjhāraññaṃ kāliṅgāraññaṃ mātaṅgāraññaṃ, sabbaṃ taṃ araññaṃ araññabhūtaṃ, sabbepete janapadā isīnaṃ manopadosena khayaṃ gatā’’ti. ‘‘Yadi, mahārāja, tesaṃ manopadosena susamiddhā janapadā ucchijjanti, api nu kho tesaṃ manopasādena kiñci nibbatteyyā’’ti? ‘‘Āma bhante’’ti. ‘‘Tena hi, mahārāja, sāmo kumāro tiṇṇaṃ balavantānaṃ cetopasādena nibbatto isinimmito devanimmito puññanimmitoti. Evametaṃ, mahārāja, dhārehi.
Have you ever heard, Great King, that a prosperous, flourishing, and great realm, together with its people, was utterly destroyed by the corruption of mind of the seers?” “Yes, venerable sir, I have heard it said. The Daṇḍaka forest, the Majjha forest, the Kāliṅga forest, and the Mātaṅga forest on the earth—all that land became a wilderness. All those realms were destroyed and went to ruin through the corruption of mind of the seers.” “If, Great King, flourishing realms are destroyed by their corruption of mind, could not something be brought into being by their graciousness of mind?” “Yes, venerable sir.” “Therefore, Great King, Prince Sāma was brought into being by the graciousness of mind of three powerful ones: fashioned by the seers, fashioned by the deva, fashioned by merit. Thus, Great King, should you bear this in mind.
“Thưa Đại vương, ngài đã từng nghe rằng do tâm sân hận của các vị ẩn sĩ mà một quốc độ lớn, thịnh vượng, phồn vinh, cùng với dân chúng đã bị hoàn toàn hủy diệt chưa?” “Bạch ngài, vâng, con có nghe. Trên mặt đất, rừng Daṇḍaka, rừng Majjha, rừng Kāliṅga, rừng Mātaṅga, tất cả những nơi ấy đã trở thành rừng hoang. Tất cả các quốc độ ấy đã bị hủy diệt do tâm sân hận của các vị ẩn sĩ.” “Thưa Đại vương, nếu do tâm sân hận của họ mà các quốc độ rất phồn thịnh bị hủy diệt, thì liệu có điều gì có thể được tạo ra do tâm tịnh tín của họ không?” “Bạch ngài, vâng, có thể ạ.” “Vậy thì, thưa Đại vương, vương tử Sāma đã được sanh ra do tâm tịnh tín của ba vị có năng lực, được tạo ra bởi các vị ẩn sĩ, được tạo ra bởi chư thiên, được tạo ra bởi phước báu. Thưa Đại vương, ngài hãy ghi nhớ điều này như vậy.”
‘‘Tayome, mahārāja, devaputtā sakkena devānamindena āyācitā kulaṃ uppannā. Katame tayo? Sāmo kumāro mahāpanādo kusarājā, tayopete bodhisattā’’ti. ‘‘Suniddiṭṭhā, bhante nāgasena, gabbhāvakkanti, sukathitaṃ kāraṇaṃ, andhakāro āloko kato, jaṭā vijaṭitā, nicchuddhā paravādā, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
Great King, these three devaputtas were born into human families, having been entreated by Sakka, lord of the devas. Who are the three? Prince Sāma, Mahāpanāda, and King Kusa. All three of these were Bodhisattas.” “Venerable Nāgasena, the descent into the womb has been well explained, the reason well spoken! Darkness has been made into light, the tangle has been unraveled, the doctrines of others have been refuted. I accept this just as you have stated it.
“Thưa Đại vương, ba vị thiên tử này, do được Thiên chủ Sakka thỉnh cầu, đã sanh vào một gia tộc. Ba vị đó là ai? Là vương tử Sāma, vua Mahāpanāda, và vua Kusa. Cả ba vị này đều là Bồ-tát.” “Bạch ngài Nāgasena, sự nhập thai đã được ngài chỉ dạy rõ ràng, nguyên nhân đã được khéo nói, bóng tối đã được làm cho sáng tỏ, sự rối rắm đã được gỡ rối, các tà thuyết đã được làm cho trong sạch. Con xin thọ nhận điều này đúng như vậy.”
Gabbhāvakkantipañho chaṭṭho.
The Sixth Question on the Descent into the Womb is concluded.
Câu hỏi thứ sáu về sự nhập thai.