Bản dịch
MIL 5.1.5 — CÂU HỎI VỀ SỰ BỐ THÍ MẮT CỦA ĐỨC VUA SIVI
5. Sivirājacakkhudānapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài đã nói như vầy: ‘Các con mắt đã được đức vua Sivi bố thí đến kẻ cầu xin, khi đức vua đã bị mù thì các thiên nhãn đã được tạo ra lại.’ Lời nói này cũng có sự sái quấy, có sự bắt bẻ, có khuyết điểm. Điều đã được nói ở trong Kinh là: ‘Khi nhân đã bị lấy đi, khi không có nhân, khi không có nền tảng, thì không có sự tạo ra thiên nhãn.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu các con mắt đã được đức vua Sivi bố thí đến kẻ cầu xin, như thế thì lời nói rằng: ‘Các thiên nhãn đã được tạo ra lại’ là sai trái. Nếu các thiên nhãn đã được tạo ra, như thế thì lời nói rằng: ‘Các con mắt đã được đức vua Sivi bố thí đến kẻ cầu xin’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, bị thắt lại còn hơn nút thắt, bị xoắn lại còn hơn vật xoắn, bị rối rắm còn hơn bụi rậm, nó được dành cho ngài. Ở đây, xin ngài hãy khởi lên ước muốn về việc giải quyết vì sự bắt bẻ của các học thuyết khác.”
BJT 2“Tâu đại vương, các con mắt đã được đức vua Sivi bố thí đến kẻ cầu xin. Đại vương chớ khởi lên sự phân vân về trường hợp ấy. Và các thiên nhãn đã được tạo ra lại. Đại vương cũng chớ này sanh sự phân vân về trường hợp ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, phải chăng khi nhân đã bị lấy đi, khi không có nhân, khi không có nền tảng thì thiên nhãn cũng được tạo ra?”
“Tâu đại vương, không đúng.”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy thì ở đây điều gì là lý do mà với lý do ấy thiên nhãn lại được tạo ra khi nhân đã bị lấy đi, khi không có nhân, khi không có nền tảng? Vậy ngài hãy giúp cho trẫm hiểu bằng lý lẽ.”
BJT 3“Tâu đại vương, có chăng ở thế gian cái gọi là sự chân thật mà những người có lời nói chân thật về điều ấy tạo ra sự phát nguyện chân thật?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có cái gọi là sự chân thật ở thế gian. Thưa ngài Nāgasena, những người nói lời chân thật với sự chân thật tạo ra sự phát nguyện chân thật khiến cho trời đổ mưa, khiến cho lửa bị dập tắt, làm tiêu tan chất độc, và còn tạo ra việc có thể làm các loại khác nữa.”
“Tâu đại vương, như thế thì nó liên quan, nó phù hợp với việc các thiên nhãn đã được tạo ra cho đức vua Sivi là nhờ vào năng lực của sự chân thật. Tâu đại vương, nhờ vào năng lực của sự chân thật mà thiên nhãn đã được tạo ra khi không có nền tảng. Ở đây, chính sự chân thật là nền tảng cho việc tạo ra thiên nhãn. Tâu đại vương, giống như những vị đạo sĩ nào đó cầu khấn lời chân thật rằng: ‘Xin cho cơn mưa lớn hãy đổ xuống,’ cùng với việc đã cầu khấn lời chân thật của những người ấy, cơn mưa lớn đổ xuống. Tâu đại vương, phải chăng có nhân của cơn mưa đã hội tụ lại ở khoảng không mà với nhân ấy cơn mưa lớn đổ xuống?”
“Thưa ngài, không đúng. Trong trường hợp ấy, chính sự chân thật là nhân cho việc đổ xuống của cơn mưa lớn.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc ấy không có nhân bình thường. Trong trường hợp này, chính sự chân thật là nền tảng cho việc tạo ra thiên nhãn.”
BJT 4“Tâu đại vương, hoặc là giống như việc những vị đạo sĩ nào đó cầu khấn lời chân thật rằng: ‘Xin cho khối lửa lớn đã bộc phát hãy quay trở lại;’ cùng với việc đã cầu khấn lời chân thật của những người ấy, khối lửa lớn đã bộc phát tức thời quay trở lại. Tâu đại vương, phải chăng ở khối lửa lớn đã bộc phát ấy có nhân đã được hội tụ lại, mà do nhân ấy khối lửa lớn đã bộc phát tức thời quay trở lại?”
“Thưa ngài, không đúng. Chính sự chân thật là nền tảng cho việc tức thời quay trở lại của khối lửa lớn đã bốc phát ấy.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc ấy không có nhân bình thường. Trong trường hợp này, chính sự chân thật là nền tảng cho việc tạo ra thiên nhãn.”
BJT 5“Tâu đại vương, hoặc là giống như việc những vị đạo sĩ nào đó cầu khấn lời chân thật rằng: ‘Xin cho chất độc dữ dội trở thành thuốc chữa bệnh.’ Tâu đại vương, phải chăng ở chất độc dữ dội có nền tảng đã hội tụ lại, mà với nền tảng ấy chất độc dữ dội trở thành thuốc chữa bệnh?”
“Thưa ngài, không đúng. Trong trường hợp ấy, chính sự chân thật là nguyên nhân cho việc tức thời tiêu diệt chất độc dữ dội.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế trong trường hợp này, chính sự chân thật là nền tảng cho việc tạo ra thiên nhãn, không phải nhân bình thường.”
“Tâu đại vương, không có nền tảng nào khác cho việc thâm nhập bốn Chân Lý Cao Thượng. Bốn Chân Lý Cao Thượng được thâm nhập sau khi đã đặt nền tảng ở sự chân thật. Tâu đại vương, có đức vua Cīna ở khu vực Cīna. Đức vua có ước muốn tiến hành việc cúng tế ở đại dương nên đã thực hiện sự phát nguyện chân thật vào mỗi bốn tháng, rồi cùng với chiếc xe tiến vào trong đại dương một do-tuần. Khối lượng nước vĩ đại đi thụt lùi ở phía trước đầu chiếc xe của đức vua, đến khi đức vua đã vượt qua thì bao trùm lại. Tâu đại vương, phải chăng thế gian có cả chư Thiên và nhân loại, với năng lực của cơ thể bình thường, có thể khiến cho đại dương ấy đi thụt lùi?”
“Thưa ngài, thế gian có cả chư Thiên và nhân loại, với năng lực của cơ thể bình thường, cũng không thể khiến cho nước ở hồ nước vô cùng nhỏ đi thụt lùi, thì làm gì được đối với nước ở đại dương?”
BJT 6“Tâu đại vương, cũng vì lý do này mà năng lực của sự chân thật được biết đến như vầy: ‘Không có nơi nào mà sự chân thật không thể đạt đến.’
Tâu đại vương, đức vua công chính Asoka ở thành phố Pāṭaliputta, được tùy tùng bởi các thị dân, dân chúng, các viên chức, nhân công, binh lính, và các quan đại thần, sau khi nhìn thấy sông Gaṅgā tràn đầy nước mới, ngập bờ, trải rộng có bề dài năm trăm do-tuần, bề ngang một do-tuần, đang trôi chảy, nên đã nói với các quan viên rằng: ‘Này các khanh, có ai có khả năng làm cho sông Gaṅgā vĩ đại này chảy ngược dòng không?’ Các quan viên đã nói rằng: ‘Tâu bệ hạ, là việc khó làm.’ Có cô kỹ nữ tên Bindumatī đứng ở ngay tại bờ sông Gaṅgā ấy đã nghe rằng: ‘Nghe nói đức vua đã nói như vầy:—Có thể làm cho sông Gaṅgā vĩ đại này chảy ngược dòng không?’ Cô ấy đã nói như vầy: ‘Chính thiếp là người kỹ nữ ở thành phố lớn Pāṭaliputta, có cuộc sống nhờ vào sắc đẹp, là cách sinh nhai tồi tệ nhất. Mong rằng đức vua hãy chứng kiến sự phát nguyện chân thật của thiếp.’ Rồi cô ấy đã thực hiện sự phát nguyện chân thật. Vào giây phút của sự phát nguyện chân thật của cô ấy, con sông Gaṅgā vĩ đại ấy, trong lúc gầm lên tiếng rì rào, đã chảy ngược dòng cho đám đông người chứng kiến. Khi ấy, nghe được tiếng ầm ĩ tạo ra bởi tốc độ của sóng nước bị xoáy tròn, đức vua đã có sự ngạc nhiên được sanh lên do điều kỳ diệu phi thường, nên đã nói với các quan viên rằng: ‘Này các khanh, do người nào mà con sông Gaṅgā vĩ đại này chảy ngược dòng?’ ‘Tâu đại vương, cô kỹ nữ Bindumatī sau khi nghe lời nói của đại vương đã thực hiện sự phát nguyện chân thật. Do sự phát nguyện chân thật của cô ấy mà con sông Gaṅgā chảy về phía thượng nguồn.’
Khi ấy, có tâm bị chấn động, đức vua đã đích thân đi đến vô cùng vội vã và đã hỏi cô kỹ nữ ấy rằng: ‘Này cô gái, nghe nói do sự phát nguyện chân thật của cô mà con sông Gaṅgā này chảy ngược dòng, có đúng không vậy?’ ‘Tâu bệ hạ, đúng vậy.’ Đức vua đã nói rắng: ‘Cô có năng lực gì về việc ấy? Ai mà tin lời nói của cô, nếu không bị điên khùng? Do năng lực gì mà cô đã làm cho con sông Gaṅgā vĩ đại này chảy ngược dòng?’ Cô ấy đã nói rằng: ‘Tâu đại vương, do năng lực của sự chân thật mà thiếp đã làm cho con sông Gaṅgā vĩ đại này chảy ngược dòng.’ Đức vua đã nói rắng: ‘Năng lực của sự chân thật gì có ở nơi cô, khi cô là kẻ trộm, hạng người vô lại, không trong sạch, lường gạt, độc ác, bóc lột những kẻ mê muội?’ ‘Tâu đại vương, sự thật thì thiếp là người như thế ấy.
Tâu đại vương, nếu năng lực của sự chân thật có ở nơi thiếp, thì với điều ấy, trong khi mong muốn, thiếp cũng có thể xoay chuyển thế gian có cả chư Thiên.’ Đức vua đã nói rắng: ‘Vậy thì sự phát nguyện chân thật ấy là điều gì?’ ‘Vậy thì xin đại vương hãy lắng nghe thiếp. Tâu đại vương, người nào dầu là Sát-đế-lỵ, hay Bà-la-môn, hoặc thương buôn, hay nô lệ, hoặc là bất cứ ai ban cho thiếp của cải, thì thiếp phục vụ những người ấy đều bình đẳng. Là ‘Sát-đế-lỵ’ không có gì đặc biệt. Là ‘nô lệ’ không có gì khinh chê. Thiếp hầu hạ người có của cải, thoát ra khỏi sự nuông chiều hay ghét bỏ. Tâu bệ hạ, điều ấy là sự phát nguyện chân thật của thiếp, nhờ nó mà thiếp đã làm cho con sông Gaṅgā vĩ đại này chảy ngược dòng.’
Tâu đại vương, những người đứng vững ở sự chân thật cũng như thế, không có bất cứ ý nghĩa nào mà họ không biết. Tâu đại vương, các con mắt đã được đức vua Sivi bố thí đến kẻ cầu xin, và các thiên nhãn đã được tạo ra lại. Và điều ấy là do sự phát nguyện chân thật. Điều đã được nói ở trong Kinh là: ‘Khi nhục nhãn đã bị hư hoại, khi không có nhân, khi không có nền tảng, thì không có sự tạo ra của thiên nhãn,’ điều ấy được nói liên quan đến con mắt có vật liệu là sự tu tập. Tâu đại vương, xin đại vương hãy ghi nhớ điều này như thế.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Câu hỏi đã khéo được tháo gỡ, sự bắt bẻ đã khéo được giải thích, các học thuyết khác đã khéo được nghiền nát. Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự bố thí mắt của đức vua Sivi là thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Dinnāni, mahārāja, sivirājena yācakassa cakkhūni, tattha mā vimatiṃ uppādehi, puna dibbāni ca cakkhūni uppannāni, tatthāpi mā vimatiṃ janehī’’ti. ‘‘Api nu kho, bhante nāgasena, hetusamugghāte ahetusmiṃ avatthusmiṃ dibbacakkhu uppajjatī’’ti? ‘‘Na hi, mahārājā’’ti. ‘‘Kiṃ pana, bhante, ettha kāraṇaṃ, yena kāraṇena hetusamugghāte ahetusmiṃ avatthusmiṃ dibbacakkhu uppajjati, iṅgha tāva kāraṇena maṃ saññāpehī’’ti?
“Great king, King Sivi did give his eyes to the supplicant; do not generate doubt about that. And divine eyes did arise again; do not generate doubt about that either.” “But, Venerable Nāgasena, does the divine eye arise when the cause is destroyed, without a cause, without a basis?” “No, great king.” “Then what, Venerable Sir, is the reason here? For what reason does the divine eye not arise when the cause is destroyed, without a cause, without a basis? Come now, make me understand the reason.”
"Tâu Đại vương, vua Sivi đã bố thí đôi mắt cho người Bà-la-môn đến xin, về việc ấy xin Đại vương chớ có sanh lòng hoài nghi. Và rồi thiên nhãn đã được sanh khởi, về việc ấy cũng xin Đại vương chớ có sanh lòng hoài nghi." "Bạch Đại đức Nāgasena, có phải chăng khi nhân đã bị hủy diệt, trong tình trạng vô nhân, vô vật, thiên nhãn vẫn có thể sanh khởi?" "Tâu Đại vương, không phải vậy." "Bạch Đại đức, vậy thì ở đây, đâu là nguyên nhân, do nguyên nhân nào mà khi nhân đã bị hủy diệt, trong tình trạng vô nhân, vô vật, thiên nhãn lại sanh khởi? Xin Đại đức hãy dùng lý lẽ mà giải thích cho hạ thần được rõ."
‘‘Kiṃ pana, mahārāja, atthi loke saccaṃ nāma, yena saccavādino saccakiriyaṃ karontī’’ti? ‘‘Āma, bhante, atthi loke saccaṃ nāma, saccena, bhante nāgasena, saccavādino saccakiriyaṃ katvā devaṃ vassāpenti, aggiṃ nibbāpenti, visaṃ paṭihananti, aññampi vividhaṃ kattabbaṃ karontī’’ti. ‘‘Tena hi, mahārāja, yujjati sameti sivirājassa saccabalena dibbacakkhūni uppannānīti, saccabalena, mahārāja, avatthusmiṃ dibbacakkhu uppajjati, saccaṃ yeva tattha vatthu bhavati dibbacakkhussa uppādāya.
“What do you think, great king, is there in the world such a thing as truth, by which truth-speakers perform an act of truth?” “Yes, Venerable Sir, there is in the world such a thing as truth. By truth, Venerable Nāgasena, truth-speakers, having performed an act of truth, make the heavens rain, extinguish fire, counteract poison, and perform various other deeds that are to be done.” “In that case, great king, it is fitting, it is suitable, that for King Sivi, divine eyes arose by the power of truth. By the power of truth, great king, the divine eye arises even without a physical basis, for truth itself becomes the basis for the arising of the divine eye.”
"Tâu Đại vương, trên đời này có cái gọi là sự thật, mà nhờ đó những người nói lời chân thật có thể thực hiện lời nguyện chân thật chăng?" "Bạch Đại đức, vâng, trên đời này có cái gọi là sự thật. Bạch Đại đức Nāgasena, nhờ sự thật, những người nói lời chân thật sau khi thực hiện lời nguyện chân thật có thể khiến trời mưa, dập tắt lửa, hóa giải chất độc, và làm được nhiều việc phải làm khác nữa." "Nếu vậy, tâu Đại vương, việc thiên nhãn của vua Sivi sanh khởi nhờ năng lực của sự thật là hợp lý, là tương ứng. Tâu Đại vương, nhờ năng lực của sự thật, thiên nhãn sanh khởi trong tình trạng vô vật, chính sự thật là vật nền tảng cho sự sanh khởi của thiên nhãn."
‘‘Yathā, mahārāja, ye keci sattā saccamanugāyanti ‘mahāmegho pavassatū’ti, tesaṃ saha saccamanugītena mahāmegho pavassati, api nu kho, mahārāja, atthi ākāse vassahetu sannicito ‘yena hetunā mahāmegho pavassatī’’’ti? ‘‘Na hi, bhante, saccaṃ yeva tattha hetu bhavati mahato meghassa pavassanāyā’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, natthi tassa pakatihetu, saccaṃ yevettha vatthu bhavati dibbacakkhussa uppādāyāti.
“Just as, great king, when any beings make an asseveration of truth, saying, ‘May a great cloud pour down with rain!’, a great cloud pours down with rain simultaneously with their asseveration of truth. But, great king, is there some cause for rain accumulated in the sky, by which that great cloud pours down?” “No, Venerable Sir. Truth itself is the cause for that great cloud to pour down with rain.” “Even so, great king, there is no ordinary, physical cause for it; truth itself is the basis here for the arising of the divine eye.”
"Ví như, tâu Đại vương, có những chúng sanh nào đó đọc lên lời chân thật rằng: 'Mong cho mây lớn đổ mưa!', và cùng với lời chân thật được đọc lên ấy, mây lớn liền đổ mưa. Tâu Đại vương, có phải chăng trên hư không có tích tụ sẵn nguyên nhân của mưa, mà nhờ nguyên nhân ấy mây lớn mới đổ mưa?" "Bạch Đại đức, không phải vậy. Chính sự thật là nguyên nhân để mây lớn đổ mưa." "Cũng vậy, tâu Đại vương, việc ấy không có nguyên nhân tự nhiên nào cả, chính sự thật là vật nền tảng cho sự sanh khởi của thiên nhãn."
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, ye keci sattā saccamanugāyanti ‘jalitapajjalitamahāaggikkhandho paṭinivattatū’ti, tesaṃ saha saccamanugītena jalitapajjalitamahāaggikkhandho khaṇena paṭinivattati. Api nu kho, mahārāja, atthi tasmiṃ jalitapajjalite mahāaggikkhandhe hetu sannicito ‘yena hetunā jalitapajjalitamahāaggikkhandho khaṇena paṭinivattatī’’ti? ‘‘Na hi, bhante, saccaṃ yeva tattha vatthu hoti tassa jalitapajjalitassa mahāaggikkhandhassa khaṇena paṭinivattanāyā’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, natthi tassa pakatihetu, saccaṃ yevettha vatthu bhavati dibbacakkhussa uppādāyāti.
“Or again, great king, just as when any beings make an asseveration of truth, saying, ‘May this great, blazing, flaming mass of fire be turned back!’, that great, blazing, flaming mass of fire is turned back in an instant, simultaneously with their asseveration of truth. But, great king, is there some cause accumulated within that great, blazing, flaming mass of fire by which it is turned back in an instant?” “No, Venerable Sir. Truth itself is the basis for that great, blazing, flaming mass of fire to be turned back in an instant.” “Even so, great king, there is no ordinary, physical cause for it; truth itself is the basis here for the arising of the divine eye.”
"Hoặc ví như, tâu Đại vương, có những chúng sanh nào đó đọc lên lời chân thật rằng: 'Mong cho khối lửa lớn đang rực cháy này hãy lụi tàn!', và cùng với lời chân thật được đọc lên ấy, khối lửa lớn đang rực cháy liền lụi tàn trong khoảnh khắc. Tâu Đại vương, có phải chăng trong khối lửa lớn đang rực cháy ấy có tích tụ sẵn nguyên nhân, mà nhờ nguyên nhân ấy khối lửa lớn đang rực cháy liền lụi tàn trong khoảnh khắc?" "Bạch Đại đức, không phải vậy. Chính sự thật là vật nền tảng để khối lửa lớn đang rực cháy ấy lụi tàn trong khoảnh khắc." "Cũng vậy, tâu Đại vương, việc ấy không có nguyên nhân tự nhiên nào cả, chính sự thật là vật nền tảng cho sự sanh khởi của thiên nhãn."
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, ye keci sattā saccamanugāyanti ‘visaṃ halāhalaṃ agadaṃ bhavatū’ti. Tesaṃ saha saccamanugītena visaṃ halāhalaṃ khaṇena agadaṃ bhavati, api nu kho, mahārāja, atthi tasmiṃ halāhalavise hetu sannicito ‘yena hetunā visaṃ halāhalaṃ khaṇena agadaṃ bhavatī’’’ti? ‘‘Na hi, bhante, saccaṃ yeva tattha hetu bhavati visassa halāhalassa khaṇena paṭighātāyā’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, vinā pakatihetuṃ saccaṃ yevettha vatthu bhavati dibbacakkhussa uppādāyāti.
“Or again, great king, just as when any beings make an asseveration of truth, saying, ‘May this deadly halāhala poison become an antidote!’, that deadly halāhala poison becomes an antidote in an instant, simultaneously with their asseveration of truth. But, great king, is there some cause accumulated within that halāhala poison by which it becomes an antidote in an instant?” “No, Venerable Sir. Truth itself is the cause for the counteracting of that halāhala poison in an instant.” “Even so, great king, without an ordinary, physical cause, truth itself is the basis here for the arising of the divine eye.”
"Hoặc ví như, tâu Đại vương, có những chúng sanh nào đó đọc lên lời chân thật rằng: 'Mong cho chất độc halāhala này trở thành thuốc giải!'. Cùng với lời chân thật được đọc lên ấy, chất độc halāhala liền trở thành thuốc giải trong khoảnh khắc. Tâu Đại vương, có phải chăng trong chất độc halāhala ấy có tích tụ sẵn nguyên nhân, mà nhờ nguyên nhân ấy chất độc halāhala liền trở thành thuốc giải trong khoảnh khắc?" "Bạch Đại đức, không phải vậy. Chính sự thật là nguyên nhân để hóa giải chất độc halāhala trong khoảnh khắc." "Cũng vậy, tâu Đại vương, không cần đến nguyên nhân tự nhiên, chính sự thật là vật nền tảng cho sự sanh khởi của thiên nhãn."
‘‘Catunnampi, mahārāja, ariyasaccānaṃ paṭivedhāya natthaññaṃ vatthu, saccaṃ vatthuṃ katvā cattāri ariyasaccāni paṭivijjhantīti. Atthi, mahārāja, cīnavisaye cīnarājā, so mahāsamudde kīḷitukāmo † catumāse catumāse saccakiriyaṃ katvā saha rathena antomahāsamudde yojanaṃ pavisati, tassa rathasīsassa purato purato mahāvārikkhandho paṭikkamati, nikkhantassa puna ottharati, api nu kho, mahārāja, so mahāsamuddo sadevamanussenapi lokena pakatikāyabalena sakkā paṭikkamāpetu’’nti? ‘‘Atiparittakepi, bhante, taḷāke udakaṃ na sakkā sadevamanussenapi lokena pakatikāyabalena paṭikkamāpetuṃ, kiṃ pana mahāsamudde udaka’’nti? ‘‘Imināpi, mahārāja, kāraṇena saccabalaṃ ñātabbaṃ ‘natthi taṃ ṭhānaṃ, yaṃ saccena na pattabba’nti.
“For the penetration of the four Noble Truths as well, great king, there is no other basis; having made truth the basis, they penetrate the four Noble Truths. There is, great king, in the country of Cīna, a king of Cīna. Desiring to sport in the great ocean, every four months he performs an act of truth and, together with his chariot, enters a yojana into the midst of the great ocean. Before the very front of his chariot, a great mass of water recedes. When he has departed, it flows back over. Now, great king, could that great ocean be made to recede by the world with its devas and humans through ordinary physical strength?” “Venerable Sir, even the water in a very small pond cannot be made to recede by the world with its devas and humans through ordinary physical strength, to say nothing of the water in the great ocean.” “By this reason too, great king, the power of truth should be understood: ‘There is no state that cannot be attained by truth.’”
"Tâu Đại vương, để liễu ngộ Tứ Thánh Đế cũng không có vật nền tảng nào khác, chính nhờ lấy sự thật làm vật nền tảng mà người ta liễu ngộ được Tứ Thánh Đế. Tâu Đại vương, ở xứ Cīna có một vị vua tên là Cīna. Vị vua ấy, vì muốn vui chơi trong đại dương, cứ mỗi bốn tháng lại thực hiện lời nguyện chân thật rồi cùng với xe ngựa đi vào trong lòng đại dương một do-tuần. Phía trước đầu xe của vua, một khối nước lớn cứ lùi lại, và khi vua đi ra thì nước lại bao phủ như cũ. Tâu Đại vương, có phải chăng thế gian gồm cả chư thiên và loài người có thể dùng sức mạnh thể chất thông thường mà làm cho đại dương ấy rẽ ra được không?" "Bạch Đại đức, ngay cả nước trong một cái ao rất nhỏ, thế gian gồm cả chư thiên và loài người cũng không thể dùng sức mạnh thể chất thông thường mà làm cho rẽ ra được, huống chi là nước trong đại dương." "Tâu Đại vương, cũng vì lý do này mà năng lực của sự thật cần được biết đến rằng: 'Không có nơi nào mà sự thật không thể đạt đến'."
‘‘Nagare, mahārāja, pāṭaliputte asoko dhammarājā sanegamajānapadaamaccabhaṭabalamahāmattehi parivuto gaṅgaṃ nadiṃ † navasalilasampuṇṇaṃ samatitthikaṃ sambharitaṃ pañcayojanasatāyāmaṃ yojanaputhulaṃ sandamānaṃ disvā amacce evamāha ‘atthi koci, bhaṇe, samattho, yo imaṃ mahāgaṅgaṃ paṭisotaṃ sandāpetu’nti. Amaccā āhaṃsu ‘dukkaraṃ devā’ti.
“Great king, in the city of Pāṭaliputta, the righteous King Asoka, surrounded by the people of the towns and countryside, by ministers, soldiers, troops, and high officials, saw the river Ganges flowing, full of fresh water, brimming to its banks, five hundred yojanas in length and a yojana in width, and said to his ministers: ‘Sirs, is there anyone capable of making this great Ganges flow upstream?’ The ministers replied: ‘It is a difficult thing, Your Majesty.’”
"Tâu Đại vương, tại thành Pāṭaliputta, Pháp vương Asoka, được các vị quan, binh lính, đại thần từ các thị trấn và thôn quê vây quanh, khi nhìn thấy sông Gaṅgā đang chảy, nước mới dâng đầy, ngập tràn đến bờ, dài năm trăm do-tuần và rộng một do-tuần, đã nói với các vị quan rằng: 'Này các khanh, có ai tài năng có thể làm cho sông Gaṅgā vĩ đại này chảy ngược dòng không?'. Các vị quan thưa rằng: 'Tâu Thiên tử, việc ấy thật khó làm'."
‘‘Tasmiṃ yeva gaṅgākūle ṭhitā bandhumatī nāma gaṇikā assosi raññā kira evaṃ vuttaṃ ‘sakkā nu kho imaṃ mahāgaṅgaṃ paṭisotaṃ sandāpetu’nti, sā evamāha ‘ahañhi nagare pāṭaliputte gaṇikā rūpūpajīvinī antimajīvikā, mama tāva rājā saccakiriyaṃ passatū’ti. Atha sā saccakiriyaṃ akāsi, saha tassā saccakiriyāya khaṇena sā mahāgaṅgā gaḷagaḷāyantī paṭisotaṃ sandittha mahato janakāyassa passato.
“Standing on that very bank of the Ganges, a courtesan named Bandhumatī heard that the king had spoken thus: ‘Is it possible to make this great Ganges flow upstream?’ She said: ‘I am a courtesan in the city of Pāṭaliputta, one who lives by her beauty, a woman of the lowest livelihood. Let the king now witness my act of truth.’ Then she performed an act of truth. Simultaneously with her act of truth, that great Ganges, gurgling loudly, began to flow upstream in an instant, as a great crowd of people looked on.”
"Đang đứng trên bờ sông Gaṅgā, một kỹ nữ tên là Bandhumatī nghe được rằng nhà vua đã nói như sau: 'Liệu có thể làm cho sông Gaṅgā vĩ đại này chảy ngược dòng chăng?'. Nàng liền nói: 'Ta là một kỹ nữ ở thành Pāṭaliputta, sống bằng nhan sắc, một nghề mưu sinh thấp hèn. Xin nhà vua hãy xem lời nguyện chân thật của ta đây'. Rồi nàng thực hiện lời nguyện chân thật. Cùng với lời nguyện chân thật của nàng, trong khoảnh khắc, sông Gaṅgā vĩ đại ấy, trước sự chứng kiến của đám đông dân chúng, đã chảy ngược dòng với tiếng nước reo vang."
‘‘Atha rājā gaṅgāya āvaṭṭaūmivegajanitaṃ halāhalasaddaṃ sutvā vimhito acchariyabbhutajāto amacce evamāha ‘kissāyaṃ, bhaṇe, mahāgaṅgā paṭisotaṃ sandatī’ti? ‘Bandhumatī, mahārāja, gaṇikā tava vacanaṃ sutvā saccakiriyaṃ akāsi, tassā saccakiriyāya mahāgaṅgā uddhaṃmukhā sandatī’ti.
“Then the king, hearing the tumultuous sound of the Ganges produced by the force of its whirlpools and waves, was amazed, and filled with wonder and astonishment. He said to his ministers: ‘Sirs, for what reason is this great Ganges flowing upstream?’ They replied: ‘Great king, the courtesan Bandhumatī, having heard your words, performed an act of truth. Through her act of truth, the great Ganges flows with its face upstream.’”
Bấy giờ, đức vua nghe tiếng ào ào phát sanh do sức mạnh của sóng nước xoáy của sông Gaṅgā, ngài kinh ngạc, sanh tâm kỳ diệu chưa từng có, đã nói với các vị cận thần như vầy: ‘Này các khanh, vì sao sông lớn Gaṅgā này lại chảy ngược dòng?’ ‘Tâu Đại vương, kỹ nữ Bandhumatī nghe lời của ngài đã thực hiện lời chân thật, do lời chân thật của nàng mà sông lớn Gaṅgā chảy ngược dòng.’
‘‘Atha saṃviggahadayo rājā turitaturito sayaṃ gantvā taṃ gaṇikaṃ pucchi ‘saccaṃ kira, je, tayā saccakiriyāya ayaṃ gaṅgā paṭisotaṃ sandāpitā’ti? ‘Āma devā’ti. Rājā āha ‘kiṃ te tattha balaṃ atthi, ko vā te vacanaṃ ādiyati anummatto, kena tvaṃ balena imaṃ mahāgaṅgaṃ paṭisotaṃ sandāpesī’ti? Sā āha ‘saccabalenāhaṃ, mahārāja, imaṃ mahāgaṅgaṃ paṭisotaṃ sandāpesi’nti. Rājā āha ‘kiṃ te saccabalaṃ atthi coriyā dhuttiyā asatiyā chinnikāya pāpiyā bhinnasīlāya † hiriatikkantikāya andhajanapalobhikāyā’ti. ‘Saccaṃ, mahārāja, tādisikā ahaṃ, tādisikāyapi me, mahārāja, saccakiriyā atthi, yāyāhaṃ icchamānā sadevakampi lokaṃ parivatteyya’nti. Rājā āha ‘katamā pana sā hoti saccakiriyā, iṅgha maṃ sāvehī’ti. ‘Yo me, mahārāja, dhanaṃ deti khattiyo vā brāhmaṇo vā vesso vā suddo vā añño vā koci, tesaṃ samakaṃ yeva upaṭṭhahāmi, ‘‘khattiyo’’ti viseso natthi, ‘‘suddo’’ti atimaññanā † natthi, anunayappaṭighavippamuttā dhanassāmikaṃ paricarāmi, esā me deva saccakiriyā, yāyāhaṃ imaṃ mahāgaṅgaṃ paṭisotaṃ sandāpesi’nti.
Then the king, with an agitated heart, hurriedly went himself and asked the courtesan, 'Is it true, madam, that by your act of truth this Ganges was made to flow upstream?' 'Yes, Your Majesty.' The king said, 'What power do you have in this? Who, not being mad, would accept your word? By what strength did you make this great Ganges flow upstream?' She replied, 'Great king, by the power of truth I made this great Ganges flow upstream.' The king said, 'What power of truth do you possess—you, a thief, dissolute, unmindful, depraved, wicked, of broken virtue, shameless, a seducer of foolish folk?' 'It is true, great king, I am such a woman. Yet even for one like me, great king, there is an act of truth by which, if I so desired, I could overturn even the world with its gods.' The king said, 'What then is that act of truth? Come, declare it to me.' 'Great king, whoever gives me wealth—whether a noble, a brahmin, a merchant, a worker, or anyone else—I attend to them all equally. There is no special treatment for a "noble," no contempt for a "worker." Free from attraction and aversion, I serve the owner of the wealth. This, Your Majesty, is my act of truth, by which I made this great Ganges flow upstream.'
Bấy giờ, đức vua có tâm xúc động, vội vã đích thân đi đến hỏi người kỹ nữ ấy: ‘Này cô kia, có thật là cô đã làm cho sông Gaṅgā này chảy ngược dòng bằng lời chân thật không?’ ‘Thưa vâng, tâu Thiên tử.’ Đức vua nói: ‘Cô có sức mạnh gì ở đó? Ai là người không điên rồ mà lại nghe lời cô? Cô đã dùng sức mạnh nào mà làm cho sông lớn Gaṅgā này chảy ngược dòng?’ Nàng thưa: ‘Tâu Đại vương, tôi đã làm cho sông lớn Gaṅgā này chảy ngược dòng bằng sức mạnh của sự thật.’ Đức vua nói: ‘Cô là kẻ trộm cắp, kẻ phóng đãng, kẻ thất niệm, kẻ vô liêm sỉ, kẻ ác độc, kẻ giới hạnh buông tuồng, kẻ vượt qua sự hổ thẹn, kẻ lừa gạt người ngu, cô có sức mạnh chân thật gì?’ ‘Tâu Đại vương, sự thật là tôi đúng như vậy. Tâu Đại vương, dù tôi có như vậy, tôi vẫn có lời chân thật, mà do lời chân thật ấy, nếu muốn, tôi có thể làm cho thế giới cùng với chư Thiên xoay chuyển.’ Đức vua nói: ‘Vậy lời chân thật ấy là gì? Nào, hãy cho ta nghe.’ ‘Tâu Đại vương, người nào cho tôi tiền bạc, dù là Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Tỳ-xá hay Thủ-đà, hoặc bất kỳ ai khác, tôi đều phục vụ họ một cách bình đẳng. Không có sự đặc biệt nào vì là ‘Sát-đế-lỵ,’ không có sự khinh miệt nào vì là ‘Thủ-đà.’ Tôi thoát khỏi sự thiên vị và ác cảm, phục vụ người chủ của tài sản. Tâu Thiên tử, đây là lời chân thật của tôi, nhờ đó mà tôi đã làm cho sông lớn Gaṅgā này chảy ngược dòng.’
‘‘Itipi, mahārāja, sacce ṭhitā na kiñci atthaṃ na vindanti. Dinnāni ca, mahārāja, sivirājena yācakassa cakkhūni, dibbacakkhūni ca uppannāni, tañca saccakiriyāya. Yaṃ pana sutte vuttaṃ ‘maṃsacakkhusmiṃ naṭṭhe ahetusmiṃ avatthusmiṃ natthi dibbacakkhussa uppādo’ti. Taṃ bhāvanāmayaṃ cakkhuṃ sandhāya vuttaṃ, evametaṃ, mahārāja, dhārehī’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, sunibbeṭhito pañho, suniddiṭṭho niggaho, sumadditā paravādā, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
Thus, great king, those who stand in truth do not fail to achieve any purpose. And, great king, King Sivi gave his eyes to a supplicant, and divine eyes arose—and that was through an act of truth. As for what is stated in the sutta, ‘When the fleshly eye is destroyed, there being no cause, no basis, there is no arising of the divine eye’—that was said with reference to the eye that is of meditative development. Thus, great king, you should understand it in this way.” “Excellent, Venerable Nāgasena! The question has been well resolved, the refutation well demonstrated, and the opposing views well subdued. I accept it just as you have said.”
‘Tâu Đại vương, như vậy, những người an trú trong sự thật không phải là không đạt được lợi ích nào. Tâu Đại vương, vua Sivi đã bố thí đôi mắt cho người ăn xin, và thiên nhãn đã sanh khởi, điều đó cũng do lời chân thật. Còn điều đã được nói trong kinh rằng: ‘Khi nhục nhãn bị hủy hoại, không có nhân, không có vật nền, thì không có sự sanh khởi của thiên nhãn,’ điều đó được nói đến là nhãn do tu tiến mà thành. Tâu Đại vương, ngài hãy ghi nhớ điều này như vậy.’ ‘Lành thay, thưa ngài Nāgasena, câu hỏi đã được giải quyết tốt đẹp, sự khiển trách đã được chỉ rõ, các tà thuyết đã được nghiền nát. Tôi xin chấp nhận điều này đúng như vậy.’
Sivirājacakkhudānapañho pañcamo.
The fifth question, on King Sivi's gift of his eyes.
Câu hỏi thứ năm về việc vua Sivi bố thí mắt.