Bản dịch
MIL 5.1.4 — CÂU HỎI VỀ HIỆN TƯỢNG
4. Pathavicalanapañha
DAO ĐỘNG DỮ DỘI CỦA TRÁI ĐẤT
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, có tám nhân tám duyên này đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất.’ Đây là lời nói không thiếu sót, đây là lời nói đầy đủ, đây là lời nói không thay đổi, không có nhân thứ chín nào khác đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất. Thưa ngài Nāgasena, nếu có nhân thứ chín khác đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất, đức Thế Tôn cũng sẽ nói đến nhân ấy. Và thưa ngài Nāgasena, bởi vì không có nhân thứ chín nào khác đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất, vì thế đã không được đức Thế Tôn đề cập đến. Và có nhân thứ chín này đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất được thấy là đại địa đầu đã rúng động bảy lần vào lúc cuộc đại thí đang được trao ra bởi đức vua Vessantara. Thưa ngài Nāgasena, nếu chỉ có tám nhân tám duyên đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất, như thế thì lời nói ‘đại địa đầu đã rúng động bảy lần vào lúc cuộc đại thí đang được trao ra bởi đức vua Vessantara’ là sai trái. Nếu đại địa đầu đã rúng động bảy lần vào lúc cuộc đại thí đang được trao ra bởi đức vua Vessantara, như thế thì lời nói ‘chỉ có tám nhân tám duyên đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, vi tế, khó tháo gỡ, gây tăm tối, và sâu xa. Nó được dành cho ngài. Điều này không thể trả lời bởi người nào khác có trí tuệ nhỏ nhoi, ngoại trừ bậc có sự giác ngộ như là ngài vậy.”
“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, có tám nhân tám duyên này đưa đến hiện tượng dao động dữ dội của trái đất.’ Còn đại địa đầu đã rúng động bảy lần vào lúc cuộc đại thí đang được trao ra bởi đức vua Vessantara, tuy nhiên điều ấy là bất thường, đôi lúc có xảy ra, được loại ra khỏi tám nhân. Vì thế không được tính vào tám nhân.
BJT 2Tâu đại vương, giống như ở thế gian chỉ có ba loại mưa được tính là ‘(mưa) thuộc mùa mưa, (mưa) thuộc mùa lạnh, và cơn mưa rào.’ Nếu có cơn mưa khác không thuộc vào ba loại này mà đổ mưa, thì cơn mưa ấy không được tính vào các loại mưa đã được công nhận, và chỉ được xem là ‘cơn mưa sái mùa.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc đại địa đầu đã rúng động bảy lần vào lúc cuộc đại thí đang được trao ra bởi đức vua Vessantara, điều này là bất thường, đôi lúc có xảy ra, được loại ra khỏi tám nhân. Việc ấy không được tính vào tám nhân.
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như năm trăm con sông chảy ra từ núi Hi-mã-lạp. Tâu đại vương, trong số năm trăm con sông ấy, chỉ có mười con sông được tính vào việc tính đếm các con sông, tức là: sông Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī, Sindhu, Sarassatī, Vetravatī, Vitatthā, Candabhāgā. Các con sông còn lại không được tính vào việc tính đếm các con sông. Vì lý do gì? Các con sông ấy không có nước thường xuyên. Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc đại địa đầu đã rúng động bảy lần vào lúc cuộc đại thí đang được trao ra bởi đức vua Vessantara, điều này là bất thường, đôi lúc có xảy ra, được loại ra khỏi tám nhân. Việc ấy không được tính vào tám nhân.
BJT 4Tâu đại vương, hoặc là giống như các quan đại thần của đức vua thì cả trăm người, hai trăm người. Trong số những người ấy chỉ có sáu là được tính vào việc tính đếm các quan đại thần, tức là: tướng quân, quan tế tự, quan xử án, quan thủ khố, quan giữ lọng, quan giữ gươm. Chỉ những người này được tính vào việc tính đếm các quan đại thần. Vì lý do gì? Vì trạng thái gắn bó với các phẩm chất của đức vua. Còn tất cả những người còn lại không được tính đếm mà chỉ được xem là ‘quan đại thần.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc đại địa đầu đã rúng động bảy lần vào lúc cuộc đại thí đang được trao ra bởi đức vua Vessantara, điều này là bất thường, đôi lúc có xảy ra, được loại ra khỏi tám nhân. Việc ấy không được tính vào tám nhân.
Tâu đại vương, phải chăng có được nghe là trong thời hiện tại nghiệp của những việc làm hướng thượng đã làm ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng là có cảm thọ lạc trong hiện tại, và danh tiếng của những việc này vang lên ở giữa chư Thiên và nhân loại?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có được nghe là trong thời hiện tại nghiệp của những việc làm hướng thượng đã làm ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng là có cảm thọ lạc trong hiện tại, và danh tiếng của những việc này vang lên ở giữa chư Thiên và nhân loại. Những người ấy là bảy người.”
“Tâu đại vương, là ai và ai vậy?”
“Thưa ngài, là ‘người làm tràng hoa Sumana, Bà-la-môn Ekasāṭaka, người làm công Puṇṇa, hoàng hậu Mallikā, hoàng hậu Gopālamātā, cận sự nữ Suppiyā, và nữ tỳ Puṇṇā.’ Bảy người này có cảm thọ lạc trong hiện tại, và danh tiếng của những người này vang lên ở giữa chư Thiên và nhân loại.”
“Vậy có được nghe những người khác trong thời quá khứ đã đi đến cung trời Đạo Lợi bằng chính thân thể và vóc dáng ấy của con người?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có được nghe.”
“Tâu đại vương, là ai và ai vậy?”
“Là ‘vị Càn-thát-bà Guttila, đức vua Sādhīna, đức vua Nimī, và đức vua Mandhātā.’ Bốn người này được nghe là đã đi đến cung trời Đạo Lợi bằng thân thể và vóc dáng của con người. Được nghe rằng việc đã làm tốt hoặc đã làm xấu đã được làm lâu lắm rồi.”
“Tâu đại vương, phải chăng đại vương đã được nghe trước đây vào thời quá khứ xa xăm hoặc trong thời hiện tại xa xăm đại địa cầu đã rúng động một lần hoặc hai lần hoặc ba lần khi vật thí của người tên như vầy đang được trao ra?”
BJT 6“Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, tôi đã có sự truyền thừa, sự thành tựu, sự thuộc lòng Kinh điển, sự lắng nghe, sự học tập, năng lực, sự mong mỏi lắng nghe, sự vấn hỏi, sự hầu hạ các vị thầy, tuy nhiên tôi cũng chưa từng được nghe trước đây đại địa cầu đã rúng động một lần hoặc hai lần hoặc ba lần khi vật thí của người tên như vầy đang được trao ra, ngoại trừ việc bố thí cao quý của vị vua kiệt xuất Vessantara. Tâu đại vương, vào khoảng giữa của hai vị Phật là ‘đức Thế Tôn Kassapa và đức Thế Tôn Sakyamuni,’ nhiều koṭi năm vượt quá cách thức tính đếm đã trôi qua, ngay cả trong khoảng thời gian đó tôi cũng không có nghe là ‘đại địa cầu đã rúng động một lần hoặc hai lần hoặc ba lần khi vật thí của người tên như vầy đang được trao ra.’
Tâu đại vương, đại địa cầu không rúng động với sự tinh tấn chừng ấy, với sự nỗ lực chừng ấy. Tâu đại vương, bị chồng chất gánh nặng về đức hạnh, bị chồng chất toàn bộ gánh nặng về sự trong sạch, hành động, và đức hạnh, trong khi không thể nâng đỡ, đại địa cầu lay động, rúng động, chuyển động.
BJT 7Tâu đại vương, giống như khi chiếc xe tải bị chồng chất vật nặng quá tải thì các ổ trục và các vành bánh xe bung ra, trục xe bị gãy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế bị chồng chất toàn bộ gánh nặng về sự trong sạch, hành động, và đức hạnh, trong khi không thể nâng đỡ, đại địa cầu lay động, rúng động, chuyển động.
Tâu đại vương, hoặc là giống như bầu trời bị bao phủ bởi sự chuyển động của gió và nước, bị chồng chất bởi gánh nặng về lượng nước dồi dào, do trạng thái bị đưa đẩy bởi cơn gió mạnh nên gầm rú, gào thét, rống lên. Tâu đại vương, tương tợ y như thế bị chồng chất gánh nặng lớn lao và dồi dào về năng lực bố thí của đức vua Vessantara, trong khi không thể nâng đỡ, đại địa cầu lay động, rúng động, chuyển động.
BJT 8Tâu đại vương, bởi vì tâm của đức vua Vessantara không vận hành do tác động của tham, không vận hành do tác động của sân, không vận hành do tác động của si, không vận hành do tác động của ngã mạn, không vận hành do tác động của tà kiến, không vận hành do tác động của phiền não, không vận hành do tác động của suy tầm, không vận hành do tác động của ganh ghét. Khi ấy, nó vận hành phần nhiều do tác động của sự bố thí: ‘Làm cách nào những người ăn xin chưa đi đến có thể đến gần ta, và những người ăn xin đã đi đến có thể nhận lãnh theo như ý muốn và có thể được hài lòng?’ Sự bố thí là chủ tể, là tâm ý đã được khẳng định một cách thường xuyên, liên tục.
BJT 9Tâu đại vương, tâm ý của đức vua Vessantara đã được khẳng định một cách thường xuyên, liên tục trong mười trường hợp: ở sự huấn luyện, ở sự bình lặng, ở sự nhẫn nại, ở sự phòng hộ, ở sự thu thúc, ở sự đè nén, ở sự không giận dữ, ở sự không hãm hại, ở sự chân thật, ở sự trong sạch.
Tâu đại vương, đối với đức vua Vessantara thì sự tầm cầu về dục đã được dứt bỏ, sự tầm cầu về hữu đã được yên lặng, chỉ riêng sự tầm cầu về Phạm hạnh là được đạt đến một cách sốt sắng.
Tâu đại vương, đối với đức vua Vessantara thì sự bảo vệ bản thân đã được dứt bỏ, sự bảo vệ người khác đã được đạt đến một cách sốt sắng: ‘Làm cách nào những chúng sanh này có thể hợp nhất, không tật bệnh, có tài sản, có tuổi thọ dài lâu?’ tâm ý vận hành phần nhiều là như thế.
Tâu đại vương, và trong khi bố thí vật thí ấy, đức vua Vessantara không bố thí vì nhân đạt đến tái sanh, không bố thí vì nhân tài sản, không bố thí vì nhân vật biếu lại, không bố thí vì nhân thu phục, không bố thí vì nhân tuổi thọ, không bố thí vì nhân sắc đẹp, không bố thí vì nhân hạnh phúc, không bố thí vì nhân sức mạnh, không bố thí vì nhân danh vọng, không bố thí vì nhân con trai, không bố thí vì nhân con gái. Khi ấy đức vua đã bố thí vật thí cao quý, không thể đo lường, bao la, vô thượng có hình thức như thế ấy vì lý do của trí Toàn Tri, vì lý do của báu vật là trí Toàn Tri. Và khi đã đạt được bản thể Toàn Tri, đức vua đã nói lên lời kệ này:
‘Chỉ vì lý do là sự Giác Ngộ, ta đã không nghĩ suy trong khi buông bỏ Jāli, con gái Kaṇhājinā, và hoàng hậu Maddī chung thủy.’
BJT 10Tâu đại vương, đức vua Vessantara chiến thắng giận dữ bằng không giận dữ, chiến thắng sự xấu xa bằng sự tốt đẹp, chiến thắng keo kiệt bằng bố thí, chiến thắng giả dối bằng chân thật, chiến thắng tất cả bất thiện bằng thiện. Trong khi vị ấy, là người đã tiến bước theo Giáo Pháp, hướng về Giáo Pháp, đang bố thí như vậy, do tính chất bao la của sự tinh tấn và năng lực của việc hoàn thành sự bố thí, có những cơn gió lớn xao động ở phía bên dưới. Chúng thổi qua một cách hoàn toàn rối loạn, chầm chậm từng cơn từng cơn một; chúng sà xuống, bốc lên, xoáy tròn; các cây bị trụi lá đổ xuống, những đám mây dầy đặc di chuyển ở bầu trời, những cơn gió tích lũy đầy bụi trở nên dữ dội, bầu trời bị hạ thấp, các cơn gió thổi cuốn đi ào ạt, âm thanh vô cùng ghê rợn phát ra; khi những cơn gió ấy giận dữ thì nước dao động tăng dần, khi nước bị dao động thì các con cá và rùa bị quấy nhiễu, các đợt sóng từng đôi từng đôi sanh lên, các chúng sanh là loài thủy tộc run sợ, sóng nước gợn tròn từng cặp, tiếng rì rào của sóng phát khởi, bong bóng nước ghê rợn nổi lên, những mảng bọt nước hiện hữu; đại dương nổi dậy, nước chạy khắp tám phương, các dòng nước trôi chảy từ miệng của các dòng nước xuôi ngược. Các loài A-tu-la, kim-sỉ-điểu, rồng, dạ-xoa bị hoảng hốt: ‘Có thật không, bằng cách nào mà biển cả xoay ngược lại?’ rồi tìm kiếm lối ra đi với tâm hãi sợ; khi bầu nước bị quấy nhiễu, bị khuấy rối, đại địa cầu cùng với núi non luôn cả biển cả rúng động, chóp đá của đỉnh núi Sineru nghiêng ngả trong khi bị xoáy tròn, các loài rắn, chồn, mèo, chó rừng, heo rừng, nai, chim chóc bị hết hồn, các dạ-xoa ít quyền lực khóc lóc, các dạ-xoa nhiều quyền lực cười đùa trong khi đại địa cầu rung động.
BJT 11Tâu đại vương, giống như ngọn lửa đang cháy ở bên dưới cái chảo to lớn vĩ đại được chứa đầy nước, có gạo lổn nhổ, được đặt ở lò lửa, trước tiên (ngọn lửa) đốt nóng cái chảo, khi cái chảo đã được đốt nóng, nó đun nóng nước; khi nước đã được đốt nóng, nó đun nóng gạo; gạo đã được đốt nóng nổi lên, chìm xuống, làm sanh ra bong bóng nước, rồi những mảng bọt nước trồi lên. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, đức vua Vessantara đã từ bỏ vật khó từ bỏ ở thế gian. Khi vị ấy đang từ bỏ vật khó từ bỏ ấy, do sự hoàn thành từ bản chất của việc bố thí, những cơn gió lớn ở phía bên dưới, trong khi không thể nâng đỡ, đã bị khuấy động. Khi những cơn gió lớn bị khuấy động, nước đã rung động. Khi nước bị rung động, đại địa cầu đã rung động.
Như thế vào khi ấy ‘những cơn gió lớn, nước, và quả địa cầu,’ ba thứ này đã trở thành như là có chung một tâm ý. Do việc hoàn thành của sự bố thí vĩ đại, do năng lực và sự tinh tấn bao la, không có người nào khác có oai lực bố thí như thế này như là oai lực bố thí vĩ đại của đức vua Vessantara.
BJT 12Tâu đại vương, giống như các viên ngọc ma-ni nhiều loại được tìm thấy ở trái đất, như là: ngọc xa-phia, ngọc lục, ngọc như ý, ngọc bích, ngọc hoa lanh, ngọc hoa keo, ngọc thu hồn, ngọc nhật lệ, ngọc nguyệt lệ, kim cương, ngọc lân tinh, hoàng ngọc, hồng ngọc, ngọc mắt mèo,’ thì viên ngọc ma-ni của đức Chuyển Luân vượt trội tất cả các viên ngọc này nên được gọi là nhất hạng. Tâu đại vương, viên ngọc ma-ni của đức Chuyển Luân chiếu sáng một do-tuần ở chung quanh, tâu đại vương, tương tợ y như thế bất cứ sự bố thí nào được tìm thấy ở trái đất, dầu là sự bố thí tối thượng không thể sánh bằng, sự bố thí vĩ đại của đức vua Vessantara vượt trội tất cả các sự bố thí ấy nên được gọi là nhất hạng. Tâu đại vương, khi sự bố thí vĩ đại của đức vua Vessantara đang được trao ra thì đại địa cầu đã bị rung động bảy lần.”
“Thưa ngài Nāgasena, là sự kỳ diệu của chư Phật! Thưa ngài Nāgasena, là sự phi thường của chư Phật! Là việc đức Thế Tôn, trong khi còn là Bồ Tát, với sự nhẫn nại như vậy, với tâm như vậy, với quyết định như vậy, với chủ tâm như vậy, so với thế gian không người sánh bằng. Thưa ngài Nāgasena, sự nỗ lực của các đức Bồ Tát đã được phô bày. Và các pháp toàn hảo của các đấng Chiến Thắng được chiếu sáng còn nhiều hơn thậm chí trong khi các ngài đang thực hành đức hạnh, cho đến bản thể tối thượng của đức Như Lai là được hiển hiện ở thế gian có cả chư Thiên. Thưa ngài Nāgasena, thật tốt đẹp thay Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng đã được tán dương, các pháp toàn hảo của đấng Chiến Thắng đã được tỏa sáng, nút thắt ở học thuyết của các giáo chủ tà giáo đã được cắt đứt, bầu nước về học thuyết của những kẻ khác đã được đập bể, câu hỏi thâm sâu đã được làm rõ, bụi rậm đã được làm không còn bụi rậm, sự giải quyết của các vị con trai của đấng Chiến Thắng đã được tiếp thu đúng đắn. Hỡi vị cao quý và ưu tú trong số các vị có đồ chúng, xin ngài hãy chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về hiện tượng dao động dữ dội của trái đất là thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Yathā, mahārāja, sakaṭassa atibhārabharitassa nābhiyo ca nemiyo ca phalanti akkho bhijjati, evameva kho, mahārāja, sabbasoceyyakiriyaguṇabhārabharitā mahāpathavī dhāretuṃ na visahantī calati kampati pavedhati.
“Just as, great king, when a cart is excessively overloaded, its hubs and rims burst and its axle breaks, so too, great king, the great earth, weighed down by the burden of the quality of the act of complete purity, unable to support it, shakes, quakes, and trembles.
“Tâu Đại vương, ví như một cỗ xe bị chất quá nặng, các trục bánh và vành bánh sẽ vỡ ra, và trục xe sẽ gãy. Cũng vậy, tâu Đại vương, đại địa nặng trĩu gánh nặng của các đức hạnh trong mọi hành vi thanh tịnh, không thể chịu đựng nổi nên mới dao động, rung chuyển, và chấn động.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, gaganaṃ anilajalavegasañchāditaṃ ussannajalabhārabharitaṃ ativātena phuṭitattā nadati ravati gaḷagaḷāyati, evameva kho, mahārāja, mahāpathavī rañño vessantarassa dānabalavipulaussannabhārabharitā dhāretuṃ na visahantī calati kampati pavedhati. Na hi, mahārāja, rañño vessantarassa cittaṃ rāgavasena pavattati, na dosavasena pavattati, na mohavasena pavattati, na mānavasena pavattati, na diṭṭhivasena pavattati, na kilesavasena pavattati, na vitakkavasena pavattati, na arativasena pavattati, atha kho dānavasena bahulaṃ pavattati ‘kinti anāgatā yācakā mama santike āgaccheyyuṃ, āgatā ca yācakā yathākāmaṃ labhitvā attamanā bhaveyyu’nti satataṃ samitaṃ dānaṃ pati mānasaṃ ṭhapitaṃ hoti. Rañño, mahārāja, vessantarassa satataṃ samitaṃ dasasu ṭhānesu mānasaṃ ṭhapitaṃ hoti dame same khantiyaṃ saṃvare yame niyame akkodhe avihiṃsāyaṃ sacce soceyye. Rañño, mahārāja, vessantarassa kāmesanā pahīnā, bhavesanā paṭippassaddhā, brahmacariyesanāya yeva ussukkaṃ āpanno, rañño, mahārāja, vessantarassa attarakkhā † pahīnā, sabbasattarakkhāya ussukkaṃ āpanno ‘kinti ime sattā samaggā assu arogā sadhanā dīghāyukā’ti bahulaṃ yeva mānasaṃ pavattati. Dadamāno ca, mahārāja, vessantaro rājā taṃ dānaṃ na bhavasampattihetu deti, na dhanahetu deti, na paṭidānahetu deti, na upalāpanahetu deti, na āyuhetu deti, na vaṇṇahetu deti, na sukhahetu deti, na balahetu deti, na yasahetu deti, na puttahetu deti, na dhītuhetu deti, atha kho sabbaññutañāṇahetu sabbaññutañāṇaratanassa kāraṇā evarūpe atulavipulānuttare dānavare adāsi, sabbaññutaṃ patto ca imaṃ gāthaṃ abhāsi –
Or again, great king, just as the sky, covered by the force of wind and water, filled with the burden of abundant water, when struck by a strong wind, roars, booms, and rumbles—so too, great king, the great earth, burdened with the vast and abundant weight of the power of King Vessantara’s generosity, unable to bear it, moved, shook, and trembled. For, great king, King Vessantara’s mind was not driven by lust, nor by hatred, nor by delusion, nor by pride, nor by views, nor by defilements, nor by thoughts, nor by discontent. Rather, it was abundantly driven by generosity: ‘How may future beggars come to me, and how may those who have come obtain what they desire and depart satisfied?’ His mind was constantly and continuously fixed on giving. Great king, King Vessantara’s mind was constantly and continuously fixed on ten qualities: self-control, calm, patience, restraint, constant virtue, occasional virtue, non-anger, non-violence, truthfulness, and purity. Great king, King Vessantara had abandoned the desire for sensual pleasures, had calmed the desire for existence, and was solely keen on the quest for the holy life. Great king, King Vessantara had abandoned self-protection and was keen on the protection of all beings: ‘How may these beings live in harmony, free from illness, wealthy, and long-lived?’ His mind was abundantly inclined in this way. And when giving, great king, King Vessantara did not give that gift for the sake of future prosperity, nor for wealth, nor for reciprocation, nor for flattery, nor for longevity, nor for beauty, nor for happiness, nor for strength, nor for fame, nor for sons, nor for daughters. Rather, for the sake of all-knowing knowledge, for the cause of the jewel of all-knowing knowledge, he gave such incomparable, vast, and unsurpassed excellent gifts. Having attained all-knowing knowledge, he spoke this verse—
“Hoặc ví như, tâu Đại vương, bầu trời bị bao phủ bởi sức mạnh của gió và nước, nặng trĩu gánh nặng của khối nước lớn, khi bị một cơn gió cực mạnh tác động, nó gầm lên, rống lên, và kêu ầm ầm. Cũng vậy, tâu Đại vương, đại địa nặng trĩu gánh nặng to lớn, rộng khắp, dồi dào từ năng lực bố thí của đức vua Vessantara, không thể chịu đựng nổi nên mới dao động, rung chuyển, và chấn động. Tâu Đại vương, tâm của đức vua Vessantara không vận hành theo tham ái, không vận hành theo sân hận, không vận hành theo si mê, không vận hành theo ngã mạn, không vận hành theo tà kiến, không vận hành theo phiền não, không vận hành theo tầm cầu, không vận hành theo sự bất mãn. Mà trái lại, tâm ấy vận hành mạnh mẽ theo sự bố thí: ‘Làm sao để những người ăn xin chưa đến sẽ đến với ta, và những người ăn xin đã đến, sau khi nhận được những gì họ muốn, sẽ được hoan hỷ?’ – tâm của ngài luôn luôn, thường xuyên được đặt vào việc bố thí. Tâu Đại vương, tâm của đức vua Vessantara luôn luôn, thường xuyên được đặt vào mười điều: sự chế ngự, sự bình lặng, sự nhẫn nại, sự phòng hộ, giới thường trực, giới định kỳ, sự không sân hận, sự không làm hại, sự chân thật, và sự trong sạch. Tâu Đại vương, đức vua Vessantara đã từ bỏ sự tìm cầu dục lạc, sự tìm cầu hữu đã được lắng dịu, ngài chỉ nỗ lực trong sự tìm cầu phạm hạnh. Tâu Đại vương, đức vua Vessantara đã từ bỏ việc bảo vệ bản thân, ngài nỗ lực trong việc bảo vệ tất cả chúng sanh: ‘Làm sao để những chúng sanh này được hòa hợp, được không bệnh tật, được có tài sản, được sống lâu?’ – tâm của ngài phần lớn vận hành như vậy. Và tâu Đại vương, khi bố thí, đức vua Vessantara không bố thí vì mục đích được tái sanh tốt đẹp, không bố thí vì tài sản, không bố thí vì được đền đáp, không bố thí vì để tâng bốc, không bố thí vì tuổi thọ, không bố thí vì sắc đẹp, không bố thí vì hạnh phúc, không bố thí vì sức mạnh, không bố thí vì danh tiếng, không bố thí vì con trai, không bố thí vì con gái. Mà trái lại, ngài bố thí vì mục đích đạt được trí tuệ toàn giác, vì lý do đạt được báu vật trí tuệ toàn giác. Ngài đã thực hiện những sự bố thí cao thượng, vô song, rộng lớn, và vô thượng như vậy. Và sau khi đạt được trí tuệ toàn giác, ngài đã nói lên kệ ngôn này –”
‘‘‘Jāliṃ kaṇhājinaṃ dhītaṃ, maddideviṃ patibbataṃ;
Cajamāno na cintesiṃ, bodhiyā yeva kāraṇā’ti.
‘Giving away Jāli, my daughter Kaṇhājina, and my devoted wife, Queen Maddī, I did not waver, for the sake of enlightenment alone.’”
“‘Khi từ bỏ Jāli, con gái Kaṇhājinā, và hoàng hậu Maddī, một người vợ đức hạnh; ta đã không suy tư (về điều gì khác), chỉ vì mục đích giác ngộ mà thôi.’”
‘‘Vessantaro, mahārāja, rājā akkodhena kodhaṃ jināti, asādhuṃ sādhunā jināti, kadariyaṃ dānena jināti, alikavādinaṃ saccena jināti, sabbaṃ akusalaṃ kusalena jināti. Tassa evaṃ dadamānassa dhammānugatassa dhammasīsakassa † dānanissandabalava † vīriyavipulavipphārena heṭṭhā mahāvātā sañcalanti saṇikaṃ saṇikaṃ sakiṃ sakiṃ ākulākulā vāyanti onamanti unnamanti vinamanti, chinnapattapādapā † papatanti, gumbaṃ gumbaṃ valāhakā gagane sandhāvanti, rajosañcitā vātā dāruṇā honti, gaganaṃ uppīḷitā vātā vāyanti, sahasā dhamadhamāyanti, mahābhīmo saddo niccharati, tesu vātesu kupitesu udakaṃ saṇikaṃ saṇikaṃ calati, udake calite khubbhanti macchakacchapā, yamakayamakā ūmiyo jāyanti, jalacarā sattā tasanti, jalavīci yuganaddho vattati, vīcinādo pavattati, ghorā bubbuḷā † uṭṭhahanti, pheṇamālā bhavanti, uttarati mahāsamuddo, disāvidisaṃ dhāvati udakaṃ, uddhaṃsotapaṭisotamukhā sandanti saliladhārā, tasanti asurā garuḷā nāgā yakkhā, ubbijjanti ‘kiṃ nu kho, kathaṃ nu kho, sāgaro viparivattatī’ti, gamanapathamesanti bhītacittā, khubhite luḷite jaladhāre pakampati mahāpathavī sanagā sasāgarā, parivattati sinerugiri kūṭaselasikharo vinamamāno hoti, vimanā honti ahinakulabiḷārakoṭṭhukasūkaramigapakkhino, rudanti yakkhā appesakkhā, hasanti yakkhā mahesakkhā kampamānāya mahāpathaviyā.
Great king, King Vessantara conquers anger with non-anger, the wicked with goodness, the miserly with generosity, the liar with truth, and all that is unwholesome with the wholesome. As he gives thus, following the Dhamma and holding the Dhamma supreme, by the vast and powerful diffusion of the strength and energy of his generosity’s outflow, the great winds below stir. Slowly, slowly, again and again, they blow in turmoil, dipping down, rising up, and bending aside. Broken trees fall. Masses of clouds race across the sky. Dust-laden winds become fierce. Winds blow, oppressing the sky; they roar suddenly. A terrifying sound arises. When these winds are enraged, the water stirs slowly, slowly. As the water stirs, fish and turtles are disturbed. Waves arise in pairs. Water-dwelling beings tremble. The ocean’s waves roll on, yoked together. The sound of waves resounds. Horrifying bubbles rise. Wreaths of foam form. The great ocean overflows. The water rushes in all directions. Currents of water flow facing upstream and downstream. The Asuras, Garuḍas, Nāgas, and Yakkhas tremble. They grow anxious, wondering, 'What is this? How has the ocean turned upside down?' Frightened, they seek a path of escape. As the turbulent, churning waters flow, the great earth with its mountains and oceans shakes. The peaks and rocky summits of Mount Sineru revolve, bending and swaying. Snakes, mongooses, cats, jackals, pigs, deer, and birds become distressed. Yakkhas of little power wail, while Yakkhas of great power laugh as the great earth trembles.
“Tâu Đại vương, đức vua Vessantara đã dùng bất sân để chiến thắng sự sân hận, dùng thiện lành để chiến thắng kẻ bất hảo, dùng bố thí để chiến thắng người keo kiệt, dùng sự thật để chiến thắng kẻ nói dối, dùng thiện pháp để chiến thắng tất cả các pháp bất thiện. Do quả báo của sự bố thí và do năng lực tinh tấn rộng lớn lan tỏa của ngài, một người luôn ban tặng, thuận theo Chánh pháp, tôn thờ Chánh pháp, nên các luồng gió lớn ở bên dưới đã rung chuyển. Chúng thổi từ từ, từng lúc một, cuộn lại với nhau, chúng cúi xuống, chúng vươn lên, chúng nghiêng ngả. Cây cối gãy cành đổ xuống. Mây từng đám, từng đám chạy tán loạn trên bầu trời. Gió quyện với bụi trở nên dữ dội. Gió thổi, ép xuống bầu trời. Chúng bất ngờ thổi tung lên. Một âm thanh vô cùng đáng sợ phát ra. Khi những ngọn gió đó nổi giận, nước chuyển động từ từ. Khi nước chuyển động, cá và rùa hoảng loạn. Sóng nổi lên từng cặp, từng cặp. Các loài thủy tộc sợ hãi. Sóng nước cuộn chảy thành từng cặp. Tiếng sóng nổi lên. Những bong bóng nước ghê gớm nổi lên. Vòng hoa bọt nước hình thành. Biển lớn dâng trào. Nước chảy khắp các phương và phương phụ. Các dòng nước chảy ngược xuôi. Các vị a-tu-la, garuḷa, nāga, yakkha sợ hãi. Họ kinh hãi: ‘Chuyện gì thế này? Tại sao thế này? Biển cả đang đảo lộn chăng?’. Với tâm sợ hãi, họ tìm đường thoát thân. Khi dòng nước chấn động, sôi sục, đại địa cùng với núi rừng và biển cả rung chuyển. Đỉnh núi Sineru quay tròn, nghiêng ngả. Rắn, chồn, mèo, cáo, heo, hươu, chim đều hoảng loạn. Các yakkha ít thần lực thì khóc lóc. Các yakkha có đại thần lực thì cười vui khi đại địa rung chuyển.”
‘‘Yathā, mahārāja, mahati mahāpariyoge uddhanagate udakasampuṇṇe ākiṇṇataṇḍule heṭṭhato aggi jalamāno paṭhamaṃ tāva pariyogaṃ santāpeti, pariyogo santatto udakaṃ santāpeti, udakaṃ santattaṃ taṇḍulaṃ santāpeti, taṇḍulaṃ santattaṃ ummujjati nimujjati, bubbuḷakajātaṃ hoti, pheṇamālā uttarati; evameva kho, mahārāja, vessantaro rājā yaṃ loke duccajaṃ, taṃ caji, tassa taṃ duccajaṃ cajantassa dānassa sabhāvanissandena heṭṭhā mahāvātā dhāretuṃ na visahantā parikuppiṃsu †, mahāvātesu parikupitesu † udakaṃ kampi, udake kampite mahāpathavī kampi, iti tadā mahāvātā ca udakañca mahāpathavī cāti ime tayo ekamanā viya ahesuṃ mahādānanissandena vipulabalavīriyena natthediso, mahārāja, aññassa dānānubhāvo, yathā vessantarassa rañño mahādānānubhāvo. Yathā, mahārāja, mahiyā bahuvidhā maṇayo vijjanti. Seyyathīdaṃ, indanīlo mahānīlo jotiraso veḷuriyo ummāpuppho sirīsapuppho manoharo sūriyakanto candakanto vajiro khajjopanako phussarāgo lohitaṅgo masāragalloti, ete sabbe atikkamma cakkavattimaṇi aggamakkhāyati, cakkavattimaṇi, mahārāja, samantā yojanaṃ obhāseti. Evameva kho, mahārāja, yaṃ kiñci mahiyā dānaṃ vijjati api asadisadānaṃ paramaṃ, taṃ sabbaṃ atikkamma vessantarassa rañño mahādānaṃ aggamakkhāyati, vessantarassa, mahārāja, rañño mahādāne dīyamāne sattakkhattuṃ mahāpathavī kampitā’’ti.
“Just as, great king, when a large cauldron full of water and packed with rice is placed on a stove with a fire burning underneath, first the fire heats the cauldron. The heated cauldron then heats the water, the heated water heats the rice, and the heated rice rises and sinks, bubbles up, and a garland of foam rises to the top. In the same way, great king, King Vessantara gave what is hard to give in the world. As he gave that which was hard to give, by the natural outflow of that gift, the great winds below, unable to bear it, became greatly agitated. When the great winds were greatly agitated, the water shook; when the water shook, the great earth trembled. Thus, at that time, the great winds, the water, and the great earth—these three—were as if of one mind, due to the great gift's outflow and its vast strength and energy. Great king, there is no other power of giving like unto the power of King Vessantara’s great gift. Just as, great king, many kinds of gems are found in the earth—such as sapphire, great sapphire, crystal, beryl, flax-flower gem, sirīsa-flower gem, the delightful gem, sunstone, moonstone, diamond, firefly gem, topaz, ruby, and emerald—yet surpassing all these, the wheel-turning gem is declared supreme. The wheel-turning gem, great king, illuminates a yojana all around. In the same way, great king, whatever gift exists on earth, even the supreme, unmatched gift, is entirely surpassed by the great gift of King Vessantara, which is declared supreme. Great king, when King Vessantara’s great gift was being given, the great earth trembled seven times.”
“Tâu Đại vương, ví như một cái nồi lớn đặt trên bếp, chứa đầy nước và gạo, khi lửa cháy ở dưới, trước hết lửa làm nóng cái nồi. Cái nồi nóng làm nóng nước. Nước nóng làm nóng gạo. Gạo nóng thì trồi lên, chìm xuống, sủi bọt, và bọt nổi lên thành vòng. Tâu Đại vương, cũng vậy, đức vua Vessantara đã từ bỏ những gì khó từ bỏ ở trên đời. Khi ngài từ bỏ những thứ khó từ bỏ ấy, do quả báo tự nhiên của sự bố thí, các luồng gió lớn ở bên dưới không thể chịu đựng nổi nên đã nổi lên. Khi các luồng gió lớn nổi lên, nước rung chuyển. Khi nước rung chuyển, đại địa rung chuyển. Như vậy, khi ấy, ba thứ này là gió lớn, nước, và đại địa, do quả báo của đại thí và do năng lực tinh tấn rộng lớn, đã trở nên như một tâm. Tâu Đại vương, không có năng lực bố thí của người nào khác giống như năng lực đại thí của đức vua Vessantara. Tâu Đại vương, ví như trên mặt đất có nhiều loại ngọc quý. Chẳng hạn như: ngọc indanīla, ngọc mahānīla, ngọc jotirasa, ngọc veḷuriya, ngọc ummāpuppha, ngọc sirīsapuppha, ngọc manohara, ngọc sūriyakanta, ngọc candakanta, ngọc vajira, ngọc khajjopanaka, ngọc phussarāga, ngọc lohitaṅga, ngọc masāragalla. Vượt trên tất cả các loại ngọc này, ngọc báu của Chuyển Luân Vương được gọi là tối thượng. Tâu Đại vương, ngọc báu của Chuyển Luân Vương chiếu sáng một do-tuần xung quanh. Cũng vậy, tâu Đại vương, bất cứ sự bố thí nào có trên mặt đất, ngay cả sự bố thí vô song cũng là tối thượng, nhưng vượt trên tất cả những sự bố thí ấy, đại thí của đức vua Vessantara được gọi là tối thượng. Tâu Đại vương, khi đức vua Vessantara thực hiện đại thí, đại địa đã rung chuyển bảy lần.”
‘‘Acchariyaṃ, bhante nāgasena, buddhānaṃ, abbhutaṃ, bhante nāgasena, buddhānaṃ, yaṃ tathāgato bodhisatto samāno asamo lokena evaṃkhanti evaṃcitto evaṃadhimutti evaṃadhippāyo, bodhisattānaṃ, bhante nāgasena, parakkamo dakkhāpito, pāramī ca jinānaṃ bhiyyo obhāsitā, cariyaṃ caratopi tāva tathāgatassa sadevake loke seṭṭhabhāvo anudassito. Sādhu, bhante nāgasena, thomitaṃ jinasāsanaṃ, jotitā jinapāramī, chinno titthiyānaṃ vādagaṇṭhi, bhinno parāpavādakumbho †, pañho gambhīro uttānīkato, gahanaṃ agahanaṃ kataṃ, sammā laddhaṃ jinaputtānaṃ nibbāhanaṃ †, evametaṃ gaṇivarapavara tathā sampaṭicchāmā’’ti.
“Wonderful, Venerable Nāgasena, are the Buddhas! Astonishing, Venerable Nāgasena, are the Buddhas! That the Tathāgata, while still a Bodhisatta, unequaled in the world, had such patience, such a mind, such resolve, such an aspiration. The striving of the Bodhisattas, Venerable Nāgasena, has been clearly shown, and the perfections of the Victors have been further illuminated. Even while practicing the conduct, the Tathāgata’s supreme status in the world with its devas was demonstrated. Excellent, Venerable Nāgasena! The Victor’s teaching has been praised! The perfections of the Victor have been illuminated! The tangled knot of the heretics’ doctrines has been cut! The pot of others’ doctrines has been shattered! The profound question has been made plain! The impenetrable has been made accessible! Rightly have the sons of the Victor found deliverance! Thus do we accept this, O supreme and excellent among leaders of sages!”
“Bạch ngài Nāgasena, thật kỳ diệu thay công đức của chư Phật! Bạch ngài Nāgasena, thật phi thường thay công đức của chư Phật! Bởi vì đức Như Lai, khi còn là Bồ-tát, đã không ai sánh bằng trong thế gian về sự nhẫn nại như vậy, tâm như vậy, quyết tâm như vậy, ý định như vậy. Bạch ngài Nāgasena, nỗ lực của các vị Bồ-tát đã được chỉ rõ. Ba-la-mật của các bậc Chiến Thắng cũng đã được làm cho sáng tỏ hơn. Ngay cả khi còn đang thực hành các hạnh, địa vị tối thượng của đức Như Lai trong thế giới cùng với chư thiên đã được chỉ bày. Hay thay, bạch ngài Nāgasena, giáo pháp của bậc Chiến Thắng đã được tán thán, Ba-la-mật của bậc Chiến Thắng đã được làm cho rực sáng, nút thắt trong tà kiến của ngoại đạo đã bị chặt đứt, cái bình chứa đựng sự chỉ trích của người khác đã bị đập vỡ, câu hỏi sâu sắc đã được làm cho sáng tỏ, điều phức tạp đã được làm cho đơn giản, các vị con của bậc Chiến Thắng đã chân chánh đạt được phương tiện dập tắt phiền não. Thưa ngài, bậc tối thượng trong các vị trưởng giáo, sự việc là như vậy, chúng con xin chấp nhận như lời ngài dạy.”
Pathavicalanapañho catuttho.
The Fourth Question, concerning the Earth's Trembling, is concluded.
Câu hỏi thứ tư về sự rung chuyển của đất.