Bản dịch
MIL 5.1.3 — CÂU HỎI VỀ SỰ XUẤT GIA CỦA DEVADATTA
3. Devadattapabbajjapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, do vị nào mà Devadatta đã được xuất gia?”
“Tâu đại vương, sáu vương tử dòng Sát-đế-lỵ này là Bhaddiya, Anuruddha, Ānanda, Bhagu, Kimbila, Devadatta, và người thợ cạo Upāli là thứ bảy. Khi bậc Đạo Sư đã đắc thành Chánh Đẳng Giác, trong việc đem lại nỗi vui mừng cho dòng họ Sakya những vị ấy đã ra đi xuất gia theo đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã cho những vị ấy xuất gia.”
“Thưa ngài, không phải Devadatta sau khi xuất gia đã chia rẽ hội chúng?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Devadatta sau khi xuất gia đã chia rẽ hội chúng. Không phải người tại gia chia rẽ hội chúng, không phải tỳ khưu ni, không phải vị ni tu tập sự, không phải vị sa di, không phải vị sa di ni chia rẽ hội chúng. Vị tỳ khưu bình thường, cùng chung sự đồng cộng trú, đứng cùng chung ranh giới, chia rẽ hội chúng.”
BJT 2“Thưa ngài, người là kẻ chia rẽ hội chúng phạm vào nghiệp gì?”
“Tâu đại vương, phạm vào nghiệp liên quan đến việc chịu đựng một kiếp.”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy có phải đức Phật biết rằng: ‘Devadatta sau khi xuất gia sẽ chia rẽ hội chúng, sau khi chia rẽ hội chúng thì sẽ bị nung nấu ở địa ngục một kiếp’?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Đức Như Lai biết rằng: ‘Devadatta sau khi xuất gia sẽ chia rẽ hội chúng, sau khi chia rẽ hội chúng thì sẽ bị nung nấu ở địa ngục một kiếp.’”
“Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Phật biết rằng: ‘Devadatta sau khi xuất gia sẽ chia rẽ hội chúng, sau khi chia rẽ hội chúng thì sẽ bị nung nấu ở địa ngục một kiếp,’ thưa ngài Nāgasena, như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Phật, đấng Bi Mẫn, bậc Thương Xót, vị tầm cầu lợi ích, sau khi xua đi điều bất lợi thì đem đến điều lợi ích cho tất cả chúng sanh’ là sai trái. Nếu Ngài không biết điều ấy rồi đã cho xuất gia, như thế thì đức Phật là không Toàn Tri. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài, xin ngài hãy tháo gỡ múi rối to lớn này, hãy đánh đổ học thuyết của những kẻ khác. Trong ngày vị lai xa xăm những vị tỳ khưu có sự giác ngộ tương đương ngài sẽ khó đạt được. Trong trường hợp này, xin ngài hãy bày tỏ năng lực của ngài.”
“Tâu đại vương, đức Thế Tôn là bậc Đại Bi và là đấng Toàn Tri. Tâu đại vương, đức Thế Tôn, trong lúc xem xét cảnh giới tái sanh của Devadatta với lòng bi mẫn và trí Toàn Tri, đã nhìn thấy Devadatta sau khi tích lũy nghiệp đưa đến trôi nổi luân hồi từ địa ngục đến địa ngục, từ đọa xứ đến đọa xứ trong nhiều trăm ngàn koṭi kiếp. Đức Thế Tôn, sau khi biết được điều ấy bằng trí Toàn Tri rằng: ‘Nghiệp đã được làm không có giới hạn của người này, nếu được xuất gia trong Giáo Pháp của Ta, sẽ trở thành có giới hạn. Khổ liên quan đến việc trước sẽ trở thành có giới hạn. Còn không được xuất gia thì kẻ rồ dại này sẽ tích lũy nghiệp kéo dài trọn kiếp,’ vì lòng bi mẫn Ngài đã cho Devadatta xuất gia.”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì đức Phật gây tổn thương rồi thoa dầu, làm rơi xuống vực thẳm rồi đưa tay (kéo lên), làm cho chết rồi tìm kiếm mạng sống, là việc Ngài ban cho sự khổ đau trước rồi đem lại sự an lạc sau.”
“Tâu đại vương, đức Như Lai dẫu có gây tổn thương cũng vì lợi ích cho chúng sanh, dẫu có làm rơi xuống cũng vì lợi ích cho chúng sanh, dẫu có làm cho chết cũng vì lợi ích cho chúng sanh. Tâu đại vương, đức Như Lai gây tổn thương rồi đem lại lợi ích cho chúng sanh, làm rơi xuống rồi đem lại lợi ích cho chúng sanh, làm cho chết rồi đem lại lợi ích cho chúng sanh. Tâu đại vương, giống như mẹ cha gây tổn thương, làm rơi xuống, rồi đem lại lợi ích cho những người con, tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai gây tổn thương cũng vì lợi ích cho chúng sanh, làm rơi xuống cũng vì lợi ích cho chúng sanh, làm cho chết cũng vì lợi ích cho chúng sanh. Tâu đại vương, đức Như Lai gây tổn thương rồi đem lại lợi ích cho chúng sanh, làm rơi xuống rồi đem lại lợi ích cho chúng sanh, làm cho chết rồi đem lại lợi ích cho chúng sanh. Với bất cứ cách thức nào có sự tăng trưởng các đức hạnh cho chúng sanh thì Ngài đem lại lợi ích cho tất cả chúng sanh bằng cách thức ấy. Tâu đại vương, nếu đức Như Lai không cho Devadatta xuất gia thì Devadatta trong khi là người tại gia sẽ làm nhiều nghiệp ác dẫn đến địa ngục, trong khi trôi nổi từ địa ngục đến địa ngục, từ đọa xứ đến đọa xứ trong nhiều trăm ngàn koṭi kiếp sẽ cảm thọ nhiều khổ đau. Đức Thế Tôn, trong khi biết được điều ấy, vì lòng bi mẫn đã cho Devadatta xuất gia (nghĩ rằng): ‘Đối với người đã được xuất gia trong Giáo Pháp của Ta thì khổ đau sẽ trở thành có giới hạn.’ Vì lòng bi mẫn mà Ngài đã làm vơi nhẹ nỗi khổ đau trầm trọng.
Tâu đại vương, hơn nữa giống như người đàn ông có năng lực, nhờ vào năng lực về tài sản, tiếng tăm, danh vọng, và sự thân thiết, sau khi nhìn thấy bà con hoặc bạn bè của mình đang chịu hình phạt nặng nề của đức vua, liền làm vơi nhẹ nỗi khổ đau trầm trọng của người ấy nhờ vào điều kiện có nhiều sự thân thiết và khả năng của bản thân, tâu đại vương tương tợ y như thế ấy đức Thế Tôn sau khi cho Devadatta—là người sẽ bị cảm thọ khổ đau nhiều trăm ngàn koṭi kiếp—xuất gia đã làm vơi nhẹ nỗi khổ đau trầm trọng nhờ vào điều kiện về năng lực và khả năng của giới định tuệ và giải thoát.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người thầy thuốc phẫu thuật thiện xảo nhờ vào năng lực của phương thuốc mạnh làm vơi nhẹ căn bệnh trầm trọng, tâu đại vương tương tợ y như thế ấy đức Thế Tôn, là vị có năng lực về lòng bi mẫn, với sự hiểu biết về tu tập, sau khi cho Devadatta—là người sẽ bị cảm thọ khổ đau nhiều trăm ngàn koṭi kiếp—xuất gia đã làm vơi nhẹ nỗi khổ đau trầm trọng nhờ vào năng lực của phương thuốc cứng rắn của Giáo Pháp. Tâu đại vương, phải chăng đức Thế Tôn ấy, trong khi làm cho Devadatta đáng lẽ bị nhiều cảm thọ (khổ) chỉ còn ít cảm thọ (khổ), lại tạo ra điều vô phước nào đó?”
“Thưa ngài, không tạo ra điều vô phước nào, dầu chỉ là một lượng thời gian ngắn ngủi như việc vắt sữa ở vú bò.”
“Tâu đại vương, đại vương hãy chấp nhận lý do này theo ý nghĩa mà với lý do ấy đức Thế Tôn đã cho Devadatta xuất gia.
Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy đức Thế Tôn đã cho Devadatta xuất gia. Tâu đại vương, giống như những người bắt được kẻ trộm phạm tội thì trình lên đức vua rằng: ‘Tâu bệ hạ, kẻ trộm phạm tội này là thuộc về bệ hạ. Đối với kẻ này, xin bệ hạ hãy ra lệnh hành phạt mà bệ hạ muốn. Đứa vua có thể nói về kẻ ấy như vầy: ‘Này các khanh, như thế thì hãy đưa kẻ trộm này ra ngoại thành rồi chém đầu ở bãi hành quyết.’
‘Tâu bệ hạ, xin vâng.’ Vâng lệnh đức vua, những người ấy đã đưa kẻ ấy ra ngoại thành rồi dẫn đến bãi hành quyết. Một người đàn ông nào đó, là người đã đạt được ân huệ từ đức vua, đã đạt được danh tiếng, tài sản, của cải, có lời nói được chấp nhận, có năng lực, có hành động theo ý thích, nhìn thấy kẻ ấy. Người ấy, khởi tâm bi mẫn đến kẻ trộm ấy, nên đã nói với những người ấy như vầy: ‘Này các ông, thôi đi. Các ông được gì với việc chặt đầu của người này? Này các ông, chính vì điều ấy các ông hãy chặt tay hoặc bàn chân của người này và hãy duy trì mạng sống cho gã. Ta sẽ trình tấu đến đức vua lý do của việc này.’ Những người ấy, do lời nói của người có năng lực ấy, có thể chặt tay hoặc bàn chân của kẻ trộm ấy và duy trì mạng sống cho gã. Tâu đại vương, phải chăng người đàn ông ấy, với hành động như vậy, là có thể hiện trách nhiệm đối với kẻ trộm ấy?”
“Thưa ngài, người đàn ông ấy là người ban cho mạng sống đến kẻ trộm. Khi mạng sống đã được ban đến gã, thì có điều gì gọi là đã không được làm cho kẻ ấy?”
“Tuy nhiên, về cảm thọ trong việc chặt tay chân của kẻ ấy, không lẽ người ấy không tạo ra điều vô phước nào trong cái cảm thọ ấy?”
“Thưa ngài, kẻ trộm ấy cảm nhận cảm thọ khổ đau do việc đã làm của mình. Còn người đàn ông, là người ban cho mạng sống, không tạo ra điều vô phước nào cả.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn vì lòng bi mẫn đã cho Devadatta xuất gia (nghĩ rằng): ‘Đối với người đã được xuất gia trong Giáo Pháp của Ta thì khổ đau sẽ trở thành có giới hạn.’ Tâu đại vương, và khổ đau của Devadatta trở thành có giới hạn. Tâu đại vương, Devadatta vào thời điểm chết, đã đi đến việc nương nhờ khi còn sống (nói rằng):
‘Với những khúc xương này, với các sanh mạng, tôi đi đến nương nhờ đức Phật, nhân vật cao cả ấy, vị Trời vượt trội các vị Trời, đấng Điều Ngự Trượng Phu, bậc nhìn thấy toàn diện, có đặc điểm của trăm phước báu.’
Tâu đại vương, trong kiếp (trái đất) gồm sáu giai đoạn, thì Devadatta đã chia rẽ hội chúng khi giai đoạn thứ nhất đã trôi qua, sau khi bị nung nấu trong năm giai đoạn còn lại rồi từ đó sẽ được giải thoát, và sẽ trở thành vị Độc Giác Phật tên Aṭṭhissara. Tâu đại vương, phải chăng đức Thế Tôn, với hành động như vậy, là có thể hiện trách nhiệm đối với Devadatta?”
“Thưa ngài Nāgasena, đối với Devadatta đức Như Lai là vị ban bố tất cả, là việc đức Như Lai sẽ khiến cho Devadatta đạt được quả vị Độc Giác Phật. Còn có điều gì đã không được làm bởi đức Như Lai đến Devadatta?”
“Tâu đại vương, vả lại việc Devadatta sau khi chia rẽ hội chúng rồi cảm thọ khổ đau ở địa ngục, tâu đại vương, phải chăng đức Thế Tôn do nhân ấy có thể tạo ra điều vô phước nào đó?”
“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, Devadatta bị nung nấu ở địa ngục một kiếp do việc đã làm bởi bản thân. Bậc Đạo Sư, là người đã làm cho khổ đau trở thành có giới hạn, không tạo ra điều vô phước nào.”
“Tâu đại vương, đại vương hãy chấp nhận lý do này theo ý nghĩa mà với lý do ấy đức Thế Tôn đã cho Devadatta xuất gia. Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy đức Thế Tôn đã cho Devadatta xuất gia.
Tâu đại vương, giống như người thầy thuốc phẫu thuật thiện xảo, trong khi làm êm dịu vết thương bị tác động dữ dội bởi gió, mật, đàm đã tụ hội lại, bởi sự thay đổi của thời tiết, bởi sự chăm nom không đều đặn, bị xông lên mùi hôi thối của tử thi ô uế, có mũi nhọn bên trong tạo thành lỗ hổng, bị ngập đầy máu ứ, đành phải bôi miệng của vết thương bằng loại thuốc sần sùi, xót xa, nhức nhối, đau đớn. Sau khi làm chín muồi (vết thương) bằng cách thức làm cho chín muồi, rồi mổ vết thương đã được đạt đến trạng thái mềm mỏng bằng dao, sau đó đốt nóng bằng cái thanh dẹp, rồi cho chất kiềm và muối vào vết thương ở chỗ đã được đốt nóng, sau đó bôi thuốc để làm lành vết thương nhằm đạt đến trạng thái tốt lành cho người bị bệnh. Tâu đại vương, phải chăng người thầy thuốc phẫu thuật ấy có tâm không tốt nên mới bôi thuốc, mổ ra bằng dao, đốt nóng với cái thanh dẹp, rồi cho chất sát trùng vào vết thương?”
“Thưa ngài, không đúng. Người thầy thuốc có tâm tốt, có lòng mong mỏi điều tốt lành, nên mới làm những hành động ấy.”
“Vậy thì các cảm thọ khổ đau nào đã sanh lên do hành động việc làm và thuốc men đối với người ấy, do nhân ấy người thầy thuốc phẫu thuật ấy có tạo ra điều vô phước nào không?”
“Thưa ngài, người thầy thuốc phẫu thuật có tâm tốt, có lòng mong mỏi điều tốt lành, nên mới làm những hành động ấy. Làm sao người ấy, do nhân ấy, lại có thể tạo ra điều vô phước? Thưa ngài, người thầy thuốc phẫu thuật ấy là người sanh về cõi trời.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn vì lòng bi mẫn đã cho Devadatta xuất gia nhằm thoát khỏi khổ đau. Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy đức Thế Tôn đã cho Devadatta xuất gia. Tâu đại vương, giống như một người nam bị đâm bởi cây gai, rồi một người nam khác có tâm tốt, có lòng mong mỏi điều tốt lành, mới cắt xung quanh (vết thương) bằng cây gai nhọn hoặc bằng mũi dao, rồi lấy cây gai ấy ra nhờ vào lượng máu đang bị phun ra, tâu đại vương, phải chăng người nam ấy có tâm không tốt nên mới lấy cây gai ấy ra?”
“Thưa ngài, không đúng. Người nam ấy có tâm tốt, có lòng mong mỏi điều tốt lành, nên mới lấy cây gai ấy ra. Thưa ngài, nếu người nam ấy không lấy cây gai ấy ra, do điều ấy người kia có thể gánh chịu sự chết hoặc khổ đau gần như chết.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai vì lòng bi mẫn đã cho Devadatta xuất gia nhằm thoát khỏi sự khổ đau. Tâu đại vương, nếu đức Thế Tôn không cho Devadatta xuất gia, thì Devadatta có thể bị nung nấu ở địa ngục liên tiếp nhiều đời sống thậm chí trong trăm ngàn koṭi kiếp.”
“Thưa ngài Nāgasena, đức Như Lai đã đưa Devadatta, kẻ có sự bị cuốn trôi theo dòng nước, vào Đạo Lộ; đã ban cho Devadatta, kẻ đã bị rơi vào vực thẳm, chỗ đứng; đã đưa Devadatta, kẻ bước đi ở chỗ gập ghềnh, đến nơi bằng phẳng. Thưa ngài Nāgasena, không thể nhìn nhận những nhân tố này và những lý do này bởi người nào khác ngoại trừ bậc có sự giác ngộ như là ngài vậy.”
Câu hỏi về sự xuất gia của Devadatta là thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. ‘‘Bhante nāgasena, devadatto kena pabbājito’’ti? ‘‘Cha yime, mahārāja, khattiyakumārā bhaddiyo ca anuruddho ca ānando ca bhagu ca kimilo † ca devadatto ca upālikappako sattamo abhisambuddhe satthari sakyakulānandajanane bhagavantaṃ anupabbajantā nikkhamiṃsu, te bhagavā pabbājesī’’ti. ‘‘Nanu, bhante, devadattena pabbajitvā saṅgho bhinno’’ti? ‘‘Āma, mahārāja, devadattena pabbajitvā saṅgho bhinno, na gihī saṅghaṃ bhindati, na bhikkhunī, na sikkhamānā, na sāmaṇero, na sāmaṇerī saṅghaṃ bhindati, bhikkhu pakatatto samānasaṃvāsako samānasīmāyaṃ ṭhito saṅghaṃ bhindatīti. Saṅghabhedako, bhante, puggalo kiṃ kammaṃ phusatī’’ti? ‘‘Kappaṭṭhitikaṃ, mahārāja, kammaṃ phusatī’’ti.
3. “Venerable Nāgasena, by whom was Devadatta ordained?” “Great king, these six Khattiya princes—Bhaddiya, Anuruddha, Ānanda, Bhagu, Kimila, and Devadatta—with Upāli the barber as the seventh, went forth from home following the Blessed One, the fully enlightened Teacher, the bringer of joy to the Sakyan clan. The Blessed One ordained them.” “But, venerable sir, did not Devadatta, after being ordained, cause a schism in the Sangha?” “Yes, great king, Devadatta, after being ordained, caused a schism in the Sangha. It is not a layperson who causes a schism in the Sangha, nor a bhikkhunī, nor a female probationer, nor a male novice, nor a female novice. It is a regular bhikkhu, living in communion and established within the same boundary, who causes a schism in the Sangha.” “Venerable sir, what kamma does a person who causes a schism in the Sangha experience?” “Great king, he experiences kamma that lasts for an eon.”
3. “Bạch Đại đức Nāgasena, Devadatta được ai cho xuất gia?” “Tâu Đại vương, sáu vị vương tử dòng Sát-đế-lỵ này là Bhaddiya, Anuruddha, Ānanda, Bhagu, Kimila, và Devadatta, cùng với người thợ cạo Upāli là người thứ bảy, khi đức Đạo Sư đã chứng ngộ hoàn toàn, làm phát sinh niềm vui cho dòng họ Thích-ca, họ đã ra đi để xuất gia theo đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã cho họ xuất gia.” “Bạch Đại đức, chẳng phải Devadatta sau khi xuất gia đã làm chia rẽ Tăng chúng sao?” “Thưa vâng, tâu Đại vương, Devadatta sau khi xuất gia đã làm chia rẽ Tăng chúng. Người tại gia không thể làm chia rẽ Tăng chúng, tỳ-khưu-ni không thể, học nữ không thể, sa-di không thể, sa-di-ni không thể làm chia rẽ Tăng chúng. Chỉ có tỳ-khưu, là người có tư cách bình thường, sống chung, và ở trong cùng một giới trường mới có thể làm chia rẽ Tăng chúng.” “Bạch Đại đức, người phá hòa hợp Tăng phải chịu nghiệp gì?” “Tâu Đại vương, người ấy phải chịu nghiệp kéo dài một kiếp trái đất.”
‘‘Kiṃ pana, bhante nāgasena, buddho jānāti ‘devadatto pabbajitvā saṅghaṃ bhindissati, saṅghaṃ bhinditvā kappaṃ niraye paccissatī’’’ti? ‘‘Āma, mahārāja, tathāgato jānāti ‘devadatto pabbajitvā saṅghaṃ bhindissati, saṅghaṃ bhinditvā kappaṃ niraye paccissatī’’’ti. ‘‘Yadi, bhante nāgasena, buddho jānāti ‘devadatto pabbajitvā saṅghaṃ bhindissati, saṅghaṃ bhinditvā kappaṃ niraye paccissatī’ti, tena hi, bhante nāgasena, buddho kāruṇiko anukampako hitesī sabbasattānaṃ ahitaṃ apanetvā hitamupadahatīti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi taṃ ajānitvā pabbājesi, tena hi buddho asabbaññūti, ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, vijaṭehi etaṃ mahājaṭaṃ, bhinda parāpavādaṃ, anāgate addhāne tayā sadisā buddhimanto bhikkhū dullabhā bhavissanti, ettha tava balaṃ pakāsehī’’ti.
“Venerable Nāgasena, but does the Buddha know: ‘Having gone forth, Devadatta will cause a schism in the Sangha, and having caused a schism in the Sangha, he will be tormented in hell for an eon’?” “Yes, great king, the Tathāgata knows: ‘Having gone forth, Devadatta will cause a schism in the Sangha, and having caused a schism in the Sangha, he will be tormented in hell for an eon.’” “If, Venerable Nāgasena, the Buddha knows this, then the statement that ‘the Buddha is compassionate, sympathetic, a well-wisher of all beings, who removes what is unbeneficial and provides what is beneficial’ is false. If he ordained him without knowing this, then the Buddha is not all-knowing. This two-pronged question has come to you. Untangle this great tangle, shatter the censure of others. In the future, bhikkhus as wise as you will be rare. Here, display your strength.”
“Bạch Đại đức Nāgasena, vậy đức Phật có biết rằng: ‘Devadatta sau khi xuất gia sẽ làm chia rẽ Tăng chúng, và sau khi làm chia rẽ Tăng chúng sẽ bị nấu trong địa ngục suốt một kiếp trái đất’ không?” “Thưa vâng, tâu Đại vương, đức Như Lai biết rằng: ‘Devadatta sau khi xuất gia sẽ làm chia rẽ Tăng chúng, và sau khi làm chia rẽ Tăng chúng sẽ bị nấu trong địa ngục suốt một kiếp trái đất.’” “Bạch Đại đức Nāgasena, nếu đức Phật biết rằng: ‘Devadatta sau khi xuất gia sẽ làm chia rẽ Tăng chúng, và sau khi làm chia rẽ Tăng chúng sẽ bị nấu trong địa ngục suốt một kiếp trái đất,’ thì như vậy, bạch Đại đức Nāgasena, lời nói rằng: ‘Đức Phật có lòng bi mẫn, có lòng thương xót, tìm cầu lợi ích, sau khi loại bỏ điều bất lợi, ngài mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh,’ lời nói ấy là sai lầm. Nếu ngài cho xuất gia mà không biết điều đó, thì như vậy đức Phật không phải là bậc Toàn tri. Vấn đề nan giải lưỡng nan này đã đến với ngài. Xin ngài hãy gỡ rối mớ bòng bong lớn này, hãy phá tan tà thuyết của người khác. Trong tương lai, các vị tỳ-khưu có trí tuệ như ngài sẽ trở nên hiếm có. Xin ngài hãy thể hiện năng lực của mình ở đây.”
‘‘Kāruṇiko, mahārāja, bhagavā sabbaññū ca, kāruññena, mahārāja, bhagavā sabbaññutañāṇena devadattassa gatiṃ olokento addasa devadattaṃ āpāyikaṃ kammaṃ † āyūhitvā anekāni kappakoṭisatasahassāni nirayena nirayaṃ vinipātena vinipātaṃ gacchantaṃ, taṃ bhagavā sabbaññutañāṇena jānitvā imassa apariyantakataṃ kammaṃ mama sāsane pabbajitassa pariyantakataṃ bhavissati, purimaṃ upādāya pariyantakataṃ dukkhaṃ bhavissati, apabbajitopi ayaṃ moghapuriso kappaṭṭhiyameva kammaṃ āyūhissatīti kāruññena devadattaṃ pabbājesī’’ti.
“Great king, the Blessed One is compassionate and all-knowing. Out of compassion, great king, the Blessed One, with his knowledge of omniscience, surveyed Devadatta’s future course and saw him, having accumulated kamma that leads to the plane of misery, wandering from hell to hell, from one state of downfall to another, for many hundreds of thousands of crores of eons. Knowing this through his knowledge of omniscience, the Blessed One considered: ‘This kamma of his, which would be without end, will become finite for one who has gone forth in my Dispensation. With reference to the former, his suffering will be made finite. Even if he does not go forth, this foolish man will still accumulate kamma that will last for an eon.’ Thus, out of compassion, the Blessed One ordained Devadatta.”
“Tâu Đại vương, đức Thế Tôn vừa có lòng bi mẫn, vừa là bậc Toàn tri. Tâu Đại vương, với lòng bi mẫn, đức Thế Tôn bằng Nhất thiết trí đã nhìn vào cảnh giới của Devadatta và thấy rằng Devadatta, sau khi tích lũy nghiệp đưa đến cõi khổ, sẽ đi từ địa ngục này đến địa ngục khác, từ cảnh đoạ xứ này đến cảnh đoạ xứ khác trong vô số trăm ngàn ức kiếp trái đất. Đức Thế Tôn, sau khi biết điều đó bằng Nhất thiết trí, đã suy xét rằng: ‘Nghiệp không có giới hạn này của y, khi y xuất gia trong giáo pháp của ta, sẽ trở thành có giới hạn. Nương vào nghiệp trước, nỗi khổ sẽ trở thành có giới hạn. Dù không xuất gia, kẻ ngu muội này cũng sẽ chỉ tích lũy nghiệp kéo dài một kiếp trái đất mà thôi.’ Vì lòng bi mẫn, ngài đã cho Devadatta xuất gia.”
‘‘Tena hi, bhante nāgasena, buddho vadhitvā telena makkheti, papāte pātetvā hatthaṃ deti, māretvā jīvitaṃ pariyesati, yaṃ so paṭhamaṃ dukkhaṃ datvā pacchā sukhaṃ upadahatī’’ti? ‘‘Vadhetipi, mahārāja, tathāgato sattānaṃ hitavasena, pātetipi sattānaṃ hitavasena, māretipi sattānaṃ hitavasena, vadhitvāpi, mahārāja, tathāgato sattānaṃ hitameva upadahati, pātetvāpi sattānaṃ hitameva upadahati, māretvāpi sattānaṃ hitameva upadahati. Yathā, mahārāja, mātāpitaro nāma vadhitvāpi pātayitvāpi puttānaṃ hitameva upadahanti, evameva kho, mahārāja, tathāgato vadhetipi sattānaṃ hitavasena, pātetipi sattānaṃ hitavasena, māretipi sattānaṃ hitavasena, vadhitvāpi, mahārāja, tathāgato sattānaṃ hitameva upadahati, pātetvāpi sattānaṃ hitameva upadahati, māretvāpi sattānaṃ hitameva upadahati, yena yena yogena sattānaṃ guṇavuḍḍhi hoti, tena tena yogena sabbasattānaṃ hitameva upadahati. Sace, mahārāja, devadatto na pabbājeyya, gihibhūto samāno nirayasaṃvattanikaṃ bahuṃ pāpakammaṃ katvā anekāni kappakoṭisatasahassāni nirayena nirayaṃ vinipātena vinipātaṃ gacchanto bahuṃ dukkhaṃ vedayissati, taṃ bhagavā jānamāno kāruññena devadattaṃ pabbājesi, ‘mama sāsane pabbajitassa dukkhaṃ pariyantakataṃ bhavissatī’ti kāruññena garukaṃ dukkhaṃ lahukaṃ akāsi.
“In that case, Venerable Nāgasena, is it that the Buddha strikes someone and then anoints him with oil, pushes someone into a precipice and then gives him a hand, kills someone and then seeks to give him life—that he first gives suffering and afterwards provides happiness?” “The Tathāgata strikes, great king, for the welfare of beings; he pushes them down for the welfare of beings; he kills them for the welfare of beings. Having struck them, great king, the Tathāgata provides only for the welfare of beings; having pushed them down, he provides only for their welfare; having killed them, he provides only for their welfare. Just as parents, great king, though they may strike or push down their children, provide only for their welfare, so too, great king, the Tathāgata strikes for the welfare of beings, pushes them down for the welfare of beings, and kills them for the welfare of beings. By whatever means there is a growth in virtue for beings, by that very means he provides for the welfare of all beings. If, great king, Devadatta had not gone forth, as a householder he would have done much evil kamma conducive to hell and would have experienced great suffering for many hundreds of thousands of crores of eons, going from hell to hell, from one state of downfall to another. Knowing this, the Blessed One out of compassion ordained Devadatta, thinking, ‘For one who has gone forth in my Dispensation, his suffering will be made finite.’ Out of compassion, he made his heavy suffering light.”
“Bạch Đại đức Nāgasena, nếu vậy thì đức Phật sau khi đánh đập lại xoa dầu, sau khi xô xuống vực lại đưa tay ra, sau khi giết chết lại tìm cách cứu sống. Do đó, vị ấy trước tiên ban cho sự đau khổ, sau đó mới mang lại sự an lạc phải không?” “Tâu Đại vương, đức Như Lai có khi đánh đập cũng là vì lợi ích của chúng sanh, có khi xô ngã cũng là vì lợi ích của chúng sanh, có khi giết chết cũng là vì lợi ích của chúng sanh. Tâu Đại vương, đức Như Lai sau khi đánh đập cũng chỉ mang lại lợi ích cho chúng sanh, sau khi xô ngã cũng chỉ mang lại lợi ích cho chúng sanh, sau khi giết chết cũng chỉ mang lại lợi ích cho chúng sanh. Tâu Đại vương, ví như cha mẹ sau khi đánh đập hay xô ngã con cái cũng chỉ mang lại lợi ích cho chúng. Cũng vậy, tâu Đại vương, đức Như Lai có khi đánh đập cũng là vì lợi ích của chúng sanh, có khi xô ngã cũng là vì lợi ích của chúng sanh, có khi giết chết cũng là vì lợi ích của chúng sanh. Tâu Đại vương, đức Như Lai sau khi đánh đập cũng chỉ mang lại lợi ích cho chúng sanh, sau khi xô ngã cũng chỉ mang lại lợi ích cho chúng sanh, sau khi giết chết cũng chỉ mang lại lợi ích cho chúng sanh. Bằng bất cứ phương tiện nào mà phẩm hạnh của chúng sanh được tăng trưởng, thì bằng phương tiện đó, Ngài chỉ mang lại lợi ích cho tất cả chúng sanh. Tâu Đại vương, nếu Devadatta không xuất gia, vẫn là người tại gia thì sau khi tạo nhiều ác nghiệp dẫn đến địa ngục, sẽ phải đi từ địa ngục này đến địa ngục khác, từ đọa xứ này đến đọa xứ khác trong vô số trăm ngàn ức kiếp, phải chịu nhiều đau khổ. Đức Thế Tôn biết rõ điều đó nên vì lòng bi mẫn đã cho Devadatta xuất gia. Ngài đã làm cho sự đau khổ nặng nề trở nên nhẹ nhàng hơn vì lòng bi mẫn, với ý nghĩ rằng: ‘Sự đau khổ của người đã xuất gia trong giáo pháp của ta sẽ có giới hạn.’”
‘‘Yathā vā, mahārāja, dhanayasasiriñātibalena balavā puriso attano ñātiṃ vā mittaṃ vā raññā garukaṃ daṇḍaṃ dhārentaṃ attano bahuvissatthabhāvena samatthatāya garukaṃ daṇḍaṃ lahukaṃ akāsi, evameva kho, mahārāja, bhagavā bahūni kappakoṭisatasahassāni dukkhaṃ vedayamānaṃ devadattaṃ pabbājetvā sīlasamādhipaññāvimuttibalasamatthabhāvena garukaṃ dukkhaṃ lahukaṃ akāsi.
“Just as, great king, a powerful man—powerful through wealth, fame, fortune, relatives, and strength—might, through his own great influence and capability, lighten a heavy punishment imposed by the king on his relative or friend, so too, great king, the Blessed One, having ordained Devadatta—who would otherwise have experienced suffering for many hundreds of thousands of crores of eons—lightened his heavy suffering through the power and capability of virtue, concentration, wisdom, and liberation.”
“Hoặc ví như, tâu Đại vương, một người có quyền thế nhờ vào sức mạnh của tài sản, danh vọng, uy tín, và thân tộc, đã làm cho hình phạt nặng nề mà nhà vua áp đặt lên người thân hoặc bạn bè của mình trở nên nhẹ nhàng hơn, nhờ vào sự thân tín và khả năng của mình. Cũng vậy, tâu Đại vương, đức Thế Tôn sau khi cho Devadatta, người sẽ phải chịu khổ trong nhiều trăm ngàn ức kiếp, được xuất gia, đã làm cho sự đau khổ nặng nề trở nên nhẹ nhàng hơn nhờ vào năng lực của giới, định, tuệ, và giải thoát.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, kusalo bhisakko sallakatto garukaṃ rogaṃ balavosadhabalena lahukaṃ karoti, evameva kho, mahārāja, bahūni kappakoṭisatasahassāni dukkhaṃ vedayamānaṃ devadattaṃ bhagavā rogaññutāya pabbājetvā kāruññabalo patthaddhadhammosadhabalena garukaṃ dukkhaṃ lahukaṃ akāsi. Api nu kho so, mahārāja, bhagavā bahuvedanīyaṃ devadattaṃ appavedanīyaṃ karonto kiñci apuññaṃ āpajjeyyā’’ti? ‘‘Na kiñci, bhante, apuññaṃ āpajjeyya antamaso gaddūhanamattampī’’ti. ‘‘Imampi kho, mahārāja, kāraṇaṃ atthato sampaṭiccha, yena kāraṇena bhagavā devadattaṃ pabbājesi.
“Or just as, great king, a skilled physician and surgeon makes a serious illness light by the power of strong medicine, so too, great king, the Blessed One—knowing the disease, powerful in compassion, having ordained Devadatta who would otherwise have experienced suffering for many hundreds of thousands of crores of eons—made his heavy suffering light with the power of the firm medicine of the Dhamma. In making Devadatta, who was due to experience much suffering, experience little suffering, would the Blessed One, great king, incur any demerit?” “He would incur no demerit, venerable sir, not even for the time it takes to milk a cow.” “Great king, accept this reason, too, for its true meaning, as the reason why the Blessed One ordained Devadatta.”
“Hoặc lại nữa, tâu Đại vương, ví như một vị lương y, một nhà phẫu thuật tài giỏi, làm cho căn bệnh trầm trọng trở nên nhẹ nhàng hơn bằng sức mạnh của thuốc hay. Cũng vậy, tâu Đại vương, đức Thế Tôn, do thấu biết bệnh khổ, đã cho Devadatta, người sẽ phải chịu khổ trong nhiều trăm ngàn ức kiếp, được xuất gia, và bằng sức mạnh của lòng bi mẫn cùng với sức mạnh của pháp dược được củng cố, đã làm cho sự đau khổ nặng nề trở nên nhẹ nhàng hơn. Vậy, tâu Đại vương, đức Thế Tôn khi làm cho Devadatta, người đáng lẽ phải chịu nhiều cảm thọ khổ, chỉ còn phải chịu ít cảm thọ khổ, có mắc phải điều bất thiện nào không?” “Bạch Đại đức, Ngài không mắc phải bất kỳ điều bất thiện nào, dù chỉ là một chút nhỏ nhất.” “Tâu Đại vương, xin hãy chấp nhận lý do này một cách đúng đắn, lý do vì sao đức Thế Tôn đã cho Devadatta xuất gia.”
‘‘Aparampi, mahārāja, uttariṃ kāraṇaṃ suṇohi, yena kāraṇena bhagavā devadattaṃ pabbājesi. Yathā, mahārāja, coraṃ āgucāriṃ gahetvā rañño dasseyyuṃ, ‘ayaṃ kho, deva, coro āgucārī, imassa yaṃ icchasi, taṃ daṇḍaṃ paṇehī’ti. Tamenaṃ rājā evaṃ vadeyya ‘tena hi, bhaṇe, imaṃ coraṃ bahinagaraṃ nīharitvā āghātane sīsaṃ chindathā’’ti, ‘evaṃ devā’ti kho te rañño paṭissutvā taṃ bahinagaraṃ nīharitvā āghātanaṃ nayeyyuṃ. Tamenaṃ passeyya kocideva puriso rañño santikā laddhavaro laddhayasadhanabhogo ādeyyavacano balavicchitakārī, so tassa kāruññaṃ katvā te purise evaṃ vadeyya ‘alaṃ, bho, kiṃ tumhākaṃ imassa sīsacchedanena, tena hi bho imassa hatthaṃ vā pādaṃ vā chinditvā jīvitaṃ rakkhatha, ahametassa kāraṇā rañño santike paṭivacanaṃ karissāmī’ti. Te tassa balavato vacanena tassa corassa hatthaṃ vā pādaṃ vā chinditvā jīvitaṃ rakkheyyuṃ. Api nu kho so, mahārāja, puriso evaṃ kārī tassa corassa kiccakārī assā’’ti? ‘‘Jīvitadāyako so, bhante, puriso tassa corassa, jīvite dinne kiṃ tassa akataṃ nāma atthī’’ti? ‘‘Yā pana hatthapādacchedane vedanā, so tāya vedanāya kiñci apuññaṃ āpajjeyyā’’ti? ‘‘Attano katena so, bhante, coro dukkhavedanaṃ vedayati, jīvitadāyako pana puriso na kiñci apuññaṃ āpajjeyyā’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, bhagavā kāruññena devadattaṃ pabbājesi ‘mama sāsane pabbajitassa dukkhaṃ pariyantakataṃ bhavissatī’ti. Pariyantakatañca, mahārāja, devadattassa dukkhaṃ, devadatto, mahārāja, maraṇakāle –
“Listen, great king, to a further reason why the Blessed One ordained Devadatta. Suppose, great king, they were to capture a thief, a wrongdoer, and show him to the king, saying, ‘Your Majesty, this is a thief, a wrongdoer. Impose on him whatever punishment you wish.’ The king might then say, ‘Well then, sirs, take this thief outside the city and cut off his head at the execution ground.’ Replying, ‘Yes, Your Majesty,’ they would take him outside the city and lead him to the execution ground. Then some man—who had received boons from the king, who had obtained fame, wealth, and enjoyment, whose word was acceptable, and who was powerful and could do as he wished—might see him. Taking pity on him, he might say to those men, ‘Enough, sirs! What benefit is there for you in cutting off this man’s head? Instead, sirs, cut off his hand or his foot and spare his life. I will answer to the king on his behalf.’ At the word of that powerful man, they would cut off the thief’s hand or foot and spare his life. Now, great king, would that man, by acting thus, be doing a service for that thief?” “That man, venerable sir, is a giver of life to that thief. When his life has been given, what has not been done for him?” “But as for the painful feeling from having his hand or foot cut off, would that man incur any demerit because of that feeling?” “Venerable sir, the thief experiences that painful feeling because of his own deeds; the giver of life would incur no demerit.” “In the same way, great king, the Blessed One ordained Devadatta out of compassion, thinking, ‘For one who has gone forth in my Dispensation, his suffering will be made finite.’ And Devadatta’s suffering was made finite, great king. At the time of his death, great king, Devadatta—”
“Tâu Đại vương, xin hãy lắng nghe một lý do khác, cao hơn nữa, về việc tại sao đức Thế Tôn đã cho Devadatta xuất gia. Ví như, tâu Đại vương, người ta bắt một tên trộm phạm tội, dẫn đến cho vua và tâu rằng: ‘Tâu đức vua, đây là tên trộm phạm tội, xin ngài hãy ra hình phạt tùy ý.’ Vị vua ấy có thể nói rằng: ‘Này các khanh, hãy đem tên trộm này ra ngoài thành và chặt đầu nó tại nơi hành quyết.’ ‘Vâng, tâu đức vua,’ những người lính ấy vâng lệnh vua, đem tên trộm ra ngoài thành và dẫn đến nơi hành quyết. Có một người nào đó, được vua ban ân huệ, có danh vọng, tài sản, lời nói có trọng lượng, và có quyền lực làm theo ý muốn, nhìn thấy tên trộm ấy. Người ấy vì lòng thương xót, nói với những người lính kia rằng: ‘Này các ông, các ông được lợi ích gì khi chặt đầu người này? Thôi nào, các ông hãy chặt tay hoặc chân của người này và cứu lấy mạng sống của y. Ta sẽ chịu trách nhiệm trước nhà vua về việc này.’ Những người lính ấy, nghe lời của người có quyền thế, đã chặt tay hoặc chân của tên trộm và cứu mạng y. Vậy, tâu Đại vương, người làm như vậy có phải là đã làm điều hữu ích cho tên trộm không?” “Bạch Đại đức, người ấy là người ban sự sống cho tên trộm. Khi đã được ban cho sự sống, còn có điều gì mà người ấy chưa làm cho y nữa?” “Còn về cảm thọ đau đớn khi bị chặt tay chân, người ấy có mắc phải điều bất thiện nào vì cảm thọ đó không?” “Bạch Đại đức, tên trộm ấy phải chịu cảm thọ đau khổ là do hành vi của chính mình. Còn người ban sự sống thì không mắc phải điều bất thiện nào cả.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, đức Thế Tôn vì lòng bi mẫn đã cho Devadatta xuất gia với ý nghĩ rằng: ‘Sự đau khổ của người đã xuất gia trong giáo pháp của ta sẽ có giới hạn.’ Và tâu Đại vương, sự đau khổ của Devadatta đã được giới hạn. Tâu Đại vương, vào lúc lâm chung, Devadatta đã –”
‘‘‘Imehi aṭṭhīhi tamaggapuggalaṃ, devātidevaṃ naradammasārathiṃ;
Samantacakkhuṃ satapuññalakkhaṇaṃ, pāṇehi buddhaṃ saraṇaṃ upemī’ti.
“‘With these bones I go for refuge to that supreme person, the god beyond gods, the guide of trainable men, the one with all-seeing eyes, adorned with a hundred marks of merit—with my life-breaths I go for refuge to the Buddha.’”
“‘Con xin đem những xương này và mạng sống này mà quy y đức Phật, là bậc Tối Thắng, là bậc Thiên-nhơn-sư, là bậc Điều Ngự Trượng Phu, là bậc Toàn Giác, là đấng có trăm tướng phước.’”
‘‘Pāṇupetaṃ saraṇamagamāsi. Devadatto, mahārāja, cha koṭṭhāse kate kappe atikkante paṭhamakoṭṭhāse saṅghaṃ bhindi, pañca koṭṭhāse niraye paccitvā tato muccitvā aṭṭhissaro nāma paccekabuddho bhavissati. Api nu kho so, mahārāja, bhagavā evaṃ kārī devadattassa kiccakārī assā’’ti? ‘‘Sabbadado, bhante nāgasena, tathāgato devadattassa, yaṃ tathāgato devadattaṃ paccekabodhiṃ pāpessati, kiṃ tathāgatena devadattassa akataṃ nāma atthī’’ti? ‘‘Yaṃ pana, mahārāja, devadatto saṅghaṃ bhinditvā niraye dukkhavedanaṃ vedayati, api nu kho bhagavā tatonidānaṃ kiñci apuññaṃ āpajjeyyā’’ti? ‘‘Na hi, bhante, attanā katena, bhante, devadatto kappaṃ niraye paccati, dukkhapariyantakārako satthā na kiñci apuññaṃ āpajjatī’’ti. ‘‘Imampi kho, tvaṃ mahārāja, kāraṇaṃ atthato sampaṭiccha, yena kāraṇena bhagavā devadattaṃ pabbājesi.
“He went for refuge for as long as life lasts. Devadatta, great king, broke the Sangha when the first of an aeon's six parts had passed. He will be tormented in hell for five parts, and after being freed from there, he will become a Paccekabuddha named Aṭṭhissara. Now, great king, would the Blessed One, by acting thus, be doing a service for Devadatta?” “The Tathāgata, venerable Nāgasena, is the giver of all to Devadatta. Since the Tathāgata will lead Devadatta to the enlightenment of a Paccekabuddha, what is there that the Tathāgata has not done for Devadatta?” “But, great king, as Devadatta, having split the Sangha, experiences painful feeling in hell, would the Blessed One incur any demerit on that account?” “No, venerable sir. Devadatta, venerable sir, is tormented in hell for an aeon due to his own actions. The Teacher, who brings suffering to an end, incurs no demerit whatsoever.” “Therefore, great king, you must accept this reason as it truly is—the reason why the Blessed One ordained Devadatta.”
“Đã quy y cho đến trọn đời. Tâu Đại vương, Đề-bà-đạt-đa, sau khi một kiếp được chia làm sáu phần và phần đầu tiên đã trôi qua, đã phá hòa hợp Tăng, sau khi bị nấu trong địa ngục trong năm phần, thoát khỏi đó, sẽ trở thành một vị Phật Độc Giác tên là Aṭṭhissara. Tâu Đại vương, phải chăng Đức Thế Tôn, người đã làm như vậy, là người làm việc lợi ích cho Đề-bà-đạt-đa?” “Bạch Đại đức Nāgasena, Đức Như Lai là người ban cho tất cả đối với Đề-bà-đạt-đa, vì rằng Đức Như Lai sẽ đưa Đề-bà-đạt-đa đến quả vị Độc Giác Bồ-đề, có việc gì mà Đức Như Lai đã không làm cho Đề-bà-đạt-đa chăng?” “Nhưng tâu Đại vương, việc Đề-bà-đạt-đa, sau khi phá hòa hợp Tăng, phải chịu khổ thọ trong địa ngục, phải chăng Đức Thế Tôn vì nguyên nhân đó mà gặp phải bất kỳ điều bất thiện nào?” “Thưa không, bạch Đại đức. Bạch Đại đức, do hành động của chính mình, Đề-bà-đạt-đa bị nấu trong địa ngục suốt một kiếp; bậc Đạo Sư, người chấm dứt khổ đau, không gặp phải bất kỳ điều bất thiện nào.” “Tâu Đại vương, Ngài hãy chấp nhận lý do này một cách đúng đắn, lý do mà Đức Thế Tôn đã cho Đề-bà-đạt-đa xuất gia.”
‘‘Aparampi, mahārāja, uttariṃ kāraṇaṃ suṇohi, yena kāraṇena bhagavā devadattaṃ pabbājesi. Yathā, mahārāja, kusalo bhisakko sallakatto vātapittasemhasannipātautupariṇāmavisamaparihāraopakkamikopakkantaṃ pūtikuṇapaduggandhābhisañchannaṃ antosallaṃ susiragataṃ pubbaruhirasampuṇṇaṃ vaṇaṃ vūpasamento vaṇamukhaṃ kakkhaḷatikhiṇakhārakaṭukena bhesajjena anulimpati paripaccanāya, paripaccitvā mudubhāvamupagataṃ satthena vikantayitvā ḍahati salākāya, daḍḍhe khāralavaṇaṃ deti, bhesajjena anulimpati vaṇaruhanāya byādhitassa sotthibhāvamanuppattiyā, api nu kho so, mahārāja, bhisakko sallakatto ahitacitto bhesajjena anulimpati, satthena vikanteti, ḍahati salākāya, khāralavaṇaṃ detī’’ti? ‘‘Na hi, bhante, hitacitto sotthikāmo tāni kiriyāni karotī’’ti. ‘‘Yā panassa bhesajjakiriyākaraṇena uppannā dukkhavedanā, tatonidānaṃ so bhisakko sallakatto kiñci apuññaṃ āpajjeyyā’’ti? ‘‘Hitacitto, bhante, sotthikāmo bhisakko sallakatto tāni kiriyāni karoti, kiṃ so tatonidānaṃ apuññaṃ āpajjeyya, saggagāmī so, bhante, bhisakko sallakatto’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, kāruññena bhagavā devadattaṃ pabbājesi dukkhaparimuttiyā.
“Furthermore, great king, listen to another reason why the Blessed One ordained Devadatta. Just as, great king, a skilled physician and surgeon, seeking to heal a wound—one afflicted by a combination of wind, bile, and phlegm, by seasonal changes, by improper diet, or by external causes; a festering wound covered with putrid decay and a foul smell, with a foreign object inside, full of cavities, and filled with pus and blood—would anoint the mouth of the wound with a harsh, sharp, caustic, and pungent medicine to bring it to a head. Once it has come to a head and softened, he would cut it open with a scalpel and cauterize it with a probe. After cauterizing it, he would apply an alkaline salt and anoint it with medicine to promote the healing of the wound and for the patient’s well-being. Now, great king, would that physician and surgeon, with a mind of ill will, anoint with medicine, cut with a scalpel, cauterize with a probe, and apply an alkaline salt?” “No, venerable sir. With a mind of goodwill, desiring the patient’s welfare, he performs those actions.” “And as for the painful sensation that arises from the application of the medical treatment, would that physician and surgeon incur any demerit on that account?” “Venerable sir, with a mind of goodwill, desiring the patient’s welfare, the physician and surgeon performs those actions. Why would he incur any demerit on that account? That physician and surgeon, venerable sir, is bound for heaven.” “In the same way, great king, out of compassion, the Blessed One ordained Devadatta for the sake of his release from suffering.”
“Tâu Đại vương, xin Ngài hãy lắng nghe thêm một lý do khác nữa, cao hơn nữa, lý do mà Đức Thế Tôn đã cho Đề-bà-đạt-đa xuất gia. Tâu Đại vương, ví như một y sĩ giỏi, một nhà phẫu thuật tài ba, để chữa lành một vết thương bị ảnh hưởng bởi sự rối loạn của gió, mật, đàm, sự kết hợp của chúng, sự biến đổi của thời tiết, sự tiêu hóa không đều, sự chăm sóc không đúng cách, và các cuộc tấn công từ bên ngoài, vết thương ấy bị bao phủ bởi mùi hôi thối, mủ và mùi khó chịu, có gai nhọn bên trong, có lỗ hổng, chứa đầy mủ và máu, vị y sĩ ấy bôi thuốc đắng, cay, chát, mạnh và sắc lên miệng vết thương để làm cho nó chín; sau khi nó đã chín và trở nên mềm, ông ta rạch nó bằng dao, đốt nó bằng que thăm, và sau khi đốt, ông ta cho muối và chất kiềm vào; ông ta bôi thuốc để chữa lành vết thương, để mang lại sự an lành cho người bệnh. Tâu Đại vương, phải chăng vị y sĩ, nhà phẫu thuật ấy bôi thuốc, rạch bằng dao, đốt bằng que thăm, cho muối và chất kiềm vào với tâm ác ý?” “Thưa không, bạch Đại đức, ông ta làm những việc ấy với tâm thiện ý, mong muốn sự an lành.” “Nhưng do nỗi khổ thọ phát sinh từ việc chữa trị bằng thuốc men ấy, phải chăng vị y sĩ, nhà phẫu thuật ấy vì nguyên nhân đó mà gặp phải bất kỳ điều bất thiện nào?” “Bạch Đại đức, vị y sĩ, nhà phẫu thuật ấy làm những việc ấy với tâm thiện ý, mong muốn sự an lành, cớ sao ông ta lại gặp phải điều bất thiện vì nguyên nhân đó? Bạch Đại đức, vị y sĩ, nhà phẫu thuật ấy sẽ được sanh về cõi trời.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, do lòng bi mẫn, Đức Thế Tôn đã cho Đề-bà-đạt-đa xuất gia để giải thoát khỏi khổ đau.”
‘‘Aparampi, mahārāja, uttariṃ kāraṇaṃ suṇohi, yena kāraṇena bhagavā devadattaṃ pabbājesi. Yathā, mahārāja, puriso kaṇṭakena viddho assa, athaññataro puriso tassa hitakāmo sotthikāmo tiṇhena kaṇṭakenavā satthamukhena vā samantato chinditvā paggharantena lohitena taṃ kaṇṭakaṃ nīhareyya, api nu kho so, mahārāja, puriso ahitakāmo taṃ kaṇṭakaṃ nīharatī’’ti? ‘‘Na hi, bhante, hitakāmo so, bhante, puriso sotthikāmo taṃ kaṇṭakaṃ nīharati. Sace so, bhante, taṃ kaṇṭakaṃ na nīhareyya, maraṇaṃ vā so tena pāpuṇeyya maraṇamattaṃ vā dukkha’’nti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, tathāgato kāruññena devadattaṃ pabbājesi dukkhaparimuttiyā. Sace mahārāja, bhagavā devadattaṃ na pabbājeyya, kappakoṭisatasahassampi devadatto bhavaparamparāya niraye pacceyyā’’ti.
“Furthermore, great king, listen to another reason why the Blessed One ordained Devadatta. Suppose, great king, a man were pierced by a thorn. Then another man, wishing for his welfare and well-being, might take a sharp thorn or the tip of a knife and, cutting all around, remove that thorn along with the flowing blood. Now, great king, would that man, with a mind of ill will, remove that thorn?” “No, venerable sir. That man, venerable sir, wishing for his welfare and well-being, removes that thorn. If, venerable sir, he did not remove that thorn, that man might die from it or suffer pain equivalent to death.” “In the same way, great king, the Tathāgata ordained Devadatta out of compassion, for the sake of his release from suffering. If, great king, the Blessed One had not ordained Devadatta, Devadatta would have been tormented in hell for even a hundred thousand crores of aeons through his succession of existences.”
“Tâu Đại vương, xin Ngài hãy lắng nghe thêm một lý do khác nữa, cao hơn nữa, lý do mà Đức Thế Tôn đã cho Đề-bà-đạt-đa xuất gia. Tâu Đại vương, ví như một người bị gai đâm, rồi một người khác, mong muốn lợi ích, mong muốn sự an lành cho người ấy, dùng một cái gai sắc hoặc mũi dao rạch xung quanh và lấy cái gai đó ra cùng với máu đang chảy. Tâu Đại vương, phải chăng người ấy lấy cái gai ra với tâm ác ý?” “Thưa không, bạch Đại đức. Bạch Đại đức, người ấy lấy cái gai ra với tâm thiện ý, mong muốn sự an lành. Bạch Đại đức, nếu người ấy không lấy cái gai đó ra, người kia có thể chết hoặc chịu đựng nỗi khổ tương đương với cái chết.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, Đức Như Lai do lòng bi mẫn đã cho Đề-bà-đạt-đa xuất gia để giải thoát khỏi khổ đau. Tâu Đại vương, nếu Đức Thế Tôn đã không cho Đề-bà-đạt-đa xuất gia, Đề-bà-đạt-đa đã có thể bị nấu trong địa ngục qua nhiều vòng sanh tử trong một trăm ngàn ức kiếp.”
‘‘Anusotagāmiṃ, bhante nāgasena, devadattaṃ tathāgato paṭisotaṃ pāpesi, vipanthapaṭipannaṃ devadattaṃ panthe paṭipādesi, papāte patitassa devadattassa patiṭṭhaṃ adāsi, visamagataṃ devadattaṃ tathāgato samaṃ āropesi, ime ca, bhante nāgasena, hetū imāni ca kāraṇāni na sakkā aññena sandassetuṃ aññatra tavādisena buddhimatā’’ti.
“Venerable Nāgasena, the Tathāgata led Devadatta, who was going with the stream, against the stream. He set Devadatta, who had gone onto the wrong path, back on the path. He gave a firm footing to Devadatta, who had fallen into a precipice. The Tathāgata placed Devadatta, who had gone to an uneven place, on level ground. And these causes, venerable Nāgasena, and these reasons cannot be demonstrated by another, except by a wise man such as yourself.”
“Bạch Đại đức Nāgasena, Đức Như Lai đã đưa Đề-bà-đạt-đa, người đang đi xuôi dòng, đi ngược dòng; đã đưa Đề-bà-đạt-đa, người đang đi sai đường, vào đúng đường; đã ban cho một chỗ đứng cho Đề-bà-đạt-đa, người đã rơi xuống vực thẳm; Đức Như Lai đã làm cho con đường trở nên bằng phẳng cho Đề-bà-đạt-đa, người đang đi trên con đường không bằng phẳng. Bạch Đại đức Nāgasena, những nguyên nhân này và những lý do này không thể được giải thích bởi một người nào khác, ngoại trừ một người có trí tuệ như Ngài.”
Devadattapabbajjapañho tatiyo.
The Third Question on the Ordination of Devadatta.
Câu hỏi thứ ba về việc xuất gia của Đề-bà-đạt-đa.