Bản dịch
MIL 5.1.2 — CÂU HỎI VỀ BẢN THỂ TOÀN TRI CỦA ĐỨC THẾ TÔN
2 Sabbaññubhāvapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, có phải đức Phật là đấng Toàn Tri?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Đức Thế Tôn là đấng Toàn Tri. Tuy nhiên đối với đức Thế Tôn, sự biết và thấy không hiện diện một cách thường xuyên, liên tục. Trí Toàn Tri của đức Thế Tôn gắn liền vào sự hướng tâm. Sau khi hướng tâm thì Ngài biết theo như ý muốn.”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì đức Phật là không Toàn Tri, nếu Trí Toàn Tri của Ngài là do sự suy tầm.”
“Tâu đại vương, có một trăm xe lúa, mỗi xe là bảy tạ rưỡi và hai giạ lúa. Chừng ấy trăm ngàn hạt lúa có thể được xác định, có thể đạt đến kết quả cuối cùng bởi tâm được vận hành trong khoảng thời gian một khảy móng tay. Ở đây, có bảy loại tâm này vận hành: Tâu đại vương, những người nào còn luyến ái, còn sân hận, còn si mê, còn phiền não, có thân chưa được tu tập, có giới chưa được tu tập, có tâm chưa được tu tập, có tuệ chưa được tu tập, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp. Vì lý do gì? Vì tính chất chưa được tu tập của tâm.
Tâu đại vương, giống như đối với cành tre được tỏa ra, rậm rạp, lan rộng, bị kết chùm chưa được gỡ ra, bị rối rắm với những cụm cành lá, trong khi được lôi kéo thì sự chuyển động là trì trệ, chậm chạp. Vì lý do gì? Vì tính chất kết chùm chưa được gỡ ra của các cành. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào còn luyến ái, còn sân hận, còn si mê, còn phiền não, có thân chưa được tu tập, có giới chưa được tu tập, có tâm chưa được tu tập, có tuệ chưa được tu tập, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp. Vì lý do gì? Vì tính chất kết chùm chưa được gỡ ra bởi các phiền não. Đây là loại tâm thứ nhất.
BJT 2Ở đây, có loại tâm thứ nhì này đạt được sự xếp loại. Tâu đại vương, những người nào là bậc Nhập Lưu, có các cõi khổ đã được đóng lại, đã đạt được Chánh Kiến, đã nhận thức được Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng ở ba trường hợp, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở các cảnh giới bậc trên. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch của tâm ở ba trường hợp, vì tính chất chưa được dứt bỏ của các phiền não bậc trên.
Tâu đại vương, giống như đối với cành tre đã được tỉa sạch các mắt ở ba lóng, còn bị rối rắm bởi những cụm cành lá ở phía trên, trong khi được lôi kéo thì di chuyển một cách nhẹ nhàng chỉ đến ba lóng, từ đó trở lên thì bị dính cứng. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được tỉa sạch ở phần dưới, vì tính chất rối rắm bởi những cụm cành lá ở phía trên.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là bậc Nhập Lưu, có các cõi khổ đã được đóng lại, đã đạt được Chánh Kiến, đã nhận thức được Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng ở ba trường hợp, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở các cảnh giới bậc trên. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch ở ba trường hợp, vì tính chất chưa được dứt bỏ của các phiền não bậc trên. Đây là loại tâm thứ nhì.
BJT 3Ở đây, có loại tâm thứ ba này đạt được sự xếp loại. Tâu đại vương, những người nào là bậc Nhất Lai, có sự luyến ái, sân hận, si mê ở trạng thái giảm thiểu, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở năm trường hợp, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở các cảnh giới bậc trên. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch của tâm ở năm trường hợp, vì tính chất chưa được dứt bỏ của các phiền não bậc trên. Tâu đại vương, giống như đối với cành tre đã được tỉa sạch các mắt ở năm lóng, còn bị rối rắm bởi những cụm cành lá ở phía trên, trong khi được lôi kéo thì di chuyển một cách nhẹ nhàng chỉ đến năm lóng, từ đó trở lên thì bị dính cứng. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được tỉa sạch ở phần dưới, vì tính chất rối rắm bởi những cụm cành lá ở phía trên. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là bậc Nhất Lai, có sự luyến ái, sân hận, si mê ở trạng thái giảm thiểu, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở năm trường hợp, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở các cảnh giới bậc trên. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch của tâm ở năm trường hợp. Đây là loại tâm thứ ba.
BJT 4Ở đây, có loại tâm thứ tư này đạt được sự xếp loại. Tâu đại vương, những người nào là bậc Bất Lai, có năm sự ràng buộc ở phần dưới đã được dứt bỏ, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở mười trường hợp, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở các cảnh giới bậc trên. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch của tâm ở mười trường hợp, vì tính chất chưa được dứt bỏ của các phiền não bậc trên. Tâu đại vương, giống như đối với cành tre đã được tỉa sạch các mắt ở mười lóng, còn bị rối rắm bởi những cụm cành lá ở phía trên, trong khi được lôi kéo thì di chuyển một cách nhẹ nhàng chỉ đến mười lóng, từ đó trở lên thì bị dính cứng. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được tỉa sạch ở phần dưới, vì tính chất rối rắm bởi những cụm cành lá ở phía trên. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là bậc Bất Lai, có năm sự ràng buộc ở phần dưới đã được dứt bỏ, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở mười trường hợp, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở các cảnh giới bậc trên. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch của tâm ở mười trường hợp, vì tính chất chưa được dứt bỏ của các phiền não bậc trên. Đây là loại tâm thứ tư.
BJT 5Ở đây, có loại tâm thứ năm này đạt được sự xếp loại. Tâu đại vương, những người nào là bậc A-la-hán, có các lậu hoặc đã được cạn kiệt, có các bợn nhơ đã được rửa sạch, có các phiền não đã được ói ra, đã được hoàn mãn, có các việc cần làm đã làm, có các gánh nặng đã được đặt xuống, có mục đích của mình đã được đạt đến, có các sự trói buộc ở hữu đã được đoạn tận, có các tuệ phân tích đã đạt, đã được trong sạch ở các cảnh giới của vị Thinh Văn, tâm của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở phạm vi của vị Thinh Văn, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở cảnh giới của vị Phật Độc Giác. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch ở phạm vi của vị Thinh Văn, vì tính chất chưa được trong sạch của tâm ở phạm vi của vị Phật Độc Giác. Tâu đại vương, giống như đối với cành tre đã được tỉa sạch các mắt ở tất cả các lóng, trong khi được lôi kéo thì di chuyển một cách nhẹ nhàng, không bị dính cứng. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được tỉa sạch ở tất cả các lóng, vì tính chất không còn bám víu của thân cây tre. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là bậc A-la-hán, có các lậu hoặc đã được cạn kiệt, có các bợn nhơ đã được rửa sạch, có các phiền não đã được ói ra, đã được hoàn mãn, có các việc cần làm đã làm, có các gánh nặng đã được đặt xuống, có mục đích của bản thân đã được đạt đến, có các sự trói buộc ở hữu đã được đoạn tận, có các tuệ phân tích đã đạt, đã được trong sạch ở các cảnh giới của vị Thinh Văn, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở phạm vi của vị Thinh Văn, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở cảnh giới của vị Phật Độc Giác. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch ở phạm vi của vị Thinh Văn, vì tính chất chưa được trong sạch của tâm ở phạm vi của vị Phật Độc Giác. Đây là loại tâm thứ năm.
BJT 6Ở đây, có loại tâm thứ sáu này đạt được sự xếp loại. Tâu đại vương, những người nào là Phật Độc Giác, bậc tự chủ, không thầy, độc hành tợ như sừng tê giác, có tâm đã được trong sạch không còn bợn nhơ ở phạm vi của mình, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở phạm vi của mình, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở cảnh giới của vị Phật Toàn Tri. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch ở phạm vi của mình, vì tính chất vĩ đại ở phạm vi của vị Phật Toàn Tri.
Tâu đại vương, giống như người nam có thể băng qua con sông nhỏ thuộc phạm vi của mình vào ban đêm lẫn ban ngày, theo như ước muốn, không bị hãi sợ, nhưng sau đó khi nhìn thấy đại dương sâu thẳm, mênh mông, không thể ước lượng, không có bờ bên kia, có thể hãi sợ, có thể ngần ngại, không dám vượt qua. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được quen thuộc ở phạm vi của mình, vì tính chất vĩ đại của đại dương. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là Phật Độc Giác, bậc tự chủ, không thầy, độc hành tợ như sừng tê giác, có tâm đã được trong sạch không còn bợn nhơ ở phạm vi của mình, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở phạm vi của mình, sanh lên một cách trì trệ, vận hành một cách chậm chạp ở cảnh giới của vị Phật Toàn Tri. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch ở phạm vi của mình, vì tính chất vĩ đại ở phạm vi của vị Phật Toàn Tri. Đây là loại tâm thứ sáu.
BJT 7Ở đây, có loại tâm thứ bảy này đạt được sự xếp loại. Tâu đại vương, những người nào là Phật Chánh Đẳng Giác, đấng Toàn Tri, bậc nắm giữ mười Lực, có sự tự tin ở bốn pháp tự tin, hội đủ mười tám pháp của vị Phật, là đấng Chiến Thắng vô biên, có trí không bị che lấp, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở mọi nơi. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch ở mọi nơi. Tâu đại vương, phải chăng có sự vụng về hoặc sự vướng víu của mũi tên khéo được làm sạch sẽ, không bợn nhơ, không có mắc mứu, có thân mềm mại, không bị uốn, không bị cong, không bị quẹo, được đặt lên cây cung vững chãi, được bắn ra bởi người có sức mạnh vào tấm vải gai mềm, lớp gòn mềm, tấm len mềm?”
“Thưa ngài, không có.”
“Vì lý do gì?”
“Vì tính chất mềm mại của những tấm vải, vì tính chất được làm sạch sẽ của mũi tên, và tính chất mạnh mẽ của phát bắn ra.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là Phật Chánh Đẳng Giác, đấng Toàn Tri, bậc nắm giữ mười Lực, có sự tự tin ở bốn pháp tự tin, hội đủ mười tám pháp của vị Phật, là đấng Chiến Thắng vô biên, có trí không bị che lấp, tâm ấy của những người ấy sanh lên một cách nhẹ nhàng, vận hành một cách nhẹ nhàng ở mọi nơi. Vì lý do gì? Vì tính chất đã được trong sạch ở mọi nơi. Đây là loại tâm thứ bảy.
BJT 8Tâu đại vương, ở đây tâm này của chư Phật Toàn Tri vượt trội sự tính đếm của luôn cả sáu loại tâm, được trong sạch và nhẹ nhàng với đức tính vô số kể. Và tâu đại vương, bởi vì tâm của đức Thế Tôn được trong sạch và nhẹ nhàng nên đức Thế Tôn mới phô diễn song thông. Tâu đại vương, về song thông nên được biết rằng: ‘Tâm của chư Phật Thế Tôn có sự chuyển dịch nhẹ nhàng như thế.’
Trong trường hợp ấy, không thể nào nói hơn nữa về lý do. Tâu đại vương, những loại thần thông có liên quan đến tâm của chư Phật Toàn Tri ấy đều không thể áp đặt phép đếm, phép tính, sự chia chẻ, và luôn cả sự tách phần. Tâu đại vương, trí Toàn Tri của đức Thế Tôn được gắn liền vào sự hướng tâm, sau khi hướng tâm thì biết được theo như ý muốn. Tâu đại vương, giống như người nam có thể đặt xuống ở bàn tay thứ nhì bất cứ vật gì đã được đặt xuống ở bàn tay (thứ nhất), có thể phát ra lời nói bằng miệng đã được mở ra, có thể nuốt vào thức ăn đã đưa vào miệng, có thể mở mắt ra rồi nhắm lại, hoặc có thể nhắm mắt lại rồi mở ra, có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại, hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, việc ấy còn chậm hơn, tâu đại vương, trí Toàn Tri của đức Thế Tôn là nhẹ nhàng hơn, sự hướng tâm là nhẹ nhàng hơn. Sau khi hướng tâm thì biết được theo như ý muốn. Dầu cho không có sự hướng tâm, chư Phật Thế Tôn ấy vẫn không gọi là không có Toàn Tri”
BJT 9“Thưa ngài Nāgasena, sự hướng tâm là được thực hiện do sự suy tầm, vậy thì ngài hãy giúp cho trẫm hiểu trường hợp ấy bằng lý lẽ.”
“Tâu đại vương, giống như người giàu thì có nhiều tài sản, có nhiều của cải, có dồi dào vàng bạc và vật sở hữu dự phòng, có dồi dào tài sản và ngũ cốc là gạo thơm, thóc, lúa mạch, gạo xay, mè, đậu mugga, đậu māsa, các loại hạt chưa chế biến hoặc các loại khác nữa, bơ lỏng, dầu ăn, bơ đặc, sữa tươi, sữa đông, mật ong, mật đường, và đường mía được chứa ở bình, chum, lu, hũ, chậu, và có người khách, là người xứng đáng để mời ăn và có sự mong mỏi về bữa ăn, đi đến với người ấy, nhưng tại nhà của người ấy thức ăn nấu chín là đã hết sạch thì có thể đem gạo từ chum lại rồi nấu chín. Tâu đại vương, phải chăng do sự việc thiếu hụt thức ăn trong chốc lát mà người ấy trở thành người không có tài sản và nghèo khó?”
“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, ngay cả ở nhà của đức Chuyển Luân Vương cũng có sự thiếu hụt thức ăn vào lúc không đúng thời điểm, thì có điều gì đối với gia chủ.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế là trí Toàn Tri của đức Như Lai trong trường hợp không có sự hướng tâm, sau khi hướng tâm thì biết được theo như ý muốn.
BJT 10Tâu đại vương, hơn nữa giống như cây cối thì có thể kết trái, bị oằn xuống, bị uốn cong, bị mang nặng trĩu bởi những chùm trái, và không có trái nào bị rơi rụng ở tại nơi ấy. Tâu đại vương, phải chăng do sự việc không có trái cây rơi rụng trong chốc lát mà cây ấy trở thành không có trái cây?”
“Thưa ngài, không đúng. Những trái cây ấy được gắn liền với sự rơi rụng. Khi được rơi rụng thì đạt được theo như ý muốn.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế là trí Toàn Tri của đức Như Lai trong trường hợp không có sự hướng tâm, sau khi hướng tâm thì biết được theo như ý muốn.”
“Thưa ngài Nāgasena, có phải sau khi hướng tâm thì đức Phật biết theo như ý muốn?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Đức Thế Tôn sau khi lần lượt hướng tâm thì biết được theo như ý muốn. Tâu đại vương, giống như đức Chuyển Luân Vương khi nào nhớ đến bánh xe báu (khởi ý rằng): ‘Bánh xe báu hãy đến với ta,’ trong khi nhớ đi nhớ lại thì bánh xe báu hiện đến. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, đức Như Lai sau khi lần lượt hướng tâm thì biết được theo như ý muốn.”
“Thưa ngài Nāgasena, lý do là vững chãi. Đức Phật là đấng Toàn Tri. Chúng tôi chấp nhận đức Phật là đấng Toàn Tri.”
Câu hỏi về bản thể Toàn Tri của đức Thế Tôn là thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. ‘‘Bhante nāgasena, buddho sabbaññū’’ti? ‘‘Āma, mahārāja, bhagavā sabbaññū, na ca bhagavato satataṃ samitaṃ ñāṇadassanaṃ paccupaṭṭhitaṃ, āvajjanapaṭibaddhaṃ bhagavato sabbaññutañāṇaṃ, āvajjitvā yadicchakaṃ jānātī’’ti. ‘‘Tena hi, bhante nāgasena, buddho asabbaññūti. Yadi tassa pariyesanāya sabbaññutañāṇaṃ hotī’’ti. ‘‘Vāhasataṃ kho, mahārāja, vīhīnaṃ aḍḍhacūḷañca vāhā vīhisattambaṇāni dve ca tumbā ekaccharākkhaṇe pavattacittassa ettakā vīhī lakkhaṃ ṭhapīyamānā † parikkhayaṃ pariyādānaṃ gaccheyyuṃ?
2. "Venerable Nāgasena, is the Buddha omniscient?" "Yes, great king, the Blessed One is omniscient, but knowledge and vision are not continuously and constantly present to the Blessed One. The Blessed One's knowledge of omniscience is connected with adverting; having adverted, He knows whatever He wishes." "In that case, Venerable Nāgasena, the Buddha is not omniscient, if his knowledge of omniscience arises only through seeking it out." "Great king, a hundred cartloads of paddy, and half a cartload, and seven ambaṇas of paddy, and two tumbas—if this much paddy were set as a mark for a mind-moment arising in the time of a finger-snap, would it be exhausted and completely used up?"
2. “Kính bạch ngài Nāgasena, có phải đức Phật là bậc Toàn Tri không?” “Tâu Đại vương, đúng vậy, Đức Thế Tôn là bậc Toàn Tri, nhưng tri kiến của Đức Thế Tôn không phải lúc nào cũng thường trực hiện tiền. Toàn tri trí của Đức Thế Tôn liên hệ đến sự hướng tâm; sau khi hướng tâm, Ngài biết bất cứ điều gì Ngài muốn.” “Vậy thì, kính bạch ngài Nāgasena, đức Phật không phải là bậc Toàn Tri, nếu Toàn tri trí của Ngài chỉ có được do sự tìm kiếm.” “Tâu Đại vương, một trăm cỗ xe lúa, nửa cỗ xe, bảy ambaṇa lúa, và hai tumba, bấy nhiêu hạt lúa đó, nếu được dùng làm đối tượng để đếm cho một tâm sanh khởi trong một khoảnh khắc búng ngón tay, liệu chúng có thể bị đếm cho đến cạn kiệt, hết sạch không?”
‘‘Tatrime sattavidhā cittā pavattanti, ye te, mahārāja, sarāgā sadosā samohā sakilesā abhāvitakāyā abhāvitasīlā abhāvitacittā abhāvitapaññā, tesaṃ taṃ cittaṃ garukaṃ uppajjati dandhaṃ pavattati. Kiṃ kāraṇā? Abhāvitattā cittassa. Yathā, mahārāja, vaṃsanāḷassa vitatassa visālassa vitthiṇṇassa saṃsibbitavisibbitassa sākhājaṭājaṭitassa ākaḍḍhiyantassa garukaṃ hoti āgamanaṃ dandhaṃ. Kiṃ kāraṇā? Saṃsibbitavisibbitattā sākhānaṃ. Evameva kho, mahārāja, ye te sarāgā sadosā samohā sakilesā abhāvitakāyā abhāvitasīlā abhāvitacittā abhāvitapaññā, tesaṃ taṃ cittaṃ garukaṃ uppajjati dandhaṃ pavattati. Kiṃ kāraṇā? Saṃsibbitavisibbitattā kilesehi, idaṃ paṭhamaṃ cittaṃ.
"In this regard, these seven kinds of minds arise. Great king, for those who are lustful, hateful, deluded, defiled, undeveloped in body, undeveloped in virtue, undeveloped in mind, and undeveloped in wisdom—their mind arises heavily and proceeds sluggishly. What is the reason? Because of the mind being undeveloped. Just as, great king, when drawing a large, thick, and wide bamboo stalk that is entangled and interwoven with branches and a thicket of foliage, its movement is heavy and slow. What is the reason? Because the branches are entangled and interwoven. In the same way, great king, for those who are lustful, hateful, deluded, defiled, undeveloped in body, undeveloped in virtue, undeveloped in mind, and undeveloped in wisdom—their mind arises heavily and proceeds sluggishly. What is the reason? Because of being entangled and interwoven with defilements. This is the first mind."
“Ở đây, bảy loại tâm này sanh khởi. Tâu Đại vương, những ai có tham, có sân, có si, có phiền não, thân chưa tu tập, giới chưa tu tập, tâm chưa tu tập, tuệ chưa tu tập, tâm của họ sanh khởi nặng nề, vận hành chậm chạp. Vì sao vậy? Vì tâm chưa được tu tập. Tâu Đại vương, ví như một cây tre rộng lớn, lan rộng, trải dài, có cành lá rối rắm, quấn quýt vào nhau, khi bị kéo đi thì việc di chuyển trở nên nặng nề, chậm chạp. Vì sao vậy? Vì các cành lá rối rắm, quấn quýt. Tâu Đại vương, cũng vậy, những ai có tham, có sân, có si, có phiền não, thân chưa tu tập, giới chưa tu tập, tâm chưa tu tập, tuệ chưa tu tập, tâm của họ sanh khởi nặng nề, vận hành chậm chạp. Vì sao vậy? Vì bị rối rắm, quấn quýt bởi các phiền não. Đây là loại tâm thứ nhất.”
‘‘Tatridaṃ dutiyaṃ cittaṃ vibhattamāpajjati – ye te, mahārāja, sotāpannā pihitāpāyā diṭṭhippattā viññātasatthusāsanā, tesaṃ taṃ cittaṃ tīsu ṭhānesu lahukaṃ uppajjati lahukaṃ pavattati. Uparibhūmīsu garukaṃ uppajjati dandhaṃ pavattati. Kiṃ kāraṇā? Tīsu ṭhānesu cittassa parisuddhattā upari kilesānaṃ appahīnattā. Yathā, mahārāja, vaṃsanāḷassa tipabbagaṇṭhiparisuddhassa upari sākhājaṭājaṭitassa ākaḍḍhiyantassa yāva tipabbaṃ tāva lahukaṃ eti, tato upari thaddhaṃ. Kiṃ kāraṇā? Heṭṭhā parisuddhattā upari sākhājaṭājaṭitattā. Evameva kho, mahārāja, ye te sotāpannā pihitāpāyā diṭṭhippattā viññātasatthusāsanā, tesaṃ taṃ cittaṃ tīsu ṭhānesu lahukaṃ uppajjati lahukaṃ pavattati, uparibhūmīsu garukaṃ uppajjati dandhaṃ pavattati. Kiṃ kāraṇā? Tīsu ṭhānesu cittassa parisuddhattā upari kilesānaṃ appahīnattā, idaṃ dutiyaṃ cittaṃ.
"Here, this second mind is distinguished: For those, great king, who are stream-enterers, whose door to the lower realms is closed, who have attained the view, and have understood the Teacher’s instruction, their mind arises lightly and functions lightly in three instances. In higher planes, it arises heavily and functions slowly. What is the reason? Because the mind is purified in those three instances, but the defilements above are not yet abandoned. Just as, great king, when a bamboo stalk with three clean joints is pulled, being entangled with branches and twigs above, it moves lightly up to the third joint, but beyond that, it becomes resistant. What is the reason? Because below it is clean, but above it is tangled with branches and twigs. In the same way, great king, for those who are stream-enterers, whose door to the lower realms is closed, who have attained the view, and have understood the Teacher’s instruction, their mind arises lightly and functions lightly in three instances, but in higher planes, it arises heavily and functions slowly. What is the reason? Because the mind is purified in those three instances, but the defilements above are not yet abandoned. This is the second mind."
“Ở đây, loại tâm thứ hai này được phân định. Tâu Đại vương, những vị Tu-đà-hoàn là những vị đã đóng cửa đường ác đạo, đã đạt đến chánh kiến, đã liễu tri giáo pháp của Bậc Đạo Sư, tâm của các vị ấy sanh khởi nhẹ nhàng, vận hành nhanh chóng ở ba nơi. Ở các tầng bậc cao hơn, nó sanh khởi nặng nề, vận hành chậm chạp. Vì sao vậy? Vì tâm đã thanh tịnh ở ba nơi, và vì các phiền não ở tầng trên chưa được đoạn trừ. Tâu Đại vương, ví như một cây tre đã được làm sạch ba đốt, nhưng phần trên vẫn còn cành lá rối rắm, khi được kéo, nó đi qua nhẹ nhàng cho đến hết ba đốt, từ đó trở lên thì bị cứng lại. Vì sao vậy? Vì phần dưới đã thanh sạch, còn phần trên cành lá rối rắm. Tâu Đại vương, cũng vậy, những vị Tu-đà-hoàn là những vị đã đóng cửa đường ác đạo, đã đạt đến chánh kiến, đã liễu tri giáo pháp của Bậc Đạo Sư, tâm của các vị ấy sanh khởi nhẹ nhàng, vận hành nhanh chóng ở ba nơi, còn ở các tầng bậc cao hơn thì sanh khởi nặng nề, vận hành chậm chạp. Vì sao vậy? Vì tâm đã thanh tịnh ở ba nơi, và vì các phiền não ở tầng trên chưa được đoạn trừ. Đây là loại tâm thứ hai.”
‘‘Tatridaṃ tatiyaṃ cittaṃ vibhattamāpajjati – ye te, mahārāja, sakadāgāmino, yesaṃ rāgadosamohā tanubhūtā, tesaṃ taṃ cittaṃ pañcasu ṭhānesu lahukaṃ uppajjati lahukaṃ pavattati, uparibhūmīsu garukaṃ uppajjati dandhaṃ pavattati. Kiṃ kāraṇā? Pañcasu ṭhānesu cittassa parisuddhattā upari kilesānaṃ appahīnattā. Yathā, mahārāja, vaṃsanāḷassa pañcapabbagaṇṭhiparisuddhassa upari sākhājaṭājaṭitassa ākaḍḍhiyantassa yāva pañcapabbaṃ tāva lahukaṃ eti, tato upari thaddhaṃ. Kiṃ kāraṇā? Heṭṭhā parisuddhattā upari sākhājaṭājaṭitattā. Evameva kho, mahārāja, ye te sakadāgāmino, yesaṃ rāgadosamohā tanubhūtā, tesaṃ taṃ cittaṃ pañcasu ṭhānesu lahukaṃ uppajjati lahukaṃ pavattati, uparibhūmīsu garukaṃ uppajjati dandhaṃ pavattati. Kiṃ kāraṇā? Pañcasu ṭhānesu cittassa parisuddhattā upari kilesānaṃ appahīnattā, idaṃ tatiyaṃ cittaṃ.
"Here, this third type of mind is distinguished: For those, great king, who are once-returners, whose greed, hatred, and delusion are weakened, their mind arises lightly and functions lightly in five instances. In higher planes, it arises heavily and functions slowly. What is the reason? Because the mind is purified in those five instances, but the defilements above are not yet abandoned. Just as, great king, a bamboo stalk with five clean joints, if tangled with branches and undergrowth above, moves lightly when pulled up to the fifth joint, but beyond that, becomes resistant. What is the reason? Because it is clean below, but tangled with branches and undergrowth above. In the same way, great king, for those who are once-returners, whose greed, hatred, and delusion are weakened, their mind arises lightly and functions lightly in five instances, but in higher planes, it arises heavily and functions slowly. What is the reason? Because the mind is purified in those five instances, but the defilements above are not yet abandoned. This is the third mind."
“Ở đây, loại tâm thứ ba này được phân định. Tâu Đại vương, những vị Tư-đà-hàm là những vị mà tham, sân, si đã được làm cho muội lược, tâm của các vị ấy sanh khởi nhẹ nhàng, vận hành nhanh chóng ở năm nơi, còn ở các tầng bậc cao hơn thì sanh khởi nặng nề, vận hành chậm chạp. Vì sao vậy? Vì tâm đã thanh tịnh ở năm nơi, và vì các phiền não ở tầng trên chưa được đoạn trừ. Tâu Đại vương, ví như một cây tre đã được làm sạch năm đốt, nhưng phần trên vẫn còn cành lá rối rắm, khi được kéo, nó đi qua nhẹ nhàng cho đến hết năm đốt, từ đó trở lên thì bị cứng lại. Vì sao vậy? Vì phần dưới đã thanh sạch, còn phần trên cành lá rối rắm. Tâu Đại vương, cũng vậy, những vị Tư-đà-hàm là những vị mà tham, sân, si đã được làm cho muội lược, tâm của các vị ấy sanh khởi nhẹ nhàng, vận hành nhanh chóng ở năm nơi, còn ở các tầng bậc cao hơn thì sanh khởi nặng nề, vận hành chậm chạp. Vì sao vậy? Vì tâm đã thanh tịnh ở năm nơi, và vì các phiền não ở tầng trên chưa được đoạn trừ. Đây là loại tâm thứ ba.”
‘‘Tatridaṃ catutthaṃ cittaṃ vibhattamāpajjati – ye te, mahārāja, anāgāmino, yesaṃ pañcorambhāgiyāni saññojanāni pahīnāni, tesaṃ taṃ cittaṃ dasasu ṭhānesu lahukaṃ uppajjati lahukaṃ pavattati, uparibhūmīsu garukaṃ uppajjati dandhaṃ pavattati. Kiṃ kāraṇā? Dasasu ṭhānesu cittassa parisuddhattā upari kilesānaṃ appahīnattā. Yathā, mahārāja, vaṃsanāḷassa dasapabbagaṇṭhiparisuddhassa upari sākhājaṭājaṭitassa ākaḍḍhiyantassa yāva dasapabbaṃ tāva lahukaṃ eti, tato upari thaddhaṃ. Kiṃ kāraṇā? Heṭṭhā parisuddhattā upari sākhājaṭājaṭitattā. Evameva kho, mahārāja, ye te anāgāmino, yesaṃ pañcorambhāgiyāni saññojanāni pahīnāni, tesaṃ taṃ cittaṃ dasasu ṭhānesu lahukaṃ uppajjati lahukaṃ pavattati, uparibhūmīsu garukaṃ uppajjati dandhaṃ pavattati. Kiṃ kāraṇā? Dasasu ṭhānesu cittassa parisuddhattā upari kilesānaṃ appahīnattā, idaṃ catutthaṃ cittaṃ.
"Here, this fourth type of mind is distinguished: for those, great king, who are non-returners, for whom the five lower fetters have been abandoned, their mind arises lightly and moves lightly in ten respects, but arises heavily and moves slowly in higher realms. What is the reason? Because the mind is purified in ten respects, but the defilements above have not been abandoned. Just as, great king, when a bamboo stalk is clear of knots up to the tenth joint but is tangled with branches and twigs above, pulling it comes easily up to the tenth joint, but beyond that it becomes resistant. What is the reason? Because below it is clear, but above it is tangled with branches and twigs. In the same way, great king, for those non-returners whose five lower fetters have been abandoned, their mind arises lightly and moves lightly in ten respects, but arises heavily and moves slowly in higher realms. What is the reason? Because the mind is purified in ten respects, but the defilements above have not been abandoned. This is the fourth mind."
“Ở đây, loại tâm thứ tư này được phân định. Tâu Đại vương, những vị A-na-hàm là những vị đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, tâm của các vị ấy sanh khởi nhẹ nhàng, vận hành nhanh chóng ở mười nơi, còn ở các tầng bậc cao hơn thì sanh khởi nặng nề, vận hành chậm chạp. Vì sao vậy? Vì tâm đã thanh tịnh ở mười nơi, và vì các phiền não ở tầng trên chưa được đoạn trừ. Tâu Đại vương, ví như một cây tre đã được làm sạch mười đốt, nhưng phần trên vẫn còn cành lá rối rắm, khi được kéo, nó đi qua nhẹ nhàng cho đến hết mười đốt, từ đó trở lên thì bị cứng lại. Vì sao vậy? Vì phần dưới đã thanh sạch, còn phần trên cành lá rối rắm. Tâu Đại vương, cũng vậy, những vị A-na-hàm là những vị đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, tâm của các vị ấy sanh khởi nhẹ nhàng, vận hành nhanh chóng ở mười nơi, còn ở các tầng bậc cao hơn thì sanh khởi nặng nề, vận hành chậm chạp. Vì sao vậy? Vì tâm đã thanh tịnh ở mười nơi, và vì các phiền não ở tầng trên chưa được đoạn trừ. Đây là loại tâm thứ tư.”
‘‘Tatridaṃ pañcamaṃ cittaṃ vibhattamāpajjati – ye te, mahārāja, arahanto khīṇāsavā dhotamalā vantakilesā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaññojanā pattapaṭisambhidā sāvakabhūmīsu parisuddhā, tesaṃ taṃ cittaṃ sāvakavisaye lahukaṃ uppajjati lahukaṃ pavattati, paccekabuddhabhūmīsu garukaṃ uppajjati dandhaṃ pavattati. Kiṃ kāraṇā? Parisuddhattā sāvakavisaye, aparisuddhattā paccekabuddhavisaye. Yathā, mahārāja, vaṃsanāḷassa sabbapabbagaṇṭhiparisuddhassa ākaḍḍhiyantassa lahukaṃ hoti āgamanaṃ adandhaṃ. Kiṃ kāraṇā? Sabbapabbagaṇṭhiparisuddhattā agahanattā vaṃsassa. Evameva kho, mahārāja, ye te arahanto khīṇāsavā dhotamalā vantakilesā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaññojanā pattapaṭisambhidā sāvakabhūmīsu parisuddhā, tesaṃ taṃ cittaṃ sāvakavisaye lahukaṃ uppajjati lahukaṃ pavattati, paccekabuddhabhūmīsu garukaṃ uppajjati dandhaṃ pavattati. Kiṃ kāraṇā? Parisuddhattā sāvakavisaye, aparisuddhattā paccekabuddhavisaye, idaṃ pañcamaṃ cittaṃ.
"Here, this fifth type of mind is distinguished: for those, great king, who are arahants who have destroyed the taints, whose impurities are washed away, who have discarded defilements, who have lived the holy life, done what was to be done, laid down the burden, attained their own welfare, utterly destroyed the fetters of existence, and attained the analytical knowledges—who are purified in the disciple’s realm, for them that mind arises lightly and moves lightly in the disciple’s sphere, but arises heavily and moves slowly in the realm of the paccekabuddhas. What is the reason? Because of its purity in the disciple’s sphere, and its impurity in the paccekabuddha’s sphere. Just as, great king, when a bamboo stalk is entirely clear of knots and joints, pulling it is light and not slow. What is the reason? Because all its knots and joints are cleared and the bamboo is unobstructed. In the same way, great king, for those arahants who have destroyed the taints, whose impurities are washed away, who have discarded defilements, who have lived the holy life, done what was to be done, laid down the burden, attained their own welfare, utterly destroyed the fetters of existence, and attained the analytical knowledges—who are purified in the disciple’s realm, for them that mind arises lightly and moves lightly in the disciple’s sphere, but arises heavily and moves slowly in the realm of the paccekabuddhas. What is the reason? Because of its purity in the disciple’s sphere, and its impurity in the paccekabuddha’s sphere. This is the fifth mind."
“Tâu Đại vương, ở đây, tâm thứ năm này được phân tích như sau: Tâu Đại vương, các vị A-la-hán nào đã tận diệt các lậu hoặc, đã tẩy sạch các cấu uế, đã nôn mửa các phiền não, đã sống đời Phạm hạnh, đã làm các việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận các hữu kiết sử, đã chứng đắc các Tuệ Vô ngại giải, đã thanh tịnh trong địa vị Thinh văn, tâm của các vị ấy sanh khởi nhanh chóng, vận hành nhanh chóng trong cảnh giới Thinh văn; nhưng sanh khởi nặng nề, vận hành chậm chạp trong địa vị của Phật Độc Giác. Vì sao vậy? Vì đã thanh tịnh trong cảnh giới Thinh văn, và chưa thanh tịnh trong cảnh giới của Phật Độc Giác. Tâu Đại vương, ví như một ống tre đã được làm sạch tất cả các mắt và mấu, khi được kéo đi thì nó di chuyển nhanh chóng, không chậm chạp. Vì sao vậy? Vì tất cả các mắt và mấu của cây tre đã được làm sạch, không bị vướng mắc. Tâu Đại vương, cũng thế ấy, các vị A-la-hán nào đã tận diệt các lậu hoặc, đã tẩy sạch các cấu uế, đã nôn mửa các phiền não, đã sống đời Phạm hạnh, đã làm các việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận các hữu kiết sử, đã chứng đắc các Tuệ Vô ngại giải, đã thanh tịnh trong địa vị Thinh văn, tâm của các vị ấy sanh khởi nhanh chóng, vận hành nhanh chóng trong cảnh giới Thinh văn; nhưng sanh khởi nặng nề, vận hành chậm chạp trong địa vị của Phật Độc Giác. Vì sao vậy? Vì đã thanh tịnh trong cảnh giới Thinh văn, và chưa thanh tịnh trong cảnh giới của Phật Độc Giác. Đây là tâm thứ năm.”
‘‘Tatridaṃ chaṭṭhaṃ cittaṃ vibhattamāpajjati – ye te, mahārāja, paccekabuddhā sayambhuno anācariyakā ekacārino khaggavisāṇakappā sakavisaye parisuddhavimalacittā, tesaṃ taṃ cittaṃ sakavisaye lahukaṃ uppajjati lahukaṃ pavattati, sabbaññubuddhabhūmīsu garukaṃ uppajjati dandhaṃ pavattati. Kiṃ kāraṇā? Parisuddhattā sakavisaye mahantattā sabbaññubuddhavisayassa. Yathā, mahārāja, puriso sakavisayaṃ parittaṃ nadiṃ rattimpi divāpi yadicchaka acchambhito otareyya, atha parato mahāsamuddaṃ gambhīraṃ vitthataṃ agādhamapāraṃ disvā bhāyeyya, dandhāyeyya na visaheyya otarituṃ. Kiṃ kāraṇā? Tiṇṇattā † sakavisayassa, mahantattā ca mahāsamuddassa. Evameva kho, mahārāja, ye te paccekabuddhā sayambhuno anācariyakā ekacārino khaggavisāṇakappā sakavisaye parisuddhavimalacittā, tesaṃ taṃ cittaṃ sakavisaye lahukaṃ uppajjati lahukaṃ pavattati, sabbaññubuddhabhūmīsu garukaṃ uppajjati dandhaṃ pavattati. Kiṃ kāraṇā? Parisuddhattā sakavisaye mahantattā sabbaññubuddhavisayassa, idaṃ chaṭṭhaṃ cittaṃ.
Herein, this sixth mind is distinguished: Those, great king, who are Paccekabuddhas—self-become, without a teacher, solitary wanderers like a rhinoceros horn, with minds pure and spotless in their own domain—their mind arises swiftly and functions swiftly in their own domain, but in the domains of the omniscient Buddhas, it arises heavily and functions slowly. What is the reason? Because of the purity in their own domain and the vastness of the domain of an omniscient Buddha. Just as, great king, a man could fearlessly cross a small river in his own territory day or night as he pleases, but upon seeing the great ocean—deep, vast, bottomless, and shoreless—he would be afraid, would hesitate, and would not dare to enter. What is the reason? Because his own domain is one that has been crossed, and because of the immensity of the great ocean. In the same way, great king, those Paccekabuddhas—self-become, without a teacher, solitary wanderers like a rhinoceros horn, with minds pure and spotless in their own domain—their mind arises swiftly and functions swiftly in their own domain, but in the domains of the omniscient Buddhas, it arises heavily and functions slowly. What is the reason? Because of the purity in their own domain and the vastness of the domain of an omniscient Buddha. This is the sixth mind.
“Tâu Đại vương, ở đây, tâm thứ sáu này được phân tích như sau: Tâu Đại vương, các vị Phật Độc Giác nào là bậc tự mình giác ngộ, không có thầy chỉ dạy, sống độc cư, giống như sừng tê ngưu, có tâm thanh tịnh vô nhiễm trong cảnh giới của mình, tâm của các vị ấy sanh khởi nhanh chóng, vận hành nhanh chóng trong cảnh giới của mình; nhưng sanh khởi nặng nề, vận hành chậm chạp trong địa vị của bậc Chánh Đẳng Giác Toàn Tri. Vì sao vậy? Vì đã thanh tịnh trong cảnh giới của mình, và vì sự vĩ đại của cảnh giới bậc Chánh Đẳng Giác Toàn Tri. Tâu Đại vương, ví như một người có thể lội qua một con sông nhỏ trong địa phận của mình, bất kể đêm hay ngày, tùy theo ý muốn, không sợ hãi; nhưng sau đó, khi nhìn thấy đại dương sâu thẳm, rộng lớn, không đáy, không bờ, người ấy sẽ sợ hãi, sẽ chần chừ, không dám lội xuống. Vì sao vậy? Vì đã từng lội qua trong địa phận của mình, và vì sự vĩ đại của đại dương. Tâu Đại vương, cũng thế ấy, các vị Phật Độc Giác nào là bậc tự mình giác ngộ, không có thầy chỉ dạy, sống độc cư, giống như sừng tê ngưu, có tâm thanh tịnh vô nhiễm trong cảnh giới của mình, tâm của các vị ấy sanh khởi nhanh chóng, vận hành nhanh chóng trong cảnh giới của mình; nhưng sanh khởi nặng nề, vận hành chậm chạp trong địa vị của bậc Chánh Đẳng Giác Toàn Tri. Vì sao vậy? Vì đã thanh tịnh trong cảnh giới của mình, và vì sự vĩ đại của cảnh giới bậc Chánh Đẳng Giác Toàn Tri. Đây là tâm thứ sáu.”
‘‘Tatridaṃ sattamaṃ cittaṃ vibhattamāpajjati – ye te, mahārāja, sammāsambuddhā sabbaññuno dasabaladharā catuvesārajjavisāradā aṭṭhārasahi buddhadhammehi samannāgatā anantajinā anāvaraṇañāṇā, tesaṃ taṃ cittaṃ sabbattha lahukaṃ uppajjati lahukaṃ pavattati. Kiṃ kāraṇā? Sabbattha parisuddhattā. Api nu kho, mahārāja, nārācassa sudhotassa vimalassa niggaṇṭhissa sukhumadhārassa ajimhassa avaṅkassa akuṭilassa daḷhacāpasamārūḷhassa khomasukhume vā kappāsasukhume vā kambalasukhume vā balavanipātitassa dandhāyitattaṃ vā lagganaṃ vā hotī’’ti? ‘‘Na hi, bhante, ‘‘kiṃ kāraṇā’’? ‘‘Sukhumattā vatthānaṃ sudhotattā nārācassa nipātassa ca balavattā’’ti, evameva kho, mahārāja, ye te sammāsambuddhā sabbaññuno dasabaladharā catuvesārajjavisāradā aṭṭhārasahi buddhadhammehi samannāgatā anantajinā anāvaraṇañāṇā, tesaṃ taṃ cittaṃ sabbattha lahukaṃ uppajjati lahukaṃ pavattati. Kiṃ kāraṇā? Sabbattha parisuddhattā, idaṃ sattamaṃ cittaṃ.
Herein, this seventh mind is distinguished: Those, great king, who are Perfectly Self-Enlightened Buddhas—the omniscient ones, wielders of the ten powers, expert in the four kinds of fearlessness, endowed with the eighteen distinct qualities of a Buddha, the infinite conquerors, whose knowledge is unobstructed—their mind arises swiftly and functions swiftly everywhere. What is the reason? Because of its purity in every respect. Now, great king, would an arrow—well-polished, immaculate, without knots, fine-edged, straight, unbent, not crooked, mounted on a strong bow and shot with great force—be slow or get stuck when passing through fine linen, fine cotton, or fine wool?” “Certainly not, venerable sir.” “What is the reason?” “Because of the fineness of the fabrics, the well-polished nature of the arrow, and the force of the shot.” “So too, great king, those who are Perfectly Self-Enlightened Buddhas—the omniscient ones, wielders of the ten powers, expert in the four kinds of fearlessness, endowed with the eighteen distinct qualities of a Buddha, the infinite conquerors, whose knowledge is unobstructed—their mind arises swiftly and functions swiftly everywhere. What is the reason? Because of its purity in every respect. This is the seventh mind.
“Tâu Đại vương, ở đây, tâm thứ bảy này được phân tích như sau: Tâu Đại vương, các bậc Chánh Đẳng Giác nào là bậc Toàn Tri, là người mang mười lực, là bậc thuần thục trong bốn Vô sở úy, là người thành tựu mười tám pháp bất cộng của Phật, là bậc chiến thắng vô biên, có trí tuệ không bị ngăn che, tâm của các vị ấy sanh khởi nhanh chóng, vận hành nhanh chóng ở khắp mọi nơi. Vì sao vậy? Vì đã thanh tịnh ở khắp mọi nơi. Tâu Đại vương, liệu một mũi tên được mài sắc, không tỳ vết, không có mấu, có đầu nhọn tinh tế, không cong, không vẹo, không xoắn, được đặt trên một cây cung vững chắc, và được một người mạnh mẽ bắn vào tấm vải lanh mịn, hoặc vải bông mịn, hoặc vải len mịn, thì có sự chậm chạp hay sự vướng mắc nào không?” – “Bạch Ngài, không ạ.” – “Vì sao vậy?” – “Vì sự mịn màng của các tấm vải, vì mũi tên đã được mài sắc, và vì sức mạnh của phát bắn.” – “Tâu Đại vương, cũng thế ấy, các bậc Chánh Đẳng Giác nào là bậc Toàn Tri, là người mang mười lực, là bậc thuần thục trong bốn Vô sở úy, là người thành tựu mười tám pháp bất cộng của Phật, là bậc chiến thắng vô biên, có trí tuệ không bị ngăn che, tâm của các vị ấy sanh khởi nhanh chóng, vận hành nhanh chóng ở khắp mọi nơi. Vì sao vậy? Vì đã thanh tịnh ở khắp mọi nơi. Đây là tâm thứ bảy.”
‘‘Tatra, mahārāja, yadidaṃ sabbaññubuddhānaṃ cittaṃ, taṃ channampi cittānaṃ gaṇanaṃ atikkamitvā asaṅkhyeyyena guṇena parisuddhañca lahukañca. Yasmā ca bhagavato cittaṃ parisuddhañca lahukañca, tasmā, mahārāja, bhagavā yamakapāṭihīraṃ dasseti. Yamakapāṭihīre, mahārāja, ñātabbaṃ buddhānaṃ bhagavantānaṃ cittaṃ evaṃ lahuparivattanti, na tattha sakkā uttariṃ kāraṇaṃ vattuṃ, tepi, mahārāja, pāṭihīrā sabbaññubuddhānaṃ cittaṃ upādāya gaṇanampi saṅkhampi kalampi kalabhāgampi na upenti, āvajjanapaṭibaddhaṃ, mahārāja, bhagavato sabbaññutañāṇaṃ, āvajjetvā yadicchakaṃ jānāti.
Therein, great king, this mind of the omniscient Buddhas, having surpassed the reckoning of the six other minds by an incalculable factor, is both pure and swift. And because the Blessed One’s mind is pure and swift, great king, the Blessed One displays the Twin Miracle. In the case of the Twin Miracle, great king, it should be understood that the minds of the Blessed Buddhas revolve so swiftly that it is not possible to state a further reason. Even these miracles, great king, in comparison with the mind of the omniscient Buddhas, do not amount to a calculation, an enumeration, a fraction, or even a small part of a fraction. The Blessed One’s omniscience, great king, is bound to his adverting; having adverted, he knows whatever he wishes.
“Tâu Đại vương, trong số đó, tâm của các bậc Chánh Đẳng Giác Toàn Tri này, nó vượt qua sự tính đếm của cả sáu loại tâm kia, và thanh tịnh và nhanh chóng với phẩm chất vô số. Và bởi vì tâm của Đức Thế Tôn là thanh tịnh và nhanh chóng, do đó, tâu Đại vương, Đức Thế Tôn đã thể hiện Song thông. Tâu Đại vương, trong phép Song thông, cần phải được biết rằng tâm của các Đức Phật, các Đức Thế Tôn, vận hành nhanh chóng như vậy, và ở đó không thể nói ra một nguyên nhân nào cao hơn nữa. Tâu Đại vương, ngay cả những phép thần thông ấy, khi so với tâm của các bậc Chánh Đẳng Giác Toàn Tri, cũng không thể đạt đến sự tính đếm, con số, một phần, hay một phần nhỏ. Tâu Đại vương, trí tuệ toàn tri của Đức Thế Tôn gắn liền với sự tác ý. Sau khi tác ý, Ngài biết bất cứ điều gì Ngài muốn.”
‘‘Yathā, mahārāja, puriso hatthe ṭhapitaṃ yaṃ kiñci dutiye hatthe ṭhapeyya vivaṭena mukhena vācaṃ nicchāreyya, mukhagataṃ bhojanaṃ gileyya, ummīletvā vā nimīleyya, nimīletvā vā ummīleyya, samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya, cirataraṃ etaṃ, mahārāja, lahutaraṃ bhagavato sabbaññutañāṇaṃ, lahutaraṃ āvajjanaṃ, āvajjetvā yadicchakaṃ jānāti, āvajjanavikalamattakena na tāvatā buddhā bhagavanto asabbaññuno nāma hontī’’ti.
Just as, great king, a man might place something held in one hand into his other hand, or utter a word with an open mouth, or swallow food that has entered his mouth, or open his eyes after closing them, or close them after opening them, or extend a contracted arm, or contract an extended arm—this, great king, takes longer. The Blessed One’s omniscience is far swifter; his adverting is far swifter. Having adverted, he knows whatever he wishes. The Buddhas, the Blessed Ones, are not on that account called non-omniscient merely because of the brief absence of adverting.
“Tâu Đại vương, ví như một người có thể đặt một vật gì đó từ tay này sang tay kia, có thể nói một lời với miệng đang mở, có thể nuốt thức ăn trong miệng, có thể nhắm mắt sau khi mở, hoặc mở mắt sau khi nhắm, có thể duỗi ra cánh tay đang co, hoặc co lại cánh tay đang duỗi. Tâu Đại vương, những việc này còn chậm hơn; trí tuệ toàn tri của Đức Thế Tôn còn nhanh hơn, sự tác ý còn nhanh hơn. Sau khi tác ý, Ngài biết bất cứ điều gì Ngài muốn. Chỉ vì một sự thiếu sót nhỏ trong việc tác ý mà các Đức Phật, các Đức Thế Tôn, không vì thế mà được gọi là không phải bậc Toàn Tri.”
‘‘Āvajjanampi, bhante nāgasena, pariyesanāya kātabbaṃ, iṅgha maṃ tattha kāraṇena saññāpehī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, purisassa aḍḍhassa mahaddhanassa mahābhogassa pahūtajātarūparajatassa pahūtavittūpakaraṇassa pahūtadhanadhaññassa sālivīhiyavataṇḍulatilamuggamāsapubbaṇṇāparaṇṇasappitelanavanītakhīradadhimadhuguḷaphāṇitā ca khaḷopikumbhipīṭharakoṭṭhabhājanagatā bhaveyyuṃ, tassa ca purisassa pāhunako āgaccheyya bhattāraho bhattābhikaṅkhī, tassa ca gehe yaṃ randhaṃ bhojanaṃ, taṃ pariniṭṭhitaṃ bhaveyya, kumbhito taṇḍule nīharitvā bhojanaṃ randheyya, api ca kho so, mahārāja, tāvatakena bhojanavekallamattakena adhano nāma kapaṇo nāma bhaveyyā’’ti? ‘‘Na hi, bhante, cakkavattirañño gharepi, bhante, akāle bhojanavekallaṃ hoti, kiṃ pana gahapatikassā’’ti? ‘‘Evameva kho, mahārāja, tathāgatassa āvajjanavikalamattakaṃ sabbaññutañāṇaṃ āvajjetvā yadicchakaṃ jānāti.
“Adverting, too, venerable Nāgasena, must be done through investigation. Come now, make me understand this point with a reason.” “Suppose, great king, there were a man who is affluent, of great wealth, of great possessions, with abundant gold and silver, with abundant property and requisites, with abundant wealth and grain; and his rice, paddy, barley, husked rice, sesame, green gram, beans, early and late crops, ghee, oil, fresh butter, milk, curds, honey, molasses, and raw sugar were stored in various pots, containers, and storerooms. A guest deserving of a meal, desiring a meal, might arrive. And suppose the food that had been cooked in his house was finished. He would take husked rice from a pot and cook a meal. Now, great king, would that man, on account of that mere lack of a prepared meal, be called poor or destitute?” “Certainly not, venerable sir. Even in the palace of a wheel-turning monarch, venerable sir, a lack of a prepared meal can occur at an inopportune time, so what to speak of in a householder’s home?” “So too, great king, is the Tathāgata’s omniscience, which is merely lacking adverting; having adverted, he knows whatever he wishes.
“Bạch Đại đức Nāgasena, sự suy xét cũng cần phải được tìm tòi, xin ngài hãy dùng lý lẽ để làm cho trẫm được hiểu rõ về điều ấy.” “Tâu Đại vương, ví như có người đàn ông giàu có, nhiều của cải, nhiều tài sản, có nhiều vàng bạc, có nhiều vật dụng, có nhiều tiền của và lúa gạo, và các loại lúa sāli, lúa vīhi, lúa mạch, gạo, mè, đậu xanh, đậu đen, các loại ngũ cốc trước mùa, các loại ngũ cốc sau mùa, bơ, dầu, bơ tươi, sữa tươi, sữa đông, mật ong, đường phèn, đường mật của người ấy được chứa trong các chum, vại, nồi, kho lẫm, và đồ chứa. Và có một vị khách đến nhà người đàn ông ấy, là người đáng được thết đãi, là người mong muốn có bữa ăn. Và trong nhà của người ấy, bữa ăn nào đã được nấu thì đã dùng hết. Người ấy bèn lấy gạo từ trong vại ra để nấu bữa ăn. Tâu Đại vương, vậy thì chỉ vì sự thiếu thốn bữa ăn chừng ấy, người ấy có được gọi là người nghèo, người khốn cùng không?” “Bạch Đại đức, không phải vậy. Bạch Đại đức, ngay cả trong nhà của vua Chuyển Luân, đôi khi cũng có sự thiếu thốn bữa ăn vào lúc trái thời, huống nữa là nhà của người gia chủ?” “Tâu Đại vương, cũng giống như thế, Nhất thiết trí của đức Như Lai chỉ thiếu sót trong chừng mực của sự suy xét, khi đã suy xét thì ngài biết được bất cứ điều gì ngài muốn.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, rukkho assa phalito oṇatavinato piṇḍibhārabharito, na kiñci tattha patitaṃ phalaṃ bhaveyya, api nu kho so, mahārāja, rukkho tāvatakena patitaphalavekallamattakena aphalo nāma bhaveyyā’’ti? ‘‘Na hi, bhante, patanapaṭibaddhāni tāni rukkhaphalāni, patite yadicchakaṃ labhatī’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, tathāgatassa āvajjanapaṭibaddhaṃ sabbaññutañāṇaṃ āvajjetvā yadicchakaṃ jānātī’’ti.
“Or again, great king, suppose there were a tree, fruitful, with branches bent and stooping, weighed down by the burden of its clusters, and not a single fruit had yet fallen from it. Now, great king, would that tree, merely because of this lack of fallen fruit, be called fruitless?” “Certainly not, venerable sir. Those fruits of the tree are bound to fall; when they have fallen, one can get them as one wishes.” “So too, great king, the Tathāgata’s omniscience is bound to his adverting; having adverted, he knows whatever he wishes.”
“Hoặc nữa, tâu Đại vương, ví như có một cây sai quả, cành lá trĩu xuống, nặng trĩu vì những chùm quả, và không có quả nào rụng ở đó. Tâu Đại vương, vậy thì chỉ vì sự thiếu thốn quả rụng chừng ấy, cây ấy có được gọi là cây không có quả không?” “Bạch Đại đức, không phải vậy. Những quả cây ấy vốn gắn liền với sự rụng, khi chúng rụng thì người ta có thể lượm được tùy ý.” “Tâu Đại vương, cũng giống như thế, Nhất thiết trí của đức Như Lai vốn gắn liền với sự suy xét, khi đã suy xét thì ngài biết được bất cứ điều gì ngài muốn.”
‘‘Bhante nāgasena, āvajjetvā āvajjetvā buddho yadicchakaṃ jānātī’’ti? ‘‘Āma, mahārāja, bhagavā āvajjetvā āvajjetvā yadicchakaṃ jānātī’’ti.
“Venerable Nāgasena, does the Buddha know whatever he wishes by repeatedly adverting?” “Yes, great king, the Blessed One knows whatever he wishes by repeatedly adverting.”
“Bạch Đại đức Nāgasena, có phải đức Phật sau khi suy xét, suy xét rồi thì biết được bất cứ điều gì ngài muốn không?” “Thưa vâng, tâu Đại vương, đức Thế Tôn sau khi suy xét, suy xét rồi thì biết được bất cứ điều gì ngài muốn.”
‘‘Yathā, mahārāja, cakkavattī rājā yadā cakkaratanaṃ sarati ‘upetu me cakkaratana’nti, sarite cakkaratanaṃ upeti, evameva kho, mahārāja, tathāgato āvajjetvā āvajjetvā yadicchakaṃ jānātī’’ti. ‘‘Daḷhaṃ, bhante nāgasena, kāraṇaṃ, buddho sabbaññū, sampaṭicchāma buddho sabbaññū’’ti.
“Just as, great king, when a wheel-turning monarch remembers his wheel-jewel, thinking, ‘May my wheel-jewel come to me!’, upon his remembering it the wheel-jewel comes; so too, great king, the Tathāgata, by repeatedly adverting, knows whatever he wishes.” “The reason is compelling, venerable Nāgasena. The Buddha is omniscient. We accept that the Buddha is omniscient.”
“Tâu Đại vương, ví như vua Chuyển Luân, khi nào ngài nhớ đến bánh xe báu: ‘Mong rằng bánh xe báu của ta hãy đến,’ thì khi ngài nhớ đến, bánh xe báu liền đến. Tâu Đại vương, cũng giống như thế, đức Như Lai sau khi suy xét, suy xét rồi thì biết được bất cứ điều gì ngài muốn.” “Bạch Đại đức Nāgasena, lý lẽ thật vững chắc. Đức Phật là bậc Toàn tri, chúng thần xin chấp nhận rằng đức Phật là bậc Toàn tri.”
Buddhasabbaññubhāvapañho dutiyo.
The Second Question on the State of a Buddha's Omniscience.
Câu hỏi thứ hai về bản chất Toàn tri của đức Phật (chấm dứt).