Bản dịch
MIL 5.1.1 — CÂU HỎI VỀ VIỆC KHÔNG THỌ NHẬN CÚNG DƯỜNG
1. Katādhikārasaphalapañha
BJT 1Khi ấy, đức vua Milinda, với sự đã được cho phép, đã cúi xuống ở hai bàn chân của vị thầy, rồi đã chắp tay lên ở đầu, và nói điều này: “Thưa ngài Nāgasena, các giáo chủ tà giáo này nói như vầy: ‘Nếu đức Phật ưng thuận sự cúng dường thì đức Phật chưa đạt Niết Bàn, còn bị gắn bó với đời, còn ở trong đời, còn chung chạ với đời. Vì thế hành động hướng thượng được làm đến Ngài là vô ích, không có quả báu. Nếu đã đạt Niết Bàn thì Ngài không còn gắn bó với đời, đã tách rời khỏi tất cả các hữu, sự cúng dường đến Ngài không phát sanh nữa. Người đã đạt Niết Bàn không ưng thuận điều gì. Hành động hướng thượng được làm đến người không ưng thuận là vô ích, không có quả báu.’ Câu hỏi này có cả hai khía cạnh. Lãnh vực này không dành cho những kẻ có tâm trí chưa đạt, lãnh vực này chỉ dành cho những bậc vĩ đại. Xin ngài hãy phá vỡ mạng lưới tà kiến này. Xin ngài hãy xác định về điều chắc thật. Câu hỏi này được dành cho ngài. Xin ngài hãy ban cho sự nhận thức đến những người con của đấng Chiến Thắng trong ngày vị lai để phản bác lại các học thuyết khác.”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, đức Thế Tôn đã đạt Niết Bàn, và đức Thế Tôn không ưng thuận sự cúng dường. Ngay tại cội cây Bồ Đề, sự ưng thuận của đức Như Lai đã được dứt bỏ, vậy thì còn điều gì nữa đối với vị đã Viên Tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót? Tâu đại vương, điều này cũng đã được vị trưởng lão Tướng Quân Chánh Pháp Sāriputtena nói đến:
Các bậc tương tương với đấng Vô Song, trong khi được cúng dường bởi chư Thiên và nhân loại, các vị ấy không ưng thuận sự tôn vinh; điều ấy là lẽ tự nhiên của chư Phật.”
BJT 2Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, con nói lời ca ngợi cha, cha nói lời khen ngợi con, điều này không phải là lý do để phản bác lại các học thuyết khác. Điều này gọi là lời tuyên bố về niềm tin. Vậy xin ngài hãy nói rõ ràng cho trẫm lý do về trường hợp ấy nhằm thiết lập học thuyết của mình và nhằm việc tháo tung mạng lưới tà kiến.”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, đức Thế Tôn đã đạt Niết Bàn, và đức Thế Tôn không ưng thuận sự cúng dường. Chư Thiên và nhân loại, trong khi thực hiện nền đất cho báu vật xá-lợi của đức Như Lai dẫu cho Ngài không ưng thuận và trong khi đeo đuổi pháp hành đúng đắn với đề mục là báu vật trí tuệ của đức Như Lai, vẫn đạt được ba sự thành tựu. Tâu đại vương, giống như khối lửa lớn bốc cháy rồi tắt ngấm, tâu đại vương phải chăng khối lửa ấy cũng ưng thuận việc bám víu vào cỏ và củi?”
“Thưa ngài, ngay cả trong khi đang cháy, khối lửa lớn ấy cũng không ưng thuận việc bám víu vào cỏ và củi, vậy thì việc gì lại ưng thuận khi đã tắt ngấm, được yên lặng, không còn tâm thức?”
“Tâu đại vương, phải chăng khi khối lửa lớn ấy đã ngừng nghỉ, được yên lặng, thì không còn ngọn lửa ở thế gian?”
“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, củi là nền tảng, là sự bám víu của ngọn lửa. Thưa ngài, bất cứ những người nào có ước muốn về lửa, những người ấy xoay tròn nhánh củi bằng thể lực, sức mạnh, và sự nỗ lực của bản thân, do việc làm của mỗi cá nhân thì làm phát sanh ngọn lửa, rồi với ngọn lửa ấy làm các công việc được làm bởi ngọn lửa.”
“Tâu đại vương, chính vì điều ấy lời nói của các giáo chủ tà giáo: ‘Hành động hướng thượng được làm đến người không ưng thuận là vô ích, không có quả báu’ là sai trái. Tâu đại vương, giống như khối lửa lớn đã bốc cháy, tương tợ y như thế đức Thế Tôn đã bốc cháy với vẻ rực rỡ của vị Phật trong mười ngàn thế giới. Tâu đại vương, giống như khối lửa lớn bốc cháy rồi tắt ngấm, tương tợ y như thế đức Thế Tôn sau khi bốc cháy với vẻ rực rỡ của vị Phật trong mười ngàn thế giới rồi đã Viên Tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót. Tâu đại vương, giống như khối lửa lớn đã tắt ngấm thì không còn ưng thuận việc bám víu vào cỏ và củi, tương tợ y như thế sự ưng thuận của đấng Phúc Lợi Thế Gian là đã được dứt bỏ, được yên lặng. Tâu đại vương, giống như khi khối lửa đã tắt ngấm, không còn bám víu, những người xoay tròn nhánh củi bằng thể lực, sức mạnh, và sự nỗ lực của bản thân, do việc làm của mỗi cá nhân thì làm phát sanh ngọn lửa, rồi với ngọn lửa ấy làm các công việc được làm bởi ngọn lửa, tương tợ y như thế chư Thiên và nhân loại sau khi thực hiện nền đất cho báu vật xá-lợi của đức Như Lai dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, và trong khi đeo đuổi pháp hành đúng đắn với đề mục là báu vật trí tuệ của đức Như Lai, vẫn đạt được ba sự thành tựu. Tâu đại vương, cũng vì lý do này dẫu cho đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến Ngài là không vô ích, có quả báu.”
BJT 3“Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hành động hướng thượng được làm đến đức Như Lai, dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, là không vô ích, có quả báu. Tâu đại vương, giống như cơn gió lớn thổi qua rồi ngừng nghỉ, tâu đại vương phải chăng cơn gió đã ngừng nghỉ ấy cũng ưng thuận việc sanh lên lần nữa?”
“Thưa ngài, cơn gió đã ngừng nghỉ hẵn không có tư tưởng hoặc tác ý cho việc sanh lên lần nữa. Vì lý do gì? Bản chất của gió ấy là không có suy tư.”
“Tâu đại vương, phải chăng có việc nhận biết về ‘cơn gió’ khi cơn gió ấy đã ngừng nghỉ?”
“Thưa ngài, không có. Cành lá thốt nốt và cây quạt là điều kiện để tạo ra cơn gió. Những người nào bị bực bội bởi sức nóng, bị hành hạ bởi sự đốt nóng, những người ấy bằng thể lực, sức mạnh, và sự nỗ lực của bản thân, do việc làm của mỗi cá nhân thì làm phát sanh lên cơn gió với cành lá thốt nốt hoặc với cây quạt rồi làm dập tắt sự nóng nực, làm dịu đi sự đốt nóng.”
“Tâu đại vương, chính vì điều ấy lời nói của các giáo chủ tà giáo: ‘Hành động hướng thượng được làm đến người không ưng thuận là vô ích, không có quả báu’ là sai trái. Tâu đại vương, giống như cơn gió lớn đã thổi qua, tương tợ y như thế đức Thế Tôn đã thổi đến cơn gió mát mẻ, ngọt ngào, êm dịu, và từ ái ở mười ngàn thế giới. Tâu đại vương, giống như cơn gió lớn thổi qua rồi ngừng nghỉ, tương tợ y như thế đức Thế Tôn sau khi thổi đến cơn gió mát mẻ, ngọt ngào, êm dịu, và từ ái rồi đã Viên Tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót. Tâu đại vương, giống như cơn gió lớn đã ngừng nghỉ thì không còn ưng thuận việc sanh lên lần nữa, tương tợ y như thế sự ưng thuận của đấng Phúc Lợi Thế Gian là đã được dứt bỏ, được yên lặng. Tâu đại vương, giống như những người ấy bị bực bội bởi sức nóng, bị hành hạ bởi sự đốt nóng, tương tợ y như thế chư Thiên và nhân loại bị hành hạ bởi sức nóng bởi sự đốt nóng của ngọn lửa gồm ba loại (tham sân si). Giống như cành lá thốt nốt và cây quạt là điều kiện để tạo ra cơn gió, tương tợ y như thế xá-lợi và báu vật trí tuệ của đức Như Lai là điều kiện cho việc đạt được ba sự thành tựu. Giống như những người bị bực bội bởi sức nóng, bị hành hạ bởi sự đốt nóng thì làm phát sanh lên cơn gió với cành lá thốt nốt hoặc với cây quạt rồi làm tắt ngấm sự nóng nực, làm dịu đi sự đốt nóng, tương tợ y như thế chư Thiên và nhân loại sau khi cúng dường xá-lợi và báu vật trí tuệ của đức Như Lai dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, sau khi làm phát sanh pháp thiện, với pháp thiện ấy làm tắt ngấm, làm dịu sự nóng nực và sự đốt nóng của ngọn lửa gồm ba loại. Tâu đại vương, cũng vì lý do này dẫu cho đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến Ngài là không vô ích, có quả báu.
BJT 4Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa để phản bác lại các học thuyết khác. Tâu đại vương, giống như người đàn ông sau khi vỗ vào cái trống thì tạo ra âm thanh; âm thanh nào của cái trống đã được tạo ra bởi người đàn ông thì âm thanh ấy sẽ biến mất. Tâu đại vương, phải chăng âm thanh ấy cũng ưng thuận việc tạo ra lần nữa?”
“Thưa ngài, không đúng. Âm thanh ấy đã biến mất, nó không có tư tưởng hoặc tác ý cho việc sanh lên lần nữa. Khi âm thanh của cái trống đã được tạo ra một lần rồi biến mất, âm thanh của cái trống ấy được chấm dứt. Thưa ngài, tuy nhiên cái trống là điều kiện cho việc tạo ra âm thanh. Và người đàn ông khi có điều kiện vỗ vào cái trống bằng sự nỗ lực của chính mình thì tạo ra âm thanh.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn, sau khi xác lập báu vật xá-lợi, cùng với Pháp, Luật, và lời giáo huấn đã được phát triển toàn vẹn nhờ vào Giới-Định-Tuệ-Giải Thoát-Trí Tuệ và Nhận Thức về sự Giải Thoát chính là bậc Đạo Sư, rồi đã tự mình Viên Tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót. Và không phải khi đức Thế Tôn đã Viên Tịch Niết Bàn thì việc đạt được các sự thành tựu là bị gián đoạn. Các chúng sanh bị hành hạ bởi khổ đau ở sự hiện hữu, sau khi sử dụng báu vật xá-lợi, Pháp, Luật, và lời giáo huấn làm điều kiện, rồi có ước muốn về sự thành tựu thì đạt được các sự thành tựu. Tâu đại vương, cũng vì lý do này dẫu cho đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn, không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến Ngài là không vô ích, có quả báu.
Tâu đại vương, đức Thế Tôn đã nhìn thấy, đã thuyết giảng, đã nói lên, đã phát biểu về điều ấy cho thời vị lai xa xôi rằng: ‘Này Ānanda, nếu các ngươi khởi ý như vầy: Có lời dạy của đấng Đạo Sư trong quá khứ, còn (hiện nay) chúng ta không có bậc Đạo Sư. Này Ānanda, điều này không nên được nhận thức như thế. Này Ānanda, Pháp và Luật nào đã được thuyết giảng, đã được quy định bởi Ta, Pháp và Luật ấy, sau khi Ta tịch diệt, là bậc Đạo Sư của các ngươi.’ Về lời nói ấy của các giáo chủ tà giáo ấy rằng: ‘Đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến Ngài là vô ích, không có quả báu’ là sai trái, không là sự thật, lìa sự chân thật, không đúng, là mâu thuẫn, là sai lệch, tạo sự khổ đau, có kết quả khổ đau, dẫn đến địa ngục.”
BJT 5“Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hành động hướng thượng được làm đến đức Như Lai, dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, là không vô ích, có quả báu. Tâu đại vương, phải chăng đại địa cầu này ưng thuận rằng: ‘Tất cả hạt giống hãy mọc lên ở nơi ta’?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, vậy thì tại sao các hạt giống ấy, trong khi đại địa cầu không ưng thuận, lại mọc lên, tạo lập chùm rễ vững chãi, có thân cây, lõi cây, và cành cây tỏa rộng xung quanh, có mang hoa và quả?”
“Thưa ngài, mặc dầu không ưng thuận đại địa cầu vẫn là nền tảng và tạo điều kiện cho sự phát triển của các hột giống ấy. Các hột giống ấy nương vào nền tảng ấy, nhờ vào điều kiện ấy mọc lên, tạo lập chùm rễ vững chãi, có thân cây, lõi cây, và cành cây tỏa rộng xung quanh, có mang hoa và quả.”
“Tâu đại vương, chính vì điều ấy các giáo chủ tà giáo đã bị hư hoại, bị thất bại, bị mâu thuẫn ở lời nói của họ nếu họ nói rằng: ‘Hành động hướng thượng được làm đến người không ưng thuận là vô ích, không có quả báu.’ Tâu đại vương, đại địa cầu như thế nào, thì đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri như thế ấy. Tâu đại vương, đại địa cầu không ưng thuận bất cứ điều gì như thế nào, thì đức Như Lai không ưng thuận bất cứ điều gì như thế ấy. Tâu đại vương, các hột giống ấy nương vào trái đất mọc lên, tạo lập chùm rễ vững chãi, có thân cây, lõi cây, và cành cây tỏa rộng xung quanh, có mang hoa và quả như thế nào, thì chư Thiên và nhân loại nương vào xá-lợi và báu vật trí tuệ của đức Như Lai, dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, rồi tạo lập nền tảng vững chãi về pháp thiện, có thân cây là định, lõi cây là Pháp, và cành cây là giới tỏa rộng xung quanh, có mang hoa là sự giải thoát và quả là bản thể Sa-môn như thế ấy. Tâu đại vương, cũng vì lý do này dẫu cho đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến Ngài là không vô ích, có quả báu.”
BJT 6“Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hành động hướng thượng được làm đến đức Như Lai, dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, là không vô ích, có quả báu. Tâu đại vương, phải chăng các con lạc đà, các con bò, các con lừa, các con dê, các con thú, các con người này ưng thuận sự hiện hữu của các dòng họ giun sán ở trong bụng?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, vậy thì tại sao trong khi chúng không ưng thuận mà các con giun sán ấy lại hiện hữu và vô số con cháu lại đạt được sự phát triển ở trong bụng của chúng?”
“Thưa ngài, do năng lực của nghiệp ác mà các con con giun sán ấy hiện hữu và vô số con cháu đạt được sự phát triển ở trong bụng của các chúng sanh ấy mặc dầu chúng không ưng thuận.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế do năng lực của xá-lợi và báu vật trí tuệ, dẫu cho đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến đức Như Lai là không vô ích, có quả báu.”
BJT 7“Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa mà với lý do ấy hành động hướng thượng được làm đến đức Như Lai, dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, là không vô ích, có quả báu. Tâu đại vương, phải chăng các con người này ưng thuận rằng: ‘Chín mươi tám loại bệnh này hãy sanh lên ở thân thể’?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, vậy thì tại sao các loại bệnh ấy lại giáng xuống thân thể của những người không ưng thuận?”
“Thưa ngài, do ác hạnh đã làm ở thời quá khứ.”
“Tâu đại vương, nếu điều bất thiện đã làm ở thời quá khứ có thể được cảm thọ ở đây, tâu đại vương, chính vì điều ấy nghiệp thiện hoặc bất thiện đã làm ở thời quá khứ cũng như đã làm ở đây là không vô ích, có quả báu. Tâu đại vương, cũng vì lý do này dẫu cho đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến Ngài là không vô ích, có quả báu.”
BJT 8“Tâu đại vương, hơn nữa đại vương có được nghe trước đây rằng Dạ-xoa tên Nandaka sau khi công kích vị trưởng lão Sāriputta đã bị rơi vào trong trái đất?”
“Thưa ngài, đúng vậy, có được nghe. Điều ấy là rõ rệt ở thế gian.”
“Tâu đại vương, phải chăng trưởng lão Sāriputta đã ưng thuận việc nuốt vào của trái đất đối với Dạ-xoa Nandaka?”
“Thưa ngài, ngay cả khi thế gian có cả chư Thiên đang bị vỡ ra, ngay cả khi mặt trăng và mặt trời đang bị rơi xuống ở mặt đất, ngay cả khi núi chúa Sineru đang bị vỡ tung tóe, trưởng lão Sāriputta cũng không ưng thuận sự khổ đau của người khác. Điều ấy có nguyên nhân là gì? Do nhân nào mà trưởng lão Sāriputta có thể nổi giận hoặc sân hận, nhân ấy đối với trưởng lão Sāriputta đã được nhổ bỏ, đã được trừ tuyệt. Thưa ngài, do tính chất đã được nhổ bỏ của nhân mà trưởng lão Sāriputta không thể nào giận dữ dầu có liên quan đến việc bị tước đoạt mạng sống.”
“Tâu đại vương, nếu trưởng lão Sāriputta đã không ưng thuận việc nuốt vào của trái đất đối với Dạ-xoa Nandaka, vậy thì tại sao Dạ-xoa Nandaka lại rơi vào trong trái đất?”
“Thưa ngài, do năng lực của nghiệp bất thiện.”
“Tâu đại vương, nếu do năng lực của nghiệp bất thiện mà Dạ-xoa Nandaka rơi vào trong trái đất, thì sự xúc phạm đã làm đến người dầu là không ưng thuận cũng là không vô ích, có quả báu. Tâu đại vương, chính vì điều ấy do năng lực của nghiệp thiện, ‘hành động hướng thượng được làm đến người không ưng thuận là không vô ích, có quả báu.’
Tâu đại vương, cũng vì lý do này dẫu cho đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, hành động hướng thượng được làm đến Ngài là không vô ích, có quả báu.
BJT 9Tâu đại vương, vào thời bấy giờ những người đã rơi vào trong trái đất là bao nhiêu? Đại vương có được nghe về trường hợp ấy không?”
“Thưa ngài, đúng vậy, có được nghe.”
“Tâu đại vương, vậy xin đại vương hãy cho nghe với.”
“Thưa ngài, là ‘thiếu nữ Ciñcā, Suppabuddha dòng Sakya, trưởng lão Devadatta, Dạ-xoa Nandaka, và thanh niên Nanda.’ Thưa ngài, điều này trẫm đã được nghe, năm người này đã rơi vào trong trái đất.”
“Tâu đại vương, những người ấy đã xúc phạm đến ai?”
“Thưa ngài, đến đức Thế Tôn và các vị Thinh Văn.”
“Tâu đại vương, phải chăng đức Thế Tôn hay các vị Thinh Văn đã ưng thuận việc hút vào của trái đất đối với những người này?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, chính vì điều ấy hành động hướng thượng được làm đến đức Như Lai, dẫu cho Ngài đã Viên Tịch Niết Bàn không còn ưng thuận, là không vô ích, có quả báu.”
“Thưa ngài Nāgasena, câu hỏi thâm sâu đã khéo được giảng giải, đã được làm rõ, điều bí mật đã được phơi bày, nút thắt đã được mở ra, bụi rậm đã được làm không còn bụi rậm, lời tuyên thuyết của ngoại đạo đã bị hư hoại, quan điểm xấu đã bị đổ vỡ, các giáo chủ tà giáo đã không còn hào quang phát sanh, ngài đã tiến đến vị thế cao quý và ưu tú trong số các vị có đồ chúng.”
Câu hỏi về việc không thọ nhận cúng dường là thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Atha kho milindo rājā katāvakāso nipacca garuno pāde sirasi añjaliṃ katvā etadavoca ‘‘bhante nāgasena, ime titthiyā evaṃ bhaṇanti † ‘yadi buddho pūjaṃ sādiyati, na parinibbuto buddho saṃyutto lokena antobhaviko lokasmiṃ lokasādhāraṇo, tasmā tassa kato adhikāro avañjho bhavati saphalo. Yadi parinibbuto visaṃyutto lokena nissaṭo sabbabhavehi, tassa pūjā nuppajjati, parinibbuto na kiñci sādiyati, asādiyantassa kato adhikāro vañjho bhavati aphalo’ti ubhato koṭiko eso pañho, neso visayo appattamānasānaṃ, mahantānaṃ yeveso visayo, bhindetaṃ diṭṭhijālaṃ ekaṃse ṭhapaya, taveso pañho anuppatto, anāgatānaṃ jinaputtānaṃ cakkhuṃ dehi paravādaniggahāyā’’ti.
1. Then King Milinda, having been granted the opportunity, bowed down at his teacher's feet, placed his hands together in reverence at his head, and said this: 'Venerable Nāgasena, these sectarians speak thus: “If the Buddha willfully accepts veneration, then he has not attained final Nibbāna; he is connected with the world, included within existence, and subject to the world. Therefore, an act of veneration done for him is not in vain but is fruitful. If he has attained final Nibbāna, is disconnected from the world, and has escaped from all kinds of becoming, then veneration for him does not arise, for one who has attained final Nibbāna willfully accepts nothing. For one who willfully accepts nothing, an act of veneration done is in vain and fruitless.” This is a two-horned question; it is not a matter for those of unaccomplished mind, but it is a matter for the great. Shatter this net of views; establish one side of the issue. This question has come to you. Grant the eye of wisdom to the future sons of the Conqueror for the refutation of opposing doctrines.'
1. Khi ấy, vua Milinda đã được cho cơ hội, liền cúi lạy dưới chân bậc thầy, chắp tay trên đầu và thưa điều này: “Bạch ngài Nāgasena, các người ngoại đạo này nói như vầy: ‘Nếu đức Phật chấp nhận sự cúng dường thì đức Phật chưa nhập Niết-bàn, còn liên hệ với thế gian, còn ở trong thế gian, còn chung với thế gian. Do đó, sự cúng dường đã được thực hiện đối với vị ấy không phải là vô ích, là có kết quả. Nếu đã nhập Niết-bàn, không còn liên hệ với thế gian, đã thoát khỏi tất cả các cõi hữu, sự cúng dường đối với vị ấy không phát sinh, đã nhập Niết-bàn thì không chấp nhận bất cứ điều gì. Đối với vị không chấp nhận, sự cúng dường đã được thực hiện là vô ích, là không có kết quả.’ Vấn đề này có hai đầu, đây không phải là lĩnh vực của những người chưa đắc đạo, đây chính là lĩnh vực của những bậc vĩ đại. Xin ngài hãy phá tan mạng lưới tà kiến này, hãy thiết lập một quan điểm duy nhất. Vấn đề này đã đến với ngài, xin ngài hãy cho các con của đức Chinh Phục trong tương lai con mắt trí tuệ để nhiếp phục tà thuyết của người khác.”
Thero āha ‘‘parinibbuto, mahārāja, bhagavā, na ca bhagavā pūjaṃ sādiyati, bodhimūle yeva tathāgatassa sādiyanā pahīnā, kiṃ pana anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbutassa. Bhāsitampetaṃ, mahārāja, therena sāriputtena dhammasenāpatinā –
The elder said: 'Great king, the Blessed One has attained final Nibbāna, and the Blessed One does not willfully accept veneration. The Tathāgata’s willful acceptance was abandoned at the very foot of the Bodhi tree, so what need be said of one who has attained final Nibbāna in the Nibbāna-element with no residue remaining? This has been stated, great king, by the Elder Sāriputta, the General of the Dhamma:
Trưởng lão nói: "Tâu Đại vương, Đức Thế Tôn đã nhập Vô Dư Niết-bàn, và Đức Thế Tôn không hoan hỷ sự cúng dường. Ngay tại cội Bồ-đề, sự hoan hỷ đã được Như Lai đoạn tận. Huống nữa là bậc đã nhập Vô Dư Y Niết-bàn giới, làm sao còn có sự hoan hỷ? Tâu Đại vương, điều này đã được Trưởng lão Sāriputta, vị Pháp tướng quân, nói lên rằng –
‘‘‘Pūjiyantā † asamasamā, sadevamānusehi te;
Na sādiyanti sakkāraṃ, buddhānaṃ esa dhammatā’’’ti.
'Venerated by gods and humans, the matchless ones do not willfully accept homage. This is the nature of the Buddhas.'
"'Các Ngài, bậc Vô Song, được chư thiên và nhân loại cúng dường; các Ngài không hoan hỷ sự tôn kính, đó là pháp tánh của chư Phật.'"
‘‘Yathā, mahārāja, mahāpathavī, evaṃ tathāgato arahaṃ sammāsambuddho. Yathā, mahārāja, mahāpathavī na kiñci sādiyati, evaṃ tathāgato na kiñci sādiyati. Yathā, mahārāja, tāni bījāni pathaviṃ nissāya saṃviruhitvā daḷhamūlajaṭāpatiṭṭhitā khandhasārasākhāparivitthiṇṇā pupphaphaladharā honti, evaṃ devamanussā tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva dhātuñca ñāṇaratanañca nissāya daḷhakusalamūlapatiṭṭhitā samādhikkhandhadhammasārasīlasākhāparivitthiṇṇā vimuttipupphasāmaññaphaladharā honti, imināpi, mahārāja, kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphaloti.
As is the great earth, great king, so is the Tathāgata, the Arahant, the Perfectly Self-Enlightened One. As the great earth consents to nothing, great king, so the Tathāgata consents to nothing. Just as, great king, those seeds, relying on the earth, sprout, become firmly established with a mass of roots, develop a trunk of heartwood and spreading branches, and become bearers of flowers and fruit, so too do gods and humans, relying on the relics and the jewel of wisdom of the Tathāgata—who has attained final Nibbāna and consents to nothing—become firmly established with wholesome roots, develop a trunk of concentration, an essence of Dhamma, and spreading branches of virtue, and become bearers of the flower of liberation and the fruit of recluseship. For this reason too, great king, the honor done to the Tathāgata who has attained final Nibbāna, without his consenting to it, is not in vain but is fruitful.
– Tâu Đại vương, ví như đại địa, đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác cũng như vậy. Tâu Đại vương, ví như đại địa không hoan hỷ với bất cứ điều gì, đức Như Lai cũng không hoan hỷ với bất cứ điều gì. Tâu Đại vương, ví như các hạt giống kia nương vào đất đai mà nảy mầm, có rễ chùm vững chắc, có thân cây, lõi cây, cành lá lan rộng, trổ hoa kết trái; cũng vậy, chư thiên và loài người nương vào xá-lợi và trí tuệ báu của đức Như Lai đã nhập Vô Dư Niết-bàn, vị không hoan hỷ, được an lập trên gốc rễ thiện pháp vững chắc, có thân là định, có lõi là pháp, có cành lá là giới lan rộng, trổ hoa giải thoát, kết quả Sa-môn. Tâu Đại vương, cũng do nguyên nhân này, sự cúng dường được thực hiện đến đức Như Lai đã nhập Vô Dư Niết-bàn, vị không hoan hỷ, không phải là vô ích, mà có kết quả.
‘‘Aparampi, mahārāja, uttariṃ kāraṇaṃ suṇohi yena kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphalo. Sādiyanti nu kho, mahārāja, ime oṭṭhā goṇā gadrabhā ajā pasū manussā antokucchismiṃ kimikulānaṃ sambhava’’nti? ‘‘Na hi, bhante’’ti. ‘‘Kissa pana te, mahārāja, kimayo tesaṃ asādiyantānaṃ antokucchismiṃ sambhavitvā bahuputtanattā vepullataṃ pāpuṇantī’’ti? ‘‘Pāpassa, bhante, kammassa balavatāya asādiyantānaṃ yeva tesaṃ sattānaṃ antokucchismiṃ kimayo sambhavitvā bahuputtanattā vepullataṃ pāpuṇantī’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva dhātussa ca ñāṇārammaṇassa ca balavatāya tathāgate kato adhikāro avañjho bhavati saphaloti.
Furthermore, great king, listen to another reason why the honor done to the Tathāgata who has attained final Nibbāna, without his consenting to it, is not in vain but is fruitful. Do these, great king—camels, oxen, donkeys, goats, beasts, and humans—consent to the arising of worms in their bellies?" "No, venerable sir." "Then why, great king, do those worms, without their consent, arise in their bellies and multiply, having many offspring?" "Venerable sir, it is due to the strength of evil kamma that, without the consent of those beings, worms arise in their bellies and multiply, having many offspring." "Just so, great king, due to the strength of the relics and the object of wisdom, the honor done to the Tathāgata who has attained final Nibbāna, without his consenting to it, is not in vain but is fruitful.
– Lại nữa, tâu Đại vương, hãy lắng nghe thêm nguyên nhân khác, do đó mà sự cúng dường được thực hiện đến đức Như Lai đã nhập Vô Dư Niết-bàn, vị không hoan hỷ, không phải là vô ích, mà có kết quả. Tâu Đại vương, những con lạc đà, bò, lừa, dê, thú, người này có hoan hỷ về sự sinh khởi của các loài giun sán trong bụng không? – Thưa Tôn giả, không. – Vậy tại sao, tâu Đại vương, những con giun sán ấy, sau khi sinh khởi trong bụng của những chúng sanh không hoan hỷ ấy, lại có nhiều con cháu, đạt đến sự phát triển? – Thưa Tôn giả, do năng lực mạnh mẽ của ác nghiệp, các loài giun sán ấy, sau khi sinh khởi trong bụng của chính những chúng sanh không hoan hỷ ấy, lại có nhiều con cháu, đạt đến sự phát triển. – Cũng y như vậy, tâu Đại vương, do năng lực mạnh mẽ của xá-lợi và đối tượng của trí tuệ của đức Như Lai đã nhập Vô Dư Niết-bàn, vị không hoan hỷ, sự cúng dường được thực hiện nơi đức Như Lai không phải là vô ích, mà có kết quả.
‘‘Aparampi, mahārāja, uttariṃ kāraṇaṃ suṇohi yena kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphalo. Sādiyanti nu kho, mahārāja, ime manussā ime aṭṭhanavuti rogā kāye nibbattantū’’ti? ‘‘Na hi, bhante’’ti. ‘‘Kissa pana te, mahārāja, rogā asādiyantānaṃ kāye nipatantī’’ti? ‘‘Pubbe katena, bhante, duccaritenā’’ti. ‘‘Yadi, mahārāja, pubbe kataṃ akusalaṃ idha vedanīyaṃ hoti, tena hi, mahārāja, pubbe katampi idha katampi kusalākusalaṃ kammaṃ avañjhaṃ bhavati saphalanti. Imināpi, mahārāja, kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphaloti.
Furthermore, great king, listen to another reason why the honor done to the Tathāgata who has attained final Nibbāna, without his consenting to it, is not in vain but is fruitful. Do these people, great king, consent that these ninety-eight diseases should arise in their bodies?" "No, venerable sir." "Then why, great king, do these diseases befall their bodies, though they do not consent?" "Because of past misconduct, venerable sir." "If, great king, unwholesome kamma done in the past is to be experienced here, then, great king, both wholesome and unwholesome kamma, whether done in the past or done here, is not in vain but is fruitful. By this reason too, great king, the honor done to the Tathāgata who has attained final Nibbāna, without his consenting to it, is not in vain but is fruitful.
– Lại nữa, tâu Đại vương, hãy lắng nghe thêm nguyên nhân khác, do đó mà sự cúng dường được thực hiện đến đức Như Lai đã nhập Vô Dư Niết-bàn, vị không hoan hỷ, không phải là vô ích, mà có kết quả. Tâu Đại vương, những người này có hoan hỷ rằng: ‘Mong rằng chín mươi tám thứ bệnh này hãy phát sinh trong thân’ không? – Thưa Tôn giả, không. – Vậy tại sao, tâu Đại vương, những bệnh ấy lại xảy đến trong thân của những người không hoan hỷ? – Thưa Tôn giả, do ác hạnh đã làm trong quá khứ. – Tâu Đại vương, nếu nghiệp bất thiện đã làm trong quá khứ phải được cảm thọ ở đời này, thì, tâu Đại vương, nghiệp thiện và bất thiện đã làm trong quá khứ và đã làm ở đời này không phải là vô ích, mà có kết quả. Cũng do nguyên nhân này, tâu Đại vương, sự cúng dường được thực hiện đến đức Như Lai đã nhập Vô Dư Niết-bàn, vị không hoan hỷ, không phải là vô ích, mà có kết quả.
‘‘Sutapubbaṃ pana tayā, mahārāja, nandako nāma yakkho theraṃ sāriputtaṃ āsādayitvā pathaviṃ paviṭṭho’’ti? ‘‘Āma, bhante, suyyati, loke pākaṭo eso’’ti. ‘‘Api nu kho, mahārāja, thero sāriputto sādiyi nandakassa yakkhassa mahāpathavigilana’’nti †. ‘‘Ubbattiyantepi, bhante, sadevake loke patamānepi chamāyaṃ candimasūriye vikirantepi sinerupabbatarāje thero sāriputto na parassa dukkhaṃ sādiyeyya. Taṃ kissa hetu? Yena hetunā thero sāriputto kujjheyya vā dusseyya vā, so hetu therassa sāriputtassa samūhato samucchinno, hetuno samugghātitattā, bhante, thero sāriputto jīvitahārakepi kopaṃ na kareyyā’’ti. ‘‘Yadi, mahārāja, thero sāriputto nandakassa yakkhassa pathavigilanaṃ na sādiyi, kissa pana nandako yakkho pathaviṃ paviṭṭho’’ti? ‘‘Akusalassa, bhante, kammassa balavatāyā’’ti. ‘‘Yadi, mahārāja, akusalassa kammassa balavatāya nandako yakkho pathaviṃ paviṭṭho, asādiyantassāpi kato aparādho avañjho bhavati saphalo. Tena hi, mahārāja, akusalassapi kammassa balavatāya asādiyantassa kato adhikāro avañjho bhavati saphaloti. Imināpi, mahārāja, kāraṇena tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphaloti.
Have you ever heard, great king, that the yakkha named Nandaka, having assailed the Elder Sāriputta, was swallowed by the earth?" "Yes, venerable sir, it is heard; this is well-known in the world." "But, great king, did the Elder Sāriputta consent to the yakkha Nandaka being swallowed by the great earth?" "Venerable sir, even if the world with its gods were to be overturned, if the sun and moon were to fall to the earth, if Sineru, the king of mountains, were to crumble, the Elder Sāriputta would not consent to another’s suffering. For what reason? Because the cause by which the Elder Sāriputta might become angry or hostile has been uprooted and cut off in him. Since the cause has been eradicated, venerable sir, the Elder Sāriputta would not become angry even at one who was taking his life." "If, great king, the Elder Sāriputta did not consent to the yakkha Nandaka being swallowed by the earth, then why was the yakkha Nandaka swallowed by the earth?" "Due to the power of his unwholesome kamma, venerable sir." "If, great king, the yakkha Nandaka was swallowed by the earth due to the power of his unwholesome kamma, then an offense committed against one who does not consent is not in vain but is fruitful. Therefore, great king, due to the power of wholesome kamma, the honor done to one who does not consent is also not in vain but is fruitful. For this reason too, great king, the honor done to the Tathāgata who has attained final Nibbāna, without his consenting to it, is not in vain but is fruitful.
– Tâu Đại vương, ngài đã từng nghe rằng dạ-xoa tên Nandaka, sau khi xúc phạm Trưởng lão Sāriputta, đã bị đất nuốt chưa? – Thưa Tôn giả, con đã nghe, việc này nổi tiếng trong thế gian. – Tâu Đại vương, Trưởng lão Sāriputta có hoan hỷ về việc dạ-xoa Nandaka bị đại địa nuốt chửng không? – Thưa Tôn giả, dù cho thế giới cùng với chư thiên có bị đảo lộn, dù cho mặt trời mặt trăng có rơi xuống đất, dù cho vua núi Sineru có tan tành, Trưởng lão Sāriputta cũng sẽ không hoan hỷ trước sự đau khổ của người khác. Tại sao vậy? Vì nguyên nhân nào khiến Trưởng lão Sāriputta có thể sân hận hay làm hại, nguyên nhân ấy đã được Trưởng lão Sāriputta nhổ bật gốc, đã được đoạn trừ. Thưa Tôn giả, vì nguyên nhân đã được nhổ bật gốc, Trưởng lão Sāriputta sẽ không nổi giận ngay cả với người đoạt mạng sống của mình. – Tâu Đại vương, nếu Trưởng lão Sāriputta không hoan hỷ về việc dạ-xoa Nandaka bị đất nuốt, vậy tại sao dạ-xoa Nandaka lại bị đất nuốt? – Thưa Tôn giả, do năng lực mạnh mẽ của nghiệp bất thiện. – Tâu Đại vương, nếu dạ-xoa Nandaka bị đất nuốt do năng lực mạnh mẽ của nghiệp bất thiện, thì sự xúc phạm được thực hiện đối với người không hoan hỷ cũng không phải là vô ích, mà có kết quả. Vậy thì, tâu Đại vương, do năng lực mạnh mẽ của nghiệp bất thiện, sự cúng dường được thực hiện đối với người không hoan hỷ không phải là vô ích, mà có kết quả. Cũng do nguyên nhân này, tâu Đại vương, sự cúng dường được thực hiện đến đức Như Lai đã nhập Vô Dư Niết-bàn, vị không hoan hỷ, không phải là vô ích, mà có kết quả.
‘‘Kati nu kho te, mahārāja, manussā, ye etarahi mahāpathaviṃ paviṭṭhā, atthi te tattha savaṇa’’nti? ‘‘Āma, bhante, suyyatī’’ti. ‘‘Iṅgha tvaṃ, mahārāja, sāvehī’’ti? ‘‘Ciñcamāṇavikā, bhante, suppabuddho ca sakko, devadatto ca thero, nandako ca yakkho, nando ca māṇavakoti. Sutametaṃ, bhante, ime pañca janā mahāpathaviṃ paviṭṭhā’’ti. ‘‘Kismiṃ te, mahārāja, aparaddhā’’ti? ‘‘Bhagavati ca, bhante, sāvakesu cā’’ti. ‘‘Api nu kho, mahārāja, bhagavā vā sāvakā vā sādiyiṃsu imesaṃ mahāpathavipavisana’’nti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Tena hi, mahārāja, tathāgatassa parinibbutassa asādiyantasseva kato adhikāro avañjho bhavati saphalo’’ti. ‘‘Suviññāpito, bhante nāgasena, pañho gambhīro uttānīkato, guyhaṃ vidaṃsitaṃ, gaṇṭhi bhinno, gahanaṃ agahanaṃ kataṃ, naṭṭhā paravādā, bhaggā kudiṭṭhī, nippabhā jātā kutitthiyā, tvaṃ gaṇīvarapavaramāsajjā’’ti.
How many people are there, great king, who in the present time have been swallowed by the great earth? Have you heard of them?" "Yes, venerable sir, it is heard." "Come now, great king, declare them." "Venerable sir, they are Ciñcamāṇavikā, Suppabuddha the Sakyan, the elder Devadatta, the yakkha Nandaka, and the young man Nanda. I have heard, venerable sir, that these five people have been swallowed by the great earth." "Against whom, great king, did they offend?" "Venerable sir, against the Blessed One and his disciples." "But, great king, did the Blessed One or his disciples consent to their being swallowed by the great earth?" "No, venerable sir." "Therefore, great king, the honor done to the Tathāgata who has attained final Nibbāna, without his consenting to it, is not in vain but is fruitful." "Venerable Nāgasena, the profound question has been well explained and made clear, the hidden revealed, the knot untied, the impenetrable made penetrable. The arguments of others are destroyed, false views shattered, and the heterodox have become without glory, by encountering you, the best and foremost of teachers!"
– Tâu Đại vương, có bao nhiêu người đã bị đất nuốt cho đến nay, ngài có nghe biết về việc đó không? – Thưa Tôn giả, con có nghe. – Vậy thì, tâu Đại vương, ngài hãy kể ra. – Thưa Tôn giả, nữ nhân Ciñcamāṇavikā, Thích tử Suppabuddha, Trưởng lão Devadatta, dạ-xoa Nandaka, và thanh niên Nanda. Thưa Tôn giả, con đã nghe rằng năm người này đã bị đất nuốt. – Tâu Đại vương, họ đã xúc phạm đến ai? – Thưa Tôn giả, đến Đức Thế Tôn và các vị Thánh đệ tử. – Tâu Đại vương, Đức Thế Tôn hay các vị Thánh đệ tử có hoan hỷ về việc những người này bị đất nuốt không? – Thưa Tôn giả, không. – Vậy thì, tâu Đại vương, sự cúng dường được thực hiện đến đức Như Lai đã nhập Vô Dư Niết-bàn, vị không hoan hỷ, không phải là vô ích, mà có kết quả. – Thưa Tôn giả Nāgasena, vấn đề đã được giải thích rõ ràng. Điều sâu sắc đã được làm cho cạn cạn. Điều bí ẩn đã được phơi bày. Nút thắt đã được cởi bỏ. Rừng rậm đã được làm cho quang đãng. Các tà thuyết đã bị tiêu diệt, các ác kiến đã bị phá vỡ, các kẻ ngoại đạo đã trở nên lu mờ, nhờ được diện kiến ngài, bậc tối thắng trong các bậc thầy.
Katādhikārasaphalapañho paṭhamo.
The First Question on the Fruitfulness of Honor Done.
Câu hỏi thứ nhất về sự cúng dường có kết quả.