Bản dịch
MIL 4.6 — PHẦN MỞ ĐẦU CÁC CÂU HỎI ĐỐI CHỌI
6. Upāsakaguṇa
BJT 9“Thưa ngài Nāgasena, phần lãnh thổ này được xa lánh tám điều sai trái đối với các nhà tư tưởng. Và trẫm ở thế gian là người bạn tối thắng của các nhà tư tưởng, trẫm có sự gìn giữ điều được bí mật. Trẫm sẽ gìn giữ điều được bí mật cho đến khi nào trẫm còn sống. Và tánh giác của trẫm đã đạt đến sự tiến triển nhờ vào tám lý do. Hiện nay người học trò thực hành đúng đắn như trẫm là khó kiếm được. Các vị thầy có hai mươi lăm đức tính của vị thầy đối với người học trò. Vị thầy nên thực hành đúng đắn các đức tính ấy. Là hai mươi lăm đức tính nào?
Thưa ngài, ở đây đối với người học trò vị thầy:
- nên thiết lập sự hộ trì một cách thường xuyên liên tục,
- nên biết sự thân cận hay không thân cận,
- nên biết tình trạng xao lãng hay không xao lãng,
- nên biết về trường hợp cho phép nằm,
- nên biết về sự bệnh hoạn,
- nên biết vật thực đã được nhận hay chưa được nhận,
- nên biết về cá tánh,
- nên phân phát vật đã có ở bình bát,
- nên an ủi rằng: ‘Chớ lo sợ, điều tốt lành sẽ đến cho con,’
- nên biết về sự tiếp xúc: ‘Nó tiếp xúc với nhân vật này,’
- nên biết về sự tiếp xúc ở trong làng,
- nên biết về sự tiếp xúc ở trong chỗ cư ngụ,
- không nên cười đùa giỡn hớt với người ấy,
- sau khi nhìn thấy yếu điểm nên nhẫn nại,
- nên là người có hành động thận trọng,
- nên là người có hành động không nhỏ mọn,
- nên là người có hành động không khuất lấp,
- nên là người có hành động không thừa thãi,
- nên thiết lập tâm của người đào tạo rằng: ‘Ta đào tạo người này về các ngành nghề,’
- nên thiết lập tâm về sự tiến triển: ‘Làm thế nào để người này không thể bị suy giảm?’
- nên thiết lập tâm: ‘Ta đào tạo người này trở nên mạnh mẽ với sự mạnh mẽ của việc học tập,’
- nên thiết lập tâm từ,
- không nên bỏ rơi trong các trường hợp bất hạnh,
- không nên xao lãng việc cần làm,
- nên sách tấn bằng pháp khi (học trò) bị lỗi lầm.
Thưa ngài, đây là hai mươi lăm đức tính của vị thầy được dành cho vị thầy. Xin ngài hãy thực hành đúng đắn đối với trẫm bằng các đức tính này. Thưa ngài, có điều hoài nghi đã sanh khởi đến trẫm: Có những câu hỏi đối chọi đã được thuyết giảng bởi đấng Chiến Thắng. Vào thời vị lai xa xôi, sẽ nảy sanh sự tranh cãi về chúng, và vào thời vị lai xa xôi, các bậc giác ngộ như ngài sẽ khó đạt được. Xin ngài hãy cho ý kiến về những câu hỏi ấy của trẫm vì sự bắt bẻ của các học thuyết khác.”
Vị trưởng lão đã chấp thuận rằng: “Tốt lắm,” rồi đã làm sáng tỏ về mười đức tính cư sĩ dành cho người cư sĩ.
“Tâu đại vương, mười đức tính cư sĩ này là dành cho người cư sĩ. Là mười đức tính gì? Tâu đại vương, ở đây người cư sĩ:
- là cùng vui cùng khổ với hội chúng,
- có Pháp là chủ,
- yêu thích việc san sẻ tùy theo khả năng,
- sau khi nhìn thấy sự suy đồi ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng thì nỗ lực cho sự phát triển,
- là người có chánh kiến, xa rời lễ hội náo nhiệt, không tuyên bố theo giáo chủ khác thậm chí vì nguyên nhân mạng sống,
- thân và khẩu của người này được gìn giữ,
- có sự vui thích trong sự hợp nhất, ưa thích sự hợp nhất, là người không ganh tỵ, và không thực hành giáo pháp theo cách dối trá,
- đã đi đến nương nhờ vào đức Phật,
- đã đi đến nương nhờ vào Giáo Pháp,
- đã đi đến nương nhờ vào Hội Chúng.
Tâu đại vương, mười đức tính cư sĩ này là dành cho người cư sĩ.
Tất cả mười đức tính ấy được tìm thấy ở đại vương. Điều ấy được gắn bó, được đạt đến, là thích đáng, là phù hợp đối với đại vương là việc sau khi nhìn thấy sự suy đồi ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng thì đại vương mong muốn sự phát triển. Tôi cho phép đại vương. Đại vương hãy hỏi tôi một cách thoải mái.”
Dứt Lời Giảng về Phần Mở Đầu các Câu Hỏi Đối Chọi.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Thero ‘‘sādhū’’ti sampaṭicchitvā dasa upāsakassa upāsakaguṇe paridīpesi. ‘‘Dasa ime, mahārāja, upāsakassa upāsakaguṇā. Katame dasa, idha, mahārāja, upāsako saṅghena samānasukhadukkho hoti, dhammādhipateyyo hoti, yathābalaṃ saṃvibhāgarato hoti, jinasāsanaparihāniṃ disvā abhivaḍḍhiyā vāyamati. Sammādiṭṭhiko hoti, apagatakotūhalamaṅgaliko jīvitahetupi na aññaṃ satthāraṃ uddisati, kāyikavācasikañcassa rakkhitaṃ hoti, samaggārāmo hoti samaggarato, anusūyako hoti, na ca kuhanavasena sāsane carati, buddhaṃ saraṇaṃ gato hoti, dhammaṃ saraṇaṃ gato hoti, saṅghaṃ saraṇaṃ gato hoti. Ime kho, mahārāja, dasa upāsakassa upāsakaguṇā, te sabbe guṇā tayi saṃvijjanti, taṃ te yuttaṃ pattaṃ anucchavikaṃ patirūpaṃ yaṃ tvaṃ jinasāsanaparihāniṃ disvā abhivaḍḍhiṃ icchasi, karomi te okāsaṃ, puccha maṃ tvaṃ yathāsukha’’nti.
The elder, having accepted with 'Excellent,' expounded the ten qualities of a lay follower. 'These, great king, are the ten qualities of a lay follower. What are the ten? Here, great king, a lay follower shares both happiness and sorrow with the Sangha, has the Dhamma as his sovereign, delights in sharing according to his ability, and strives for the growth of the Conqueror’s dispensation when he sees it is in decline. He possesses right view, is without superstition and reliance on auspicious signs, and does not acknowledge another teacher even for the sake of his life. His bodily and verbal conduct is guarded, he delights in harmony and is devoted to harmony, he is not envious, and he does not live in the dispensation practicing deceit. He has gone for refuge to the Buddha, he has gone for refuge to the Dhamma, he has gone for refuge to the Sangha. These, great king, are the ten qualities of a lay follower. All these qualities are found in you. It is fitting, proper, suitable, and appropriate for you that, seeing the decline of the Conqueror’s dispensation, you wish for its growth. I grant you the opportunity. Ask me as you please.'
Vị trưởng lão sau khi chấp nhận: “Lành thay,” đã trình bày mười phẩm chất của một người cận sự nam. “Tâu đại vương, đây là mười phẩm chất của người cận sự nam. Mười phẩm chất nào? Ở đây, tâu đại vương, người cận sự nam có cùng hạnh phúc và đau khổ với Tăng chúng, lấy Chánh pháp làm chủ, vui thích trong việc chia sớt tùy theo khả năng, khi thấy Giáo pháp của đức Chinh Phục suy tàn liền cố gắng để phát triển. Là người có chánh kiến, từ bỏ điềm lành hên xui, ngay cả vì mạng sống cũng không chỉ định một bậc thầy nào khác, thân và khẩu của vị ấy được bảo vệ, là người ưa thích sự hòa hợp, vui thích trong sự hòa hợp, là người không ganh tỵ, và không sống trong giáo pháp bằng sự xảo trá, đã quy y Phật, đã quy y Pháp, đã quy y Tăng. Tâu đại vương, đây là mười phẩm chất của người cận sự nam. Tất cả những phẩm chất ấy đều có nơi ngài. Điều mà ngài mong muốn sự phát triển khi thấy Giáo pháp của đức Chinh Phục suy tàn, điều đó đối với ngài là hợp lý, là xứng đáng, là thích hợp, là tương xứng. Ta cho ngài cơ hội, ngài hãy hỏi ta tùy thích.”
Meṇḍakapañhārambhakathā niṭṭhitā.
The Introductory Discourse on the Ram's-Horn Questions is finished.
Phần câu chuyện mở đầu về vấn đề nan giải sừng dê được kết thúc.