Bản dịch
MIL 4.5 — PHẦN MỞ ĐẦU CÁC CÂU HỎI ĐỐI CHỌI
5. Ācariyaguṇa
BJT 6“Thưa ngài Nāgasena, chín hạng người này bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận. Là chín hạng nào? Hạng có tánh ái luyến, hạng có tánh sân, hạng có tánh si, hạng hèn nhát, hạng nặng về vật chất, phụ nữ, hạng nghiện ngập, hạng vô căn, trẻ con.”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Những người ấy có sự sai trái gì?”
“Thưa ngài Nāgasena, hạng có tánh ái luyến bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tác động của sự ái luyến.
Hạng sân hận bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tác động của sân.
Hạng si mê bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tác động của si.
Hạng hèn nhát bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tác động của sự sợ hãi.
Hạng nặng về vật chất bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận vì lý do vật chất.
Phụ nữ bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tánh hay thay đổi.
Hạng nghiện ngập bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tánh thèm rượu.
Hạng vô căn bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tánh không kiên quyết.
Trẻ con bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tánh lao chao.
Vậy ở đây là:
Hạng bị ái luyến, sân hận, si mê, hèn nhát, xem trọng vật chất, phụ nữ, kẻ nghiện ngập, vô căn, và thứ chín là trẻ nít.
Chín hạng người này ở trên đời là hay thay đổi, bị dao động, chao đảo, vì những người này điều bí mật đã được thảo luận mau chóng trở thành phổ biến.”
BJT 8“Thưa ngài Nāgasena, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi do tám lý do. Do tám lý do gì?
Do sự tiến triển của tuổi tác, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Do sự tiến triển của danh tiếng, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Do học hỏi, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Do sự sống gần gũi với vị lãnh đạo tinh thần, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Do sự chú tâm đúng đắn, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Do sự bàn luận, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Do sự phục vụ với lòng thương, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Do sống ở xứ sở thích hợp, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Vậy ở đây là:
Do tuổi tác, danh tiếng, học hỏi, do sống với vị lãnh đạo tinh thần, (chú tâm) đúng đắn, do bàn luận, do sự phục vụ với lòng thương, và do sống ở xứ sở thích hợp.
Tám sự việc này làm cho tánh giác được rõ ràng. Những người nào có các điều này được hiện hữu thì tánh giác của họ được đánh thức.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Bhante nāgasena, ayaṃ bhūmibhāgo aṭṭha mantadosavivajjito, ahañca loke paramo mantisahāyo †, guyhamanurakkhī cāhaṃ yāvāhaṃ jīvissāmi tāva guyhamanurakkhissāmi, aṭṭhahi ca me kāraṇehi buddhi pariṇāmaṃ gatā, dullabho etarahi mādiso antevāsī, sammā paṭipanne antevāsike ye ācariyānaṃ pañcavīsati ācariyaguṇā, tehi guṇehi ācariyena sammā paṭipajjitabbaṃ. Katame pañcavīsati guṇā?
“Venerable Nāgasena, this region of land is free from the eight faults concerning counsel, and I am the foremost companion for counsel in the world. Moreover, I am a guardian of secrets; as long as I live, I will guard secrets. And my wisdom has reached maturity through the eight causes. A pupil such as I is difficult to find these days. Towards a pupil who is practicing rightly, a teacher should act rightly in accordance with the twenty-five qualities of a teacher. What are these twenty-five qualities?”
“Bạch ngài Nāgasena, khu vực này không có tám khuyết điểm của nơi hội đàm, và con ở đời là người bạn hội đàm tối thượng, con là người giữ gìn điều bí mật, con sẽ giữ gìn điều bí mật cho đến khi nào con còn sống. Và trí tuệ của con đã đi đến sự trưởng thành do tám nguyên nhân. Vào lúc này, một người đệ tử như con thật khó tìm. Đối với người đệ tử thực hành đúng đắn, có hai mươi lăm phẩm chất của bậc thầy, bậc thầy nên thực hành đúng đắn với những phẩm chất ấy. Hai mươi lăm phẩm chất ấy là gì?”
‘‘Idha, bhante nāgasena, ācariyena antevāsimhi satataṃ samitaṃ ārakkhā upaṭṭhapetabbā, asevanasevanā jānitabbā, pamattāppamattā jānitabbā, seyyavakāso jānitabbo, gelaññaṃ jānitabbaṃ, bhojanassa † laddhāladdhaṃ jānitabbaṃ, viseso jānitabbo, pattagataṃ saṃvibhajitabbaṃ, assāsitabbo ‘mā bhāyi, attho te abhikkamatī’ti, ‘iminā puggalena paṭicaratī’ti † paṭicāro jānitabbo, gāme paṭicāro jānitabbo, vihāre paṭicāro jānitabbo, na tena hāso davo kātabbo †, tena saha ālāpo kātabbo, chiddaṃ disvā adhivāsetabbaṃ, sakkaccakārinā bhavitabbaṃ, akhaṇḍakārinā bhavitabbaṃ, arahassakārinā bhavitabbaṃ, niravasesakārinā bhavitabbaṃ, ‘janemimaṃ † sippesū’ti janakacittaṃ upaṭṭhapetabbaṃ, ‘kathaṃ ayaṃ na parihāyeyyā’ti vaḍḍhicittaṃ upaṭṭhapetabbaṃ, ‘balavaṃ imaṃ karomi sikkhābalenā’ti cittaṃ upaṭṭhapetabbaṃ, mettacittaṃ upaṭṭhapetabbaṃ, āpadāsu na vijahitabbaṃ, karaṇīye nappamajjitabbaṃ, khalite dhammena paggahetabboti. Ime kho, bhante, pañcavīsati ācariyassa ācariyaguṇā, tehi guṇehi mayi sammā paṭipajjassu, saṃsayo me, bhante, uppanno, atthi meṇḍakapañhā jinabhāsitā, anāgate addhāne tattha viggaho uppajjissati, anāgate ca addhāne dullabhā bhavissanti tumhādisā buddhimanto, tesu me pañhesu cakkhuṃ dehi paravādānaṃ niggahāyā’’ti.
Here, venerable Nāgasena, a teacher should constantly and perpetually provide protection for his disciple. He should know which persons are to be associated with and which are not. He should know whether his disciple is heedful or heedless. He should know about his lodging. He should know about his illnesses. He should know whether or not food has been obtained. He should know of any special attainment. He should share what is in his own bowl. He should be reassured with the words, ‘Do not be anxious; your welfare is advancing.’ He should know his disciple's companions, recognizing, ‘This is the person he associates with.’ He should know his companions in the village and his companions in the monastery. He should not engage in laughter or frivolous talk with him, but he should converse with him. Seeing a fault, he should be patient. He should act with respect, without interruption, without secrecy, and holding nothing back. He should establish a parental mind, thinking, ‘I will give rise to skill in him.’ He should establish a mind for his growth, thinking, ‘How may he not decline?’ He should establish the thought, ‘I will make him strong with the strength of his training.’ He should establish a mind of loving-kindness. In times of calamity, he should not be abandoned. In what is to be done, he should not be negligent. When he has erred, he should be supported in accordance with the Dhamma. These, venerable sir, are the twenty-five qualities of a teacher. With these qualities, may you deal rightly with me. A doubt has arisen in me, venerable sir. There are the ram's-horn questions spoken by the Victor. In the future, disputes will arise concerning them. And in the future, wise ones such as yourself will be rare. Regarding those questions, grant me the eye of wisdom for the refutation of the doctrines of others.
“Ở đây, bạch ngài Nāgasena, bậc thầy đối với đệ tử phải luôn luôn thường xuyên thiết lập sự bảo vệ; phải biết (ai là người) nên và không nên giao du; phải biết (đệ tử) có phóng dật hay không phóng dật; phải biết nơi ăn chốn ở; phải biết bệnh tật; phải biết việc nhận được hay không nhận được đồ ăn; phải biết điều đặc biệt; phải chia sớt vật thực đã nhận được trong bát; phải an ủi rằng: ‘Đừng sợ, lợi ích của con đang tăng tiến’; phải biết người giao du (của đệ tử) rằng: ‘(Đệ tử) giao du với người này’; phải biết người giao du ở trong làng; phải biết người giao du ở trong tu viện; không nên cùng người ấy cười giỡn, vui đùa; nên cùng người ấy nói chuyện; khi thấy lỗi lầm, nên chịu đựng; phải là người làm việc một cách kính trọng; phải là người làm việc không gián đoạn; phải là người làm việc không bí mật; phải là người làm việc không để sót lại; phải thiết lập tâm của người cha rằng: ‘Ta sẽ sinh người này ra trong các nghề’; phải thiết lập tâm tăng trưởng rằng: ‘Làm sao để người này không bị suy thoái?’; phải thiết lập tâm rằng: ‘Ta sẽ làm cho người này có sức mạnh bằng sức mạnh của sự học hỏi’; phải thiết lập tâm từ; không nên từ bỏ trong các tai họa; không nên xao lãng trong phận sự; khi (đệ tử) lầm lỗi, phải nâng đỡ đúng theo Chánh pháp. Bạch ngài, đây là hai mươi lăm phẩm chất của bậc thầy đối với bậc thầy. Xin ngài hãy thực hành đúng đắn với con bằng những phẩm chất ấy. Bạch ngài, con có điều hoài nghi, có vấn đề nan giải về sừng dê đã được đức Chinh Phục nói đến, trong tương lai sẽ có sự tranh cãi về vấn đề ấy. Và trong tương lai, những bậc trí tuệ như ngài sẽ khó tìm. Xin ngài hãy cho con con mắt trí tuệ về những vấn đề ấy để nhiếp phục tà thuyết của người khác.”