Bản dịch
MIL 3.7.15 — VII. PHẨM XÁC ĐỊNH CÁC PHÁP VÔ SẮC
15. Viññāṇanānatthapañha
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, ‘thức’ hay ‘tuệ’ hay ‘mạng sống ở chúng sanh,’ các pháp này khác về nội dung khác về hình thức, hay là có chung nội dung chỉ khác về hình thức tên gọi?”
“Tâu đại vương, thức có sự nhận thức là tướng trạng, tuệ có sự biết rõ là tướng trạng, mạng sống ở chúng sanh là không có.”
“Nếu mạng sống không có, vậy thì ai nhìn thấy cảnh sắc bằng mắt, nghe âm thanh bằng tai, ngửi hương bằng mũi, nếm vị bằng lưỡi, chạm cảnh xúc bằng thân, nhận thức cảnh pháp bằng ý?”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Nếu mạng sống nhìn thấy cảnh sắc bằng mắt, nghe âm thanh bằng tai, ngửi hương bằng mũi, nếm vị bằng lưỡi, chạm cảnh xúc bằng thân, nhận thức cảnh pháp bằng ý, phải chăng mạng sống ấy, khi các mắt bị hoại, vẫn có thể nhìn thấy cảnh sắc rõ hơn ở bên ngoài trước mặt qua bầu không gian lớn hơn? Có phải khi các tai bị hoại, khi mũi bị hoại, khi lưỡi bị hoại, khi thân bị hoại, vẫn có thể nghe âm thanh, có thể ngửi mùi, có thể nếm vị, có thể chạm cảnh xúc rõ hơn qua bầu không gian lớn hơn?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Tâu đại vương, chính vì điều ấy mạng sống ở chúng sanh là không có.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
15. Rājā āha ‘‘bhante nāgasena, ‘viññāṇa’nti vā ‘paññā’ti vā ‘bhūtasmiṃ jīvo’ti vā ime dhammā nānatthā ceva nānābyañjanā ca, udāhu ekatthā byañjanameva nāna’’nti? ‘‘Vijānanalakkhaṇaṃ, mahārāja, viññāṇaṃ, pajānanalakkhaṇā paññā, bhūtasmiṃ jīvo nupalabbhatī’’ti. ‘‘Yadi jīvo nupalabbhati, atha ko carahi cakkhunā rūpaṃ passati, sotena saddaṃ suṇāti, ghānena gandhaṃ ghāyati, jivhāya rasaṃ sāyati, kāyena phoṭṭhabbaṃ phusati, manasā dhammaṃ vijānātī’’ti? Thero āha ‘‘yadi jīvo cakkhunā rūpaṃ passati…pe… manasā dhammaṃ vijānāti, so jīvo cakkhudvāresu uppāṭitesu mahantena ākāsena bahimukho suṭṭhutaraṃ rūpaṃ passeyya, sotesu uppāṭitesu, ghāne uppāṭite, jivhāya uppāṭitāya, kāye uppāṭite mahantena ākāsena suṭṭhutaraṃ saddaṃ suṇeyya, gandhaṃ ghāyeyya, rasaṃ sāyeyya, phoṭṭhabbaṃ phuseyyā’’ti? ‘‘Na hi, bhante’’ti. ‘‘Tena hi, mahārāja, bhūtasmiṃ jīvo nupalabbhatī’’ti.
15. The king said, “Venerable Nāgasena, are these phenomena—‘consciousness,’ ‘wisdom,’ and ‘the life principle in a being’—different in meaning and different in expression, or do they have the same meaning with only the expression being different?” “Great king, consciousness has the characteristic of cognizing, wisdom has the characteristic of understanding, and a life principle is not found within a being.” “If a life principle is not found, then who sees forms with the eye, hears sounds with the ear, smells odors with the nose, tastes flavors with the tongue, feels tangibles with the body, and cognizes mental objects with the mind?” The elder replied, “If a life principle sees forms with the eye… and cognizes mental objects with the mind, then if the eye-doors were torn out, would that life principle, facing outward through a great open space, see forms even more clearly? If the ears were torn out, the nose torn out, the tongue torn out, and the body torn out, would it, through a great open space, hear sounds, smell odors, taste flavors, and feel tangibles even more clearly?” “No, venerable sir.” “Therefore, great king, a life principle is not found within a being.”
15. Đức vua hỏi: "Kính bạch ngài Nāgasena, các pháp này là 'thức', 'tuệ', hay 'sinh mạng trong thân', chúng có ý nghĩa khác nhau và từ ngữ khác nhau, hay là có cùng một ý nghĩa mà chỉ có từ ngữ khác nhau?". "Tâu Đại vương, thức có đặc tính là biết. Tuệ có đặc tính là hiểu rõ. Trong thân này, không tìm thấy sinh mạng.". "Nếu không tìm thấy sinh mạng, vậy thì ai thấy sắc bằng mắt, nghe tiếng bằng tai, ngửi mùi bằng mũi, nếm vị bằng lưỡi, cảm nhận xúc chạm bằng thân, và biết pháp bằng ý?". Vị Trưởng lão nói: "Nếu sinh mạng thấy sắc bằng mắt... biết pháp bằng ý, thì khi các cửa mắt bị khoét ra, sinh mạng ấy hướng ra ngoài qua khoảng không rộng lớn, có thấy sắc rõ hơn không? Khi các cửa tai bị khoét ra, mũi bị khoét ra, lưỡi bị khoét ra, thân bị khoét ra, qua khoảng không rộng lớn, có nghe tiếng, ngửi mùi, nếm vị, cảm nhận xúc chạm rõ hơn không?". "Kính bạch ngài, không ạ.". "Vậy thì, tâu Đại vương, trong thân này không tìm thấy sinh mạng."
‘‘Kallosi, bhante nāgasenā’’ti.
“You are skillful, Venerable Nāgasena.”
"Kính bạch ngài Nāgasena, ngài thật khéo léo."
Viññāṇanānatthapañho pannarasamo.
The fifteenth question, concerning the different meanings of consciousness and other states, is concluded.
Câu hỏi thứ mười lăm về sự khác biệt của thức (đã kết thúc).
16. Arūpadhammavavatthānadukkarapañho
16. The Question Concerning the Difficulty of Distinguishing Immaterial Phenomena
16. Câu hỏi về sự khó khăn trong việc phân định các pháp vô sắc.