Bản dịch
MIL 3.7.1 — VII. PHẨM XÁC ĐỊNH CÁC PHÁP VÔ SẮC
1. Satiuppajjanapañha
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, trí nhớ sanh lên với bao nhiêu hình thức?”
“Tâu đại vương, trí nhớ sanh lên với mười sáu hình thức. Với mười sáu hình thức gì? Tâu đại vương,
- trí nhớ sanh lên do điều kiện chủ quan,
- trí nhớ sanh lên do điều kiện khách quan,
- trí nhớ sanh lên do nhận thức sự kiện trọng đại,
- trí nhớ sanh lên do nhận thức điều tốt đẹp,
- trí nhớ sanh lên do nhận thức điều không tốt đẹp,
- trí nhớ sanh lên do dấu hiệu tương tợ,
- trí nhớ sanh lên do dấu hiệu khác biệt,
- trí nhớ sanh lên do hiểu rõ lời nói,
- trí nhớ sanh lên do đặc điểm,
- trí nhớ sanh lên do sự nhớ lại,
- trí nhớ sanh lên do việc viết chữ,
- trí nhớ sanh lên do việc tính toán,
- trí nhớ sanh lên do việc thuộc lòng,
- trí nhớ sanh lên do việc tu tập,
- trí nhớ sanh lên do gắn bó với sách vở,
- trí nhớ sanh lên do việc tiếp cận,
- trí nhớ sanh lên do kinh nghiệm.”
“Trí nhớ sanh lên do điều kiện chủ quan nghĩa là thế nào?”
“Tâu đại vương, giống như trường hợp đại đức Ānanda và nữ cư sĩ Khujjuttarā, hoặc bất cứ những người nào khác có được năng lực về đời sống (quá khứ) nhớ lại đời sống (quá khứ). Trí nhớ sanh lên do điều kiện chủ quan nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do điều kiện khách quan nghĩa là thế nào? Người nào có bản tính hay quên, và những người khác thúc giục người ấy với mục đích nhắc nhở. Trí nhớ sanh lên do điều kiện khách quan nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do nhận thức các sự kiện trọng đại nghĩa là thế nào? Khi được tấn phong vương quyền hoặc khi đạt được quả vị Nhập Lưu. Trí nhớ sanh lên do nhận thức các sự kiện trọng đại nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do nhận thức điều tốt đẹp nghĩa là thế nào? Vị được hạnh phúc về điều nào đó rồi nhớ lại rằng: ‘Ta được hạnh phúc như vầy.’ Trí nhớ sanh lên do nhận thức điều tốt đẹp nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do nhận thức điều không tốt đẹp nghĩa là thế nào? Vị bị đau khổ về điều nào đó rồi nhớ lại rằng: ‘Ta bị đau khổ như vầy.’ Trí nhớ sanh lên do nhận thức điều không tốt đẹp nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do dấu hiệu tương tợ nghĩa là thế nào? Sau khi nhìn thấy người tương tợ thì nhớ lại người mẹ, hoặc người cha, hoặc anh em trai, hoặc chị em gái; sau khi nhìn thấy con lạc đà, hoặc con bò, hoặc con lừa thì nhớ lại con lạc đà, hoặc con bò, hoặc con lừa khác tương tợ như thế. Trí nhớ sanh lên do dấu hiệu tương tợ nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do dấu hiệu khác biệt nghĩa là thế nào? Vị nhớ lại rằng: ‘Người kia có như vầy: sắc thế này, thinh thế này, hương thế này, vị thế này, xúc thế này.’ Trí nhớ sanh lên do dấu hiệu khác biệt nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do hiểu rõ lời nói nghĩa là thế nào? Người nào có bản tính hay quên, những người khác nhắc nhở người ấy, nhờ thế người ấy nhớ lại. Trí nhớ sanh lên do hiểu rõ lời nói nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do đặc điểm nghĩa là thế nào? Nhận ra nhờ vào dấu sắt nung của những con bò kéo là nhận ra do đặc điểm. Trí nhớ sanh lên do đặc điểm nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do sự nhớ lại nghĩa là thế nào? Người nào có bản tính hay quên, những người khác liên tục nhắc nhở người ấy rằng: ‘Ngươi hãy nhớ lại, ngươi hãy nhớ lại.’ Trí nhớ sanh lên do sự nhớ lại nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do việc viết chữ nghĩa là thế nào? Do đã được học tập về chữ viết nên nhận biết được rằng: ‘Nên thực hiện chữ cái này liền với chữ cái này.’ Trí nhớ sanh lên do việc viết chữ nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do việc tính toán nghĩa là thế nào? Những người kế toán, do đã được học tập về việc tính toán, nên tính toán nhiều. Trí nhớ sanh lên do việc tính toán nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do việc thuộc lòng nghĩa là thế nào? Những người chuyên học thuộc lòng, do đã được học tập về việc thuộc lòng, nên thuộc lòng được nhiều. Trí nhớ sanh lên do việc thuộc lòng nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do việc tu tập nghĩa là thế nào? Ở đây, vị tỳ khưu nhớ lại nhiều kiếp sống trước như là một lần sanh, hai lần sanh, ba lần sanh, bốn lần sanh, năm lần sanh, mười lần sanh, hai mươi lần sanh, ba mươi lần sanh, bốn mươi lần sanh, năm mươi lần sanh, một trăm lần sanh, một ngàn lần sanh, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp: ‘Ở nơi ấy, ta đã có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, có sự nhận biết lạc và khổ như vầy, có giới hạn tuổi thọ như vầy. Từ chỗ ấy, ta đây đã chết đi rồi đã sanh lên tại chỗ kia. Ở nơi kia, ta đã có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, có sự nhận biết lạc và khổ như vầy, có giới hạn tuổi thọ như vầy. Từ nơi kia, ta đây đã chết đi rồi đã sanh lên tại nơi này.’ Như thế, vị ấy nhớ lại nhiều kiếp sống trước với các nét đại cương và cá biệt. Trí nhớ sanh lên do việc tu tập nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do gắn bó với sách vở nghĩa là thế nào? Các vị vua trong khi tưởng nhớ về điều giáo huấn (rồi ra lệnh): ‘Hãy mang lại một cuốn sách,’ và tưởng nhớ lại nhờ cuốn sách ấy. Trí nhớ sanh lên do gắn bó với sách vở nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do việc tiếp cận nghĩa là thế nào? Sau khi nhìn thấy hàng hóa được đặt xuống gần bên thì nhớ lại. Trí nhớ sanh lên do việc tiếp cận nghĩa là như vậy.
Trí nhớ sanh lên do kinh nghiệm nghĩa là thế nào? Vị nhớ lại cảnh sắc do đã thấy, nhớ lại cảnh thinh do đã nghe, nhớ lại hương do đã ngửi, nhớ lại vị do đã nếm, nhớ lại xúc do đã chạm, nhớ lại pháp do đã nhận thức. Trí nhớ sanh lên do kinh nghiệm nghĩa là như vậy.
Tâu đại vương, trí nhớ sanh lên với mười sáu hình thức này.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Rājā āha ‘‘bhante nāgasena, katihākārehi sati uppajjatī’’ti? ‘‘Sattarasahākārehi, mahārāja, sati uppajjatī’’ti. ‘‘Katamehi sattarasahākārehī’’ti? ‘‘Abhijānatopi, mahārāja, sati uppajjati, kaṭumikāyapi sati uppajjati, oḷārikaviññāṇatopi sati uppajjati, hitaviññāṇatopi sati uppajjati, ahitaviññāṇatopi sati uppajjati, sabhāganimittatopi sati uppajjati, visabhāganimittatopi sati uppajjati, kathābhiññāṇatopi sati uppajjati, lakkhaṇatopi sati uppajjati, sāraṇatopi sati uppajjati, muddātopi sati uppajjati, gaṇanātopi sati uppajjati, dhāraṇatopi sati uppajjati, bhāvanatopi sati uppajjati, potthakanibandhanatopi sati uppajjati, upanikkhepatopi sati uppajjati, anubhūtatopi sati uppajjatīti.
1. The king asked, "Venerable Nāgasena, in how many ways does mindfulness arise?" "In seventeen ways, great king, mindfulness arises." "What are those seventeen ways?" "Mindfulness arises, great king, from direct recognition, from prompting, from a significant intimation, from an intimation of benefit, from an intimation of harm, from a similar sign, from a dissimilar sign, from knowledge gained through speech, from a characteristic, from being reminded, from script, from calculation, from memorization, from mental development, from being recorded in a book, from a deposit, and from experience."
1. Vua tâu: “Bạch ngài Nāgasena, niệm sanh khởi do bao nhiêu cách?” – “Thưa Đại vương, niệm sanh khởi do mười bảy cách.” – “Mười bảy cách ấy là những cách nào?” – “Thưa Đại vương, niệm sanh khởi do nhận biết; niệm sanh khởi do ghi nhớ; niệm sanh khởi do nhận thức rõ rệt; niệm sanh khởi do nhận thức về lợi ích; niệm sanh khởi do nhận thức về tác hại; niệm sanh khởi do tướng tương đồng; niệm sanh khởi do tướng khác biệt; niệm sanh khởi do nhận biết qua lời nói; niệm sanh khởi do đặc điểm; niệm sanh khởi do được nhắc nhở; niệm sanh khởi do chữ viết; niệm sanh khởi do tính toán; niệm sanh khởi do ghi nhớ thuộc lòng; niệm sanh khởi do tu tập; niệm sanh khởi do được ghi chép trong sách vở; niệm sanh khởi do ký thác; niệm sanh khởi do kinh nghiệm.”
‘‘Kathaṃ abhijānato sati uppajjati? Yathā, mahārāja, āyasmā ca ānando khujjuttarā ca upāsikā, ye vā pana aññepi keci jātissarā jātiṃ saranti, evaṃ abhijānato sati uppajjati.
"How does mindfulness arise from direct recognition? Just as, great king, the Venerable Ānanda and the laywoman Khujjuttarā, or any others who possess the memory of past lives, recollect their former births, so mindfulness arises from direct recognition."
“Niệm sanh khởi do nhận biết là như thế nào? Thưa Đại vương, ví như Tôn giả Ānanda và nữ cư sĩ Khujjuttarā, hay bất kỳ ai khác có túc mạng thông, nhớ lại được các kiếp sống của mình, niệm sanh khởi do nhận biết là như vậy.”
‘‘Kathaṃ kaṭumikāya sati uppajjati? Yo pakatiyā muṭṭhassatiko, pare ca taṃ sarāpanatthaṃ nibandhanti, evaṃ kaṭumikāya sati uppajjati.
"How does mindfulness arise through prompting? When someone is naturally forgetful, and others repeatedly urge them for the sake of reminding them, so mindfulness arises through prompting."
“Niệm sanh khởi do ghi nhớ là như thế nào? Người có bản tánh hay quên, được người khác nhắc nhở để nhớ lại, niệm sanh khởi do ghi nhớ là như vậy.”
‘‘Kathaṃ oḷārikaviññāṇato sati uppajjati? Yadā rajje vā abhisitto hoti, sotāpattiphalaṃ vā patto hoti, evaṃ oḷārikaviññāṇato sati uppajjati.
"How does mindfulness arise from a significant intimation? When one has been consecrated in a kingdom or has attained the fruit of stream-entry, so mindfulness arises from a significant intimation."
“Niệm sanh khởi do nhận thức rõ rệt là như thế nào? Khi một người được tấn phong vương vị, hoặc đắc quả Tu-đà-hoàn, niệm sanh khởi do nhận thức rõ rệt là như vậy.”
‘‘Kathaṃ hitaviññāṇato sati uppajjati? Yamhi sukhāpito, ‘amukasmiṃ evaṃ sukhāpito’ti sarati, evaṃ hitaviññāṇato sati uppajjati.
“How does mindfulness arise from the cognition of what is beneficial? When one has been made happy in a certain place, one remembers, ‘In such-and-such a place, I was made happy thus.’ In this way, mindfulness arises from the cognition of what is beneficial.
“Niệm sanh khởi do nhận thức về lợi ích là như thế nào? Khi một người được hưởng sự an lạc ở đâu, người ấy nhớ lại: ‘Tại nơi kia, ta đã được an lạc như thế,’ niệm sanh khởi do nhận thức về lợi ích là như vậy.”
‘‘Kathaṃ ahitaviññāṇato sati uppajjati? Yamhi dukkhāpito, ‘amukasmiṃ evaṃ dukkhāpito’ti sarati, evaṃ ahitaviññāṇato sati uppajjati.
“How does mindfulness arise from the cognition of what is not beneficial? When one has been made to suffer in a certain place, one remembers, ‘In such-and-such a place, I was made to suffer thus.’ In this way, mindfulness arises from the cognition of what is not beneficial.
“Niệm sanh khởi do nhận thức về tác hại là như thế nào? Khi một người phải chịu đau khổ ở đâu, người ấy nhớ lại: ‘Tại nơi kia, ta đã phải chịu đau khổ như thế,’ niệm sanh khởi do nhận thức về tác hại là như vậy.”
‘‘Kathaṃ sabhāganimittato sati uppajjati? Sadisaṃ puggalaṃ disvā mātaraṃ vā pitaraṃ vā bhātaraṃ vā bhaginiṃ vā sarati, oṭṭhaṃ vā goṇaṃ vā gadrabhaṃ vā disvā aññaṃ tādisaṃ oṭṭhaṃ vā goṇaṃ vā gadrabhaṃ vā sarati, evaṃ sabhāganimittato sati uppajjati.
“How does mindfulness arise through a similar sign? Seeing a person who is similar, one remembers one’s mother or father or brother or sister. Seeing a camel or an ox or a donkey, one remembers another similar camel or ox or donkey. In this way, mindfulness arises through a similar sign.
“Niệm sanh khởi do tướng tương đồng là như thế nào? Khi thấy một người tương tự, người ta nhớ đến mẹ, cha, anh, hay chị em của mình. Khi thấy một con lạc đà, con bò, hay con lừa, người ta nhớ đến một con lạc đà, con bò, hay con lừa khác tương tự như vậy. Niệm sanh khởi do tướng tương đồng là như vậy.”
‘‘Kathaṃ visabhāganimattato sati uppajjati? Asukassa nāma vaṇṇo ediso, saddo ediso, gandho ediso, raso ediso, phoṭṭhabbo edisoti sarati, evampi visabhāganimittatopi sati uppajjati.
“How does mindfulness arise through a dissimilar sign? One remembers: ‘Such is the color of so-and-so, such is the sound, such is the smell, such is the taste, such is the touch.’ In this way, mindfulness also arises through a dissimilar sign.
“Làm thế nào niệm sanh khởi do tướng sai khác? Người ấy nhớ rằng: ‘Sắc của người kia là như thế này, tiếng là như thế này, hương là như thế này, vị là như thế này, xúc là như thế này.’ Như vậy, niệm cũng sanh khởi do tướng sai khác.”
‘‘Kathaṃ kathābhiññāṇato sati uppajjati? Yo pakatiyā muṭṭhassatiko hoti, taṃ pare sarāpenti, tena so sarati, evaṃ kathābhiññāṇato sati uppajjati.
“How does mindfulness arise through cognition by speech? One who is by nature forgetful is reminded by others; by that, they remember. In this way, mindfulness arises through cognition by speech.
“Làm thế nào niệm sanh khởi do sự nhận biết qua lời nói? Người nào thường hay thất niệm, người khác nhắc nhở người ấy, do đó người ấy nhớ lại. Như vậy, niệm sanh khởi do sự nhận biết qua lời nói.”
‘‘Kathaṃ lakkhaṇato sati uppajjati? Yo pakatiyā balībaddānaṃ aṅgena jānāti, lakkhaṇena jānāti, evaṃ lakkhaṇato sati uppajjati.
“How does mindfulness arise through a characteristic? One who by nature knows oxen by their limbs, knows them by their marks. In this way, mindfulness arises through a characteristic.
“Làm thế nào niệm sanh khởi do đặc điểm? Người nào thường nhận biết con bò đực qua các chi phần của nó, nhận biết qua các tướng của nó. Như vậy, niệm sanh khởi do đặc điểm.”
‘‘Kathaṃ sāraṇato sati uppajjati? Yo pakatiyā muṭṭhassatiko hoti, yo taṃ ‘sarāhi bho, sarāhi bho’ti punappunaṃ sarāpeti, evaṃ sāraṇato sati uppajjati.
“How does mindfulness arise through reminding? When someone who is by nature forgetful is repeatedly prompted by another, ‘Remember, friend! Remember, friend!’, mindfulness arises in this way through reminding.
“Làm thế nào niệm sanh khởi do sự nhắc nhở? Người nào thường hay thất niệm, có người khác lặp đi lặp lại nhắc nhở người ấy rằng: ‘Này bạn, hãy nhớ lại! Này bạn, hãy nhớ lại!’ Như vậy, niệm sanh khởi do sự nhắc nhở.”
‘‘Kathaṃ muddāto sati uppajjati? Lipiyā sikkhitattā jānāti ‘imassa akkharassa anantaraṃ imaṃ akkharaṃ kātabba’nti evaṃ muddāto sati uppajjati.
“How does mindfulness arise through writing? Because one has learned the script, one knows, ‘After this letter, this letter should be written.’ In this way, mindfulness arises through writing.
“Làm thế nào niệm sanh khởi do chữ viết? Do đã học chữ viết, người ấy biết rằng: ‘Sau mẫu tự này, phải viết mẫu tự này.’ Như vậy, niệm sanh khởi do chữ viết.”
‘‘Kathaṃ gaṇanāto sati uppajjati? Gaṇanāya sikkhitattā gaṇakā bahumpi gaṇenti, evaṃ gaṇanāto sati uppajjati.
“How does mindfulness arise through calculation? Because of being trained in calculation, calculators can count a great deal. In this way, mindfulness arises through calculation.
“Làm thế nào niệm sanh khởi do sự tính toán? Do đã học cách tính toán, những người tính toán có thể đếm được nhiều. Như vậy, niệm sanh khởi do sự tính toán.”
‘‘Kathaṃ dhāraṇato sati uppajjati? Dhāraṇāya sikkhitattā dhāraṇakā bahumpi dhārenti, evaṃ dhāraṇato sati uppajjati.
“How does mindfulness arise through retention? Because of being trained in retention, those who are skilled in retention retain a great deal. In this way, mindfulness arises through retention.
“Làm thế nào niệm sanh khởi do sự ghi nhớ? Do đã học cách ghi nhớ, những người ghi nhớ có thể ghi nhớ được nhiều. Như vậy, niệm sanh khởi do sự ghi nhớ.”
‘‘Kathaṃ bhāvanāto sati uppajjati? Idha bhikkhu anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarati, seyyathīdaṃ, ekampi jātiṃ dvepi jātiyo…pe… iti sākāraṃ sauddesaṃ pubbenivāsaṃ anussarati, evaṃ bhāvanāto sati uppajjati.
“How does mindfulness arise through meditative development? Here, a bhikkhu recollects his manifold past lives, that is to say, one birth, two births… and so on. Thus he recollects his past lives with their aspects and particulars. In this way, mindfulness arises through meditative development.
“Làm thế nào niệm sanh khởi do sự tu tập? Ở đây, vị Tỳ khưu nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, như là: một kiếp, hai kiếp… cho đến… như vậy, vị ấy nhớ lại các đời sống quá khứ cùng với các dạng thức và chi tiết. Như vậy, niệm sanh khởi do sự tu tập.”
‘‘Kathaṃ potthakanibandhanato sati uppajjati? Rājāno anusāsaniyaṃ assarantā † etaṃ potthakaṃ āharathāti, tena potthakena anussaranti, evaṃ potthakanibandhanato sati uppajjati.
“How does mindfulness arise from what is recorded in a book? Kings, not remembering an instruction, say, ‘Bring that book!’ and then remember by means of that book. In this way, mindfulness arises from what is recorded in a book.
“Làm thế nào niệm sanh khởi do sự ghi chép trong sách? Các vị vua, khi không nhớ lời giáo huấn, liền nói: ‘Hãy mang quyển sách đó lại đây,’ rồi nhờ quyển sách đó mà nhớ lại. Như vậy, niệm sanh khởi do sự ghi chép trong sách.”
‘‘Kathaṃ upanikkhepato sati uppajjati? Upanikkhittaṃ bhaṇḍaṃ disvā sarati, evaṃ upanikkhepato sati uppajjati.
“How does mindfulness arise from a deposit? Seeing goods that have been deposited, one remembers. In this way, mindfulness arises from a deposit.
“Làm thế nào niệm sanh khởi do sự cất giữ? Khi thấy món đồ đã được cất giữ, người ấy nhớ lại. Như vậy, niệm sanh khởi do sự cất giữ.”
‘‘Kathaṃ anubhūtato sati uppajjati? Diṭṭhattā rūpaṃ sarati, sutattā saddaṃ sarati, ghāyitattā gandhaṃ sarati, sāyitattā rasaṃ sarati, phuṭṭhattā phoṭṭhabbaṃ sarati, viññātattā dhammaṃ sarati, evaṃ anubhūtato sati uppajjati. Imehi kho, mahārāja, sattarasahākārehi sati uppajjatī’’ti.
“How does mindfulness arise through experience? Because of having seen, one remembers a form; because of having heard, one remembers a sound; because of having smelled, one remembers a scent; because of having tasted, one remembers a flavor; because of having touched, one remembers a tangible object; because of having cognized, one remembers a mental object. In this way, mindfulness arises through experience. Indeed, great king, it is through these seventeen modes that mindfulness arises.”
“Làm thế nào niệm sanh khởi do sự kinh nghiệm? Do đã thấy nên nhớ lại sắc, do đã nghe nên nhớ lại tiếng, do đã ngửi nên nhớ lại hương, do đã nếm nên nhớ lại vị, do đã chạm nên nhớ lại xúc, do đã biết nên nhớ lại pháp. Như vậy, niệm sanh khởi do sự kinh nghiệm. Tâu Đại vương, niệm sanh khởi do mười bảy phương cách này.”
‘‘Kallosi, bhante nāgasenā’’ti.
“You are eloquent, venerable Nāgasena.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khéo léo.”
Satiuppajjanapañho paṭhamo.
The First Question on the Arising of Mindfulness is concluded.
Câu hỏi về sự sanh khởi của niệm, phần thứ nhất.