Bản dịch
MIL 3.6.11 — VI. PHẨM TRÍ NHỚ
11. Abhijānantasatipañha
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, toàn bộ trí nhớ được sanh lên là thuộc về chủ quan hay trí nhớ là thuộc về khách quan?”
“Tâu đại vương, trí nhớ được sanh lên vừa thuộc về chủ quan, trí nhớ vừa thuộc về khách quan.”
“Thưa ngài Nāgasena, chính vì như thế phải chăng toàn bộ trí nhớ là thuộc về chủ quan, không có trí nhớ thuộc về khách quan?”
“Tâu đại vương, nếu không có trí nhớ thuộc về khách quan thì những người thợ học nghề không có cái gì cần phải làm đối với các lãnh vực về nghề nghiệp, đối với các lãnh vực về học tập, hoặc đối với các tư liệu về kiến thức; không có nhu cầu về các thầy dạy học. Tâu đại vương, bởi vì có trí nhớ thuộc về khách quan mà có việc cần phải làm đối với các lãnh vực về nghề nghiệp, đối với các lãnh vực về học tập, hoặc đối với các tư liệu về kiến thức; và có nhu cầu về các thầy dạy học.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Phẩm Trí Nhớ là thứ sáu.
(Trong phẩm này có mười một câu hỏi)
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
11. Rājā āha ‘‘bhante nāgasena, sabbā sati abhijānantī uppajjati, udāhu kaṭumikāva satī’’ti? ‘‘Abhijānantīpi, mahārāja, kaṭumikāpi satī’’ti. ‘‘Evañhi kho, bhante nāgasena, sabbā sati abhijānantī, natthi kaṭumikā satī’’ti? ‘‘Yadi natthi, mahārāja, kaṭumikā sati, natthi kiñci sippikānaṃ kammāyatanehi vā sippāyatanehi vā vijjāṭṭhānehi vā karaṇīyaṃ, niratthakā ācariyā, yasmā ca kho, mahārāja, atthi kaṭumikā sati, tasmā atthi kammāyatanehi vā sippāyatanehi vā vijjāṭṭhānehi vā karaṇīyaṃ, attho ca ācariyehī’’ti.
11. The king asked, "Venerable Nāgasena, does all mindfulness arise from direct recognition, or is there also prompted mindfulness?" "Great king, there is mindfulness that arises from direct recognition, and there is also prompted mindfulness." "If, Venerable Nāgasena, all mindfulness arises from direct recognition, then there would be no prompted mindfulness." "If, great king, there were no prompted mindfulness, there would be nothing for craftsmen to do in their crafts, arts, or fields of knowledge, and teachers would be useless. But because, great king, prompted mindfulness exists, there is something to be done in crafts, arts, and fields of knowledge, and teachers are of value."
11. Vua tâu: “Bạch ngài Nāgasena, có phải tất cả niệm đều sanh khởi do nhận biết, hay cũng có niệm (sanh khởi) do ghi nhớ?” – “Thưa Đại vương, có niệm (sanh khởi) do nhận biết, và cũng có niệm (sanh khởi) do ghi nhớ.” – “Bạch ngài Nāgasena, nếu vậy thì tất cả niệm đều sanh khởi do nhận biết, không có niệm (sanh khởi) do ghi nhớ.” – “Thưa Đại vương, nếu không có niệm (sanh khởi) do ghi nhớ, thì các nghệ nhân sẽ không có gì để làm với các công việc thủ công, các ngành nghề kỹ thuật, hay các lĩnh vực học thuật của họ, và các vị thầy sẽ trở nên vô ích. Nhưng vì, thưa Đại vương, có niệm (sanh khởi) do ghi nhớ, cho nên mới có việc để làm với các công việc thủ công, các ngành nghề kỹ thuật, hay các lĩnh vực học thuật, và các vị thầy mới có ích.”
‘‘Kallosi, bhante nāgasenā’’ti.
“You are skillful, Venerable Nāgasena.”
“Bạch ngài Nāgasena, ngài thật khéo léo.”
Abhijānantasatipañho ekādasamo.
The eleventh question on mindfulness arising from direct recognition is concluded.
Câu hỏi thứ mười một về niệm sanh khởi do nhận biết (đã xong).
Sativaggo chaṭṭho.
The Sixth Chapter on Mindfulness is concluded.
Phẩm về Niệm, phẩm thứ sáu (đã xong).
Imasmiṃ vagge ekādasa pañhā.
In this chapter, there are eleven questions.
Trong phẩm này có mười một câu hỏi.