Bản dịch
MIL 3.6.9 — VI. PHẨM TRÍ NHỚ
9. Saṁsārapañha
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài đã nói là ‘luân hồi,’ luân hồi ấy là gì?”
“Tâu đại vương, người sanh ra ở nơi đây, chết ngay tại nơi đây; chết tại nơi đây, sanh lên ở nơi khác; sanh ra ở nơi kia, chết ngay tại nơi kia; chết tại nơi kia, sanh lên ở nơi khác. Tâu đại vương, luân hồi là như vậy.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như người nào đó sau khi ăn trái xoài chín rồi ươm trồng cái hột, từ đó cây xoài nảy mầm, lớn lên, rồi cho các trái. Rồi người ấy sau khi ăn trái xoài chín cũng từ đó rồi ươm trồng cái hột, cũng từ đó cây xoài nảy mầm, lớn lên, rồi cho các trái. Như vậy, điểm tận cùng của các cây này không được biết đến. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người sanh ra ở nơi đây, chết ngay tại nơi đây; chết tại nơi đây, sanh lên ở nơi khác; sanh ra ở nơi kia, chết ngay tại nơi kia; chết tại nơi kia, sanh lên ở nơi khác. Tâu đại vương, luân hồi là như vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Rājā āha ‘‘bhante nāgasena, yaṃ panetaṃ brūsi ‘saṃsāro’ti, katamo so saṃsāro’’ti? ‘‘Idha, mahārāja, jāto idheva marati, idha mato aññatra uppajjati, tahiṃ jāto tahiṃ yeva marati, tahiṃ mato aññatra uppajjati, evaṃ kho, mahārāja, saṃsāro hotī’’ti. ‘‘Opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, kocideva puriso pakkaṃ ambaṃ khāditvā aṭṭhiṃ ropeyya, tato mahanto ambarukkho nibbattitvā phalāni dadeyya, atha so puriso tatopi pakkaṃ ambaṃ khāditvā aṭṭhiṃ ropeyya, tatopi mahanto ambarukkho nibbattitvā phalāni dadeyya, evametesaṃ rukkhānaṃ koṭi na paññāyati, evameva kho, mahārāja, idha jāto idheva marati, idha mato aññatra uppajjati, tahiṃ jāto tahiṃ yeva marati, tahiṃ mato aññatra uppajjati, evaṃ kho, mahārāja, saṃsāro hotī’’ti.
9. The king asked, "Venerable Nāgasena, that which you speak of as 'saṃsāra'—what is that saṃsāra?" "Here, great king, one is born here and dies right here. Having died here, one arises elsewhere. Born there, one dies right there. Having died there, one arises elsewhere. In this way, great king, there is saṃsāra." "Provide a simile." "Suppose, great king, some man, having eaten a ripe mango, were to plant the seed. From that, a great mango tree would grow and bear fruit. Then that man, having eaten a ripe mango from that tree, were to plant the seed. From that too, a great mango tree would grow and bear fruit. In this way, no end to these trees is apparent. In the very same way, great king, one is born here and dies right here. Having died here, one arises elsewhere. Born there, one dies right there. Having died there, one arises elsewhere. In this way, great king, there is saṃsāra."
9. Vua tâu: “Bạch ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là ‘luân hồi’, vậy luân hồi ấy là gì?” – “Thưa Đại vương, sanh tại đây rồi chết ngay tại đây; chết tại đây rồi sanh ở nơi khác. Sanh tại đó rồi chết ngay tại đó; chết tại đó rồi sanh ở nơi khác. Thưa Đại vương, luân hồi là như vậy đó.” – “Xin ngài cho một ví dụ.” – “Thưa Đại vương, ví như có người ăn một quả xoài chín rồi đem hột đi trồng. Từ hột ấy, một cây xoài lớn mọc lên và cho ra quả. Rồi người ấy lại từ cây đó, ăn một quả xoài chín rồi đem hột đi trồng. Từ hột ấy, một cây xoài lớn lại mọc lên và cho ra quả. Cứ như thế, không thể thấy được điểm kết thúc của những cây xoài ấy. Cũng vậy, thưa Đại vương, sanh tại đây rồi chết ngay tại đây; chết tại đây rồi sanh ở nơi khác. Sanh tại đó rồi chết ngay tại đó; chết tại đó rồi sanh ở nơi khác. Thưa Đại vương, luân hồi là như vậy đó.”