Bản dịch
MIL 3.6.10 — VI. PHẨM TRÍ NHỚ
10. Cirakatasaraṇapañha
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, nhờ vào cái gì mà hồi tưởng lại việc đã làm từ lâu trong quá khứ?”
“Tâu đại vương, nhờ vào trí nhớ.”
“Thưa ngài Nāgasena, thế chẳng phải hồi tưởng lại là bằng tâm, không phải bằng trí nhớ?”
“Tâu đại vương, đại vương có nhận biết được rằng sau khi làm một việc cần làm nào đó rồi quên lửng không?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, phải chăng vào thời điểm ấy ngài là không có tâm?”
“Thưa ngài, không đúng. Vào thời điểm ấy trẫm đã không có trí nhớ.”
“Tâu đại vương, vậy tại sao ngài đã nói như vầy: ‘hồi tưởng lại là bằng tâm, không phải bằng trí nhớ’?”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Iti chasu kaṇḍesu bāvīsativaggapatimaṇḍitesu dvāsaṭṭhiadhikā dvesatā imasmiṃ potthake āgatā milindapañhā samattā, anāgatā ca pana dvācattālīsā honti, āgatā ca anāgatā ca sabbā samodhānetvā catūhi adhikā tisatapañhā honti, sabbāva milindapañhāti saṅkhaṃ gacchanti.
Thus, in six sections adorned with twenty-two chapters, the two hundred and sixty-two Questions of Milinda that have appeared in this book are complete. There are, however, forty-two that have not appeared. Combining all, those that have appeared and those that have not, there are three hundred and four questions. All are reckoned as the Questions of Milinda.
Như thế, các câu hỏi của vua Milinda đã được trình bày trong quyển sách này, gồm có hai trăm sáu mươi hai câu, được trang hoàng với hai mươi hai phẩm trong sáu quyển, đã được hoàn tất. Lại nữa, có bốn mươi hai câu chưa được trình bày. Sau khi hợp chung lại tất cả các câu đã được trình bày và chưa được trình bày thì có ba trăm lẻ bốn câu hỏi. Tất cả đều được kể là các câu hỏi của vua Milinda.
Rañño ca therassa ca pucchāvisajjanāvasāne caturāsītisatasahassayojanabahalā udakapariyantaṃ katvā ayaṃ mahāpathavī chadhā kampittha, vijjullatā nicchariṃsu, devatā dibbapupphavassaṃ pavassiṃsu, mahābrahmā sādhukāramadāsi, mahāsamuddakucchiyaṃ meghatthanitanigghoso viya mahāghoso ahosi, iti so milindo rājā ca orodhagaṇā ca sirasā añjaliṃ paṇāmetvā vandiṃsu.
At the conclusion of the questions and answers between the king and the elder, this great earth, eighty-four thousand yojanas thick and bounded by water, trembled in six ways. Flashes of lightning shot forth, the deities rained down a shower of divine flowers, and the great Brahmā gave a shout of approval. A mighty roar arose in the belly of the great ocean, like the sound of thunder. Then King Milinda and his retinue, raising their clasped hands to their heads, paid homage.
Vào lúc kết thúc phần hỏi và đáp của đức vua và của vị trưởng lão, đại địa này có bề dày tám mươi bốn ngàn do-tuần cho đến giới hạn là nước đã rúng động sáu cách, các tia chớp đã lóe lên, chư thiên đã làm cho trận mưa hoa trời rơi xuống, đại Phạm thiên đã tán thành, ở trong lòng đại dương đã có tiếng vang lớn giống như tiếng gầm của sấm sét. Do đó, đức vua Milinda ấy và đoàn tùy tùng đã cúi đầu chắp tay và đã đảnh lễ.
Milindo rājā ativiya pamuditahadayo sumathitamānahadayo buddhasāsane sāramatino ratanattaye sunikkaṅkho niggumbo nitthaddho hutvā therassa guṇesu pabbajjāsu paṭipadāiriyāpathesu ca ativiya pasanno vissattho nirālayo nihatamānatthambho uddhaṭadāṭho viya bhujagindo evamāha ‘‘sādhu, bhante nāgasena, buddhavisayo pañho tayā visajjito, imasmiṃ buddhasāsane ṭhapetvā dhammasenāpatiṃ sāriputtattheraṃ añño tayā sadiso pañhavisajjane natthi, khamatha, bhante nāgasena, mama accayaṃ, upāsakaṃ maṃ, bhante nāgasena, dhāretha ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gata’’nti.
King Milinda, his heart exceedingly joyful, his pride utterly vanquished, his mind set on the essence of the Buddha’s dispensation, free from doubt in the Triple Gem, free from spiritual tangles, and free from stubbornness, being exceedingly pleased with the elder’s virtues, his going forth, his conduct, and his deportment, became confident, without attachment, his pride and arrogance destroyed. Like a serpent king with its fangs extracted, he spoke thus: "Excellent, Venerable Nāgasena! You have answered a question that lies within the Buddha’s domain. In this dispensation of the Buddha, apart from the General of the Dhamma, the Elder Sāriputta, there is none equal to you in answering questions. Forgive me, Venerable Nāgasena, for my transgression. From this day forward, Venerable Nāgasena, may you remember me as a lay follower who has gone for refuge for as long as life lasts."
Vua Milinda, với tâm vô cùng hoan hỷ, với tâm trong trắng như sữa đã được khuấy kỹ, nhận thấy có cốt tủy trong giáo pháp của Đức Phật, không còn hoài nghi nơi Tam Bảo, không còn vướng mắc, không còn cứng nhắc, và vô cùng tín thành đối với các đức hạnh, đời sống xuất gia, và các oai nghi thực hành của vị Trưởng lão, đã trở nên can đảm, không còn luyến ái, đã dẹp bỏ lòng kiêu mạn và sự cứng cỏi, giống như một con mãng xà vương đã bị nhổ nanh, đã nói như sau: ‘Lành thay, thưa Đại đức Nāgasena, một câu hỏi thuộc phạm vi của Đức Phật đã được ngài giải đáp. Trong giáo pháp của Đức Phật này, ngoại trừ vị Tướng quân Chánh pháp, Trưởng lão Sāriputta, không có ai khác giống như ngài trong việc giải đáp các câu hỏi. Xin Đại đức Nāgasena hãy tha thứ cho lỗi lầm của con. Thưa Đại đức Nāgasena, kể từ hôm nay, xin ngài hãy ghi nhận con là một người cận sự nam đã trọn đời quy y Tam Bảo.’