Bản dịch
MIL 3.6.7 — VI. PHẨM TRÍ NHỚ
7. Sarāgavītarāganānākaraṇapañha
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, cái gì là sự khác biệt ở người có tham ái và ở người đã lìa tham ái?”
“Tâu đại vương, một người là bị dính mắc, một người không bị dính mắc.”
“Thưa ngài, điều gì gọi là dính mắc, và không dính mắc?”
“Tâu đại vương, một người có mong cầu, một người không có mong cầu.”
“Thưa ngài, trẫm thấy như vầy: Người có tham ái và người đã lìa tham ái, cả hai hạng này đều ưa thích vật thực loại cứng loại mềm tốt đẹp và không ưa thích bất cứ loại nào xấu.”
“Tâu đại vương, người chưa lìa tham ái thọ dụng vật thực có sự nhận biết về mùi vị, có sự nhận biết về tham ái ở mùi vị, còn người đã lìa tham ái thọ dụng vật thực có sự nhận biết về mùi vị nhưng sự nhận biết về tham ái ở mùi vị là không có.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. Rājā āha ‘‘bhante nāgasena, kiṃ nānākaraṇaṃ sarāgassa ca vītarāgassa cā’’ti? ‘‘Eko kho, mahārāja, ajjhosito, eko anajjhosito’’ti. ‘‘Kiṃ etaṃ, bhante, ajjhosito anajjhosito nāmā’’ti? ‘‘Eko kho, mahārāja, atthiko, eko anatthiko’’ti. ‘‘Passāmahaṃ, bhante, evarūpaṃ yo ca sarāgo, yo ca vītarāgo, sabbopeso sobhanaṃ yeva icchati khādanīyaṃ vā bhojanīyaṃ vā, na koci pāpakaṃ icchatī’’ti. ‘‘Avītarāgo kho, mahārāja, rasapaṭisaṃvedī ca rasarāgapaṭisaṃvedī ca bhojanaṃ bhuñjati, vītarāgo pana rasapaṭisaṃvedī bhojanaṃ bhuñjati, no ca kho rasarāgapaṭisaṃvedī’’ti.
7. The king asked, "Venerable Nāgasena, what is the distinction between one with passion and one without passion?" "One, great king, is attached; the other is unattached." "What, Venerable, is meant by 'attached' and 'unattached'?" "One, great king, is desirous; the other is not desirous." "Venerable, I observe this: both the one with passion and the one without passion desire only what is good, whether it be hard food or soft food; no one desires what is bad." "The one without passion, great king, partakes of food experiencing the taste and also experiencing craving for the taste. The one with passion, however, partakes of food experiencing the taste, but not experiencing craving for the taste."
7. Đức vua hỏi: ‘Bạch ngài Nāgasena, sự khác biệt giữa người có tham ái và người không có tham ái là gì?’ ‘Tâu Đại vương, một người thì bị trói buộc, một người thì không bị trói buộc.’ ‘Bạch ngài, bị trói buộc và không bị trói buộc nghĩa là gì?’ ‘Tâu Đại vương, một người thì có ham muốn, một người thì không có ham muốn.’ ‘Bạch ngài, con thấy rằng cả người có tham ái và người không có tham ái, tất cả đều mong muốn vật thực loại cứng hay loại mềm tốt đẹp, không ai muốn thứ tồi tệ cả.’ ‘Tâu Đại vương, người chưa ly tham khi ăn vật thực thì vừa cảm nhận vị, vừa cảm nhận sự tham ái trong vị. Còn người đã ly tham thì khi ăn vật thực chỉ cảm nhận vị, chứ không cảm nhận sự tham ái trong vị.’
‘‘Kallosi, bhante nāgasenā’’ti.
“You are skillful, Venerable Nāgasena.”
‘Bạch ngài Nāgasena, ngài thật khéo léo!’
Sarāgavītarāganānākaraṇapañho sattamo.
The seventh question on the distinction between one with passion and one without passion is concluded.
Vấn đề thứ bảy về sự khác biệt giữa người có tham ái và người không có tham ái đã kết thúc.