Bản dịch
MIL 3.6.4 — VI. PHẨM TRÍ NHỚ
4. Bhagavatobrahmacāripañha
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, có phải đức Phật là người hành Phạm hạnh?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Đức Thế Tôn là người hành Phạm hạnh.”
“Thưa ngài Nāgasena, chính vì điều ấy có phải đức Phật là học trò của Phạm Thiên?”
“Tâu đại vương, đại vương có con voi đầu đàn không?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có.”
“Tâu đại vương, phải chăng con voi ấy đôi khi vào lúc nào đó rống tiếng rống như là của loài cò?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Nó có rống.”
“Tâu đại vương, chính vì điều ấy có phải con voi ấy là học trò của những con cò?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, có phải Phạm Thiên có tánh giác?”
“Thưa ngài, có tánh giác.”
“Tâu đại vương, chính vì điều ấy Phạm Thiên là học trò của đức Thế Tôn.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Rājā āha ‘‘bhante nāgasena, buddho brahmacārī’’ti? ‘‘Āma, mahārāja, bhagavā brahmacārī’’ti. ‘‘Tena hi, bhante nāgasena, buddho brahmuno sisso’’ti? ‘‘Atthi pana te, mahārāja, hatthipāmokkho’’ti? ‘‘Atthi, bhante’’ti. ‘‘Kiṃnu kho, mahārāja, so hatthī kadāci karahaci koñcanādaṃ nadatīti? ‘‘Āma, bhante, nadatī’’ti ‘‘tena hi, mahārāja, so hatthī koñcasakuṇassa sisso’’ti? ‘‘Na hi, bhante’’ti. ‘‘Kiṃ pana, mahārāja, brahmā sabuddhiko abuddhiko’’ti? ‘‘Sabuddhiko, bhante’’ti. ‘‘Tena hi, mahārāja, brahmā bhagavato sisso’’ti.
3. The king said, “Venerable Nāgasena, was the Buddha a brahmacārī?” “Yes, great king, the Blessed One was a brahmacārī.” “Then, Venerable Nāgasena, was the Buddha a disciple of Brahmā?” “Do you, great king, have a chief elephant?” “Yes, venerable sir, I do.” “Does that elephant, great king, ever cry out with the call of a crane?” “Yes, venerable sir, it does.” “Then, great king, is that elephant a disciple of a crane?” “No, venerable sir.” “Tell me, great king, does Brahmā have things yet to be known, or not?” “He has things yet to be known, venerable sir.” “Then, great king, Brahmā is a disciple of the Blessed One.”
4. Đức vua hỏi: ‘Bạch ngài Nāgasena, có phải đức Phật là người sống Phạm hạnh không?’ ‘Tâu Đại vương, đúng vậy, đức Thế Tôn là người sống Phạm hạnh.’ ‘Nếu vậy, bạch ngài Nāgasena, có phải đức Phật là đệ tử của Phạm thiên không?’ ‘Tâu Đại vương, ngài có con voi đầu đàn không?’ ‘Bạch ngài, có ạ.’ ‘Tâu Đại vương, có phải con voi ấy đôi khi kêu tiếng giống như tiếng chim sếu không?’ ‘Bạch ngài, đúng vậy, nó có kêu.’ ‘Nếu vậy, tâu Đại vương, có phải con voi ấy là đệ tử của con chim sếu không?’ ‘Bạch ngài, không phải ạ.’ ‘Tâu Đại vương, vậy Phạm thiên là người còn phải học hay không còn phải học?’ ‘Bạch ngài, còn phải học ạ.’ ‘Nếu vậy, tâu Đại vương, Phạm thiên chính là đệ tử của đức Thế Tôn.’
‘‘Kallosi, bhante nāgasenā’’ti.
“Well said, venerable Nāgasena.”
‘Bạch ngài Nāgasena, ngài thật khéo léo!’
Bhagavato brahmacāripañho catuttho.
The fourth question concerning the Blessed One as a Brahmacārī.
Vấn đề thứ tư về Phạm hạnh của đức Thế Tôn đã kết thúc.