Bản dịch
MIL 3.6.2 — VI. PHẨM TRÍ NHỚ
2. Sabbaññūbhāvapañha
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, có phải đức Phật là vị biết tất cả, thấy tất cả?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Đức Thế Tôn là vị biết tất cả, thấy tất cả.”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy thì tại sao đức Thế Tôn đã quy định điều học cho các đệ tử theo từng điều một?”
“Tâu đại vương, có người thầy thuốc nào của ngài biết được toàn bộ dược phẩm ở trái đất này không?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có.”
“Tâu đại vương, phải chăng người thầy thuốc ấy cho người bệnh uống thuốc khi thời điểm đã đến, hay là khi thời điểm chưa đến?”
“Thưa ngài, vị ấy cho người bệnh uống thuốc khi thời điểm đã đến, không phải khi thời điểm chưa đến.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn là vị biết tất cả, thấy tất cả; ngài không quy định điều học cho các đệ tử khi không phải là thời điểm. Khi thời điểm đã đến, ngài mới quy định điều học cho các đệ tử, cho đến trọn đời không nên vượt qua.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Rājā āha ‘‘bhante nāgasena, buddho sabbaññū sabbadassāvī’’ti? ‘‘Āma, mahārāja, bhagavā sabbaññū sabbadassāvī’’ti. ‘‘Atha kissa nu kho, bhante nāgasena, sāvakānaṃ anupubbena sikkhāpadaṃ paññapesī’’ti? ‘‘Atthi pana te mahārāja, koci vejjo, yo imissaṃ pathaviyaṃ sabbabhesajjāni jānātī’’ti? ‘‘Āma, bhante, atthī’’ti. ‘‘Kiṃnu kho, mahārāja, so vejjo gilānakaṃ sampatte kāle bhesajjaṃ pāyeti, udāhu asampatte kāle’’ti? ‘‘Sampatte kāle, bhante, gilānakaṃ bhesajjaṃ pāyeti, no asampatte kāle’’ti? ‘‘Evameva kho, mahārāja, bhagavā sabbaññū sabbadassāvī na asampatte kāle sāvakānaṃ sikkhāpadaṃ paññāpeti, sampatte kāle sāvakānaṃ sikkhāpadaṃ paññāpeti yāvajīvaṃ anatikkamanīya’’nti.
The king said, “Venerable Nāgasena, is the Buddha omniscient and all-seeing?” “Yes, great king, the Blessed One is omniscient and all-seeing.” “Then why, venerable Nāgasena, did he establish the rules of training for his disciples gradually?” “Great king, is there any physician for you in this world who knows all medicinal herbs?” “Yes, venerable sir, there is.” “Does that physician, great king, give medicine to a sick person when the time is right, or when the time is not right?” “When the time is right, venerable sir, he gives medicine to the sick person, not when the time is not right.” “In the same way, great king, the Blessed One, though omniscient and all-seeing, does not establish rules of training for his disciples when the time is not right. When the time is right, he establishes for his disciples the rules of training, which are not to be transgressed for as long as life lasts.”
2. Đức vua thưa rằng: "Bạch Đại đức Nāgasena, Đức Phật có phải là bậc toàn tri, toàn kiến không?" "Tâu Đại vương, vâng, Đức Thế Tôn là bậc toàn tri, toàn kiến." "Vậy thì, bạch Đại đức Nāgasena, tại sao ngài lại tuần tự chế định các học giới cho các vị đệ tử?" "Tâu Đại vương, ngài có một vị thầy thuốc nào biết tất cả các loại dược thảo trên trái đất này không?" "Bạch Đại đức, vâng, có." "Tâu Đại vương, vị thầy thuốc ấy cho người bệnh uống thuốc khi đến thời điểm thích hợp, hay là khi chưa đến thời điểm thích hợp?" "Bạch Đại đức, ngài cho người bệnh uống thuốc khi đến thời điểm thích hợp, không cho uống khi chưa đến thời điểm thích hợp." "Tâu Đại vương, cũng vậy, Đức Thế Tôn là bậc toàn tri, toàn kiến, ngài không chế định học giới cho các vị đệ tử khi chưa đến thời điểm thích hợp. Khi đến thời điểm thích hợp, ngài mới chế định cho các vị đệ tử học giới không được vi phạm cho đến trọn đời."
‘‘Kallosi, bhante nāgasenā’’ti.
“Well said, venerable Nāgasena.”
"Bạch Đại đức Nāgasena, ngài thật khéo léo."
Sabbaññūbhāvapañho dutiyo.
The second question concerning the state of omniscience.
Vấn đề thứ hai về trạng thái Toàn Tri đã kết thúc.