Bản dịch
MIL 3.5.10 — V. PHẨM ĐỨC PHẬT
10. Buddhanidassanapañha
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, có phải là có đức Phật?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Có đức Phật.”
“Thưa ngài, có thể nào chỉ cho thấy đức Phật là ‘chỗ này hay chỗ này’ không?”
“Tâu đại vương, đức Thế Tôn đã viên tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót. Không thể nào chỉ cho thấy đức Thế Tôn là ‘chỗ này hay chỗ này.’”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Ngọn lửa của đống lửa lớn đang cháy đã bị diệt tắt, có thể nào chỉ cho thấy ngọn lửa ấy là ‘chỗ này hay chỗ này’ không?”
“Thưa ngài, không.” Ngọn lừa ấy đã tắt, đã đi đến trạng thái không còn được nhận biết.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn đã viên tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót. Đức Thế Tôn đã diệt tắt, không thể nào chỉ cho thấy là ‘chỗ này hay chỗ này. Tâu đại vương, tuy nhiên có thể chỉ cho thấy đức Thế Tôn bởi tổng thể các Pháp. Tâu đại vương, bởi vì Pháp đã được thuyết giảng bởi đức Thế Tôn.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Phẩm Đức Phật là thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Rājā āha ‘‘bhante nāgasena, buddho atthī’’ti? ‘‘Āma, mahārāja, bhagavā atthī’’ti. ‘‘Sakkā pana, bhante nāgasena, buddho nidassetuṃ idhavā idhavā’’ti? ‘‘Parinibbuto, mahārāja, bhagavā anupādisesāya nibbānadhātuyā, na sakkā bhagavā nidassetuṃ ‘idha vā idha vā’’’ti.
10. The king said, "Venerable Nāgasena, does the Buddha exist?" "Yes, great king, the Blessed One exists." "But is it possible, Venerable Nāgasena, to point out the Buddha as being 'here or there'?" "The Blessed One, great king, has attained Parinibbāna in the Nibbāna-element without residue remaining. It is not possible to point out the Blessed One as being 'here or there.'"
10. Đức vua thưa rằng: "Bạch Đại đức Nāgasena, Đức Phật có tồn tại không?" "Tâu Đại vương, vâng, Đức Thế Tôn có tồn tại." "Bạch Đại đức Nāgasena, có thể chỉ ra Đức Phật ở đây hoặc ở đây được không?" "Tâu Đại vương, Đức Thế Tôn đã nhập Vô Dư Y Niết-bàn giới, không thể chỉ ra Đức Thế Tôn 'ở đây hoặc ở đây' được."
‘‘Opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Taṃ kiṃ maññasi, mahārāja, mahato aggikkhandhassa jalamānassa yā acci atthaṅgatā, sakkā sā acci dassetuṃ ‘idha vā idha vā’’’ti? ‘‘Na hi, bhante, niruddhā sā acci appaññattiṃ gatā’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, bhagavā anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbuto atthaṅgato, na sakkā bhagavā nidassetuṃ ‘idha vā idha vā’ ti, dhammakāyena pana kho, mahārāja, sakkā bhagavā nidassetuṃ. Dhammo hi, mahārāja, bhagavatā desito’’ti.
“Please provide a simile.” “What do you think, great king? When a great mass of fire is burning, and its flame has been extinguished, can that flame be pointed out as ‘here or there’?” “No, venerable sir. That flame has ceased and has reached a state of non-designation.” “In the same way, great king, the Blessed One has attained final Nibbāna in the Nibbāna-element without residue remaining and has been extinguished. It is not possible to point out the Blessed One as ‘here or there.’ However, great king, the Blessed One can be pointed out by means of the Dhamma-body. For the Dhamma, great king, was taught by the Blessed One.”
"Xin Đại đức hãy cho một ví dụ." "Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào về điều này: đối với một khối lửa lớn đang cháy, ngọn lửa nào đã tắt, có thể chỉ ra ngọn lửa ấy 'ở đây hoặc ở đây' được không?" "Bạch Đại đức, không thể được, ngọn lửa ấy đã bị dập tắt, đã đi đến chỗ không thể định danh." "Tâu Đại vương, cũng vậy, Đức Thế Tôn đã nhập Vô Dư Y Niết-bàn giới, đã tịch diệt, không thể chỉ ra Đức Thế Tôn 'ở đây hoặc ở đây' được. Tuy nhiên, tâu Đại vương, có thể chỉ ra Đức Thế Tôn qua Pháp thân. Vì rằng, tâu Đại vương, Pháp đã được Đức Thế Tôn thuyết giảng."
‘‘Kallosi, bhante nāgasenā’’ti.
“Well said, venerable Nāgasena.”
"Bạch Đại đức Nāgasena, ngài thật khéo léo."
Buddhanidassanapañho dasamo.
The tenth question concerning the indication of the Buddha.
Câu hỏi thứ mười về việc chỉ ra Đức Phật đã xong.