Bản dịch
MIL 3.4.8 — IV. PHẨM NIẾT BÀN
8. Nirodhanibbānapañha
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, có phải sự diệt tận là Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Sự diệt tận là Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, sự diệt tận là Niết Bàn nghĩa là thế nào?”
“Tâu đại vương, quả là tất cả những kẻ phàm phu ngu dốt thích thú tán thưởng, bám víu vào các nội và ngoại xứ. Chúng thả trôi theo dòng chảy ấy, không hoàn toàn thoát khỏi sự sanh, sự già, sự chết, các sự sầu bi khổ ưu não, tôi nói rằng chúng không hoàn toàn thoát khỏi khổ. Tâu đại vương, còn vị Thánh đệ tử, có sự học hỏi, không thích thú không tán thưởng, không bám víu vào các nội và ngoại xứ. Trong khi vị ấy không thích thú không tán thưởng, không bám víu vào các nội và ngoại xứ, ái bị diệt tận; do sự diệt tận của ái, có sự diệt tận của thủ; do sự diệt tận của thủ, có sự diệt tận của hữu; do sự diệt tận của hữu, có sự diệt tận của sanh; do sự diệt tận của sanh, già chết sầu bi khổ ưu não bị diệt tận. Như thế là sự diệt tận của toàn bộ khổ uẩn này. Tâu đại vương, sự diệt tận là Niết Bàn nghĩa là như vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
8. Rājā āha ‘‘bhante nāgasena, nirodho nibbāna’’nti? ‘‘Āma, mahārāja, nirodho nibbāna’’nti. ‘‘Kathaṃ, bhante, nāgasena, nirodho nibbāna’’nti? ‘‘Sabbe bālaputhujjanā kho, mahārāja, ajjhattikabāhire āyatane abhinandanti abhivadanti ajjhosāya tiṭṭhanti, te tena sotena vuyhanti, na parimuccanti jātiyā jarāya maraṇena sokena paridevena dukkhehi domanassehi upāyāsehi na parimuccanti dukkhasmāti vadāmi. Sutavā ca kho, mahārāja, ariyasāvako ajjhattikabāhire āyatane nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati, tassa taṃ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato taṇhā nirujjhati, taṇhānirodhā upādānanirodho, upādānanirodhā bhavanirodho, bhavanirodhā jātinirodho, jātinirodhā jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti, evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti, evaṃ kho, mahārāja, nirodho nibbāna’’nti.
8. The king said, “Venerable Nāgasena, is cessation Nibbāna?” “Yes, great king, cessation is Nibbāna.” “But how, venerable Nāgasena, is cessation Nibbāna?” “All foolish ordinary people, great king, delight in, welcome, and are fixed on the internal and external sense bases. They are swept away by that stream and are not freed from birth, aging, death, sorrow, lamentation, pain, grief, and despair—I say, they are not freed from suffering. But the learned noble disciple, great king, does not delight in, welcome, or become fixed on the internal and external sense bases. In him who does not delight, welcome, or become fixed, craving ceases. With the cessation of craving, clinging ceases. With the cessation of clinging, becoming ceases. With the cessation of becoming, birth ceases. With the cessation of birth, aging and death, sorrow, lamentation, pain, grief, and despair cease. Thus there is the cessation of this entire mass of suffering. In this way, great king, cessation is Nibbāna.”
8. Vua nói: "Thưa ngài Nāgasena, sự diệt tận có phải là Niết-bàn không?" – "Thưa vâng, tâu Đại vương, sự diệt tận là Niết-bàn." – "Thưa ngài Nāgasena, làm thế nào sự diệt tận là Niết-bàn?" – "Tâu Đại vương, tất cả những kẻ phàm phu ngu dốt đều hoan hỷ, tán dương, và bám víu vào các xứ nội và ngoại. Họ bị cuốn trôi theo dòng chảy ấy, không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ không giải thoát khỏi khổ đau. Còn bậc Thánh đệ tử có học, tâu Đại vương, vị ấy không hoan hỷ, không tán dương, không bám víu vào các xứ nội và ngoại. Đối với vị ấy, người không hoan hỷ, không tán dương, không bám víu, ái dục được diệt tận. Do ái dục diệt tận nên thủ diệt tận. Do thủ diệt tận nên hữu diệt tận. Do hữu diệt tận nên sanh diệt tận. Do sanh diệt tận nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được diệt tận. Như vậy là sự diệt tận của toàn bộ khối khổ này. Tâu Đại vương, như vậy đó, sự diệt tận chính là Niết-bàn."
‘‘Kallosi, bhante nāgasenā’’ti.
“You are clever, venerable Nāgasena.”
– "Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khéo léo!"
Nirodhanibbānapañho aṭṭhamo.
The Eighth Question on Nibbāna as Cessation.
Câu hỏi thứ tám về sự diệt tận là Niết-bàn.