Bản dịch
MIL 3.4.10 — IV. PHẨM NIẾT BÀN
10. Nibbānasukhajānanapañha
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, người nào chưa đạt được Niết Bàn, có phải người ấy biết được Niết Bàn là an lạc?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Người nào chưa đạt được Niết Bàn, người ấy vẫn biết được Niết Bàn là an lạc.”
“Thưa ngài Nāgasena, trong khi không đạt được Niết Bàn làm thế nào lại biết được Niết Bàn là an lạc?”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Đối với những người có tay chân không bị chặt đứt, tâu đại vương, có phải họ có thể biết được sự chặt đứt tay chân là đau đớn.”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Làm thế nào họ có thể biết được?”
“Thưa ngài, sau khi lắng nghe tiếng rên rỉ của những người khác có tay chân bị chặt đứt, họ biết được sự chặt đứt tay chân là đau đớn.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế sau khi lắng nghe những người đã thấy được Niết Bàn mà biết được Niết Bàn là an lạc.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Phẩm Niết Bàn là thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Rājā āha ‘‘bhante nāgasena, yo na labhati nibbānaṃ, jānāti so ‘sukhaṃ nibbāna’’’nti? ‘‘Āma, mahārāja, yo na labhati nibbānaṃ, jānāti so ‘sukhaṃ nibbāna’’’nti. ‘‘Kathaṃ, bhante nāgasena, alabhanto jānāti ‘sukhaṃ nibbāna’’’nti? ‘‘Taṃ kiṃ maññasi, mahārāja, yesaṃ nacchinnā hatthapādā, jāneyyuṃ te, mahārāja, ‘dukkhaṃ hatthapādacchedana’’’nti? ‘‘Āma, bhante, jāneyyu’’nti. ‘‘Kathaṃ jāneyyu’’nti? ‘‘Aññesaṃ, bhante, chinnahatthapādānaṃ paridevitasaddaṃ sutvā jānanti ‘dukkhaṃ hatthapādacchedana’’’nti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, yesaṃ diṭṭhaṃ nibbānaṃ, tesaṃ saddaṃ sutvā jānāti ‘sukhaṃ nibbāna’’’nti.
10. The king said, “Venerable Nāgasena, does one who does not attain Nibbāna know that ‘Nibbāna is bliss’?” “Yes, great king, one who does not attain Nibbāna knows that ‘Nibbāna is bliss’.” “How, venerable Nāgasena, can one who has not attained it know ‘Nibbāna is bliss’?” “What do you think, great king? Would those whose hands and feet have not been cut off know, ‘the cutting off of hands and feet is suffering’?” “Yes, venerable sir, they would know.” “How would they know?” “Venerable sir, by hearing the sound of lamentation of others whose hands and feet have been cut off, they know ‘the cutting off of hands and feet is suffering’.” “Just so, great king, by hearing the words of those who have seen Nibbāna, one knows ‘Nibbāna is bliss’.”
10. Vua nói: "Thưa ngài Nāgasena, người chưa chứng đắc Niết-bàn, người ấy có biết rằng ‘Niết-bàn là an lạc’ không?" – "Thưa vâng, tâu Đại vương, người chưa chứng đắc Niết-bàn, người ấy vẫn biết rằng ‘Niết-bàn là an lạc’." – "Thưa ngài Nāgasena, làm thế nào một người chưa chứng đắc lại có thể biết rằng ‘Niết-bàn là an lạc’?" – "Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào về điều này? Những người chưa bị chặt tay chân, họ có biết rằng ‘việc bị chặt tay chân là đau khổ’ không?" – "Thưa ngài, có biết ạ." – "Làm thế nào họ biết?" – "Thưa ngài, do nghe tiếng than khóc của những người khác bị chặt tay chân mà họ biết rằng ‘việc bị chặt tay chân là đau khổ’." – "Tâu Đại vương, cũng tương tự như vậy, do nghe lời của những vị đã thấy Niết-bàn mà người ấy biết rằng ‘Niết-bàn là an lạc’."
‘‘Kallosi, bhante nāgasenā’’ti.
“You are clever, venerable Nāgasena.”
– "Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khéo léo!"
Nibbānasukhajānanapañho dasamo.
The Tenth Question on Knowing the Bliss of Nibbāna.
Câu hỏi thứ mười về việc biết được sự an lạc của Niết-bàn.
Nibbānavaggo catuttho.
The Fourth Chapter on Nibbāna.
Phẩm về Niết-bàn, phẩm thứ tư.
Imasmiṃ vagge dasa pañhā.
In this chapter there are ten questions.
Trong phẩm này có mười câu hỏi.