Bản dịch
MIL 3.3.7 — III. PHẨM SỞ HỮU TỨ
7. Cakkhuviññāṇādipañha
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, có phải nhãn thức sanh lên ở nơi nào thì ý thức cũng sanh lên ở nơi ấy?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Nhãn thức sanh lên ở nơi nào thì ý thức cũng sanh lên ở nơi ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, có phải nhãn thức sanh lên trước ý thức sanh lên sau, hay là ý thức sanh lên trước nhãn thức sanh lên sau?”
“Tâu đại vương, nhãn thức sanh lên trước ý thức sanh lên sau.”
“Thưa ngài Nāgasena, có phải nhãn thức ra lệnh cho ý thức rằng: ‘Tôi sanh lên ở nơi nào thì anh cũng sanh lên ở nơi ấy,’ hay là ý thức ra lệnh cho nhãn thức rằng: ‘Anh sẽ sanh lên ở nơi nào thì tôi cũng sẽ sanh lên ở nơi ấy’?”
“Tâu đại vương, không đúng. Chúng không có sự chuyện trò với nhau.”
“Thưa ngài Nāgasena, nhãn thức sanh lên ở nơi nào thì ý thức cũng sanh lên ở nơi ấy nghĩa là thế nào?”
“Tâu đại vương, là tính chất xuôi chiều, tính chất cửa lớn, tính chất tập quán, và tính chất thực hành.”
“Thưa ngài Nāgasena, thế nào là tính chất xuôi chiều khiến nhãn thức sanh lên ở nơi nào thì ý thức cũng sanh lên ở nơi ấy? Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này, trong khi trời đang mưa, nước di chuyển theo lối nào?”
“Thưa ngài, lối nào là lối đi xuống thì đi theo lối đó.”
“Rồi vào lúc sau đó trời vẫn mưa thì nước ấy di chuyển theo lối nào?”
“Thưa ngài, nước lúc trước đã di chuyển theo lối nào thì nó cũng di chuyển theo lối đó.”
“Tâu đại vương, phải chăng nước lúc trước ra lệnh cho nước lúc sau rằng: ‘Tôi di chuyển theo lối nào thì anh cũng di chuyển theo lối ấy,’ hay là nước lúc sau ra lệnh cho nước lúc trước rằng: ‘Anh sẽ di chuyển theo lối nào thì tôi cũng sẽ di chuyển theo lối ấy’?”
“Tâu đại vương, không đúng. Chúng không có sự chuyện trò với nhau. Chúng di chuyển theo tính chất xuôi chiều.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế tính chất xuôi chiều khiến nhãn thức sanh lên ở nơi nào thì ý thức cũng sanh lên ở nơi ấy. Nhãn thức không ra lệnh cho ý thức rằng: ‘Tôi sanh lên ở nơi nào thì anh cũng sanh lên ở nơi ấy.’ Ý thức cũng không ra lệnh cho nhãn thức rằng: ‘Anh sẽ sanh lên ở nơi nào thì tôi cũng sẽ sanh lên ở nơi ấy.’ Chúng không có sự chuyện trò với nhau. Chúng sanh lên theo tính chất xuôi chiều.”
“Thưa ngài Nāgasena, thế nào là tính chất cửa lớn khiến nhãn thức sanh lên ở nơi nào thì ý thức cũng sanh lên ở nơi ấy? Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này, thành ở biên địa của đức vua có tường vững chắc và cổng chào, và một cửa lớn, do đó một người đàn ông có ý định đi ra thì có thể đi ra theo lối nào?”
“Thưa ngài, có thể đi ra theo lối cửa lớn.”
“Rồi một người đàn ông khác ý định đi ra thì có thể đi ra theo lối nào?”
“Thưa ngài, người đàn ông trước đã đi ra theo lối nào thì người ấy cũng đi ra theo lối đó.”
“Tâu đại vương, phải chăng người đàn ông trước ra lệnh cho người đàn ông sau rằng: ‘Tôi đi theo lối nào thì anh cũng đi theo lối ấy,’ hay là người đàn ông sau ra lệnh cho người đàn ông trước rằng: ‘Anh sẽ đi theo lối nào thì tôi cũng sẽ đi theo lối ấy’?”
“Thưa ngài, không đúng. Họ không có sự chuyện trò với nhau. Họ đi theo tính chất cửa lớn.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế tính chất cửa lớn khiến nhãn thức sanh lên ở nơi nào thì ý thức cũng sanh lên ở nơi ấy. Và nhãn thức không ra lệnh cho ý thức rằng: ‘Tôi sanh lên ở nơi nào thì anh cũng sanh lên ở nơi ấy.’ Ý thức cũng không ra lệnh cho nhãn thức rằng: ‘Anh sẽ sanh lên ở nơi nào thì tôi cũng sẽ sanh lên ở nơi ấy.’ Chúng không có sự chuyện trò với nhau. Chúng sanh lên theo tính chất cửa lớn.”
“Thưa ngài Nāgasena, thế nào là tính chất tập quán khiến nhãn thức sanh lên ở nơi nào thì ý thức cũng sanh lên ở nơi ấy? Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này, một xe tải hàng đi đầu, vậy xe tải hàng thứ nhì có thể đi theo lối nào?”
“Thưa ngài, xe tải hàng trước đã đi lối nào thì nó cũng đi theo lối đó.”
“Tâu đại vương, phải chăng xe tải hàng trước ra lệnh cho xe tải hàng sau rằng: ‘Tôi đi theo lối nào thì anh cũng đi theo lối ấy,’ hay là xe tải hàng sau ra lệnh cho xe tải hàng trước rằng: ‘Anh sẽ đi theo lối nào thì tôi cũng sẽ đi theo lối ấy’?”
“Thưa ngài, không đúng. Chúng không có sự chuyện trò với nhau. Chúng đi theo tính chất tập quán.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế tính chất tập quán khiến nhãn thức sanh lên ở nơi nào thì ý thức cũng sanh lên ở nơi ấy. Và nhãn thức không ra lệnh cho ý thức rằng: ‘Tôi sanh lên ở nơi nào thì anh cũng sanh lên ở nơi ấy.’ Ý thức cũng không ra lệnh cho nhãn thức rằng: ‘Anh sẽ sanh lên ở nơi nào thì tôi cũng sẽ sanh lên ở nơi ấy.’ Chúng không có sự chuyện trò với nhau. Chúng sanh lên theo tính chất tập quán.”
“Thưa ngài Nāgasena, thế nào là tính chất thực hành khiến nhãn thức sanh lên ở nơi nào thì ý thức cũng sanh lên ở nơi ấy? Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như sự vụng về của người thợ mới trong các lãnh vực của nghề nghiệp về đo, đếm, tính, viết, rồi thời gian sau đó, với tính chất thực hành của sự làm việc cẩn thận khiến không còn vụng về. Tâu đại vương, tương tợ y như thế tính chất thực hành khiến nhãn thức sanh lên ở nơi nào thì ý thức cũng sanh lên ở nơi ấy. Và nhãn thức không ra lệnh cho ý thức rằng: ‘Tôi sanh lên ở nơi nào thì anh cũng sanh lên ở nơi ấy.’ Ý thức cũng không ra lệnh cho nhãn thức rằng: ‘Anh sẽ sanh lên ở nơi nào thì tôi cũng sẽ sanh lên ở nơi ấy.’ Và chúng không có sự chuyện trò với nhau. Chúng sanh lên theo tính chất thực hành.”
“Thưa ngài Nāgasena, có phải nhĩ thức sanh lên ở nơi nào thì ý thức cũng sanh lên ở nơi ấy? … (như trên) … tỷ thức sanh lên ở nơi nà … (như trên) … thiệt thức sanh lên ở nơi nà … (như trên) … thân thức sanh lên ở nơi nào thì ý thức cũng sanh lên ở nơi ấy?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Thân thức sanh lên ở nơi nào thì ý thức cũng sanh lên ở nơi ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, có phải thân thức sanh lên trước ý thức sanh lên sau? Hay là ý thức sanh lên trước thân thức sanh lên sau?”
“Tâu đại vương, thân thức sanh lên trước ý thức sanh lên sau.”
“Thưa ngài Nāgasena, có phả … (như trên) … Chúng không có sự chuyện trò với nhau. Chúng sanh lên theo tính chất thực hành.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Kiṃ nu kho, bhante nāgasena, paṭhamaṃ cakkhuviññāṇaṃ uppajjati, pacchā manoviññāṇaṃ, udāhu manoviññāṇaṃ paṭhamaṃ uppajjati, pacchā cakkhuviññāṇa’’nti? ‘‘Paṭhamaṃ, mahārāja, cakkhuviññāṇaṃ uppajjati, pacchā manoviññāṇa’’nti.
“Venerable Nāgasena, does eye-consciousness arise first, and mind-consciousness afterwards, or does mind-consciousness arise first, and eye-consciousness afterwards?” “First, Great King, eye-consciousness arises, and mind-consciousness afterwards.”
“Bạch ngài Nāgasena, có phải nhãn thức sanh khởi trước, rồi ý thức sanh khởi sau, hay là ý thức sanh khởi trước, rồi nhãn thức sanh khởi sau?” – “Tâu Đại vương, nhãn thức sanh khởi trước, rồi ý thức sanh khởi sau.”
‘‘Kiṃ nu kho, bhante nāgasena, cakkhuviññāṇaṃ manoviññāṇaṃ āṇāpeti ‘yatthāhaṃ uppajjāmi, tvampi tattha uppajjāhī’ti, udāhu manoviññāṇaṃ cakkhuviññāṇaṃ āṇāpeti ‘yattha tvaṃ uppajjissasi, ahampi tattha uppajjissāmī’’’ti? ‘‘Na hi, mahārāja, anālāpo tesaṃ aññamaññehī’’ti.
“Venerable Nāgasena, does eye-consciousness command mind-consciousness, saying, ‘Where I arise, you too arise there’? Or does mind-consciousness command eye-consciousness, saying, ‘Where you will arise, I too will arise there’?” “No, Great King, there is no conversation between them.”
“Bạch ngài Nāgasena, có phải nhãn thức ra lệnh cho ý thức rằng: ‘Nơi nào ta sanh khởi, ngươi cũng hãy sanh khởi nơi đó,’ hay là ý thức ra lệnh cho nhãn thức rằng: ‘Nơi nào ngươi sẽ sanh khởi, ta cũng sẽ sanh khởi nơi đó’?” – “Tâu Đại vương, không, chúng không có sự trao đổi với nhau.”
‘‘Kathaṃ, bhante nāgasena, yattha cakkhuviññāṇaṃ uppajjati, tattha manoviññāṇampi uppajjatī’’ti? ‘‘Ninnattā ca, mahārāja, dvārattā ca ciṇṇattā ca samudācaritattā cā’’ti.
“How is it, venerable Nāgasena, that where eye-consciousness arises, mind-consciousness also arises there?” “Great King, it is due to inclination, due to the door, due to habit, and due to being practiced.”
“Bạch ngài Nāgasena, làm thế nào mà nơi nhãn thức sanh khởi, nơi đó ý thức cũng sanh khởi?” – “Tâu Đại vương, do có khuynh hướng, do là cánh cửa, do đã được thực hành, và do đã được quen thuộc.”
‘‘Kathaṃ, bhante nāgasena, ninnattā yattha cakkhuviññāṇaṃ uppajjati, tattha manoviññāṇampi uppajjati? Opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Taṃ kiṃ maññasi, mahārāja, deve vassante katamena udakaṃ gaccheyyā’’ti? ‘‘Yena, bhante, ninnaṃ, tena gaccheyyā’’ti. ‘‘Athāparena samayena devo vasseyya, katamena taṃ udakaṃ gaccheyyā’’ti. ‘‘Yena, bhante, purimaṃ udakaṃ gataṃ, tampi tena gaccheyyā’’ti.
“How is it, venerable Nāgasena, that due to inclination, where eye-consciousness arises, mind-consciousness also arises there? Please provide a simile.” “What do you think, Great King? When the heavens rain, where would the water go?” “Venerable sir, it would go where it is low-lying.” “Then, if the heavens were to rain on another occasion, where would that water go?” “Venerable sir, it would go where the previous water went.”
“Bạch ngài Nāgasena, làm thế nào mà do có khuynh hướng, nơi nhãn thức sanh khởi, nơi đó ý thức cũng sanh khởi? Xin ngài cho một ví dụ.” – “Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào, khi trời mưa, nước sẽ chảy về đâu?” – “Bạch ngài, nó sẽ chảy về nơi trũng.” – “Nếu sau đó trời lại mưa, nước đó sẽ chảy về đâu?” – “Bạch ngài, nó cũng sẽ chảy về nơi mà nước mưa trước đã chảy đến.”
‘‘Kiṃ nuṃ kho, mahārāja, purimaṃ udakaṃ pacchimaṃ udakaṃ āṇāpeti ‘yenāhaṃ gacchāmi, tvampi tena gacchāhī’ti, pacchimaṃ vā udakaṃ purimaṃ udakaṃ āṇāpeti ‘yena tvaṃ gacchissasi, ahampi tena gacchissāmī’’’ti. ‘‘Na hi, bhante, anālāpo tesaṃ aññamaññehi, ninnattā gacchantī’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, ninnattā yattha cakkhuviññāṇaṃ uppajjati, tattha manoviññāṇampi uppajjati, na cakkhuviññāṇaṃ manoviññāṇaṃ āṇāpeti ‘yatthāhaṃ uppajjāmi, tvampi tattha uppajjāhī’ti, nāpi manoviññāṇaṃ cakkhuviññāṇaṃ āṇāpeti ‘yattha tvaṃ uppajjissasi, ahampi tattha uppajjissāmī’ti, anālāpo tesaṃ aññamaññehi, ninnattā uppajjantī’’’ti.
“Now, Great King, does the first water command the later water, saying, ‘Go where I am going’? Or does the later water command the first water, saying, ‘Where you will go, I too will go there’?” “No, venerable sir, there is no conversation between them; they flow due to inclination.” “In just the same way, Great King, it is due to inclination that where eye-consciousness arises, mind-consciousness also arises there. Eye-consciousness does not command mind-consciousness, saying, ‘Where I arise, you too arise there.’ Nor does mind-consciousness command eye-consciousness, saying, ‘Where you will arise, I too will arise there.’ There is no conversation between them; they arise due to inclination.”
“Tâu Đại vương, có phải nước mưa trước ra lệnh cho nước mưa sau rằng: ‘Nơi nào ta chảy, ngươi cũng hãy chảy đến đó,’ hay nước mưa sau ra lệnh cho nước mưa trước rằng: ‘Nơi nào ngươi sẽ chảy, ta cũng sẽ chảy đến đó’?” – “Bạch ngài, không, chúng không có sự trao đổi với nhau; chúng chảy đi do có khuynh hướng.” – “Tâu Đại vương, cũng vậy, do có khuynh hướng, nơi nào nhãn thức sanh khởi, nơi đó ý thức cũng sanh khởi. Nhãn thức không ra lệnh cho ý thức rằng: ‘Nơi nào ta sanh khởi, ngươi cũng hãy sanh khởi nơi đó,’ và ý thức cũng không ra lệnh cho nhãn thức rằng: ‘Nơi nào ngươi sẽ sanh khởi, ta cũng sẽ sanh khởi nơi đó.’ Chúng không có sự trao đổi với nhau; chúng sanh khởi do có khuynh hướng.”
‘‘Kathaṃ, bhante nāgasena, dvārattā yattha cakkhuviññāṇaṃ uppajjati, tattha manoviññāṇampi uppajjati? Apepammaṃ karohī’’ti. ‘‘Taṃ kiṃ maññasi, mahārāja, rañño paccantimaṃ nagaraṃ assa daḷhapākāratoraṇaṃ ekadvāraṃ, tato puriso nikkhamitukāmo bhaveyya, katamena nikkhameyyā’’ti? ‘‘Dvārena, bhante, nikkhameyyā’’ti. ‘‘Athāparo puriso nikkhamitukāmo bhaveyya, katamena so nikkhameyyā’’ti? ‘‘Yena, bhante, purimo puriso nikkhanto, sopi tena nikkhameyyā’’ti.
“How is it, venerable Nāgasena, that due to the door, where eye-consciousness arises, mind-consciousness also arises there? Please provide a simile.” “What do you think, Great King? Suppose there were a king’s frontier city with strong ramparts and gate-towers, and but a single gate. If a man wished to exit from there, by which way would he exit?” “He would exit by the gate, venerable sir.” “And if another man wished to exit, by which way would he exit?” “Venerable sir, he too would exit by the same way the first man exited.”
“Bạch ngài Nāgasena, do bởi cửa mà nhãn thức sanh khởi ở đâu, thì ý thức cũng sanh khởi ở đấy là như thế nào? Xin ngài hãy cho một ví dụ.” “Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào về điều ấy? Giả sử có một thành phố biên địa của đức vua, có thành lũy và cổng thành vững chắc, chỉ có một cửa. Từ nơi ấy, có một người đàn ông muốn đi ra. Người ấy sẽ đi ra bằng lối nào?” “Bạch ngài, người ấy sẽ đi ra bằng cửa.” “Rồi có một người đàn ông khác muốn đi ra. Người ấy sẽ đi ra bằng lối nào?” “Bạch ngài, người đàn ông trước đã đi ra bằng lối nào, người này cũng sẽ đi ra bằng lối ấy.”
‘‘Kiṃ nu kho, mahārāja, purimo puriso pacchimaṃ purisaṃ āṇāpeti ‘yenāhaṃ gacchāmi, tvampi tena gacchāhī’ti, pacchimo vā puriso purimaṃ purisaṃ āṇāpeti ‘yena tvaṃ gacchissasi, ahampi tena gacchissāmī’ti. ‘‘Na hi, bhante, anālāpo tesaṃ aññamaññehi, dvārattā gacchantī’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, dvārattā yattha cakkhuviññāṇaṃ uppajjati, tattha manoviññāṇampi uppajjati, na cakkhuviññāṇaṃ manoviññāṇaṃ āṇāpeti ‘yatthāhaṃ uppajjāmi, tvampi tattha uppajjāhī’ti, nāpi manoviññāṇaṃ cakkhuviññāṇaṃ āṇāpeti ‘yattha tvaṃ uppajjissasi, ahampi tattha uppajjissāmī’ti, anālāpo tesaṃ aññamaññehi, dvārattā uppajjantī’’ti.
“Now, Great King, does the first man command the later man, saying, ‘Go by the way I am going’? Or does the later man command the first man, saying, ‘By the way you will go, I too will go’?” “No, venerable sir, there is no conversation between them; they go because it is the door.” “In just the same way, Great King, it is due to the door that where eye-consciousness arises, mind-consciousness also arises there. Eye-consciousness does not command mind-consciousness, saying, ‘Where I arise, you too arise there.’ Nor does mind-consciousness command eye-consciousness, saying, ‘Where you will arise, I too will arise there.’ There is no conversation between them; they arise because it is the door.”
“Tâu Đại vương, có phải chăng người đàn ông đi trước đã ra lệnh cho người đàn ông đi sau rằng: ‘Ta đi ra bằng lối nào, ngươi cũng hãy đi ra bằng lối ấy,’ hoặc người đàn ông đi sau đã ra lệnh cho người đàn ông đi trước rằng: ‘Ngươi sẽ đi ra bằng lối nào, ta cũng sẽ đi ra bằng lối ấy’?” “Bạch ngài, không phải vậy. Giữa họ không có sự trao đổi với nhau; họ đi ra là do bởi cửa.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, do bởi cửa mà nhãn thức sanh khởi ở đâu, thì ý thức cũng sanh khởi ở đấy. Nhãn thức không ra lệnh cho ý thức rằng: ‘Ta sanh khởi ở đâu, ngươi cũng hãy sanh khởi ở đấy,’ và ý thức cũng không ra lệnh cho nhãn thức rằng: ‘Ngươi sẽ sanh khởi ở đâu, ta cũng sẽ sanh khởi ở đấy.’ Giữa chúng không có sự trao đổi với nhau; chúng sanh khởi là do bởi cửa.”
‘‘Kathaṃ, bhante nāgasena, ciṇṇattā yattha cakkhuviññāṇaṃ uppajjati, tattha manoviññāṇampi uppajjati?Opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Taṃ kiṃ maññasi, mahārāja, paṭhamaṃ ekaṃ sakaṭaṃ gaccheyya, atha dutiyaṃ sakaṭaṃ katamena gaccheyyā’’ti? ‘‘Yena, bhante, purimaṃ sakaṭaṃ gataṃ, tampi tena gaccheyyā’’ti.
“Venerable Nāgasena, how is it that, due to familiarity, wherever eye-consciousness arises, mind-consciousness also arises there? Please provide an analogy.” “What do you think, great king? If a first cart were to go, and then a second cart, by which way would it go?” “Venerable sir, by whichever way the first cart went, the other would also go by that way.”
“Bạch ngài Nāgasena, do bởi sự quen thuộc mà nhãn thức sanh khởi ở đâu, thì ý thức cũng sanh khởi ở đấy là như thế nào? Xin ngài hãy cho một ví dụ.” “Tâu Đại vương, ngài nghĩ thế nào về điều ấy? Giả sử trước hết có một cỗ xe đi qua, rồi cỗ xe thứ hai sẽ đi bằng lối nào?” “Bạch ngài, cỗ xe trước đã đi bằng lối nào, cỗ xe này cũng sẽ đi bằng lối ấy.”
‘‘Kiṃ nu kho, mahārāja, purimaṃ sakaṭaṃ pacchimaṃ sakaṭaṃ āṇāpeti ‘yenāhaṃ gacchāmi, tvampi tena gacchāhī’ti, pacchimaṃ vā sakaṭaṃ purimaṃ sakaṭaṃ āṇāpeti ‘yena tvaṃ gacchissasi, ahampi tena gacchissāmī’’’ti. ‘‘Na hi, bhante, anālāpo tesaṃ aññamaññehi, ciṇṇattā gacchantī’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, ciṇṇattā yattha cakkhuviññāṇaṃ uppajjati, tattha manoviññāṇampi uppajjati, na cakkhuviññāṇaṃ manoviññāṇaṃ āṇāpeti ‘yatthāhaṃ uppajjāmi, tvampi tattha uppajjāhī’ti, nāpi manoviññāṇaṃ cakkhuviññāṇaṃ āṇāpeti ‘yattha tvaṃ uppajjissasi, ahampi tattha uppajjissāmī’ti, anālāpo tesaṃ aññamaññehi, ciṇṇattā uppajjantī’’ti.
“Great king, does the first cart command the second cart, saying, ‘By the way I am going, you also go,’ or does the second cart command the first cart, saying, ‘By the way you will go, I also will go’?” “Not so, venerable sir. There is no conversation between them; they go due to familiarity.” “Even so, great king, it is due to familiarity that wherever eye-consciousness arises, mind-consciousness also arises there. Eye-consciousness does not command mind-consciousness, saying, ‘Where I arise, you also arise there,’ nor does mind-consciousness command eye-consciousness, saying, ‘Where you will arise, I also will arise there.’ There is no conversation between them; they arise due to familiarity.”
“Tâu Đại vương, có phải chăng cỗ xe đi trước đã ra lệnh cho cỗ xe đi sau rằng: ‘Ta đi bằng lối nào, ngươi cũng hãy đi bằng lối ấy,’ hoặc cỗ xe đi sau đã ra lệnh cho cỗ xe đi trước rằng: ‘Ngươi sẽ đi bằng lối nào, ta cũng sẽ đi bằng lối ấy’?” “Bạch ngài, không phải vậy. Giữa chúng không có sự trao đổi với nhau; chúng đi là do bởi sự quen thuộc.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, do bởi sự quen thuộc mà nhãn thức sanh khởi ở đâu, thì ý thức cũng sanh khởi ở đấy. Nhãn thức không ra lệnh cho ý thức rằng: ‘Ta sanh khởi ở đâu, ngươi cũng hãy sanh khởi ở đấy,’ và ý thức cũng không ra lệnh cho nhãn thức rằng: ‘Ngươi sẽ sanh khởi ở đâu, ta cũng sẽ sanh khởi ở đấy.’ Giữa chúng không có sự trao đổi với nhau; chúng sanh khởi là do bởi sự quen thuộc.”
‘‘Kathaṃ, bhante nāgasena, samudācaritattā yattha cakkhuviññāṇaṃ uppajjati, tattha manoviññāṇampi uppajjati? Opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, muddāgaṇanāsaṅkhyālekhāsippaṭṭhānesu ādikammikassa dandhāyanā bhavati, athāparena samayena nisammakiriyāya samudācaritattā adandhāyanā bhavati. Evameva kho, mahārāja, samudācaritattā yattha cakkhuviññāṇaṃ uppajjati, tattha manoviññāṇampi uppajjati, na cakkhuviññāṇaṃ manoviññāṇaṃ āṇāpeti ‘yatthāhaṃ uppajjāmi, tvampi tattha uppajjāhī’ti, nāpi manoviññāṇaṃ cakkhuviññāṇaṃ āṇāpeti ‘yattha tvaṃ uppajjissasi, ahampi tattha uppajjissāmī’ti, anālāpo tesaṃ aññamaññehi, samudācaritattā uppajjantī’’ti.
“Venerable Nāgasena, how is it that, due to being well-practiced, wherever eye-consciousness arises, mind-consciousness also arises there? Please provide an analogy.” “Great king, it is like how for a beginner in the arts of calculation by signs, accounting, and writing, there is slowness, but at a later time, through careful action and being well-practiced, there is no slowness. Even so, great king, it is due to being well-practiced that wherever eye-consciousness arises, mind-consciousness also arises there. Eye-consciousness does not command mind-consciousness, saying, ‘Where I arise, you also arise there,’ nor does mind-consciousness command eye-consciousness, saying, ‘Where you will arise, I also will arise there.’ There is no conversation between them; they arise due to being well-practiced.”
“Bạch ngài Nāgasena, do bởi sự thực hành thuần thục mà nhãn thức sanh khởi ở đâu, thì ý thức cũng sanh khởi ở đấy là như thế nào? Xin ngài hãy cho một ví dụ.” “Ví như, tâu Đại vương, đối với người mới bắt đầu trong các ngành nghề như tính nhẩm, kế toán, và viết lách, thì có sự chậm chạp; nhưng sau một thời gian, do sự thực hành cẩn trọng và thuần thục, người ấy trở nên nhanh nhẹn. Cũng vậy, tâu Đại vương, do bởi sự thực hành thuần thục mà nhãn thức sanh khởi ở đâu, thì ý thức cũng sanh khởi ở đấy. Nhãn thức không ra lệnh cho ý thức rằng: ‘Ta sanh khởi ở đâu, ngươi cũng hãy sanh khởi ở đấy,’ và ý thức cũng không ra lệnh cho nhãn thức rằng: ‘Ngươi sẽ sanh khởi ở đâu, ta cũng sẽ sanh khởi ở đấy.’ Giữa chúng không có sự trao đổi với nhau; chúng sanh khởi là do bởi sự thực hành thuần thục.”
‘‘Bhante nāgasena, yattha sotaviññāṇaṃ uppajjati, tattha manoviññāṇampi uppajjatīti…pe… yattha ghānaviññāṇaṃ uppajjati…pe… yattha jivhāviññāṇaṃ uppajjati …pe… yattha kāyaviññāṇaṃ uppajjati, tattha manoviññāṇampi uppajjatī’’ti? ‘‘Āma, mahārāja, yattha kāyaviññāṇaṃ uppajjati, tattha manoviññāṇampi uppajjatī’’ti.
“Venerable Nāgasena, wherever ear-consciousness arises, does mind-consciousness also arise there? …wherever nose-consciousness arises… wherever tongue-consciousness arises… wherever body-consciousness arises, does mind-consciousness also arise there?” “Yes, great king, wherever body-consciousness arises, mind-consciousness also arises there.”
“Bạch ngài Nāgasena, nhĩ thức sanh khởi ở đâu, thì ý thức cũng sanh khởi ở đấy phải không? …v.v… tỷ thức sanh khởi ở đâu…v.v… thiệt thức sanh khởi ở đâu…v.v… thân thức sanh khởi ở đâu, thì ý thức cũng sanh khởi ở đấy phải không?” “Thưa vâng, tâu Đại vương, thân thức sanh khởi ở đâu, thì ý thức cũng sanh khởi ở đấy.”
‘‘Kiṃ nu kho, bhante nāgasena, paṭhamaṃ kāyaviññāṇaṃ uppajjati, pacchā manoviññāṇaṃ, udāhu manoviññāṇaṃ paṭhamaṃ uppajjati, pacchā kāyaviññāṇa’’nti? ‘‘Kāyaviññāṇaṃ, mahārāja, paṭhamaṃ uppajjati, pacchā manoviññāṇa’’nti.
“Venerable Nāgasena, does body-consciousness arise first and mind-consciousness afterwards, or does mind-consciousness arise first and body-consciousness afterwards?” “Great king, body-consciousness arises first, and mind-consciousness afterwards.”
“Bạch ngài Nāgasena, có phải chăng thân thức sanh khởi trước, rồi ý thức sanh khởi sau, hay là ý thức sanh khởi trước, rồi thân thức sanh khởi sau?” “Tâu Đại vương, thân thức sanh khởi trước, rồi ý thức sanh khởi sau.”
‘‘Kiṃ nu kho, bhante nāgasena,…pe… anālāpo tesaṃ aññamaññehi, samudācaritattā uppajjantī’’ti.
“Venerable Nāgasena, how is it then? … There is no conversation between them; they arise due to being well-practiced.”
“Bạch ngài Nāgasena, có phải chăng…v.v… Giữa chúng không có sự trao đổi với nhau; chúng sanh khởi là do bởi sự thực hành thuần thục?”
‘‘Kallosi, bhante nāgasenā’’ti.
“You are eloquent, Venerable Nāgasena.”
“Bạch ngài Nāgasena, ngài thật khéo léo!”
Cakkhuviññāṇādipañho sattamo.
The Seventh Question on Eye-Consciousness and so forth.
Câu hỏi thứ bảy về nhãn thức v.v... (dứt).