Bản dịch
MIL 3.3.6 — III. PHẨM SỞ HỮU TỨ
6. Vedagūpañha
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, có phải sự hiểu biết có thể đạt được?”
“Tâu đại vương, sự hiểu biết ấy là cái gì?”
“Thưa ngài, sự sống bên trong nhìn thấy cảnh sắc bằng mắt, nghe âm thanh bằng tai, ngửi mùi bằng mũi, nếm vị bằng lưỡi, chạm cảnh xúc bằng thân, nhận thức cảnh pháp bằng ý, giống như chúng ta ngồi ở đây, trong tòa lâu đài, muốn nhìn bằng cửa sổ nào thì có thể nhìn bằng cửa sổ ấy, chúng ta có thể nhìn bằng cửa sổ hướng đông, chúng ta cũng có thể nhìn bằng cửa sổ hướng tây, chúng ta cũng có thể nhìn bằng cửa sổ hướng bắc, chúng ta cũng có thể nhìn bằng cửa sổ hướng nam. Bạch ngài, tương tợ y như thế sự sống bên trong này muốn nhìn bằng cửa lớn nào thì nhìn bằng cửa lớn ấy.”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, tôi sẽ nói về năm cửa lớn (ngũ môn, năm giác quan). Đại vương hãy lắng nghe điều ấy, đại vương hãy khéo chú ý. Nếu sự sống bên trong nhìn thấy cảnh sắc bằng mắt, giống như chúng ta ngồi ở đây, trong tòa lâu đài, muốn nhìn bằng cửa sổ nào thì có thể nhìn cảnh sắc bằng cửa sổ ấy, chúng ta có thể nhìn cảnh sắc bằng cửa sổ hướng đông, chúng ta cũng có thể nhìn cảnh sắc bằng cửa sổ hướng tây, chúng ta cũng có thể nhìn cảnh sắc bằng cửa sổ hướng bắc, chúng ta cũng có thể nhìn cảnh sắc bằng cửa sổ hướng nam. Như vậy, với sự sống bên trong này, cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng mắt, phải chăng cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng tai, cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng mũi, cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng lưỡi, cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng thân, cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng ý; phải chăng âm thanh có thể được nghe bằng mắt, âm thanh có thể được nghe bằng mũi, âm thanh có thể được nghe bằng lưỡi, âm thanh có thể được nghe bằng thân, âm thanh có thể được nghe bằng ý; phải chăng mùi có thể được ngửi bằng mắt, mùi có thể được ngửi bằng tai, mùi có thể được ngửi bằng lưỡi, mùi có thể được ngửi bằng thân, mùi có thể được ngửi bằng ý; phải chăng vị có thể được nếm bằng mắt, vị có thể được nếm bằng tai, vị có thể được nếm bằng mũi, vị có thể được nếm bằng thân, vị có thể được nếm bằng ý; phải chăng cảnh xúc có thể được chạm bằng mắt, cảnh xúc có thể được chạm bằng tai, cảnh xúc có thể được chạm bằng mũi, cảnh xúc có thể được chạm bằng lưỡi, cảnh xúc có thể được chạm bằng ý; phải chăng cảnh pháp có thể được nhận biết bằng mắt, cảnh pháp có thể được nhận biết bằng tai, cảnh pháp có thể được nhận biết bằng mũi, cảnh pháp có thể được nhận biết bằng lưỡi, cảnh pháp có thể được nhận biết bằng thân?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, quả là đại vương không liên kết điều sau với điều trước, hoặc điều trước với điều sau. Tâu đại vương, hoặc là giống như chúng ta ngồi ở đây, trong tòa lâu đài nhìn thấy rõ rệt hơn cảnh sắc ở bên ngoài trước mặt qua bầu không gian bao la khi hệ thống các cửa sổ này được mở rộng, như vậy sự sống bên trong này có thể nhìn thấy cảnh sắc rõ rệt hơn cảnh sắc ở bên ngoài trước mặt qua bầu không gian bao la khi các nhãn môn này được mở rộng. Phải chăng có thể nghe âm thanh, có thể ngửi mùi, có thể nếm vị, có thể chạm rõ rệt hơn cảnh xúc ở bên ngoài trước mặt qua bầu không gian bao la khi các tai được mở rộng, khi mũi được mở rộng, khi lưỡi được mở rộng, khi thân được mở rộng?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, quả là đại vương không liên kết điều sau với điều trước, hoặc điều trước với điều sau. Tâu đại vương, hoặc là giống như vị Dinna này đi ra bên ngoài rồi đứng ở cổng bên ngoài cửa lớn, tâu đại vương, phải chăng đại vương biết vị Dinna này đã đi ra bên ngoài rồi đứng ở cổng bên ngoài cửa lớn?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Trẫm biết.”
“Tâu đại vương, hoặc là giống như vị Dinna này đi vào bên trong rồi đứng phía trước đại vương, tâu đại vương, phải chăng đại vương biết vị Dinna này đã đi vào bên trong rồi đứng phía trước đại vương?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Trẫm biết.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế khi vị nếm được đặt ở lưỡi, phải chăng sự sống bên trong này có thể biết được vị chua, hoặc vị mặn, hoặc vị đắng, hoặc vị cay, hoặc vị chát, hoặc vị ngọt?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có thể biết.”
“Khi các vị nếm ấy đã đi vào bên trong (cổ họng), phải chăng có thể biết được vị chua, hoặc vị mặn, hoặc vị đắng, hoặc vị cay, hoặc vị chát, hoặc vị ngọt?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, quả là đại vương không liên kết điều sau với điều trước, hoặc điều trước với điều sau. Tâu đại vương, ví như người nào đó bảo mang lại một trăm hũ mật ong, bảo đổ đầy máng mật ong, rồi bít kín miệng của một người đàn ông và đặt vào ở máng mật ong. Tâu đại vương, người đàn ông ấy có thể biết được có mật ong hay không có?”
“Thưa ngài, không thể.”
“Vì lý do gì?”
“Thưa ngài, bởi vì mật ong đã không đi vào miệng của người ấy.”
“Tâu đại vương, quả là đại vương không liên kết điều sau với điều trước, hoặc điều trước với điều sau.
“Thưa ngài, trẫm không có khả năng để trò chuyện với nhà diễn thuyết như ngài. Thưa ngài, lành thay xin ngài nói về ý nghĩa.”
Vị trưởng lão đã giúp cho đức vua Milinda hiểu được bằng sự thuyết giảng liên quan đến Vi Diệu Pháp: “Tâu đại vương, trong trường hợp này, tùy thuận vào mắt và các cảnh sắc mà nhãn thức sanh lên, như vậy các pháp này sanh lên do duyên. Xúc, thọ, tưởng, tư, nhất hành, mạng quyền, tác ý là đồng sanh với nó. Bởi vì ở đây sự hiểu biết có thể đạt được là không đúng. Tùy thuận vào tai và các cảnh thin … (như trên) … Tùy thuận vào ý và các cảnh pháp mà ý thức sanh lên. Xúc, thọ, tưởng, tư, nhất hành, mạng quyền, tác ý là đồng sanh với nó, như vậy các pháp này sanh lên do duyên. Bởi vì ở đây sự hiểu biết có thể đạt được là không đúng.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Thero āha ‘‘pañcadvāraṃ, mahārāja, bhaṇissāmi, taṃ suṇohi, sādhukaṃ manasikarohi, yadi abbhantare jīvo cakkhunā rūpaṃ passati, yathā mayaṃ idha pāsāde nisinnā yena yena vātapānena iccheyyāma passituṃ, tena tena vātapānena rūpaṃ yeva passeyyāma, puratthimenapi vātapānena rūpaṃ yeva passeyyāma, pacchimenapi vātapānena rūpaṃ yeva passeyyāma, uttarenapi vātapānena rūpaṃ yeva passeyyāma, dakkhiṇenapi vātapānena rūpaṃ yeva passeyyāma, evametena abbhantare jīvena sotenapi rūpaṃ yeva passitabbaṃ, ghānenapi rūpaṃ yeva passitabbaṃ, jivhāyapi rūpaṃ yeva passitabbaṃ, kāyenapi rūpaṃ yeva passitabbaṃ, manasāpi rūpaṃ yeva passitabbaṃ; cakkhunāpi saddo yeva sotabbo, ghānenapi saddo yeva sotabbo, jivhāyapi saddo yeva sotabbo, kāyenapi saddo yeva sotabbo, manasāpi saddo yeva sotabbo; cakkhunāpi gandho yeva ghāyitabbo, sotenapi gandho yeva ghāyitabbo, jivhāyapi gandho yeva ghāyitabbo, kāyenapi gandho yeva ghāyitabbo, manasāpi gandho yeva ghāyitabbo; cakkhunāpi raso yeva sāyitabbo, sotenapi raso yeva sāyitabbo, ghānenapi raso yeva sāyitabbo, kāyenapi raso yeva sāyitabbo, manasāpi raso yeva sāyitabbo; cakkhunāpi phoṭṭhabbaṃ yeva phusitabbaṃ, sotenapi phoṭṭhabbaṃ yeva phusitabbaṃ, ghānenapi phoṭṭhabbaṃ yeva phusitabbaṃ, jivhāyapi phoṭṭhabbaṃ yeva phusitabbaṃ, manasāpi phoṭṭhabbaṃ yeva phusitabbaṃ; cakkhunāpi dhammaṃ yeva vijānitabbaṃ, sotenapi dhammaṃ yeva vijānitabbaṃ, ghānenapi dhammaṃ yeva vijānitabbaṃ, jivhāyapi dhammaṃ yeva vijānitabbaṃ, kāyenapi dhammaṃ yeva vijānitabba’’nti? ‘‘Na hi bhante’’ti.
The elder said: “Great king, I will speak about the five doors. Listen to this and apply your mind well. If the inner life-principle sees forms with the eye—just as we, sitting here in this palace, might wish to see through any window we choose, and through that window we would see only forms; through the eastern window we would see only forms, through the western window we would see only forms, through the northern window we would see only forms, and through the southern window we would see only forms—then in the same way, by means of this inner life-principle, forms alone should be seen with the ear, forms alone should be seen with the nose, forms alone should be seen with the tongue, forms alone should be seen with the body, and forms alone should be seen with the mind. And with the eye, sounds alone should be heard; with the nose, sounds alone should be heard; with the tongue, sounds alone should be heard; with the body, sounds alone should be heard; with the mind, sounds alone should be heard. And with the eye, odors alone should be smelled; with the ear, odors alone should be smelled; with the tongue, odors alone should be smelled; with the body, odors alone should be smelled; with the mind, odors alone should be smelled. And with the eye, flavors alone should be tasted; with the ear, flavors alone should be tasted; with the nose, flavors alone should be tasted; with the body, flavors alone should be tasted; with the mind, flavors alone should be tasted. And with the eye, tangibles alone should be touched; with the ear, tangibles alone should be touched; with the nose, tangibles alone should be touched; with the tongue, tangibles alone should be touched; with the mind, tangibles alone should be touched. And with the eye, mental objects alone should be cognized; with the ear, mental objects alone should be cognized; with the nose, mental objects alone should be cognized; with the tongue, mental objects alone should be cognized; with the body, mental objects alone should be cognized.” “No, venerable sir.”
Trưởng lão nói: – Tâu Đại vương, tôi sẽ nói về năm cửa giác quan, xin ngài hãy lắng nghe và khéo tác ý. Nếu sinh mạng ở bên trong dùng mắt để thấy sắc, thì cũng giống như chúng ta đang ngồi trong cung điện này, muốn nhìn qua cửa sổ nào thì qua cửa sổ đó chúng ta chỉ thấy sắc mà thôi, qua cửa sổ phía đông cũng chỉ thấy sắc, qua cửa sổ phía tây cũng chỉ thấy sắc, qua cửa sổ phía bắc cũng chỉ thấy sắc, qua cửa sổ phía nam cũng chỉ thấy sắc. Cũng vậy, sinh mạng ở bên trong này cũng phải dùng tai để thấy sắc, dùng mũi để thấy sắc, dùng lưỡi để thấy sắc, dùng thân để thấy sắc, dùng ý để thấy sắc. Và cũng phải dùng mắt để nghe tiếng, dùng mũi để nghe tiếng, dùng lưỡi để nghe tiếng, dùng thân để nghe tiếng, dùng ý để nghe tiếng. Và cũng phải dùng mắt để ngửi mùi, dùng tai để ngửi mùi, dùng lưỡi để ngửi mùi, dùng thân để ngửi mùi, dùng ý để ngửi mùi. Và cũng phải dùng mắt để nếm vị, dùng tai để nếm vị, dùng mũi để nếm vị, dùng thân để nếm vị, dùng ý để nếm vị. Và cũng phải dùng mắt để cảm xúc, dùng tai để cảm xúc, dùng mũi để cảm xúc, dùng lưỡi để cảm xúc, dùng ý để cảm xúc. Và cũng phải dùng mắt để biết các pháp, dùng tai để biết các pháp, dùng mũi để biết các pháp, dùng lưỡi để biết các pháp, dùng thân để biết các pháp, có phải vậy không? – Thưa không, tâu ngài.
‘‘Na kho te, mahārāja, yujjati purimena vā pacchimaṃ, pacchimena vā purimaṃ, yathā vā pana, mahārāja, mayaṃ idha pāsāde nisinnā imesu jālavātapānesu ugghāṭitesu mahantena ākāsena bahimukhā suṭṭhutaraṃ rūpaṃ passāma, evametena abbhantare jīvenāpi cakkhudvāresu ugghāṭitesu mahantena ākāsena suṭṭhutaraṃ rūpaṃ passitabbaṃ, sotesu ugghāṭitesu…pe… ghāne ugghāṭite…pe… jivhāya ugghāṭitāya…pe… kāye ugghāṭite mahantena ākāsena suṭṭhutaraṃ saddo sotabbo, gandho ghāyitabbo, raso sāyitabbo, phoṭṭhabbo phusitabbo’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti.
“Great king, your later statement is not consistent with your former, nor is your former statement consistent with your later. Furthermore, great king, just as we, sitting here in this palace with these latticed windows opened, facing outwards into the great expanse of space, see forms much more clearly, so too, by means of this inner life-principle, with the eye-doors opened into the great expanse of space, forms should be seen much more clearly. With the ear-doors opened, the nose-door opened, the tongue-door opened, and the body-door opened into the great expanse of space, sounds should be heard much more clearly, odors should be smelled, flavors should be tasted, and tangibles should be touched.” “No, venerable sir.”
– Tâu Đại vương, lời trước và lời sau của ngài không tương ứng với nhau. Hơn nữa, tâu Đại vương, ví như chúng ta đang ngồi trong cung điện này, khi những cửa sổ có chấn song này được mở ra, chúng ta hướng ra ngoài qua không gian rộng lớn và thấy sắc một cách rõ ràng hơn. Cũng vậy, sinh mạng ở bên trong này, khi các cửa mắt được mở ra, cũng phải thấy sắc một cách rõ ràng hơn qua không gian rộng lớn. Khi các cửa tai được mở ra... khi cửa mũi được mở ra... khi cửa lưỡi được mở ra... khi cửa thân được mở ra, nó cũng phải nghe tiếng, ngửi mùi, nếm vị, cảm xúc một cách rõ ràng hơn qua không gian rộng lớn, có phải vậy không? – Thưa không, tâu ngài.
‘‘Na kho te, mahārāja, yujjati purimena vā pacchimaṃ, pacchimena vā purimaṃ, yathā vā pana, mahārāja, ayaṃ dinno nikkhamitvā bahidvārakoṭṭhake tiṭṭheyya, jānāsi tvaṃ, mahārāja, ‘ayaṃ dinno nikkhamitvā bahidvārakoṭṭhake ṭhito’’’ti? ‘‘Āma, bhante, jānāmī’’ti. ‘‘Yathā vā pana, mahārāja, ayaṃ dinno anto pavisitvā tava purato tiṭṭheyya, jānāsi tvaṃ, mahārāja, ‘ayaṃ dinno anto pavisitvā mama purato ṭhito’’’ti? ‘‘Āma, bhante, jānāmī’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, abbhantare so jīvo jivhāya rase nikkhitte jāneyya ambilattaṃ vā lavaṇattaṃ vā tittakattaṃ vā kaṭukattaṃ vā kasāyattaṃ vā madhurattaṃ vā’’ti? ‘‘Āma, bhante, jāneyyā’’ti. ‘‘Te rase anto paviṭṭhe jāneyya ambilattaṃ vā lavaṇattaṃ vā tittakattaṃ vā kaṭukattaṃ vā kasāyattaṃ vā madhurattaṃ vā’’ti. ‘‘Na hi bhante’’ti.
“Great King, your earlier statement does not agree with your later one, nor does your later statement agree with your earlier one. For instance, Great King, if this Dinna were to go out and stand at the outer gatehouse, would you know, ‘This Dinna has gone out and is standing at the outer gatehouse’?” “Yes, venerable sir, I would know.” “Or again, Great King, if this Dinna were to enter and stand before you, would you know, ‘This Dinna has entered and is standing before me’?” “Yes, venerable sir, I would know.” “In just the same way, Great King, would that life-soul within, when a taste is placed upon the tongue, know whether it is sour, salty, bitter, pungent, astringent, or sweet?” “Yes, venerable sir, it would know.” “When those tastes have entered inside, would it know whether they are sour, salty, bitter, pungent, astringent, or sweet?” “No, venerable sir.”
“Tâu Đại vương, lời trước của ngài không tương hợp với lời sau, hoặc lời sau không tương hợp với lời trước. Tâu Đại vương, ví như vị Dinna này đi ra và đứng ở ngoài cổng thành, tâu Đại vương, ngài có biết rằng: ‘Vị Dinna này đi ra và đang đứng ở ngoài cổng thành’ không?” – “Bạch ngài, vâng, con biết.” – “Tâu Đại vương, ví như vị Dinna này đi vào và đứng trước mặt ngài, tâu Đại vương, ngài có biết rằng: ‘Vị Dinna này đi vào và đang đứng trước mặt tôi’ không?” – “Bạch ngài, vâng, con biết.” – “Tâu Đại vương, cũng vậy, sinh mạng ở bên trong ấy, khi các vị được đặt trên lưỡi, nó có biết vị chua, hoặc vị mặn, hoặc vị đắng, hoặc vị cay, hoặc vị chát, hoặc vị ngọt không?” – “Bạch ngài, vâng, nó có biết.” – “Khi các vị ấy đã vào bên trong, nó có biết vị chua, hoặc vị mặn, hoặc vị đắng, hoặc vị cay, hoặc vị chát, hoặc vị ngọt không?” – “Bạch ngài, không.”
‘‘Na kho te, mahārāja, yujjati purimena vā pacchimaṃ, pacchimena vā purimaṃ, yathā, mahārāja, kocideva puriso madhughaṭasataṃ āharāpetvā madhudoṇiṃ pūrāpetvā purisassa mukhaṃ pidahitvā † madhudoṇiyā pakkhipeyya, jāneyya, mahārāja, so puriso madhuṃ sampannaṃ vā na sampannaṃ vā’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Kena kāraṇenā’’ti. ‘‘Na hi tassa, bhante, mukhe madhu paviṭṭha’’nti.
“Great King, your earlier statement does not agree with your later one, nor does your later statement agree with your earlier one. For instance, Great King, suppose a certain man were to have a hundred pots of honey brought, have a honey trough filled, and then, after closing another man's mouth, were to place him in that honey trough. Would that man know, Great King, whether the honey was of good quality or not?” “No, venerable sir.” “For what reason?” “Because, venerable sir, the honey has not entered his mouth.”
“Tâu Đại vương, lời trước của ngài không tương hợp với lời sau, hoặc lời sau không tương hợp với lời trước. Tâu Đại vương, ví như có người nào đó cho mang đến một trăm hũ mật ong, cho đổ đầy vào một cái máng mật ong, rồi bịt miệng của một người lại và dìm người ấy vào trong máng mật ong. Tâu Đại vương, người ấy có biết được mật ong ngọt hay không ngọt không?” – “Bạch ngài, không.” – “Vì lý do gì?” – “Bạch ngài, vì mật ong không vào trong miệng của người ấy.”
‘‘Na kho te, mahārāja, yujjati purimena vā pacchimaṃ, pacchimena vā purima’’nti. ‘‘Nāhaṃ paṭibalo tayā vādinā saddhiṃ sallapituṃ; sādhu, bhante, atthaṃ jappehī’’ti.
“Great King, your earlier statement does not agree with your later one, nor does your later statement agree with your earlier one.” “I am not able to converse with a skilled debater such as yourself. Very well, venerable sir, please explain the meaning.”
“Tâu Đại vương, lời trước của ngài không tương hợp với lời sau, hoặc lời sau không tương hợp với lời trước.” – “Con không có khả năng đàm luận cùng với một người có tài hùng biện như ngài; bạch ngài, lành thay, xin ngài hãy giải thích ý nghĩa.”
Thero abhidhammasaṃyuttāya kathāya rājānaṃ milindaṃ saññāpesi – ‘‘idha, mahārāja, cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ, taṃsahajātā phasso vedanā saññā cetanā ekaggatā jīvitindriyaṃ manasikāroti evamete dhammā paccayato jāyanti, na hettha vedagū upalabbhati, sotañca paṭicca sadde ca…pe… manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṃ, taṃsahajātā phasso vedanā saññā cetanā ekaggatā jīvitindriyaṃ manasikāroti evamete dhammā paccayato jāyanti, na hettha vedagū upalabbhatī’’ti.
The Elder instructed King Milinda with a discourse connected to the Abhidhamma: “Here, Great King, dependent on the eye and forms, eye-consciousness arises. Arising simultaneously with it are contact, feeling, perception, volition, one-pointedness, the life-faculty, and attention. In this way, these states arise from a cause. No soul who feels is found herein. … Dependent on the ear and sounds … Dependent on the mind and mental objects, mind-consciousness arises. Arising simultaneously with it are contact, feeling, perception, volition, one-pointedness, the life-faculty, and attention. In this way, these states arise from a cause. No soul who feels is found herein.”
Vị Trưởng lão đã làm cho vua Milinda hiểu rõ bằng lời pháp liên quan đến Vi Diệu Pháp: – “Tâu Đại vương, ở đây, do duyên con mắt và các sắc, nhãn thức sanh khởi. Cùng sanh khởi với nó là xúc, thọ, tưởng, tư, nhất tâm, mạng quyền, và tác ý. Như vậy, các pháp này sanh khởi do duyên, ở đây không tìm thấy người thấu suốt (vedagū). Do duyên lỗ tai và các tiếng… (v.v.)… Do duyên ý và các pháp, ý thức sanh khởi. Cùng sanh khởi với nó là xúc, thọ, tưởng, tư, nhất tâm, mạng quyền, và tác ý. Như vậy, các pháp này sanh khởi do duyên, ở đây không tìm thấy người thấu suốt (vedagū).”
‘‘Kallosi, bhante nāgasenā’’ti.
“You are eloquent, venerable Nāgasena.”
“Bạch ngài Nāgasena, ngài thật khéo léo.”
Vedagūpañho chaṭṭho.
The Sixth Question on the ‘Soul Who Feels’ is concluded.
Câu hỏi về Người Thấu Suốt, chương thứ sáu.