Bản dịch
MIL 3.3.12 — III. PHẨM SỞ HỮU TỨ
12. Viññāṇalakkhaṇapañha
“Thưa ngài Nāgasena, thức có cái gì là hành tướng?”
“Tâu đại vương, thức có sự nhận biết là hành tướng.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như người giữ thành, ngồi ở ngã tư giữa thành phố, có thể nhìn thấy người đang đi đến từ hướng đông, có thể nhìn thấy người đang đi đến từ hướng nam, có thể nhìn thấy người đang đi đến từ hướng tây, có thể nhìn thấy người đang đi đến từ hướng bắc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế con người nhìn thấy cảnh sắc bằng con mắt và nhận biết sắc ấy bằng thức, nghe âm thanh bằng tai và nhận biết thinh ấy bằng thức, ngửi mùi bằng mũi và nhận biết hương ấy bằng thức, nếm vị bằng lưỡi và nhận biết vị ấy bằng thức, chạm cảnh xúc bằng thân và nhận biết xúc ấy bằng thức, nhận thức cảnh pháp bằng ý và nhận biết pháp ấy bằng thức. Tâu đại vương, tương tợ y như thế thức có sự nhận biết là hành tướng.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, nagaraguttiko majjhe nagarasiṅghāṭake nisinno passeyya puratthimadisato purisaṃ āgacchantaṃ, passeyya dakkhiṇadisato purisaṃ āgacchantaṃ, passeyya pacchimadisato purisaṃ āgacchantaṃ, passeyya uttaradisato purisaṃ āgacchantaṃ. Evameva kho, mahārāja, yañca puriso cakkhunā rūpaṃ passati, taṃ viññāṇena vijānāti. Yañca sotena saddaṃ suṇāti, taṃ viññāṇena vijānāti. Yañca ghānena gandhaṃ ghāyati, taṃ viññāṇena vijānāti. Yañca jivhāya rasaṃ sāyati, taṃ viññāṇena vijānāti. Yañca kāyena phoṭṭhabbaṃ phusati, taṃ viññāṇena vijānāti, yañca manasā dhammaṃ vijānāti, taṃ viññāṇena vijānāti. Evaṃ kho, mahārāja, vijānanalakkhaṇaṃ viññāṇa’’nti.
“Provide a simile.” “Just as, Your Majesty, a city guard sitting at a crossroads in the middle of the city might see a person coming from the eastern direction, see a person coming from the southern direction, see a person coming from the western direction, and see a person coming from the northern direction; in the same way, Your Majesty, whatever form a person sees with the eye, one cognizes it with consciousness. Whatever sound one hears with the ear, one cognizes it with consciousness. Whatever odor one smells with the nose, one cognizes it with consciousness. Whatever taste one savors with the tongue, one cognizes it with consciousness. Whatever tangible object one touches with the body, one cognizes it with consciousness. Whatever mental phenomenon one cognizes with the mind, one cognizes it with consciousness. Thus, Your Majesty, consciousness has the characteristic of cognizing.”
– ‘Xin ngài hãy cho một ví dụ.’ – ‘Tâu Đại vương, ví như người lính gác thành ngồi ở ngã tư giữa thành phố, thấy một người đi đến từ phương đông, thấy một người đi đến từ phương nam, thấy một người đi đến từ phương tây, thấy một người đi đến từ phương bắc. Cũng vậy, tâu Đại vương, bất cứ sắc nào người ta thấy bằng mắt, người ta biết nó bằng thức. Bất cứ âm thanh nào người ta nghe bằng tai, người ta biết nó bằng thức. Bất cứ mùi hương nào người ta ngửi bằng mũi, người ta biết nó bằng thức. Bất cứ vị nào người ta nếm bằng lưỡi, người ta biết nó bằng thức. Bất cứ vật xúc chạm nào người ta cảm nhận bằng thân, người ta biết nó bằng thức, và bất cứ pháp nào người ta biết bằng ý, người ta biết nó bằng thức. Như vậy, tâu Đại vương, thức có đặc tính là biết.’
‘‘Kallosi, bhante nāgasenā’’ti.
“You are eloquent, Venerable Nāgasena.”
– ‘Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khéo léo.’
Viññāṇalakkhaṇapañho dvādasamo.
The Twelfth Question on the Characteristic of Consciousness.
Câu hỏi thứ mười hai về đặc tính của thức.