Bản dịch
MIL 3.3.11 — III. PHẨM SỞ HỮU TỨ
11. Cetanālakkhaṇapañha
“Thưa ngài Nāgasena, tư có cái gì là hành tướng?”
“Tâu đại vương, tư có sự quyết định là hành tướng và có sự tạo tác là hành tướng.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như người nào đó tạo ra thuốc độc rồi tự mình uống, và cho các người khác uống. Bản thân người ấy bị khổ sở, những người khác cũng bị khổ sở. Tâu đại vương, tương tợ y như thế ở đây có một người nào đó suy nghĩ với sự quyết định về điều bất thiện, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, bị sanh vào chốn bất hạnh, cõi khổ, nơi trừng phạt, địa ngục. Luôn cả những người học tập theo người ấy, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, cũng bị sanh vào chốn bất hạnh, cõi khổ, nơi trừng phạt, địa ngục.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người nào đó tạo ra một hỗn hợp bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật ong, đường mía rồi tự mình uống, và cho các người khác uống. Bản thân người ấy được khoái lạc, những người khác cũng được khoái lạc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế ở đây có một người nào đó suy nghĩ với sự quyết định về điều thiện, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, được sanh vào chốn an vui, cõi trời. Luôn cả những người học tập theo người ấy, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, cũng được sanh vào chốn an vui, cõi trời. Tâu đại vương, tương tợ y như thế tư có sự quyết định là hành tướng và có sự tạo tác là hành tướng.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Bhante nāgasena, yadi imesaṃ dāyakānaṃ dinnadānaṃ pubbapetānaṃ pāpuṇāti, te ca tassa vipākaṃ anubhavanti. Tena hi yo pāṇātipātī luddo lohitapāṇī paduṭṭhamanasaṅkappo manusse ghātetvā dāruṇaṃ kammaṃ katvā pubbapetānaṃ ādiseyya ‘imassa me kammassa vipāko pubbapetānaṃ pāpuṇātū’ti, api nu tassa vipāko pubbapetānaṃ pāpuṇātī’’ti? ‘‘Na hi, mahārājā’’ti.
“Venerable Nāgasena, if the gift given by these donors reaches the departed ancestors, and they experience its result, then what if someone who destroys life, is cruel, bloody-handed, and of corrupt mental resolve, were to kill people and commit a dreadful deed, and then dedicate it to his departed ancestors, saying, ‘May the result of this kamma of mine reach my departed ancestors’? Would the result of that kamma reach the departed ancestors?” “No, great king.”
“Bạch Đại đức Nāgasena, nếu sự bố thí của các thí chủ đến được với những người đã khuất, và họ hưởng thụ quả báo của việc ấy. Vậy thì, nếu một người sát sanh, hung ác, tay vấy máu, tâm ý xấu xa, sau khi giết người và làm một việc tàn ác, rồi hồi hướng cho những người đã khuất rằng: ‘Mong cho quả báo của nghiệp này của tôi đến với những người đã khuất,’ thì quả báo ấy có đến với những người đã khuất không?” “Tâu Đại vương, không đến được.”
‘‘Bhante nāgasena, ko tattha hetu kiṃ kāraṇaṃ, yena kusalaṃ pāpuṇāti akusalaṃ na pāpuṇātī’’ti? ‘‘Neso, mahārāja, pañho pucchitabbo, mā ca tvaṃ, mahārāja, ‘visajjako atthī’ti apucchitabbaṃ pucchi, ‘kissa ākāso nirālambo, kissa gaṅgā uddhammukhā na sandati, kissa ime manussā ca dijā ca dvipadā migā catuppadā’ti tampi maṃ tvaṃ pucchissasī’’ti. ‘‘Nāhaṃ taṃ, bhante nāgasena, vihesāpekkho pucchāmi, api ca nibbāhanatthāya † sandehassa pucchāmi, bahū manussā loke vāmagāmino † vicakkhukā, ‘kinti te otāraṃ na labheyyu’nti evāhaṃ taṃ pucchāmī’’ti. ‘‘Na sakkā, mahārāja, saha akatena ananumatena saha pāpaṃ kammaṃ saṃvibhajituṃ.
“Venerable Nāgasena, what is the reason, what is the cause, whereby the wholesome reaches them, but the unwholesome does not?” “This, great king, is not a question that should be asked. Do not, great king, ask what should not be asked just because you think, ‘There is someone who can answer.’ You might as well ask me, ‘Why is the sky unsupported? Why does the Ganges not flow upstream? Why are these humans and birds two-footed, and beasts four-footed?’” “I do not ask you this, Venerable Nāgasena, with the intention of vexing you, but rather for the dispelling of doubt. Many people in the world follow the wrong path and are without the eye of wisdom. It is so that they might not fail to find an opportunity that I ask you this.” “It is not possible, great king, to share an evil deed with one who has neither performed it nor consented to it.”
“Bạch Đại đức Nāgasena, đâu là nhân, đâu là duyên, mà việc thiện thì đến được còn việc ác thì không đến được?” “Tâu Đại vương, đây không phải là câu hỏi nên hỏi. Tâu Đại vương, xin ngài đừng vì nghĩ rằng ‘có người trả lời được’ mà hỏi một câu không nên hỏi. Ngài cũng có thể sẽ hỏi tôi rằng: ‘Tại sao hư không không có chỗ tựa? Tại sao sông Hằng không chảy ngược dòng? Tại sao loài người và loài chim có hai chân, còn loài thú có bốn chân?’.” “Bạch Đại đức Nāgasena, tôi hỏi không phải với ý muốn làm phiền ngài, mà tôi hỏi để dập tắt sự nghi ngờ. Trên đời có nhiều người đi theo tà đạo, không có mắt tuệ. Tôi hỏi ngài với ý nghĩ: ‘Làm sao để họ có được cơ hội thấu hiểu?’” “Tâu Đại vương, không thể nào chia sớt nghiệp ác với người không làm và không đồng thuận với việc ấy.”
‘‘Yathā, mahārāja, manussā udakanibbāhanena udakaṃ suvidūrampi haranti, api nu, mahārāja, sakkā ghanamahāselapabbato † nibbāhanena yathicchitaṃ haritu’’nti? ‘‘Na hi, bhante’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, sakkā kusalaṃ saṃvibhajituṃ, na sakkā akusalaṃ saṃvibhajituṃ. Yathā vā pana, mahārāja, sakkā telena padīpo jāletuṃ, api nu, mahārāja, sakkā udakena padīpo jāletu’’nti? ‘‘Na hi, bhante’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, sakkā kusalaṃ saṃvibhajituṃ, na sakkā akusalaṃ saṃvibhajituṃ. Yathā vā pana, mahārāja, kassakā taḷākato udakaṃ nīharitvā dhaññaṃ paripācenti, api nu kho, mahārāja, sakkā mahāsamuddato udakaṃ nīharitvā dhaññaṃ paripācetu’’nti? ‘‘Na hi, bhante’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, sakkā kusalaṃ saṃvibhajituṃ, na sakkā akusalaṃ saṃvibhajitu’’nti.
“Just as, great king, people can carry water even from a great distance by means of a channel, but, great king, can one carry away a massive, solid, rocky mountain by a channel as one wishes?” “Certainly not, venerable sir.” “In the same way, great king, it is possible to share what is wholesome, but it is not possible to share what is unwholesome. Or just as, great king, it is possible to light a lamp with oil, but, great king, can one light a lamp with water?” “Certainly not, venerable sir.” “In the same way, great king, it is possible to share what is wholesome, but it is not possible to share what is unwholesome. Or just as, great king, farmers draw water from a pond to ripen their crops, but, great king, can one draw water from the great ocean to ripen crops?” “Certainly not, venerable sir.” “In the same way, great king, it is possible to share what is wholesome, but it is not possible to share what is unwholesome.”
“Tâu Đại vương, ví như người ta dùng máng nước để dẫn nước đi rất xa, nhưng tâu Đại vương, có thể nào dùng máng nước để mang một ngọn núi đá to lớn, đặc khối đến nơi mình muốn không?” “Bạch Đại đức, không thể được ạ.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, có thể chia sớt việc thiện, nhưng không thể chia sớt việc ác. Lại nữa, tâu Đại vương, ví như có thể dùng dầu để thắp đèn, nhưng tâu Đại vương, có thể dùng nước để thắp đèn không?” “Bạch Đại đức, không thể được ạ.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, có thể chia sớt việc thiện, nhưng không thể chia sớt việc ác. Lại nữa, tâu Đại vương, ví như người nông dân lấy nước từ hồ chứa để làm cho lúa chín, nhưng tâu Đại vương, có thể nào lấy nước từ đại dương để làm cho lúa chín không?” “Bạch Đại đức, không thể được ạ.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, có thể chia sớt việc thiện, nhưng không thể chia sớt việc ác.”
‘‘Bhante nāgasena, kena kāraṇena sakkā kusalaṃ saṃvibhajituṃ, na sakkā akusalaṃ saṃvibhajituṃ. Kāraṇena maṃ saññāpehi, nāhaṃ andho anāloko sutvā vedissāmī’’ti. ‘‘Akusalaṃ, mahārāja, thokaṃ, kusalaṃ bahukaṃ, thokattā akusalaṃ kattāraṃ yeva pariyādiyati, bahukattā kusalaṃ sadevakaṃ lokaṃ ajjhottharatī’’ti. ‘‘Opammaṃ karohī’’ti.
“Venerable Nāgasena, for what reason is it possible to share what is wholesome, but not possible to share what is unwholesome? Convince me with a reason, for I am not blind or without light—I will understand upon hearing.” “Great king, what is unwholesome is little, while what is wholesome is abundant. Because it is little, what is unwholesome consumes only its doer. Because it is abundant, what is wholesome pervades the world, together with the devas.” “Give me an analogy.”
“Bạch Đại đức Nāgasena, vì lý do gì mà có thể chia sớt việc thiện, nhưng không thể chia sớt việc ác? Xin ngài hãy làm cho tôi hiểu rõ bằng một lý do. Tôi không phải là người mù, không phải là người không có ánh sáng; nghe rồi tôi có thể hiểu được.” “Tâu Đại vương, việc ác thì ít, việc thiện thì nhiều. Vì ít ỏi, việc ác chỉ bao trùm lấy người làm. Vì to lớn, việc thiện bao trùm cả thế giới cùng với chư thiên.” “Xin ngài hãy cho một ví dụ.”