Bản dịch
MIL 3.3.10 — III. PHẨM SỞ HỮU TỨ
10. Saññālakkhaṇapañha
“Thưa ngài Nāgasena, tưởng có cái gì là hành tướng?”
“Tâu đại vương, tưởng có sự tự nhận biết là hành tướng. Tự nhận biết điều gì? Tự nhận biết màu xanh, tự nhận biết màu vàng, tự nhận biết màu đỏ, tự nhận biết màu trắng, tự nhận biết màu tím. Tâu đại vương, tưởng có sự tự nhận biết là hành tướng nghĩa là như vậy.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như viên quan giữ kho của đức vua sau khi đi vào nhà kho nhìn thấy và tự nhận biết các vật thể, các của cải thuộc về đức vua, là có màu xanh vàng đỏ trắng tím. Tâu đại vương, tương tợ y như thế tưởng có sự tự nhận biết là hành tướng.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Milindapañhapucchāvisajjanā
The Questions and Answers of Milinda
Các câu hỏi và trả lời của Milinda.
Thero āha ‘‘jānāsi kho, mahārāja, sampati kā velā’’ti? ‘‘Āma, bhante, jānāmi ‘sampati paṭhamo yāmo atikkanto, majjhimo yāmo pavattati, ukkā padīpīyanti, cattāri paṭākāni āṇattāni gamissanti bhaṇḍato rājadeyyānī’’’ti.
The elder said, “Do you know, great king, what time it is now?” “Yes, venerable sir, I know: ‘The first watch of the night has passed, the middle watch is now proceeding, torches are being lit, four banners have been commanded, and royal gifts will come from the treasury.’”
Vị Trưởng lão hỏi: "Tâu Đại vương, ngài có biết bây giờ là mấy giờ không?". "Kính bạch ngài, vâng, con biết. Canh đầu đã qua, canh giữa đang diễn ra. Đuốc đã được thắp sáng, bốn lá cờ hiệu đã được ra lệnh, và các vật phẩm cúng dường của hoàng gia sẽ được mang đến từ kho báu."
Yonakā evamāhaṃsu ‘‘kallosi, mahārāja, paṇḍito thero’’ti. ‘‘Āma, bhaṇe, paṇḍito thero, ediso ācariyo bhaveyya mādiso ca antevāsī, nacirasseva paṇḍito dhammaṃ ājāneyyā’’ti. Tassa pañhaveyyākaraṇena tuṭṭho rājā theraṃ nāgasenaṃ satasahassagghanakena kambalena acchādetvā ‘‘bhante nāgasena, ajjatagge te aṭṭhasataṃ bhattaṃ paññapemi, yaṃ kiñci antepure kappiyaṃ, tena ca pavāremī’’ti āha. Alaṃ mahārāja jīvāmī’’ti. ‘‘Jānāmi, bhante nāgasena, jīvasi, api ca attānañca rakkha, mamañca rakkhāhī’’ti. ‘‘Kathaṃ attānaṃ rakkhasi, ‘nāgaseno milindaṃ rājānaṃ pasādeti, na ca kiñci alabhī’ti parāpavādo † āgaccheyyāti, evaṃ attānaṃ rakkha. Kathaṃ mamaṃ rakkhasi, ‘milindo rājā pasanno pasannākāraṃ na karotī’ti parāpavādo āgaccheyyāti, evaṃ mamaṃ rakkhāhī’’ti. ‘‘Tathā hotu, mahārājā’’ti. ‘‘Seyyathāpi, bhante, sīho migarājā suvaṇṇapañjare pakkhittopi bahimukho yeva hoti, evameva kho ahaṃ, bhante, kiñcāpi agāraṃ ajjhāvasāmi bahimukho yeva pana acchāmi. Sace ahaṃ, bhante, agārasmā anāgāriyaṃ pabbajeyyaṃ, na ciraṃ jīveyyaṃ, bahū me paccatthikā’’ti.
The Yonakas said, “You are eloquent, great king, and the elder is wise.” “Yes, sirs, the elder is wise. If there were such a teacher and a pupil such as I, one would very soon, being wise, come to know the Dhamma.” Pleased with his answering of the questions, the king covered the elder Nāgasena with a blanket worth a hundred thousand and said, “Venerable Nāgasena, from this day forward I appoint for you one hundred and eight portions of food. And I invite you to whatever is allowable in the inner palace.” “It is enough, great king, I have sufficient to live on.” “I know, venerable Nāgasena, that you have sufficient to live on. Nevertheless, protect yourself and protect me.” “And how are you to protect yourself? So that the criticism from others may not arise, ‘Nāgasena pleases King Milinda, but he received nothing.’ In this way, you should protect yourself. And how are you to protect me? So that the criticism from others may not arise, ‘King Milinda is pleased, but does not show the signs of his pleasure.’ In this way, you should protect me.” “So be it, great king.” “Just as, venerable sir, a lion, the king of beasts, even when placed in a golden cage, remains facing outward, even so, venerable sir, though I dwell in a household, I remain facing outward. If, venerable sir, I were to go forth from the household life into homelessness, I would not live long, for I have many enemies.”
Các vị người Hy Lạp nói rằng: "Tâu Đại vương, vị Trưởng lão thật khéo léo, thật là bậc trí tuệ.". "Này các khanh, đúng vậy, vị Trưởng lão là bậc trí tuệ. Nếu có một vị thầy như vậy và một người đệ tử như ta, thì chẳng bao lâu sẽ trở thành bậc trí tuệ và thấu hiểu Chánh pháp.". Đức vua, vì hoan hỷ với lời giải đáp câu hỏi của ngài, đã choàng lên Trưởng lão Nāgasena một tấm y len trị giá một trăm ngàn và nói: "Kính bạch ngài Nāgasena, kể từ hôm nay, con xin cúng dường ngài tám trăm phần vật thực. Và con xin mời ngài dùng bất cứ vật gì thích hợp trong cung.". "Tâu Đại vương, đủ rồi, bần tăng có thể sống được.". "Kính bạch ngài Nāgasena, con biết ngài có thể sống được, nhưng xin ngài hãy bảo vệ chính mình và cũng bảo vệ con.". "Làm sao để bảo vệ chính ngài? Để lời dị nghị của người khác không khởi lên rằng: 'Ngài Nāgasena làm cho vua Milinda hài lòng mà chẳng nhận được gì cả'. Như vậy là ngài bảo vệ chính mình. Làm sao để bảo vệ con? Để lời dị nghị của người khác không khởi lên rằng: 'Vua Milinda hài lòng mà không thể hiện sự hài lòng'. Như vậy là ngài bảo vệ con.". "Tâu Đại vương, mong rằng sẽ được như vậy.". "Kính bạch ngài, ví như sư tử, vua của các loài thú, dù bị nhốt trong lồng vàng vẫn luôn hướng mặt ra ngoài. Cũng vậy, kính bạch ngài, dù con sống trong gia đình, nhưng tâm con vẫn luôn hướng ra ngoài. Kính bạch ngài, nếu con từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia, con sẽ không sống được bao lâu, vì con có nhiều kẻ thù."