Bản dịch
MIL 3.2.7 — II. PHẨM HÀNH TRÌNH
7. Therapaṭisandahanāpaṭisandahanapañha
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, có phải ngài sẽ không đi tái sanh?”
“Tâu đại vương, thôi đi. Điều gì với việc hỏi điều ấy? Không phải tôi đã nói trước đây là: ‘Tâu đại vương, nếu tôi còn chấp thủ tôi sẽ tái sanh. Nếu tôi không còn chấp thủ thì tôi sẽ không đi tái sanh’?”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như người nào đó làm việc phục vụ cao quý đến đức vua, đức vua hoan hỷ ban cho phần thưởng. Với phần thưởng ấy, người ấy đạt được, có được, hưởng được năm phần dục lạc. Nếu người ấy tuyên bố với mọi người rằng: ‘Đức vua không đền đáp cho tôi.’ Tâu đại vương, phải chăng người ấy có sự hành xử đúng đắn?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế điều gì cho đại vương với việc hỏi điều này? Không phải tôi đã nói trước đây là: ‘Tâu đại vương, nếu tôi còn chấp thủ tôi sẽ tái sanh. Nếu tôi không còn chấp thủ thì tôi sẽ không đi tái sanh’?”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, kocideva puriso rañño adhikāraṃ kareyya. Rājā tuṭṭho adhikāraṃ dadeyya, so tena adhikārena pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgibhūto paricareyya, so ce janassa āroceyya ‘na me rājā kiñci paṭikarotī’ ti. Kiṃ nu kho so, mahārāja, puriso yuttakārī bhaveyyā’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, kiṃ te tena pucchitena, nanu mayā paṭikacceva akkhātaṃ ‘sace saupādāno bhavissāmi, paṭisandahissāmi, sace anupādāno bhavissāmi, na paṭisandahissāmī’’’ti.
7. “Give me a simile.” “Just as, great king, some man might perform a service for the king. The king, pleased, would grant him a reward. With that reward, he would be provided and endowed with the five strands of sensual pleasure and would enjoy them. Yet if that man were to announce to the people, ‘The king does nothing in return for me,’ would that man, great king, be acting rightly?” “Certainly not, venerable sir.” “In the same way, great king, why do you ask that? Surely I have already told you beforehand: ‘If I have clinging, I will be reborn; if I am without clinging, I will not be reborn’?”
– Xin ngài hãy cho một ví dụ. – Tâu Đại vương, ví như có người kia làm một công việc cho đức vua. Đức vua hài lòng và ban thưởng. Nhờ phần thưởng ấy, người kia được cung phụng, đầy đủ năm dục trưởng dưỡng và hưởng thụ. Nếu người ấy lại nói với dân chúng rằng: ‘Đức vua chẳng ban thưởng gì cho ta cả.’ Tâu Đại vương, vậy người ấy có phải là người hành động đúng đắn không? – Tâu Đại đức, không phải vậy. – Tâu Đại vương, cũng giống như thế, ngài hỏi điều ấy để làm gì? Chẳng phải hạ thần đã trình bày ngay từ đầu rồi sao: ‘Nếu (hạ thần) còn có chấp thủ, (hạ thần) sẽ còn tái sanh; nếu (hạ thần) không còn chấp thủ, (hạ thần) sẽ không còn tái sanh.’
‘‘Kallosi, bhante nāgasenā’’ti.
“You are skillful, venerable Nāgasena.”
– Tâu Đại đức Nāgasena, ngài thật khéo léo.
Therapaṭisandahanāpaṭisandahanapañho sattamo.
The Seventh Question on the Elder's Rebirth and Non-Rebirth.
Câu hỏi thứ bảy về việc tái sanh và không tái sanh của vị Trưởng lão đã kết thúc.