Bản dịch
MIL 3.2.6 — II. PHẨM HÀNH TRÌNH
6. Nāmarūpaekattanānattapañha
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, ai đi tái sanh?”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, danh sắc đi tái sanh.”
“Có phải chính danh sắc này đi tái sanh?”
“Tâu đại vương, không phải chính danh sắc này đi tái sanh. Tâu đại vương, tuy nhiên con người tạo nghiệp thiện hoặc ác với danh sắc này, do nghiệp ấy mà danh sắc khác đi tái sanh.”
“Thưa ngài Nāgasena, nếu không phải chính danh sắc này đi tái sanh, không lẽ người ấy sẽ được thoát khỏi các nghiệp ác?”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Nếu không đi tái sanh thì có thể thoát khỏi các nghiệp ác. Tâu đại vương, và chính vì đi tái sanh mà không được thoát khỏi các nghiệp ác.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như người nào đó lấy trộm trái xoài của người nào khác, người chủ trái xoài bắt lấy chính người ấy rồi đem trình diện đức vua: ‘Tâu bệ hạ, các trái xoài của thần bị người này lấy trộm.’ Người ấy nói như vầy: ‘Tâu bệ hạ, thần không lấy trộm các trái xoài của người này. Các trái xoài đã được người này trồng là các trái khác, các trái xoài đã bị thần lấy trộm là các trái khác. Thần không đáng bị hình phạt.’ Tâu đại vương, phải chăng người ấy đáng bị hành phạt?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Đáng bị hành phạt.”
“Vì lý do gì?”
“Thưa ngài, cho dầu người ấy có thể nói như thế, người ấy có thể chối bỏ trái xoài trước, vẫn đáng bị hành phạt với trái xoài sau.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế con người tạo nghiệp thiện hoặc ác với danh sắc này, do nghiệp ấy mà danh sắc khác đi tái sanh, do đó không được thoát khỏi các nghiệp ác.”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như người nào đó lấy trộm lúa sāli
“Thưa ngài, đúng vậy. Đáng bị hành phạt.”
“Vì lý do gì?”
“Thưa ngài, cho dầu người ấy có thể nói như thế, người ấy có thể chối bỏ ngọn lửa trước, vẫn đáng bị hành phạt với ngọn lửa sau.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế con người tạo nghiệp thiện hoặc ác với danh sắc này, do nghiệp ấy mà danh sắc khác đi tái sanh, do đó không được thoát khỏi các nghiệp ác.”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như người nào đó cầm lấy cây đèn rồi leo lên căn gác và sử dụng nó. Cây đèn trong khi được đốt cháy có thể đốt cháy cỏ, cỏ trong khi được đốt cháy có thể đốt cháy căn nhà, căn nhà trong khi được đốt cháy có thể đốt cháy ngôi làng, dân làng bắt lấy chính người ấy rồi nói như vầy: ‘Này ông, tại sao ông đốt cháy ngôi làng?’ Người ấy nói như vầy: ‘Này các ông, tôi không đốt cháy ngôi làng. Ngọn lửa của cây đèn mà tôi đã sử dụng ánh sáng là khác, ngọn lửa đã đốt cháy ngôi làng là khác.’ Trong khi tranh cãi, họ đã đi đến gặp bệ hạ. Tâu đại vương, đại vương có thể chấp nhận lời giải thích của ai?”
“Thưa ngài, của dân làng.”
“Vì lý do gì?”
“Thưa ngài, cho dầu người ấy có thể nói như thế, tuy nhiên ngọn lửa ấy đã phát khởi chính từ đó.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế cho dầu danh sắc cận tử là khác, danh sắc trong sự đi tái sanh là khác, tuy nhiên danh sắc ấy đã phát khởi chính từ đó. Vì thế không được thoát khỏi các nghiệp ác.”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như người nào đó hỏi cưới cô con gái còn nhỏ, sau khi dâng vật đính hôn rồi ra đi. Cô gái ấy sau này trưởng thành đến tuổi thành hôn. Sau đó có người đàn ông khác dâng vật đính hôn rồi cử hành đám cưới. Người kia trở lại và nói như vầy: ‘Này ông, vì sao ông dẫn đi người vợ của tôi?’ Người ấy nói như vầy: ‘Này ông, tôi không dẫn đi người vợ của ông. Cô con gái còn nhỏ trẻ tuổi đã được ông hỏi cưới và dâng vật đính hôn là cô khác, cô con gái trưởng thành đến tuổi thành hôn được tôi hỏi cưới và dâng vật đính hôn là cô khác.’ Trong khi tranh cãi, họ đã đi đến gặp bệ hạ. Tâu đại vương, đại vương có thể chấp nhận lời giải thích của ai?”
“Thưa ngài, của người trước.”
“Vì lý do gì?”
“Thưa ngài, cho dầu người ấy có thể nói như thế, tuy nhiên cô gái ấy trưởng thành phát khởi chính từ đó.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế cho dầu danh sắc cận tử là khác, danh sắc trong sự đi tái sanh là khác, tuy nhiên danh sắc ấy đã phát khởi chính từ đó. Vì thế không được thoát khỏi các nghiệp ác.”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như người nào đó mua lọ sữa tươi từ tay của người chăn bò, sau khi để lại ở tay của chính người ấy rồi ra đi (nói rằng): ‘Ngày mai, tôi sẽ nhận lấy rồi khởi hành.’ Ngày hôm sau, sữa tươi ấy có thể trở thành sữa chua. Người kia đi đến và nói như vầy: ‘Hãy trao cho tôi lọ sữa tươi.’ Người chăn bò trao sữa chua. Người kia nói như vầy; ‘Tôi không mua sữa chua từ tay của ông. Hãy trao cho tôi lọ sữa tươi.’ Người ấy nói như vầy: ‘Bộ ông không biết sữa tươi của ông đã trở thành sữa chua?’ Trong khi tranh cãi, họ đã đi đến gặp bệ hạ. Tâu đại vương, đại vương có thể chấp nhận lời giải thích của ai?”
“Thưa ngài, của người chăn bò.”
“Vì lý do gì?”
“Thưa ngài, cho dầu người ấy có thể nói như thế, tuy nhiên sữa chua ấy phát khởi chính từ đó.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế cho dầu danh sắc cận tử là khác, danh sắc trong sự đi tái sanh là khác, tuy nhiên danh sắc ấy đã phát khởi chính từ đó. Vì thế không được hoàn toàn thoát khỏi các nghiệp ác.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Rājā āha ‘‘bhante nāgasena, ko paṭisandahatī’’ti? Thero āha ‘‘nāmarūpaṃ kho, mahārāja, paṭisandahatī’’ti. ‘‘Kiṃ imaṃ yeva nāmarūpaṃ paṭisandahatī’’ti? ‘‘Na kho, mahārāja, imaṃ yeva nāmarūpaṃ paṭisandahati, iminā pana, mahārāja, nāmarūpena kammaṃ karoti sobhanaṃ vā pāpakaṃ vā, tena kammena aññaṃ nāmarūpaṃ paṭisandahatī’’ti. ‘‘Yadi, bhante, na imaṃ yeva nāmarūpaṃ paṭisandahati, nanu so mutto bhavissati pāpakehi kammehī’’ti? Thero āha ‘‘yadi na paṭisandaheyya, mutto bhaveyya pāpakehi kammehi. Yasmā ca kho, mahārāja, paṭisandahati, tasmā na mutto pāpakehi kammehī’’ti.
6. The king asked, “Venerable Nāgasena, what relinks?” The Elder said, “Name-and-form, great king, relinks.” “Is it this very name-and-form that relinks?” “No, great king, it is not this very name-and-form that relinks. But by this name-and-form, great king, one performs a good or bad deed, and by that deed another name-and-form relinks.” “Venerable sir, if it is not this very name-and-form that relinks, would one not be freed from evil deeds?” The Elder said, “If it did not relink, one would be freed from evil deeds. But because, great king, it does relink, therefore one is not freed from evil deeds.”
6. Vua hỏi: ‘Tâu Đại đức Nāgasena, cái gì tái sanh?’ Vị trưởng lão đáp: ‘Tâu Đại vương, chính danh-sắc tái sanh.’ ‘Có phải chính danh-sắc này tái sanh không?’ ‘Tâu Đại vương, không phải chính danh-sắc này tái sanh. Nhưng, tâu Đại vương, với danh-sắc này, người ta tạo nghiệp, thiện hoặc ác, và do nghiệp ấy, một danh-sắc khác tái sanh.’ ‘Tâu Đại đức, nếu không phải chính danh-sắc này tái sanh, há chẳng phải người ấy sẽ được giải thoát khỏi các ác nghiệp sao?’ Vị trưởng lão đáp: ‘Nếu không tái sanh, người ấy sẽ được giải thoát khỏi các ác nghiệp. Nhưng vì, tâu Đại vương, có sự tái sanh, cho nên người ấy không được giải thoát khỏi các ác nghiệp.’
‘‘Opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, kocideva puriso aññatarassa purisassa ambaṃ avahareyya, tamenaṃ ambasāmiko gahetvā rañño dasseyya ‘iminā deva purisena mayhaṃ ambā avahaṭā’ti, so evaṃ vadeyya ‘nāhaṃ, deva, imassa ambe avaharāmi, aññe te ambā, ye iminā ropitā, aññe te ambā, ye mayā avahaṭā, nāhaṃ daṇḍappatto’ti. Kiṃ nu kho so, mahārāja, puriso daṇḍappatto bhaveyyā’’ti? ‘‘Āma, bhante, daṇḍappatto bhaveyyā’’ti. ‘‘Kena kāraṇenā’’ti? ‘‘Kiñcāpi so evaṃ vadeyya, purimaṃ, bhante, ambaṃ appaccakkhāya pacchimena ambena so puriso daṇḍappatto bhaveyyā’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, iminā nāmarūpena kammaṃ karoti sobhanaṃ vā pāpakaṃ vā, tena kammena aññaṃ nāmarūpaṃ paṭisandahati, tasmā na mutto pāpakehi kammehī’’ti.
“Provide a simile.” “Suppose, great king, a certain man were to steal another man’s mangoes. The owner of the mangoes might seize him and show him to the king, saying, ‘Sire, this man has stolen my mangoes.’ That man might say, ‘Sire, I did not steal his mangoes. The mangoes that he planted were other mangoes, and the mangoes that I stole were other mangoes. I am not liable for punishment.’ What do you think, great king, would that man be liable for punishment?” “Yes, venerable sir, he would be liable for punishment.” “For what reason?” “Venerable sir, however much he might say that, because of the later mangoes which are not disconnected from the first, that man would be liable for punishment.” “In the same way, great king, with this name-and-form one performs a good or bad deed, and by that deed another name-and-form relinks. Therefore, one is not freed from evil deeds.”
‘Xin ngài cho một ví dụ.’ ‘Ví như, tâu Đại vương, có người ăn trộm xoài của người khác. Người chủ xoài bắt được kẻ đó và trình lên vua rằng: ‘Tâu bệ hạ, người này đã trộm xoài của thần.’ Kẻ đó nói rằng: ‘Tâu bệ hạ, thần không trộm xoài của người này. Những quả xoài mà người này trồng là khác; những quả xoài mà thần lấy là khác. Thần không đáng bị phạt.’ Tâu Đại vương, người đó có đáng bị phạt không?’ ‘Thưa vâng, tâu Đại đức, người đó đáng bị phạt.’ ‘Vì lý do gì?’ ‘Tâu Đại đức, dù cho kẻ đó có nói như vậy, nhưng vì quả xoài sau này có được là do quả xoài trước đó, nên người đó đáng bị phạt.’ ‘Cũng vậy, tâu Đại vương, với danh-sắc này, người ta tạo nghiệp, thiện hoặc ác, và do nghiệp ấy, một danh-sắc khác tái sanh. Do đó, người ấy không được giải thoát khỏi các ác nghiệp.’
‘‘Bhiyyo opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, kocideva puriso aññatarassa purisassa sāliṃ avahareyya…pe… ucchuṃ avahareyya…pe… yathā mahārāja koci puriso hemantakāle aggiṃ jāletvā visibbetvā † avijjhāpetvā pakkameyya, atha kho so aggi aññatarassa purisassa khettaṃ ḍaheyya †, tamenaṃ khettasāmiko gahetvā rañño dasseyya ‘iminā, deva, purisena mayhaṃ khettaṃ daḍḍha’nti. So evaṃ vadeyya ‘nāhaṃ, deva, imassa khettaṃ jhāpemi, añño so aggi, yo mayā avijjhāpito, añño so aggi, yenimassa khettaṃ daḍḍhaṃ, nāhaṃ daṇḍappatto’ti. Kiṃ nu kho so, mahārāja, puriso daṇḍappatto bhaveyyā’’ti? ‘‘Āma, bhante, daṇḍappatto bhaveyyā’’ti. ‘‘Kena kāraṇenā’’ti? ‘‘Kiñcāpi so evaṃ vadeyya, purimaṃ, bhante, aggiṃ appaccakkhāya pacchimena agginā so puriso daṇḍappatto bhaveyyā’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, iminā nāmarūpena kammaṃ karoti sobhanaṃ vā pāpakaṃ vā, tena kammena aññaṃ nāmarūpaṃ paṭisandahati, tasmā na mutto pāpakehi kammehī’’ti.
“Provide a further simile.” “Suppose, great king, a certain man were to steal another man’s rice… or steal sugarcane… Suppose, great king, a certain man in the wintertime were to light a fire, and having warmed himself, were to depart without extinguishing it. Then that fire might burn another man’s field. The owner of the field might seize him and show him to the king, saying, ‘Sire, this man has burned my field.’ That man might say, ‘Sire, I did not burn this man’s field. The fire that I left unextinguished was another fire, and the fire by which his field was burned was another fire. I am not liable for punishment.’ What do you think, great king, would that man be liable for punishment?” “Yes, venerable sir, he would be liable for punishment.” “For what reason?” “Venerable sir, however much he might say that, because of the later fire which is not disconnected from the first, that man would be liable for punishment.” “In the same way, great king, with this name-and-form one performs a good or bad deed, and by that deed another name-and-form relinks. Therefore, one is not freed from evil deeds.”
‘Xin ngài cho thêm một ví dụ nữa.’ ‘Ví như, tâu Đại vương, có người ăn trộm lúa của người khác… v.v… ăn trộm mía của người khác… v.v… Ví như, tâu Đại vương, có người vào mùa đông, nhóm lửa, sưởi ấm, rồi bỏ đi mà không dập tắt. Sau đó, ngọn lửa ấy cháy lan sang ruộng của người khác. Người chủ ruộng bắt được kẻ đó và trình lên vua rằng: ‘Tâu bệ hạ, người này đã đốt ruộng của thần.’ Kẻ đó nói rằng: ‘Tâu bệ hạ, thần không đốt ruộng của người này. Ngọn lửa mà thần không dập tắt là khác; ngọn lửa đã đốt ruộng của người này là khác. Thần không đáng bị phạt.’ Tâu Đại vương, người đó có đáng bị phạt không?’ ‘Thưa vâng, tâu Đại đức, người đó đáng bị phạt.’ ‘Vì lý do gì?’ ‘Tâu Đại đức, dù cho kẻ đó có nói như vậy, nhưng vì ngọn lửa sau này có được là do ngọn lửa trước đó, nên người đó đáng bị phạt.’ ‘Cũng vậy, tâu Đại vương, với danh-sắc này, người ta tạo nghiệp, thiện hoặc ác, và do nghiệp ấy, một danh-sắc khác tái sanh. Do đó, người ấy không được giải thoát khỏi các ác nghiệp.’
‘‘Bhiyyo opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, kocideva puriso padīpaṃ ādāya pāsādaṃ abhirūhitvā bhuñjeyya, padīpo jhāyamāno tiṇaṃ jhāpeyya, tiṇaṃ jhāyamānaṃ gharaṃ jhāpeyya, gharaṃ jhāyamānaṃ gāmaṃ jhāpeyya, gāmajano taṃ purisaṃ gahetvā evaṃ vadeyya ‘kissa tvaṃ, bho purisa, gāmaṃ jhāpesī’ti, so evaṃ vadeyya ‘nāhaṃ, bho, gāmaṃ jhāpemi, añño so padīpaggi, yassāhaṃ ālokena bhuñjiṃ, añño so aggi, yena gāmo jhāpito’ti, te vivadamānā tava santike āgaccheyyuṃ, kassa tvaṃ, mahārāja, aṭṭaṃ † dhāreyyāsī’’ti? ‘‘Gāmajanassa bhante’’ti. ‘‘Kiṃ kāraṇā’’ti? ‘‘Kiñcāpi so evaṃ vadeyya, api ca tato eva so aggi nibbatto’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, kiñcāpi aññaṃ māraṇantikaṃ nāmarūpaṃ, aññaṃ paṭisandhismiṃ nāmarūpaṃ, api ca tato yeva taṃ nibbattaṃ, tasmā na mutto pāpakehi kammehī’’ti.
“Provide a further simile.” “Suppose, great king, a certain man were to take a lamp, ascend to an upper story, and eat. As the lamp was burning, it might set fire to the thatch. As the thatch was burning, it might set fire to the house. As the house was burning, it might set fire to the village. The villagers might seize that man and say, ‘Sir, why did you set fire to the village?’ He might say, ‘Sirs, I did not set fire to the village. The lamp-fire by whose light I ate was another fire, and the fire by which the village was burned was another fire.’ If they, while disputing, were to come to you, in whose favor, great king, would you decide the case?” “In the villagers’, venerable sir.” “For what reason?” “However much he might say that, that fire was nevertheless produced from that very source.” “In the same way, great king, although the name-and-form at the point of death is one thing, and the name-and-form at relinking is another, nevertheless, the latter is produced from the former. Therefore, one is not freed from evil deeds.”
– Xin ngài hãy cho thêm một ví dụ khác. – Tâu Đại vương, ví như có người kia cầm đèn đi lên lầu để ăn cơm. Ngọn đèn đang cháy có thể làm cháy lớp cỏ tranh (lợp nhà), lớp cỏ tranh đang cháy có thể làm cháy ngôi nhà, ngôi nhà đang cháy có thể làm cháy cả làng. Dân làng bắt người ấy lại và nói rằng: ‘Này ông kia, tại sao ông lại đốt làng?’ Người ấy trả lời rằng: ‘Này quý vị, tôi không đốt làng. Ngọn lửa đèn mà nhờ ánh sáng của nó tôi đã ăn cơm là một ngọn lửa khác, còn ngọn lửa đã đốt cháy làng là một ngọn lửa khác.’ Họ tranh cãi nhau rồi cùng đến gặp Đại vương. Tâu Đại vương, ngài sẽ xử cho ai thắng kiện? – Tâu Đại đức, (thần) sẽ xử cho dân làng thắng kiện. – Vì lý do gì? – Dù cho người ấy có nói như vậy, nhưng ngọn lửa kia quả thật đã được phát sinh từ chính ngọn lửa ấy. – Tâu Đại vương, cũng giống như thế, mặc dù danh sắc vào lúc lâm chung là một pháp khác, danh sắc vào lúc tái sanh là một pháp khác, nhưng pháp (danh sắc) này quả thật đã được phát sinh từ chính pháp (danh sắc) kia. Do đó, người ấy không thể thoát khỏi các ác nghiệp.
‘‘Bhiyyo opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, kocideva puriso dahariṃ dārikaṃ vāretvā suṅkaṃ datvā pakkameyya. Sā aparena samayena mahatī assa vayappattā, tato añño puriso suṅkaṃ datvā vivāhaṃ kareyya, itaro āgantvā evaṃ vadeyya ‘kissa pana me tvaṃ, ambho purisa, bhariyaṃ nesī’ti? So evaṃ vadeyya ‘nāhaṃ tava bhariyaṃ nemi, aññā sā dārikā daharī taruṇī, yā tayā vāritā ca dinnasuṅkā ca, aññāyaṃ dārikā mahatī vayappattā mayā vāritā ca dinnasuṅkā cā’ti, te vivadamānā tava santike āgaccheyyuṃ. Kassa tvaṃ, mahārāja, aṭṭaṃ dhāreyyāsī’’ti? ‘‘Purimassa bhante’’ti. ‘‘Kiṃ kāraṇā’’ti? ‘‘Kiñcāpi so evaṃ vadeyya, api ca tato yeva sā mahatī nibbattā’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, kiñcāpi aññaṃ māraṇantikaṃ nāmarūpaṃ, aññaṃ paṭisandhismiṃ nāmarūpaṃ, api ca tato yeva taṃ nibbattaṃ, tasmā naparimutto pāpakehi kammehī’’ti.
“Give me another simile.” “Suppose, great king, a certain man were to woo a young girl, pay a bride-price, and then depart. Later, when she had grown into a mature woman, another man might pay a bride-price and marry her. The first man, returning, might say, ‘Why, sir, are you taking away my wife?’ The other would reply, ‘I am not taking your wife. That young girl you wooed and paid a bride-price for is one person; this mature woman whom I have wooed and paid a bride-price for is another.’ If they were to argue and come before you, great king, whose case would you uphold?” “The first man’s, venerable sir.” “For what reason?” “Even though the other may say so, still, she grew from that very girl.” “Just so, great king, though the name-and-form at death is one thing and the name-and-form at rebirth-linking is another, still, it arises from that very one. Therefore, one is not freed from one's evil kamma.”
– Xin ngài hãy cho thêm một ví dụ khác. – Tâu Đại vương, ví như có người kia hỏi cưới một cô gái nhỏ, đã trao sính lễ rồi bỏ đi. Sau một thời gian, cô gái ấy đã lớn và đến tuổi cập kê. Khi ấy, một người đàn ông khác cũng trao sính lễ rồi làm lễ cưới. Người trước quay về và nói rằng: ‘Này ông kia, tại sao ông lại cưới vợ của tôi?’ Người kia trả lời rằng: ‘Tôi không cưới vợ của ông. Cô gái nhỏ, trẻ trung mà ông đã hỏi cưới và trao sính lễ là một người khác; còn cô gái này đã lớn, đến tuổi cập kê mà tôi đã hỏi cưới và trao sính lễ là một người khác.’ Họ tranh cãi nhau rồi cùng đến gặp Đại vương. Tâu Đại vương, ngài sẽ xử cho ai thắng kiện? – Tâu Đại đức, (thần) sẽ xử cho người đàn ông đầu tiên. – Vì lý do gì? – Dù cho người kia có nói như vậy, nhưng cô gái lớn kia quả thật đã được phát sinh từ chính cô gái nhỏ ấy. – Tâu Đại vương, cũng giống như thế, mặc dù danh sắc vào lúc lâm chung là một pháp khác, danh sắc vào lúc tái sanh là một pháp khác, nhưng pháp (danh sắc) này quả thật đã được phát sinh từ chính pháp (danh sắc) kia. Do đó, người ấy không thể hoàn toàn thoát khỏi các ác nghiệp.
‘‘Bhiyyo opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, kocideva puriso gopālakassa hatthato khīraghaṭaṃ kiṇitvā tasseva hatthe nikkhipitvā pakkameyya ‘sve gahetvā gamissāmī’ti, taṃ aparajju dadhi sampajjeyya. So āgantvā evaṃ vadeyya ‘dehi me khīraghaṭa’nti. So dadhiṃ dasseyya. Itaro evaṃ vadeyya ‘nāhaṃ tava hatthato dadhiṃ kiṇāmi, dehi me khīraghaṭa’nti. So evaṃ vadeyya ‘ajānato te khīraṃ dadhibhūta’nti te vivadamānā tava santike āgaccheyyuṃ, kassa tvaṃ mahārāja, aṭṭaṃ dhāreyyāsī’’ti? ‘‘Gopālakassa bhante’’ti. ‘‘Kiṃ kāraṇā’’ti? ‘‘Kiñcāpi so evaṃ vadeyya, api ca tato yeva taṃ nibbatta’’nti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, kiñcāpi aññaṃ māraṇantikaṃ nāmarūpaṃ, aññaṃ paṭisandhismiṃ nāmarūpaṃ, api ca tato yeva taṃ nibbattaṃ, tasmā na parimutto pāpakehi kammehī’’ti.
“Give me another simile.” “Suppose, great king, a certain man were to buy a pot of milk from a cowherd, leave it in his care, and depart, saying, ‘I will fetch it tomorrow.’ By the next day, it might have turned into curds. Returning, he might say, ‘Give me my pot of milk.’ The cowherd would show him the curds. The other might say, ‘I did not buy curds from you; give me my pot of milk.’ The cowherd might reply, ‘Without your knowing, the milk became curds.’ If they were to argue and come before you, great king, whose case would you uphold?” “The cowherd’s, venerable sir.” “For what reason?” “Even though the man might say so, still, it arose from that very milk.” “Just so, great king, even though the name-and-form at death is one thing and the name-and-form at rebirth-linking is another, still, it arises from that very one. Therefore, one is not freed from one's evil kamma.”
– Xin ngài hãy cho thêm một ví dụ khác. – Tâu Đại vương, ví như có người kia mua một hũ sữa từ tay người chăn bò, rồi gửi lại nơi tay của người ấy và bỏ đi, nói rằng: ‘Ngày mai tôi sẽ đến lấy.’ Ngày hôm sau, hũ sữa ấy đã trở thành sữa đông. Người kia quay lại và nói rằng: ‘Hãy đưa cho tôi hũ sữa.’ Người chăn bò đưa cho xem hũ sữa đông. Người kia nói rằng: ‘Tôi không mua sữa đông từ tay ông, hãy đưa cho tôi hũ sữa.’ Người chăn bò nói rằng: ‘Trong lúc ông không biết, sữa đã trở thành sữa đông.’ Họ tranh cãi nhau rồi cùng đến gặp Đại vương. Tâu Đại vương, ngài sẽ xử cho ai thắng kiện? – Tâu Đại đức, (thần) sẽ xử cho người chăn bò. – Vì lý do gì? – Dù cho người kia có nói như vậy, nhưng vật ấy quả thật đã được phát sinh từ chính vật ấy. – Tâu Đại vương, cũng giống như thế, mặc dù danh sắc vào lúc lâm chung là một pháp khác, danh sắc vào lúc tái sanh là một pháp khác, nhưng pháp (danh sắc) này quả thật đã được phát sinh từ chính pháp (danh sắc) kia. Do đó, người ấy không thể hoàn toàn thoát khỏi các ác nghiệp.
‘‘Kallosi, bhante nāgasenā’’ti.
“You are skillful, venerable Nāgasena.”
– Tâu Đại đức Nāgasena, ngài thật khéo léo.
Nāmarūpaekattanānattapañho chaṭṭho.
The Sixth Question on the Oneness and Otherness of Name-and-Form.
Câu hỏi thứ sáu về sự đồng nhất và dị biệt của danh và sắc đã kết thúc.