Bản dịch
MIL 3.2.4 — II. PHẨM HÀNH TRÌNH
4. Paṭisandahanapuggalavediyanapañha
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, người nào không tái sanh, người ấy còn nhận biết thọ khổ nào đó phải không?”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Còn nhận biết thọ nào đó, không nhận biết thọ nào đó.”
“Nhận biết thọ gì, không nhận biết thọ gì?”
“Tâu đại vương, nhận biết thọ thuộc về thân, không nhận biết thọ thuộc về tâm.”
“Thưa ngài, nhận biết thọ thuộc về thân là thế nào, nhận biết thọ thuộc về tâm là thế nào?”
“Nhân nào duyên nào đưa đến việc sanh lên thọ khổ thuộc về thân, do sự chưa chấm dứt của nhân ấy duyên ấy nên người ấy nhận biết thọ khổ thuộc về thân. Nhân nào duyên nào đưa đến việc sanh lên thọ khổ thuộc về tâm, do sự chấm dứt của nhân ấy duyên ấy nên người ấy không nhận biết thọ khổ thuộc về tâm. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Người ấy nhận biết một thọ, thuộc về thân không thuộc về tâm.’”
“Thưa ngài Nāgasena, người ấy nhận biết thọ khổ thuộc về thân, tại sao người ấy không viên tịch Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, đối với A-la-hán không có sự bám níu hay sự ghét bỏ. Và các vị A-la-hán không hủy diệt điều chưa chín tới. Các bậc trí chờ đợi sự chín muồi. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp, nói đến:
‘Tôi không vui thích sự chết, tôi không vui thích sự sống, và tôi trông chờ thời điểm, giống như người làm công trông chờ tiền lương.
Tôi không vui thích sự chết, tôi không vui thích sự sống, và tôi trông chờ thời điểm, tỉnh giác, có niệm.’”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Rājā āha ‘‘bhante nāgasena, yo na paṭisandahati, vedeti so kiñci dukkhaṃ vedana’’nti? Thero āha ‘‘kiñci vedeti, kiñci na vedetī’’ti. ‘‘Kiṃ vedeti, kiṃ na vedetī’’ti? ‘‘Kāyikaṃ, mahārāja, vedanaṃ vedeti, cetasikaṃ vedanaṃ na vedetī’’ti. ‘‘Kathaṃ, bhante, kāyikaṃ vedanaṃ vedeti, kathaṃ cetasikaṃ vedanaṃ na vedetī’’ti? ‘‘Yo hetu yo paccayo kāyikāya dukkhavedanāya uppattiyā, tassa hetussa tassa paccayassa anuparamā kāyikaṃ dukkhavedanaṃ vedeti, yo hetu yo paccayo cetasikāya dukkhavedanāya uppattiyā, tassa hetussa tassa paccayassa uparamā cetasikaṃ dukkhavedanaṃ na vedeti. Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā – ‘so ekaṃ vedanaṃ vedeti kāyikaṃ na cetasika’’’nti.
4. The king said, “Venerable Nāgasena, does one who is not reborn experience any painful feeling?” The Elder replied, “He experiences some, and some he does not.” “What does he experience, and what does he not?” “Great king, he experiences bodily feeling, but he does not experience mental feeling.” “How, venerable sir, does he experience bodily feeling, and how does he not experience mental feeling?” “Because the cause and condition for the arising of bodily painful feeling have not ceased, he experiences bodily painful feeling. Because the cause and condition for the arising of mental painful feeling have ceased, he does not experience mental painful feeling. For this was spoken by the Blessed One, great king: ‘He experiences one feeling, bodily, not mental.’”
4. Vua hỏi: – Thưa ngài Nāgasena, người không tái sanh có cảm nhận một cảm thọ khổ nào không? Trưởng lão đáp: – Có cảm nhận một số, không cảm nhận một số. – Cảm nhận cái gì, không cảm nhận cái gì? – Tâu Đại vương, vị ấy cảm nhận thọ thuộc thân, không cảm nhận thọ thuộc tâm. – Thưa ngài, tại sao vị ấy cảm nhận thọ thuộc thân, tại sao không cảm nhận thọ thuộc tâm? – Do nhân nào, duyên nào là sự sanh khởi của khổ thọ thuộc thân, vì nhân ấy, duyên ấy chưa chấm dứt, nên vị ấy cảm nhận khổ thọ thuộc thân. Do nhân nào, duyên nào là sự sanh khởi của khổ thọ thuộc tâm, vì nhân ấy, duyên ấy đã chấm dứt, nên vị ấy không cảm nhận khổ thọ thuộc tâm. Tâu Đại vương, điều này đã được Đức Thế Tôn nói đến: ‘Vị ấy cảm nhận một loại thọ, thuộc thân chứ không thuộc tâm’.
‘‘Bhante nāgasena, yo dukkhaṃ vedanaṃ vedeti, kasmā so na parinibbāyatī’’ti? ‘‘Natthi, mahārāja, arahato anunayo vā paṭigho vā, na ca arahanto apakkaṃ pātenti paripākaṃ āgamenti paṇḍitā. Bhāsitampetaṃ, mahārāja, therena sāriputtena dhammasenāpatinā –
“Venerable Nāgasena, if one experiences painful feeling, why does that person not attain final Nibbāna?” “Great king, an Arahant has no attraction or aversion. And Arahants, being wise, do not cause the unripe to fall; they await its ripening. This was spoken, great king, by the Elder Sāriputta, the General of the Dhamma:
– Thưa ngài Nāgasena, người cảm nhận khổ thọ, tại sao vị ấy không nhập Vô Dư Niết-bàn? – Tâu Đại vương, bậc A-la-hán không có sự luyến ái hay sân hận. Và các bậc A-la-hán là bậc hiền trí, không làm rơi rụng cái chưa chín muồi, các vị ấy chờ đợi sự chín muồi. Tâu Đại vương, điều này đã được Trưởng lão Sāriputta, vị Tướng quân Chánh pháp, nói đến:
‘‘‘Nābhinandāmi maraṇaṃ, nābhinandāmi jīvitaṃ;
Kālañca paṭikaṅkhāmi, nibbisaṃ bhatako yathā.
“I do not delight in death, nor do I delight in life. I await the time, like a hired worker awaiting his wage.
‘Ta không hoan hỷ cái chết, ta không hoan hỷ sự sống; Ta chỉ chờ đợi thời điểm, như kẻ làm thuê chờ đợi tiền công.
‘‘‘Nābhinandāmi maraṇaṃ, nābhinandāmi jīvitaṃ;
Kālañca paṭikaṅkhāmi, sampajāno patissato’’’ti.
“I do not delight in death, nor do I delight in life. I await the time, fully aware and mindful.”
‘Ta không hoan hỷ cái chết, ta không hoan hỷ sự sống; Ta chỉ chờ đợi thời điểm, với tỉnh giác và chánh niệm’.
‘‘Kallosi, bhante nāgasenā’’ti †.
“You are skillful, venerable Nāgasena.”
– Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khéo léo.
Paṭisandahanapuggalavediyanapañho catuttho.
The Fourth Question Concerning the Feeling of One Who Is Not Reborn.
Kết thúc vấn-đề thứ tư về người tái sanh và cảm thọ.