Bản dịch
MIL 3.2.3 — II. PHẨM HÀNH TRÌNH
3. Ñāṇapaññāpañha
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, trí sanh lên cho người nào, thì tuệ sanh lên cho người ấy phải không?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Trí sanh lên cho người nào, thì tuệ sanh lên cho người ấy.”
“Thưa ngài, có phải cái nào là trí thì chính cái ấy là tuệ?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Cái nào là trí thì chính cái ấy là tuệ.”
“Thưa ngài, chính trí ấy chính tuệ ấy được sanh lên cho người nào, có phải người ấy còn mê mờ, hay không còn mê mờ?”
“Tâu đại vương, còn mê mờ về lãnh vực nào đó, không còn mê mờ về lãnh vực nào đó.”
“Thưa ngài, còn mê mờ về lãnh vực gì, không còn mê mờ về lãnh vực gì?”
“Tâu đại vương, còn mê mờ về những lãnh vực nghề nghiệp chưa được biết trước đây, hoặc về những địa phương chưa được đi đến trước đây, hoặc về những tên gọi và điều quy định chưa được nghe trước đây.”
“Không còn mê mờ về lãnh vực gì?”
“Tâu đại vương, điều nào đã được xử lý bởi tuệ ấy tức là ‘vô thường’ hoặc là ‘khổ não’ hoặc là ‘vô ngã,’ thì không còn mê mờ về lãnh vực ấy.”
“Thưa ngài, vậy thì sự si mê của người này đi đâu?”
“Tâu đại vương, vào lúc trí được sanh lên, thì si mê diệt mất ngay tại chỗ ấy.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như người nào đó mang cây đèn vào căn nhà tối tăm, do đó bóng tối diệt mất, ánh sáng hiện ra; tâu đại vương, tương tợ y như thế vào lúc trí được sanh lên, thì si mê diệt mất ngay tại chỗ ấy.”
“Thưa ngài, vậy thì tuệ đi đâu?”
“Tâu đại vương, tuệ sau khi làm xong phận sự của nó thì diệt mất ngay tại chỗ ấy. Tuy nhiên, điều đã được xử lý bởi tuệ ấy tức là ‘vô thường’ hoặc là ‘khổ não’ hoặc là ‘vô ngã’ thì không diệt mất.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài đã nói là: ‘Tuệ sau khi làm xong phận sự của nó thì diệt mất ngay tại chỗ ấy,’ và ‘điều đã được xử lý bởi tuệ ấy tức là ‘vô thường’ hoặc là ‘khổ não’ hoặc là ‘vô ngã’ thì không diệt mất,’ xin ngài cho ví dụ về điều ấy.”
“Tâu đại vương, giống như người nào đó có ý định gởi đi bức thơ vào ban đêm, có thể cho gọi người thơ ký đến, bảo đem lại cây đèn rồi bảo viết bức thơ. Khi bức thơ đã được viết xong thì có thể cho làm tắt cây đèn, mặc dầu cây đèn đã được làm tắt, bức thơ vẫn không biến mất; tâu đại vương, tương tợ y như thế tuệ sau khi làm xong phận sự của nó thì diệt mất ngay tại chỗ ấy, và điều đã được xử lý bởi tuệ ấy tức là ‘vô thường’ hoặc là ‘khổ não’ hoặc là ‘vô ngã’ thì không diệt mất.”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như ở các xứ sở ở phương Đông, người ta để năm chum nước dọc theo từng nhà một để dập tắt hỏa hoạn. Khi căn nhà bị bốc cháy thì ném năm chum nước ấy ở phía bên trên căn nhà, do đó ngọn lửa được dập tắt. Tâu đại vương, có phải những người ấy sẽ khởi ý rằng: ‘Chúng ta sẽ làm công việc dập tắt lửa với năm chum nước ấy lần nữa?’”
“Thưa ngài, không phải. Đã xong rồi với năm chum nước ấy. Còn việc gì với năm chum nước ấy?”
“Tâu đại vương, năm chum nước là như thế nào thì ngũ quyền gồm có tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền nên được xem xét như vậy. Những người ấy là như thế nào thì hành giả nên được xem xét như vậy. Ngọn lửa là như thế nào thì các phiền não nên được xem xét như vậy. Ngọn lửa được dập tắt bởi năm chum nước như thế nào thì các phiền não được dập tắt bởi năm quyền là như vậy. Các phiền não đã được dập tắt thì không xuất hiện lại nữa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế tuệ sau khi làm xong phận sự của nó thì diệt mất ngay tại chỗ ấy, và điều đã được xử lý bởi tuệ ấy tức là ‘vô thường’ hoặc là ‘khổ não’ hoặc là ‘vô ngã’ thì không diệt mất.”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như người thầy thuốc lấy năm loại thuốc rễ cây đi đến gặp người bệnh. Sau khi nghiền nát năm loại thuốc rễ cây ấy rồi cho người bệnh uống để loại trừ các sự khó chịu nhờ vào năm loại thuốc rễ cây ấy. Tâu đại vương, có phải người thầy thuốc ấy sẽ khởi ý rằng: ‘Ta sẽ làm công việc chữa trị với năm loại thuốc rễ cây ấy lần nữa?’”
“Thưa ngài, không phải. Đã xong rồi với các loại thuốc rễ cây ấy. Còn việc gì với các loại thuốc rễ cây ấy?”
“Tâu đại vương, năm loại thuốc rễ cây là như thế nào thì ngũ quyền gồm có tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền nên được xem xét như vậy. Người thầy thuốc là như thế nào thì hành giả nên được xem xét như vậy. Căn bệnh là như thế nào thì các phiền não nên được xem xét như vậy. Người bị bệnh là như thế nào thì phàm nhân nên được xem xét như vậy. Khi sự khó chịu của căn bệnh được loại trừ nhờ vào năm loại thuốc rễ cây rồi người bệnh được hết bệnh như thế nào thì các phiền não được loại trừ nhờ vào năm quyền là như vậy, và các phiền não đã được loại trừ thì không xuất hiện lại nữa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế tuệ sau khi làm xong phận sự của nó thì diệt mất ngay tại chỗ ấy, và điều đã được xử lý bởi tuệ ấy tức là ‘vô thường’ hoặc là ‘khổ não’ hoặc là ‘vô ngã’ thì không diệt mất.”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như người chiến sĩ tham gia chiến trận cầm lấy năm mũi tên lao vào chiến trận để đánh bại đội quân địch, vị ấy có thể phóng năm mũi tên ấy ở chiến trận và nhờ chúng đội quân địch bị phá tan; tâu đại vương, có phải người chiến sĩ tham gia chiến trận ấy sẽ khởi ý rằng: ‘Ta sẽ làm công việc bắn tên với năm mũi tên ấy lần nữa?’”
“Thưa ngài, không phải. Đã xong rồi với năm mũi tên ấy; còn việc gì với năm mũi tên ấy?”
“Tâu đại vương, năm mũi tên là như thế nào thì ngũ quyền gồm có tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền nên được xem xét như vậy. Người chiến sĩ tham gia chiến trận là như thế nào thì hành giả nên được xem xét như vậy. Đội quân địch là như thế nào thì các phiền não nên được xem xét như vậy. Đội quân địch bị phá tan bởi năm mũi tên như thế nào thì các phiền não bị phá tan bởi năm quyền là như vậy, và các phiền não đã bị phá tan thì không xuất hiện lại nữa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế tuệ sau khi làm xong phận sự của nó thì diệt mất ngay tại chỗ ấy, và điều đã được xử lý bởi tuệ ấy tức là ‘vô thường’ hoặc là ‘khổ não’ hoặc là ‘vô ngã’ thì không diệt mất.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Rājā āha ‘‘bhante nāgasena, yassa ñāṇaṃ uppannaṃ, tassa paññā uppannā’’ti? ‘‘Āma, mahārāja, yassa ñāṇaṃ uppannaṃ, tassa paññā uppannā’’ti. ‘‘Kiṃ, bhante, yaññeva ñāṇaṃ sā yeva paññā’’ti? ‘‘Āma, mahārāja, yaññeva ñāṇaṃ sā yeva paññā’’ti. ‘‘Yassa pana, bhante, taññeva ñāṇaṃ sā yeva paññā uppannā, kiṃ sammuyheyya so, udāhu na sammuyheyyā’’ti? ‘‘Katthaci, mahārāja, sammuyheyya, katthaci na sammuyheyyā’’ti. ‘‘Kuhiṃ, bhante, sammuyheyyā’’ti? ‘‘Aññātapubbesu vā, mahārāja, sippaṭṭhānesu, agatapubbāya vā disāya, assutapubbāya vā nāmapaññattiyā sammuyheyyā’’ti. ‘‘Kuhiṃ na sammuyheyyā’’ti? ‘‘Yaṃ kho pana, mahārāja, tāya paññāya kataṃ ‘anicca’nti vā ‘dukkha’nti vā ‘anattā’ti vā, tahiṃ na sammuyheyyā’’ti. ‘‘Moho panassa, bhante, kuhiṃ gacchatī’’ti? ‘‘Moho kho, mahārāja, ñāṇe uppannamatte tattheva nirujjhatī’’ti.
3. "The king said, 'Venerable Nāgasena, for one in whom knowledge has arisen, has wisdom also arisen?' 'Yes, great king, for one in whom knowledge has arisen, wisdom has also arisen.' 'But, venerable sir, is that knowledge the same as that wisdom?' 'Yes, great king, that knowledge is the same as that wisdom.' 'But, venerable sir, for one in whom that knowledge which is wisdom has arisen, would that person be confused, or would they not be confused?' 'In some matters, great king, they would be confused; in other matters, they would not be confused.' 'In what matters, venerable sir, would they be confused?' 'They would be confused, great king, in fields of skill not previously known, in a direction not previously traveled, or concerning a conceptual designation not previously heard.' 'In what matters would they not be confused?' 'In that which has been realized by means of that wisdom—namely, as "impermanent," "suffering," or "non-self"—in that, they would not be confused.' 'But where, venerable sir, does their delusion go?' 'Delusion, great king, ceases at the very moment of the arising of knowledge.'"
3. Vua hỏi: “Thưa ngài Nāgasena, người nào có trí sanh khởi, người ấy có tuệ sanh khởi chăng?” “Tâu Đại vương, vâng, người nào có trí sanh khởi, người ấy có tuệ sanh khởi.” “Thưa ngài, có phải cái gì là trí thì chính là tuệ chăng?” “Tâu Đại vương, vâng, cái gì là trí thì chính là tuệ.” “Thưa ngài, nhưng người nào có chính trí ấy, chính tuệ ấy sanh khởi, người ấy có bị mê lầm không, hay là không bị mê lầm?” “Tâu Đại vương, có nơi bị mê lầm, có nơi không bị mê lầm.” “Thưa ngài, mê lầm ở đâu?” “Tâu Đại vương, bị mê lầm ở những ngành kỹ nghệ chưa từng biết, hoặc ở phương xứ chưa từng đến, hoặc ở danh xưng chưa từng nghe.” “Không mê lầm ở đâu?” “Tâu Đại vương, cái gì đã được thực hành bởi tuệ ấy là ‘vô thường’, ‘khổ’, hay ‘vô ngã’, ở đó không bị mê lầm.” “Thưa ngài, vậy si mê của người ấy đi đâu?” “Tâu Đại vương, si mê, ngay khi trí vừa sanh khởi, liền diệt ngay tại đó.”
‘‘Opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, kocideva puriso andhakāragehe padīpaṃ āropeyya, tato andhakāro nirujjheyya, āloko pātubhaveyya. Evameva kho, mahārāja, ñāṇe uppannamatte moho tattheva nirujjhatī’’ti.
"Give me a simile." "Suppose, great king, someone were to bring a lamp into a dark house; the darkness would cease and light would appear. In the same way, great king, at the very moment knowledge arises, delusion ceases."
“Xin ngài hãy cho một ví dụ.” “Tâu Đại vương, ví như một người nào đó trong một ngôi nhà tối tăm, thắp một ngọn đèn lên. Do đó, bóng tối sẽ diệt mất, ánh sáng sẽ hiện ra. Cũng vậy, tâu Đại vương, ngay khi trí vừa sanh khởi, si mê liền diệt ngay tại đó.”
‘‘Paññā pana, bhante, kuhiṃ gacchatī’’ti? ‘‘Paññāpi kho, mahārāja, sakiccayaṃ katvā tattheva nirujjhati, yaṃ pana tāya paññāya kataṃ ‘anicca’nti vā ‘dukkha’nti vā ‘anattā’ti vā, taṃ na nirujjhatī’’ti.
"But where, venerable sir, does that wisdom go?" "That wisdom also, great king, having performed its function, ceases then and there. But the realization that was brought about by that wisdom—namely, of 'impermanent,' 'suffering,' or 'non-self'—that does not cease."
“Thưa ngài, vậy tuệ đi đâu?” “Tâu Đại vương, tuệ cũng vậy, sau khi làm xong phận sự của mình, liền diệt ngay tại đó. Nhưng cái gì đã được thực hành bởi tuệ ấy là ‘vô thường’, ‘khổ’, hay ‘vô ngã’, cái đó không diệt.”
‘‘Bhante nāgasena, yaṃ panetaṃ brūsi ‘paññā sakiccayaṃ katvā tattheva nirujjhati, yaṃ pana tāya paññāya kataṃ ‘anicca’nti vā ‘dukkha’nti vā ‘anattā’ti vā, taṃ na nirujjhatī’ti, tassa opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, yo koci puriso rattiṃ lekhaṃ pesetukāmo lekhakaṃ pakkosāpetvā padīpaṃ āropetvā lekhaṃ likhāpeyya, likhite pana lekhe padīpaṃ vijjhāpeyya, vijjhāpitepi padīpe lekhaṃ na vinasseyya. Evameva kho, mahārāja, paññā sakiccayaṃ katvā tattheva nirujjhati, yaṃ pana tāya paññāya kataṃ ‘anicca’nti vā ‘dukkha’nti vā ‘anattā’ti vā, taṃ na nirujjhatī’’ti.
“Venerable Nāgasena, you say, ‘Wisdom, having performed its function, ceases right there, but what has been done by that wisdom—whether ‘impermanent,’ ‘suffering,’ or ‘not-self’—that does not cease.’ Please give a simile for that.” “Just as, great king, if someone wishing to send a letter at night were to summon a scribe, light a lamp, and have a letter written; then, once the letter is written, they would extinguish the lamp. Even though the lamp is extinguished, the letter would not be destroyed. In the same way, great king, wisdom, having performed its function, ceases right there, but what has been done by that wisdom—whether ‘impermanent,’ ‘suffering,’ or ‘not-self’—that does not cease.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói rằng ‘tuệ sau khi làm xong phận sự của mình, liền diệt ngay tại đó. Nhưng cái gì đã được thực hành bởi tuệ ấy là ‘vô thường’, ‘khổ’, hay ‘vô ngã’, cái đó không diệt’, xin ngài hãy cho một ví dụ về điều đó.” “Tâu Đại vương, ví như một người nào đó muốn gửi một bức thư vào ban đêm, gọi người viết thư đến, thắp đèn lên và cho viết thư. Sau khi thư đã được viết xong, người ấy dập tắt ngọn đèn. Dù ngọn đèn đã được dập tắt, bức thư không bị hủy hoại. Cũng vậy, tâu Đại vương, tuệ sau khi làm xong phận sự của mình, liền diệt ngay tại đó. Nhưng cái gì đã được thực hành bởi tuệ ấy là ‘vô thường’, ‘khổ’, hay ‘vô ngã’, cái đó không diệt.”
‘‘Bhiyyo opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, puratthimesu janapadesu manussā anugharaṃ pañca pañca udakaghaṭakāni ṭhapenti ālimpanaṃ vijjhāpetuṃ, ghare paditte tāni pañca udakaghaṭakāni gharassūpari khipanti, tato aggi vijjhāyati, kiṃ nu kho, mahārāja, tesaṃ manussānaṃ evaṃ hoti ‘puna tehi ghaṭehi ghaṭakiccaṃ karissāmā’’’ti? ‘‘Na hi, bhante, alaṃ tehi ghaṭehi, kiṃ tehi ghaṭehī’’ti? ‘‘Yathā, mahārāja, pañca udakaghaṭakāni, evaṃ pañcindriyāni daṭṭhabbāni saddhindriyaṃ vīriyindriyaṃ satindriyaṃ samādhindriyaṃ paññindriyaṃ. Yathā te manussā, evaṃ yogāvacaro daṭṭhabbo. Yathā aggi, evaṃ kilesā daṭṭhabbā. Yathā pañcahi udakaghaṭakehi aggi vijjhāpīyati, evaṃ pañcindriyehi kilesā vijjhāpiyanti, vijjhāpitāpi kilesā na puna sambhavanti. Evameva kho, mahārāja, paññā sakiccayaṃ katvā tattheva nirujjhati, yaṃ pana tāya paññāya kataṃ ‘anicca’nti vā ‘dukkha’nti vā ‘anattā’ti vā, taṃ na nirujjhatī’’ti.
“Please give a further simile.” “Just as, great king, in the eastern lands people keep five water pots in every house to extinguish a fire, and when a house catches fire, they throw those five water pots onto the house, and the fire is extinguished—do those people then think, ‘We will use those pots again for a pot’s purpose’?” “No, venerable sir. There is no more need for those pots. What use are those pots now?” “Just as, great king, there are five water pots, so should the five faculties be seen: the faculty of faith, the faculty of energy, the faculty of mindfulness, the faculty of concentration, and the faculty of wisdom. Just as those people, so should the yogi be seen. Just as the fire, so should the defilements be seen. Just as the fire is extinguished by the five water pots, so are the defilements extinguished by the five faculties. Once extinguished, the defilements do not arise again. In the same way, great king, wisdom, having performed its function, ceases right there. But what has been done by that wisdom—‘impermanent,’ ‘suffering,’ or ‘not-self’—that does not cease.”
– Xin ngài hãy cho thêm một ví dụ nữa. – Tâu Đại vương, ví như ở các xứ phương Đông, người ta đặt năm cái ghè nước ở mỗi nhà để dập tắt đám cháy, khi nhà bị cháy, họ ném năm cái ghè nước ấy lên trên nhà, do đó ngọn lửa được dập tắt. Tâu Đại vương, liệu những người ấy có ý nghĩ rằng: ‘Chúng ta sẽ dùng lại những cái ghè ấy để làm công việc của cái ghè’ chăng? – Thưa ngài, không ạ. Những cái ghè ấy đã đủ rồi, cần gì đến những cái ghè ấy nữa? – Tâu Đại vương, ví như năm cái ghè nước, cũng vậy, năm quyền cần được hiểu là: tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền. Ví như những người ấy, cũng vậy, vị hành giả cần được hiểu như thế. Ví như ngọn lửa, cũng vậy, các phiền não cần được hiểu như thế. Ví như ngọn lửa được dập tắt bởi năm cái ghè nước, cũng vậy, các phiền não được dập tắt bởi năm quyền. Và các phiền não đã được dập tắt thì không sanh khởi trở lại. Cũng vậy, tâu Đại vương, trí tuệ sau khi đã làm xong phận sự của mình liền diệt ngay tại đó. Nhưng những gì đã được thực hiện bởi trí tuệ ấy, là ‘vô thường’, ‘khổ’, hay ‘vô ngã’, thì không diệt.
‘‘Bhiyyo opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, vejjo pañcamūlabhesajjāni gahetvā gilānakaṃ upasaṅkamitvā tāni pañcamūlabhesajjāni pisitvā † gilānakaṃ pāyeyya, tehi ca dosā niddhameyyuṃ, kiṃ nu kho, mahārāja, tassa vejjassa evaṃ hoti ‘puna tehi pañcamūlabhesajjehi bhesajjakiccaṃ karissāmī’’’ti? ‘‘Na hi, bhante, alaṃ tehi pañcamūlabhesajjehi, kiṃ tehi pañcamūlabhesajjehī’’ti? ‘‘Yathā, mahārāja, pañcamūlabhesajjāni, evaṃ pañcindriyāni daṭṭhabbāni saddhindriyaṃ vīriyindriyaṃ satindriyaṃ samādhindriyaṃ paññindriyaṃ, yathā vejjo, evaṃ yogāvacaro daṭṭhabbo. Yathā byādhi, evaṃ kilesā daṭṭhabbā. Yathā byādhito puriso, evaṃ puthujjano daṭṭhabbo. Yathā pañcamūlabhesajjehi gilānassa dosā niddhantā, dose niddhante gilāno arogo hoti, evaṃ pañcindriyehi kilesā niddhamīyanti, niddhamitā ca kilesā na puna sambhavanti. Evameva kho, mahārāja, paññā sakiccayaṃ katvā tattheva nirujjhati, yaṃ pana tāya paññāya kataṃ ‘anicca’nti vā ‘dukkha’nti vā ‘anattā’ti vā, taṃ na nirujjhatī’’ti.
“Please give a further simile.” “Just as, great king, a physician might take five medicinal roots, approach a sick person, grind them, and give them to the sick person to drink, and by them the ailments would be dispelled—does that physician then think, ‘I will use those five medicinal roots again for the purpose of medicine’?” “No, venerable sir. There is no more need for those five medicinal roots. What use are those five medicinal roots now?” “Just as, great king, there are five medicinal roots, so should the five faculties be seen: the faculty of faith, the faculty of energy, the faculty of mindfulness, the faculty of concentration, and the faculty of wisdom. Just as the physician, so should the yogi be seen. Just as the illness, so should the defilements be seen. Just as the sick person, so should the ordinary person be seen. Just as the ailments of the sick person are dispelled by the five medicinal roots, and when the ailments are dispelled, the sick person becomes healthy, so too are the defilements dispelled by the five faculties. And once dispelled, the defilements do not arise again. In the same way, great king, wisdom, having performed its function, ceases right there. But what has been done by that wisdom—‘impermanent,’ ‘suffering,’ or ‘not-self’—that does not cease.”
– Xin ngài hãy cho thêm một ví dụ nữa. – Tâu Đại vương, ví như một thầy thuốc lấy năm loại thuốc rễ cây, đến gần người bệnh, nghiền nát năm loại thuốc rễ cây ấy rồi cho người bệnh uống, và nhờ chúng mà các chứng bệnh được loại trừ. Tâu Đại vương, liệu vị thầy thuốc ấy có ý nghĩ rằng: ‘Ta sẽ dùng lại năm loại thuốc rễ cây ấy để làm công việc của thuốc’ chăng? – Thưa ngài, không ạ. Năm loại thuốc rễ cây ấy đã đủ rồi, cần gì đến năm loại thuốc rễ cây ấy nữa? – Tâu Đại vương, ví như năm loại thuốc rễ cây, cũng vậy, năm quyền cần được hiểu là: tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền; ví như vị thầy thuốc, cũng vậy, vị hành giả cần được hiểu như thế. Ví như bệnh tật, cũng vậy, các phiền não cần được hiểu như thế. Ví như người bệnh, cũng vậy, kẻ phàm phu cần được hiểu như thế. Ví như các chứng bệnh của người bệnh được loại trừ bởi năm loại thuốc rễ cây, khi các chứng bệnh đã được loại trừ thì người bệnh trở nên khỏe mạnh, cũng vậy, các phiền não được loại trừ bởi năm quyền. Và các phiền não đã được loại trừ thì không sanh khởi trở lại. Cũng vậy, tâu Đại vương, trí tuệ sau khi đã làm xong phận sự của mình liền diệt ngay tại đó. Nhưng những gì đã được thực hiện bởi trí tuệ ấy, là ‘vô thường’, ‘khổ’, hay ‘vô ngã’, thì không diệt.
‘‘Bhiyyo opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, saṅgāmāvacaro yodho pañca kaṇḍāni gahetvā saṅgāmaṃ otareyya parasenaṃ vijetuṃ, so saṅgāmagato tāni pañca kaṇḍāni khipeyya, tehi ca parasenā bhijjeyya, kiṃ nu kho, mahārāja, tassa saṅgāmāvacarassa yodhassa evaṃ hoti ‘puna tehi kaṇḍehi kaṇḍakiccaṃ karissāmī’’’ti? ‘‘Na hi, bhante, alaṃ tehi kaṇḍehi, kiṃ tehi kaṇḍehī’’ti? ‘‘Yathā, mahārāja, pañca kaṇḍāni, evaṃ pañcindriyāni daṭṭhabbāni saddhindriyaṃ vīriyindriyaṃ satindriyaṃ samādhindriyaṃ paññindriyaṃ. Yathā, mahārāja, saṅgāmāvacaro yodho, evaṃ yogāvacaro daṭṭhabbo. Yathā parasenā, evaṃ kilesā daṭṭhabbā. Yathā pañcahi kaṇḍehi parasenā bhijjati, evaṃ pañcindriyehi kilesā bhijjanti, bhaggā ca kilesā na puna sambhavanti. Evameva kho, mahārāja, paññā sakiccayaṃ katvā tattheva nirujjhati, yaṃ pana tāya paññāya kataṃ ‘anicca’nti vā ‘dukkha’nti vā ‘anattā’ti vā, taṃ na nirujjhatī’’ti.
“Please give a further simile.” “Just as, great king, a warrior skilled in battle might take up five arrows and descend into battle to conquer the enemy army; once in battle, he would shoot those five arrows, and with them the enemy army would be shattered. Now, great king, would that warrior skilled in battle think, ‘I will use those arrows again for an arrow’s purpose’?” “No, venerable sir. There is no more need for those arrows. What use are those arrows now?” “Just as, great king, there are five arrows, so should the five faculties be seen: the faculty of faith, the faculty of energy, the faculty of mindfulness, the faculty of concentration, and the faculty of wisdom. Just as the warrior skilled in battle, so should the yogi be seen. Just as the enemy army, so should the defilements be seen. Just as the enemy army is shattered by the five arrows, so are the defilements shattered by the five faculties. And once shattered, the defilements do not arise again. In the same way, great king, wisdom, having performed its function, ceases right there; but what has been done by that wisdom—‘impermanent,’ ‘suffering,’ or ‘not-self’—that does not cease.”
– Xin ngài hãy cho thêm một ví dụ nữa. – Tâu Đại vương, ví như một chiến binh thiện chiến cầm năm mũi tên, đi vào trận địa để chiến thắng quân địch. Khi đã vào trận, vị ấy bắn năm mũi tên ấy, và nhờ chúng mà quân địch bị tan rã. Tâu Đại vương, liệu vị chiến binh thiện chiến ấy có ý nghĩ rằng: ‘Ta sẽ dùng lại những mũi tên ấy để làm công việc của mũi tên’ chăng? – Thưa ngài, không ạ. Những mũi tên ấy đã đủ rồi, cần gì đến những mũi tên ấy nữa? – Tâu Đại vương, ví như năm mũi tên, cũng vậy, năm quyền cần được hiểu là: tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền. Tâu Đại vương, ví như vị chiến binh thiện chiến, cũng vậy, vị hành giả cần được hiểu như thế. Ví như quân địch, cũng vậy, các phiền não cần được hiểu như thế. Ví như quân địch bị tan rã bởi năm mũi tên, cũng vậy, các phiền não bị tan rã bởi năm quyền. Và các phiền não đã bị phá vỡ thì không sanh khởi trở lại. Cũng vậy, tâu Đại vương, trí tuệ sau khi đã làm xong phận sự của mình liền diệt ngay tại đó. Nhưng những gì đã được thực hiện bởi trí tuệ ấy, là ‘vô thường’, ‘khổ’, hay ‘vô ngã’, thì không diệt.
‘‘Kallosi, bhante nāgasenā’’ti.
“You are skillful, venerable Nāgasena.”
– Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khéo léo.
Ñāṇapaññāpañho tatiyo.
The Third Question on Knowledge and Wisdom.
Vấn đề thứ ba về tri và tuệ.