Bản dịch
MIL 3.1.9 — I. ĐẠI PHẨM
9. Sīlalakkhaṇapañha
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài đã nói là ‘các thiện pháp khác,’ các thiện pháp ấy là những gì?”
“Tâu đại vương, là giới, tín, tấn, niệm, định, những cái này là các thiện pháp ấy.”
“Thưa ngài, giới có gì là tướng trạng?”
“Tâu đại vương, giới có sự đặt nền tảng là tướng trạng. Giới là nền tảng của tất cả các thiện pháp, của các sự thể nhập các quyền, các lực, các chi phần đưa đến giác ngộ, các Đạo, các sự thiết lập niệm, các chánh tinh tấn, các nền tảng của thần thông, các thiền, các sự giải thoát, các tầng định. Tâu đại vương, đối với người đã đặt nền tảng ở giới thì tất cả các thiện pháp không bị suy giảm.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như các loại hột giống và các loài thảo mộc nào đạt được sự phát triển, tăng trưởng, lớn mạnh, tất cả các loại hột giống và các loài thảo mộc ấy đạt được sự phát triển, tăng trưởng, lớn mạnh như thế này đều nương tựa vào đất, đều đặt nền tảng ở đất. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, hành giả tu tập năm quyền: tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền đều nương tựa vào giới, đều đặt nền tảng ở giới.”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như các công việc nặng nhọc nào được thực hiện, tất cả các công việc nặng nhọc được thực hiện như thế này đều nương tựa vào đất, đều đặt nền tảng ở đất. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, hành giả tu tập năm quyền: tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền đều nương tựa vào giới, đều đặt nền tảng ở giới.”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như nhà kiến trúc đô thị có ý định xây dựng thành phố thì trước tiên cho làm sạch sẽ khu vực thành phố, cho dời đi gốc cây và các gai góc, cho làm bằng phẳng, sau đó phân chia khu vực của các con đường, các lô đất vuông, các giao lộ, v.v… rồi mới xây dựng thành phố. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, hành giả tu tập năm quyền: tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền đều nương tựa vào giới, đều đặt nền tảng ở giới.”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như diễn viên nhào lộn có ý định biễu diễn nghề nghiệp thì cho người đào đất, cho dời đi sạn sỏi mảnh sành, cho làm bằng phẳng, rồi biễu diễn nghề nghiệp ở mặt đất mềm. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, hành giả tu tập năm quyền: tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền đều nương tựa vào giới, đều đặt nền tảng ở giới. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
Sau khi đặt nền tảng ở giới, người có trí tu tập tâm và tuệ.
Vị tỳ khưu tinh cần, chín chắn, vị ấy có thể gỡ ra mối rối này.
Đây là nền tảng ví như trái đất đối với các sinh mạng,
và đây là gốc của sự phát triển các điều tốt đẹp,
và đây là phần đầu ở lời dạy của tất cả các đấng Chiến Thắng,
chính là giới uẩn thuộc về giới bổn Pātimokkha cao quý.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Rājā āha ‘‘bhante nāgasena, yaṃ panetaṃ brūsi ‘aññehi ca kusalehi dhammehī’ti, katame te kusalā dhammā’’ti? ‘‘Sīlaṃ, mahārāja, saddhā vīriyaṃ sati samādhi, ime te kusalā dhammā’’ti. ‘‘Kiṃlakkhaṇaṃ, bhante, sīla’’nti? ‘‘Patiṭṭhānalakkhaṇaṃ, mahārāja, sīlaṃ sabbesaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ, indriyabalabojjhaṅgamaggaṅgasatipaṭṭhānasammappadhānaiddhipādajhānavimokkhasa- mādhisamāpattīnaṃ sīlaṃ patiṭṭhaṃ, sīle patiṭṭhito kho, mahārāja, yogāvacaro sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya pañcindriyāni bhāveti saddhindriyaṃ vīriyindriyaṃ satindriyaṃ samādhindriyaṃ paññindriyanti, sabbe kusalā dhammā na parihāyantī’’ti. ‘‘Opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, ye keci bījagāmabhūtagāmā vuḍḍhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjanti, sabbe te pathaviṃ nissāya pathaviyaṃ patiṭṭhāya vuḍḍhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjanti. Evameva kho, mahārāja, yogāvacaro sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya pañcindriyāni bhāveti saddhindriyaṃ vīriyindriyaṃ satindriyaṃ samādhindriyaṃ paññindriya’’nti.
9. The king said: “Venerable Nāgasena, when you say, ‘and by other wholesome qualities,’ what are those wholesome qualities?” “Morality, great king, faith, energy, mindfulness, and concentration—these are those wholesome qualities.” “What, venerable sir, is the characteristic of morality?” “The characteristic of morality, great king, is that of being a foundation. Morality is the foundation for all wholesome qualities: for the faculties, the powers, the factors of enlightenment, the path factors, the foundations of mindfulness, the right strivings, the bases of power, the meditative absorptions, the liberations, the concentrations, and the attainments. Established in morality, great king, a practitioner, relying on morality and grounded in morality, develops the five faculties: the faculty of faith, the faculty of energy, the faculty of mindfulness, the faculty of concentration, and the faculty of wisdom; and all wholesome qualities do not decline.” “Provide an illustration.” “Just as, great king, whatever seed-kinds and plant-kinds achieve growth, increase, and abundance, they all do so by relying on the earth and being established on the earth. In the same way, great king, a practitioner, relying on morality and grounded in morality, develops the five faculties: the faculty of faith, the faculty of energy, the faculty of mindfulness, the faculty of concentration, and the faculty of wisdom.”
9. Nhà vua hỏi: “Bạch Đại đức Nāgasena, ngài đã nói ‘và nhờ các thiện pháp khác’, vậy các thiện pháp ấy là gì?” “Tâu Đại vương, đó là giới, tín, tấn, niệm, và định; đó là các thiện pháp.” “Bạch Đại đức, giới có đặc tính gì?” “Tâu Đại vương, giới có đặc tính là nền tảng cho tất cả các thiện pháp. Giới là nền tảng của các pháp như quyền, lực, giác chi, đạo chi, niệm xứ, chánh cần, như ý túc, thiền, giải thoát, định, và chứng đắc. Tâu Đại vương, vị hành giả an trú trong giới, nương vào giới, đứng vững trên giới, tu tập năm quyền: tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, và tuệ quyền. Tất cả các thiện pháp sẽ không bị suy giảm.” “Xin ngài cho một ví dụ.” “Tâu Đại vương, cũng như tất cả các loại hạt giống và cây cối nào muốn tăng trưởng, phát triển, và lan rộng, tất cả chúng đều phải nương vào đất, đứng vững trên đất để tăng trưởng, phát triển, và lan rộng. Cũng vậy, tâu Đại vương, vị hành giả nương vào giới, đứng vững trên giới, tu tập năm quyền: tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, và tuệ quyền.”
‘‘Bhiyyo opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, ye keci balakaraṇīyā kammantā kayiranti, sabbe te pathaviṃ nissāya pathaviyaṃ patiṭṭhāya kayiranti. Evameva kho, mahārāja, yogāvacaro sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya pañcindriyāni bhāveti saddhindriyaṃ vīriyindriyaṃ satindriyaṃ samādhindriyaṃ paññindriya’’nti.
“Provide a further illustration.” “Just as, great king, whatever deeds requiring strength are performed, they are all performed by relying on the earth and being established on the earth. In the same way, great king, a practitioner, relying on morality and grounded in morality, develops the five faculties: the faculty of faith, the faculty of energy, the faculty of mindfulness, the faculty of concentration, and the faculty of wisdom.”
“Xin ngài cho thêm một ví dụ nữa.” “Tâu Đại vương, cũng như tất cả các công việc nào cần dùng sức lực để thực hiện, tất cả chúng đều được thực hiện bằng cách nương vào đất, đứng vững trên đất. Cũng vậy, tâu Đại vương, vị hành giả nương vào giới, đứng vững trên giới, tu tập năm quyền: tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, và tuệ quyền.”
‘‘Bhiyyo opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, nagaravaḍḍhakī nagaraṃ māpetukāmo paṭhamaṃ nagaraṭṭhānaṃ sodhāpetvā khāṇukaṇṭakaṃ apakaḍḍhāpetvā bhūmiṃ samaṃ kārāpetvā tato aparabhāge vīthicatukkasiṅghāṭakādiparicchedena vibhajitvā nagaraṃ māpeti. Evameva kho, mahārāja, yogāvacaro sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya pañcindriyāni bhāveti saddhindriyaṃ vīriyindriyaṃ satindriyaṃ samādhindriyaṃ paññindriya’’nti.
“Provide a further illustration.” “Just as, great king, a city architect, wishing to lay out a city, would first have the city site cleared, have the stumps and thorns removed, and have the ground leveled; then, afterwards, he would lay out the city by dividing it with streets, squares, and crossroads. In the same way, great king, a practitioner, relying on morality and grounded in morality, develops the five faculties: the faculty of faith, the faculty of energy, the faculty of mindfulness, the faculty of concentration, and the faculty of wisdom.”
“Xin ngài cho thêm một ví dụ nữa.” “Tâu Đại vương, cũng như người thợ xây thành, khi muốn xây một thành phố, trước tiên cho dọn dẹp khu đất xây thành, cho nhổ bỏ các gốc cây và gai góc, cho san bằng mặt đất, sau đó phân chia thành các đường phố, ngã tư, ngã ba, rồi mới xây dựng thành phố. Cũng vậy, tâu Đại vương, vị hành giả nương vào giới, đứng vững trên giới, tu tập năm quyền: tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, và tuệ quyền.”
‘‘Bhiyyo opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, laṅghako sippaṃ dassetukāmo pathaviṃ khaṇāpetvā sakkharakathalaṃ apakaḍḍhāpetvā bhūmiṃ samaṃ kārāpetvā mudukāya bhūmiyā sippaṃ dasseti. Evameva kho, mahārāja, yogāvacaro sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya pañcindriyāni bhāveti saddhindriyaṃ vīriyindriyaṃ satindriyaṃ samādhindriyaṃ paññindriyanti. Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā –
“Provide a further illustration.” “Just as, great king, an acrobat, wishing to display his skill, would have the ground dug, have the gravel and potsherds removed, and have the ground leveled, and then display his skill on the soft ground; in the same way, great king, a practitioner, relying on morality and grounded in morality, develops the five faculties: the faculty of faith, the faculty of energy, the faculty of mindfulness, the faculty of concentration, and the faculty of wisdom. And this, great king, was said by the Blessed One:
“Xin ngài hãy cho thêm một ví dụ nữa.” – “Tâu Đại vương, ví như người làm xiếc muốn biểu diễn kỹ năng của mình, cho đào đất, cho dọn dẹp sỏi đá và mảnh sành, cho làm bằng phẳng mặt đất, rồi biểu diễn kỹ năng trên nền đất mềm. Cũng vậy, tâu Đại vương, vị hành giả nương vào giới, an trú trong giới, tu tập năm quyền: tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, và tuệ quyền. Tâu Đại vương, điều này đã được Đức Thế Tôn nói đến:
‘‘‘Sīle patiṭṭhāya naro sapañño, cittaṃ paññañca bhāvayaṃ;
Ātāpī nipako bhikkhu, so imaṃ vijaṭaye jaṭa’nti †.
‘Established in morality, a wise person, developing mind and wisdom—an ardent, prudent bhikkhu—can disentangle this tangle.’
“‘Người có trí tuệ, an trú trong giới, tu tập tâm và tuệ; vị tỳ khưu nhiệt tâm, thận trọng, vị ấy có thể gỡ rối mớ bòng bong này.’”
‘‘‘Ayaṃ patiṭṭhā dharaṇīva pāṇinaṃ, idañca mūlaṃ kusalābhivuḍḍhiyā;
Mukhañcidaṃ sabbajinānusāsane, yo sīlakkhandho varapātimokkhiyo’’’ti.
‘This is the foundation, like the earth for living beings, and this is the root for the growth of the wholesome; this is the gateway in the teaching of all the Victors—this aggregate of morality, the excellent Pātimokkha.’
“‘Giới uẩn cao quý này, thuộc về Pātimokkha, là nền tảng như đất liền cho chúng sinh, là cội rễ cho sự tăng trưởng của các pháp thiện, và là cửa ngõ vào tất cả giáo huấn của các bậc Toàn Giác.’”
‘‘Kallosi, bhante nāgasenā’’ti.
You are skilled, Venerable Nāgasena.
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khéo léo.”
Sīlalakkhaṇapañho navamo.
The Ninth Question on the Characteristic of Morality.
Câu hỏi thứ chín về đặc tính của giới.