Bản dịch
MIL 3.1.10 — I. ĐẠI PHẨM
10. Sampasādanalakkhaṇasaddhāpañha
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, tín có gì là tướng trạng?”
“Tâu đại vương, tín có sự thanh lọc là tướng trạng, và có sự tiến vào là tướng trạng.”
“Thưa ngài, tín có sự thanh lọc là tướng trạng nghĩa là thế nào?”
“Tâu đại vương, tín trong khi được sanh lên thì loại trừ các pháp che lấp, làm cho tâm thoát khỏi các pháp che lấp, không bị bợn nhơ, trong sạch, không bị vẩn đục. Tâu đại vương, tín có sự thanh lọc là tướng trạng nghĩa là như vậy.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như đức chuyển luân vương di chuyển đường xa cùng với đạo quân gồm bốn binh chủng vượt qua vũng nước nhỏ; vũng nước nhỏ ấy bởi các con voi, bởi các con ngựa, bởi các cỗ xe, và bởi các bộ binh, bị khuấy động, bị vẩn đục, bị quậy lên, trở thành bùn lầy. Và khi đã vượt qua, đức chuyển luân vương ra lệnh cho mọi người rằng: ‘Này các khanh, hãy mang nước lại, trẫm sẽ uống nước.’ Và đức vua có viên ngọc ma-ni lọc nước. ‘Tâu bệ hạ, xin tuân lệnh.’ Những người ấy vâng lệnh đức chuyển luân vương và thả viên ngọc ma-ni lọc nước ấy vào trong nước. Ngay khi viên ngọc ấy được thả vào trong nước thì số lượng rong rêu biến mất, và bùn lắng xuống, nước trở nên không bị bợn nhơ, trong sạch, không bị vẩn đục, sau đó họ đã dâng nước uống đến đức chuyển luân vương: ‘Tâu bệ hạ, xin bệ hạ hãy uống nước.’
Tâu đại vương, nước là như thế nào thì tâm nên được xem xét như vậy. Những người ấy là như thế nào thì hành giả nên được xem xét như vậy. Số lượng rong rêu và bùn là như thế nào thì các phiền não nên được xem xét như vậy. Viên ngọc ma-ni lọc nước là như thế nào thì tín nên được xem xét như vậy. Giống như khi viên ngọc ma-ni lọc nước được thả vào trong nước thì số lượng rong rêu biến mất, và bùn lắng xuống, nước trở nên không bị bợn nhơ, trong sạch, không bị vẩn đục, tâu đại vương tương tợ y như thế, tín trong khi được sanh lên thì loại trừ các pháp che lấp, làm cho tâm thoát khỏi các pháp che lấp, không bị bợn nhơ, trong sạch, không bị vẩn đục. Tâu đại vương, tín có sự thanh lọc là tướng trạng nghĩa là như vậy.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Rājā āha ‘‘bhante nāgasena, kiṃlakkhaṇā saddhā’’ti? ‘‘Sampasādanalakkhaṇā ca, mahārāja, saddhā, sampakkhandanalakkhaṇā cā’’ti. ‘‘Kathaṃ, bhante, sampasādanalakkhaṇā saddhā’’ti? ‘‘Saddhā kho, mahārāja, uppajjamānā nīvaraṇe vikkhambheti, vinīvaraṇaṃ cittaṃ hoti acchaṃ vippasannaṃ anāvilaṃ. Evaṃ kho, mahārāja, sampasādanalakkhaṇā saddhā’’ti.
10. The king said: “Venerable Nāgasena, what is the characteristic of faith?” “Faith, great king, has the characteristic of causing serenity and the characteristic of leaping forward.” “How, venerable sir, does faith have the characteristic of causing serenity?” “When faith arises, great king, it suppresses the hindrances. With the hindrances suppressed, the mind becomes clear, serene, and untroubled. In this way, great king, faith has the characteristic of causing serenity.”
10. Vua hỏi: “Thưa ngài Nāgasena, đức tin có đặc tính gì?” – “Tâu Đại vương, đức tin có đặc tính làm trong sạch và đặc tính thôi thúc.” – “Thưa ngài, đức tin có đặc tính làm trong sạch như thế nào?” – “Tâu Đại vương, khi đức tin khởi lên, nó trấn áp các triền cái; khi tâm không còn triền cái, nó trở nên trong sáng, thanh tịnh, không vẩn đục. Tâu Đại vương, như vậy đó, đức tin có đặc tính làm trong sạch.”
‘‘Opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, rājā cakkavattī caturaṅginiyā senāya saddhiṃ addhānamaggappaṭipanno parittaṃ udakaṃ tareyya, taṃ udakaṃ hatthīhi ca assehi ca rathehi ca pattīhi ca khubhitaṃ bhaveyya āvilaṃ luḷitaṃ kalalībhūtaṃ. Uttiṇṇo ca rājā cakkavattī manusse āṇāpeyya ‘pānīyaṃ, bhaṇe, āharatha, pivissāmī’ti, rañño ca udakappasādako maṇi bhaveyya. ‘Evaṃ devā’ti kho te manussā rañño cakkavattissa paṭissutvā taṃ udakappasādakaṃ maṇiṃ udake pakkhipeyyuṃ, tasmiṃ udake pakkhittamatte saṅkhasevālapaṇakaṃ vigaccheyya, kaddamo ca sannisīdeyya, acchaṃ bhaveyya udakaṃ vippasannaṃ anāvilaṃ. Tato rañño cakkavattissa pānīyaṃ upanāmeyyuṃ ‘pivatu, deva, pānīya’nti.
“Provide an illustration.” “Suppose, great king, a wheel-turning monarch, traveling along a long road with his fourfold army, were to cross a small body of water. The water would be churned up by the elephants, horses, chariots, and foot-soldiers, and it would become turbid, stirred up, and muddy. Having crossed over, the wheel-turning monarch might command his men: ‘Sirs, bring me some drinking water; I wish to drink.’ Now, the king might have a water-clarifying gem. Replying, ‘Yes, your majesty,’ those men would drop that water-clarifying gem into the water. As soon as it was dropped in, the algae and moss would disappear, the mud would settle, and the water would become clear, serene, and untroubled. Then they would offer the drinking water to the wheel-turning monarch, saying: ‘Let your majesty drink the water.’”
“Xin ngài hãy cho một ví dụ.” – “Tâu Đại vương, ví như một vị vua chuyển luân cùng với bốn binh chủng lên đường xa, phải lội qua một dòng nước nhỏ. Dòng nước ấy bị khuấy động bởi voi, ngựa, xe, và bộ binh, trở nên vẩn đục, khuấy đảo, và sền sệt như bùn. Sau khi đã qua sông, vị vua chuyển luân ra lệnh cho các tùy tùng: ‘Này các khanh, hãy mang nước uống đến đây, trẫm muốn uống.’ Và nhà vua có một viên ngọc làm trong nước. ‘Vâng, tâu bệ hạ,’ những người đó vâng lời vua chuyển luân, rồi bỏ viên ngọc làm trong nước ấy vào trong nước. Ngay khi viên ngọc được bỏ vào nước, rong rêu và tảo liền tan biến, bùn đất lắng xuống, nước trở nên trong, thanh tịnh, không vẩn đục. Sau đó, họ dâng nước uống lên vua chuyển luân và nói: ‘Xin bệ hạ hãy uống nước.’”
‘‘Yathā, mahārāja, udakaṃ, evaṃ cittaṃ daṭṭhabbaṃ, yathā te manussā, evaṃ yogāvacaro daṭṭhabbo, yathā saṅkhasevālapaṇakaṃ kaddamo ca, evaṃ kilesā daṭṭhabbā. Yathā udakappasādako maṇi, evaṃ saddhā daṭṭhabbā, yathā udakappasādake maṇimhi udake pakkhittamatte saṅkhasevālapaṇakaṃ vigaccheyya, kaddamo ca sannisīdeyya, acchaṃ bhaveyya udakaṃ vippasannaṃ anāvilaṃ, evameva kho, mahārāja, saddhā uppajjamānā nīvaraṇe vikkhambheti, vinīvaraṇaṃ cittaṃ hoti acchaṃ vippasannaṃ anāvilaṃ, evaṃ kho, mahārāja, sampasādanalakkhaṇā saddhā’’ti.
“The water, great king, should be seen as the mind; those men should be seen as the practitioner; the algae, moss, and mud should be seen as the defilements; and the water-clarifying gem should be seen as faith. Just as when the water-clarifying gem is dropped into the water, the algae and moss disappear, the mud settles, and the water becomes clear, serene, and untroubled, in the same way, great king, when faith arises, it suppresses the hindrances. The mind becomes free from hindrances—clear, serene, and untroubled. In this way, great king, faith has the characteristic of causing serenity.”
“Tâu Đại vương, nước nên được xem như là tâm. Những người tùy tùng nên được xem như là vị hành giả. Rong rêu, tảo và bùn đất nên được xem như là các phiền não. Viên ngọc làm trong nước nên được xem như là đức tin. Tâu Đại vương, cũng như khi viên ngọc làm trong nước được bỏ vào nước, rong rêu và tảo liền tan biến, bùn đất lắng xuống, nước trở nên trong, thanh tịnh, không vẩn đục; cũng vậy, tâu Đại vương, khi đức tin khởi lên, nó trấn áp các triền cái; khi tâm không còn triền cái, nó trở nên trong sáng, thanh tịnh, không vẩn đục. Tâu Đại vương, như vậy đó, đức tin có đặc tính làm trong sạch.”
‘‘Kallosi, bhante nāgasenā’’ti.
“Well said, venerable Nāgasena!”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khéo léo.”
Sampasādanalakkhaṇasaddhāpañho dasamo.
The Tenth Question on the Characteristic of Faith as Causing Serenity.
Câu hỏi thứ mười về đặc tính làm trong sạch của đức tin.