Bản dịch
MIL 3.1.5 — I. ĐẠI PHẨM
5. Pabbajjapañha
Sau đó, đại đức Nāgasena đã đi đến nơi trú ngụ của đức vua Milinda, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi đã được sắp đặt. Khi ấy, đức vua Milinda đã tự tay làm hài lòng và toại ý đại đức Nāgasena và hội chúng với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm, rồi đã dâng mỗi một vị tỳ khưu mỗi một xấp vải đôi, đã dâng đại đức Nāgasena với ba y, rồi đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài Nāgasena, xin ngài hãy ngồi lại đây cùng với mười vị tỳ khưu, hãy cho các vị còn lại đi về.”
Sau đó, biết được đại đức Nāgasena đã thọ thực xong, bàn tay đã rời khỏi bình bát, đức vua Milinda đã cầm lấy một chiếc ghế thấp rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Milinda đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài Nāgasena, cuộc trao đổi trò chuyện là về điều gì?”
“Tâu đại vương, chúng ta là những người có sự mong cầu về mục đích, vậy hãy là cuộc trao đổi trò chuyện thuần về mục đích.”
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, sự xuất gia của ngài là với mục đích gì? Và mục đích tối hậu của ngài là gì?”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, làm cách nào để cho khổ này diệt, và khổ khác không thể sanh lên? Tâu đại vương, sự xuất gia của chúng tôi là với mục đích ấy. Còn mục đích tối hậu của chúng tôi là Niết Bàn không còn chấp thủ.”
“Thưa ngài Nāgasena, có phải tất cả đều xuất gia với mục đích này?”
“Tâu đại vương, không hẳn. Một số xuất gia với mục đích này. Một số xuất gia vì sợ hãi đức vua. Một số xuất gia vì sợ hãi kẻ đạo tặc. Một số xuất gia vì bị hành hạ bởi nợ nần. Một số xuất gia vì mục đích nuôi mạng. Những người nào xuất gia chân chánh, những người ấy xuất gia với mục đích này.”
“Thưa ngài, có phải ngài đã xuất gia với mục đích này?”
“Tâu đại vương, tôi đã xuất gia khi còn là đứa bé trai. Tôi không biết là ‘tôi xuất gia với mục đích này.’ Tuy nhiên, tôi đã khởi ý như vầy: ‘Các vị Sa-môn Thích tử này là các bậc trí. Các vị sẽ cho ta học tập.’ Tôi đây đã được học tập với họ, tôi biết và nhận thức rằng: ‘Sự xuất gia là với mục đích này.’”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Atha kho āyasmā nāgaseno yena milindassa rañño nivesanaṃ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho milindo rājā āyasmantaṃ nāgasenaṃ saparisaṃ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappetvā sampavāretvā ekamekaṃ bhikkhuṃ ekamekena dussayugena acchādetvā āyasmantaṃ nāgasenaṃ ticīvarena acchādetvā āyasmantaṃ nāgasenaṃ etadavoca ‘‘bhante nāgasena dasahi, bhikkhūhi saddhiṃ idha nisīdatha, avasesā gacchantū’’ti.
5. Then the Venerable Nāgasena approached King Milinda’s residence, and having approached, he sat down on the prepared seat. Then King Milinda, with his own hands, served the Venerable Nāgasena and his assembly with fine hard and soft foods until they were satisfied and indicated they had had enough. He then presented each monk with a pair of cloths, and the Venerable Nāgasena with the set of three robes. He then said to the Venerable Nāgasena, 'Venerable Nāgasena, please remain here with ten monks; the rest may go.'
5. Khi ấy, trưởng lão Nāgasena đi đến cung điện của vua Milinda. Sau khi đến, ngài ngồi vào chỗ đã được soạn sẵn. Bấy giờ, đức vua Milinda tự tay dâng cúng các món vật thực thượng vị, loại cứng và loại mềm, cho trưởng lão Nāgasena cùng tăng chúng cho đến khi các ngài hài lòng và tỏ ý đã đủ. Sau đó, đức vua cúng dường mỗi vị tỳ-khưu một cặp y, và cúng dường trưởng lão Nāgasena ba y. Rồi đức vua bạch với trưởng lão Nāgasena rằng: “Bạch ngài Nāgasena, xin ngài cùng với mười vị tỳ-khưu ở lại đây, các vị còn lại có thể ra về.”
Atha kho milindo rājā āyasmantaṃ nāgasenaṃ bhuttāviṃ onītapattapāṇiṃ viditvā aññataraṃ nīcaṃ āsanaṃ gahetvā ekamantaṃ nisīdi, ekamantaṃ nisinno kho milindo rājā āyasmantaṃ nāgasenaṃ etadavoca ‘‘bhante nāgasena, kimhi hoti kathāsallāpo’’ti? ‘‘Atthena mayaṃ, mahārāja, atthikā, atthe hotu kathāsallāpo’’ti.
Then King Milinda, knowing that the Venerable Nāgasena had finished his meal and had withdrawn his hand from the bowl, took a certain low seat and sat to one side. Seated to one side, King Milinda said to the Venerable Nāgasena: 'Venerable Nāgasena, in what shall our conversation consist?' 'Great king, we are seekers of what is beneficial; let our conversation be about what is beneficial.'
Khi ấy, đức vua Milinda, biết rằng trưởng lão Nāgasena đã dùng xong bữa và đã cất tay khỏi bát, liền lấy một chiếc ghế thấp hơn và ngồi xuống một bên. Ngồi sang một bên, đức vua Milinda bạch với trưởng lão Nāgasena rằng: “Bạch ngài Nāgasena, chúng ta sẽ đàm luận về điều gì?” “Tâu đại vương, chúng tôi là những người mong cầu lợi ích. Mong rằng cuộc đàm luận sẽ xoay quanh lợi ích.”
Rājā āha ‘‘kimatthiyā, bhante nāgasena, tumhākaṃ pabbajjā, ko ca tumhākaṃ paramattho’’ti. Thero āha ‘‘kinti, mahārāja, idaṃ dukkhaṃ nirujjheyya, aññañca dukkhaṃ na uppajjeyyāti. Etadatthā, mahārāja, amhākaṃ pabbajjā, anupādā parinibbānaṃ kho pana amhākaṃ paramattho’’ti.
The king said: 'For what purpose, Venerable Nāgasena, is your going forth, and what is your highest goal?' The Elder replied: 'Our going forth, great king, is for this purpose: "How might this suffering cease, and other suffering not arise?" And our highest goal is the final Nibbāna without clinging.'
Đức vua hỏi: “Bạch ngài Nāgasena, sự xuất gia của các ngài là vì mục đích gì? Và mục đích tối hậu của các ngài là gì?” Trưởng lão đáp: “Tâu đại vương, sự xuất gia của chúng tôi là vì mục đích này: ‘Làm thế nào để khổ này được đoạn diệt, và khổ khác không sinh khởi?’ Tâu đại vương, đó là mục đích xuất gia của chúng tôi. Còn mục đích tối hậu của chúng tôi chính là Niết-bàn không còn chấp thủ.”
‘‘Kiṃ pana, bhante nāgasena, sabbe etadatthāya pabbajantī’’ti? ‘‘Na hi, mahārāja, keci etadatthāya pabbajanti, keci rājābhinītā † pabbajanti, keci corābhinītā † pabbajanti, keci iṇaṭṭā pabbajanti, keci ājīvikatthāya pabbajanti, ye pana sammā pabbajanti, te etadatthāya pabbajantī’’ti.
“But, Venerable Nāgasena, do all go forth for this purpose?” “No, great king. Some do not go forth for this purpose. Some go forth having been harassed by kings, some having been harassed by thieves, some being oppressed by debt, and some for the sake of a livelihood. But those who go forth properly, they go forth for this purpose.”
“Bạch ngài Nāgasena, có phải tất cả mọi người đều xuất gia vì mục đích ấy không?” “Tâu đại vương, không phải vậy. Một số người không xuất gia vì mục đích ấy. Có người xuất gia vì bị vua chúa áp bức, có người xuất gia vì bị trộm cướp áp bức, có người xuất gia vì nợ nần, có người xuất gia vì mưu sinh. Còn những ai xuất gia một cách chân chính, họ xuất gia vì mục đích ấy.”
‘‘Tvaṃ pana, bhante, etadatthāya pabbajitosī’’ti? ‘‘Ahaṃ kho, mahārāja, daharako santo pabbajito, na jānāmi imassa nāmatthāya pabbajāmīti, api ca kho me evaṃ ahosi ‘paṇḍitā ime samaṇā sakyaputtiyā, te maṃ sikkhāpessantī’ti, svāhaṃ tehi sikkhāpito jānāmi ca passāmi ca ‘imassa nāmatthāya pabbajjā’’’ti.
“And you, venerable sir, did you go forth for this purpose?” “Great king, I went forth when I was young; I did not know, ‘I am going forth for such-and-such a purpose.’ However, it occurred to me: ‘These recluses, the Sakyan sons, are wise; they will teach me.’ Having been taught by them, I now know and see that the going forth is for this purpose.”
“Bạch Đại đức, có phải ngài xuất gia vì mục đích ấy không?” “Tâu Đại vương, hạ thần xuất gia khi còn trẻ tuổi, hạ thần không biết rằng mình xuất gia vì mục đích này. Tuy nhiên, hạ thần đã có ý nghĩ như vầy: ‘Các vị Sa-môn Thích tử này là bậc hiền trí, các vị ấy sẽ dạy dỗ cho ta’. Do được các vị ấy dạy dỗ, hạ thần biết và thấy rằng: ‘Sự xuất gia là vì mục đích này’.”