Bản dịch
MIL 3.1.4 — I. ĐẠI PHẨM
4. Anantakāyapañha
Khi ấy, đức vua Milinda đã khởi ý điều này: “Vị tỳ khưu này quả là sáng trí, có năng lực để trò chuyện với ta, và ta có nhiều sự việc cần phải hỏi. Cho đến khi các sự việc ấy còn chưa được hỏi xong thì mặt trời sẽ lặn, có lẽ ta nên trò chuyện vào ngày mai ở nội cung?”
Khi ấy, đức vua đã nói với Devamantiya điều này: “Này Devamantiya, như vậy thì khanh có thể thông báo cho ngài đại đức rằng: ‘Ngày mai sẽ có cuộc trò chuyện với đức vua ở nội cung.’” Nói xong điều này, đức vua Milinda đã rời chỗ ngồi đứng dậy, chào hỏi Nāgasena, leo lên ngựa, rồi ra đi trong khi còn đang lẩm nhẩm “Nāgasena, Nāgasena.”
Sau đó, Devamantiya đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài, đức vua Milinda đã nói như vầy: ‘Ngày mai sẽ có cuộc trò chuyện ở nội cung.’” “Thật tốt lắm.” Vị trưởng lão đã tán thành.
Sau đó, vào cuối đêm ấy Devamantiya, Anantakāya, Maṅkura, và Sabbadinna đã đi đến gặp đức vua Milinda, sau khi đến đã nói với đức vua Milinda điều này: “Tâu đại vương, có phải ngài đại đức Nāgasena sẽ đến?”
“Đúng vậy, hãy để ngài đến.”
“Hãy để ngài đến cùng với bao nhiêu vị tỳ khưu?”
“Ngài muốn bao nhiêu vị tỳ khưu thì hãy để ngài đến cùng với bấy nhiêu vị tỳ khưu.”
Khi ấy, Sabbadinna đã nói rằng: “Tâu đại vương, hãy để ngài đến cùng với mười vị tỳ khưu.” Đến lần thứ nhì, đức vua Milinda đã nói rằng: “Ngài muốn bao nhiêu vị tỳ khưu thì hãy để ngài đến cùng với bấy nhiêu vị tỳ khưu.” Đến lần thứ nhì, Sabbadinna đã nói rằng: “Tâu đại vương, hãy để ngài đến cùng với mười vị tỳ khưu.” Đến lần thứ ba, đức vua Milinda đã nói rằng: “Ngài muốn bao nhiêu vị tỳ khưu thì hãy để ngài đến cùng với bấy nhiêu vị tỳ khưu.” Đến lần thứ ba, Sabbadinna đã nói rằng: “Tâu đại vương, hãy để ngài đến cùng với mười vị tỳ khưu.”
“Tất cả việc tôn vinh này đã được chuẩn bị nên Trẫm nói rằng: ‘Ngài muốn bao nhiêu vị tỳ khưu thì hãy để ngài đến cùng với bấy nhiêu vị tỳ khưu.’ Này các khanh, Sabbadinna này lại nói khác đi. Chẳng lẽ chúng ta không có khả năng để dâng cơm đến các tỳ khưu?”
Khi được nói như vậy, Sabbadinna đã xấu hổ. Sau đó, Devamantiya, Anantakāya, và Maṅkura đã đi đến gặp đại đức Nāgasena, sau khi đến đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài, đức vua Milinda đã nói như vầy: ‘Ngài muốn bao nhiêu vị tỳ khưu thì hãy để ngài đến cùng với bấy nhiêu vị tỳ khưu.’”
Sau đó, đại đức Nāgasena vào buổi sáng sớm đã mặc y cầm lấy bình bát và y rồi cùng với tám mươi ngàn vị tỳ khưu đã đi vào thành Sāgala. Lúc ấy, Anantakāya khi đang đi gần đại đức Nāgasena đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài Nāgasena, điều mà tôi gọi là ‘Nāgasena,’ ở đây cái gì là Nāgasena?”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Ngươi suy nghĩ xem ‘ở đây ai là Nāgasena?’”
“Thưa ngài, sự sống, tức là gió ở bên trong, đi vào rồi đi ra, tôi nghĩ rằng ‘cái ấy là Nāgasena’.”
“Vậy nếu gió ấy đi ra rồi không đi vào, hoặc đi vào rồi không đi ra, thì người ấy còn sống không?”
“Thưa ngài, không.”
“Những người thổi tù và vỏ ốc, khi thổi tù và vỏ ốc thì gió của họ có đi vào lại không?”
“Thưa ngài, không.”
“Những người thổi sáo, khi thổi sáo thì gió của họ có đi vào lại không?”
“Thưa ngài, không.”
“Những người thổi tù và sừng trâu, khi thổi tù và sừng trâu thì gió của họ có đi vào lại không?”
“Thưa ngài, không.”
“Thế thì tại sao họ lại không chết đi?”
“Thưa ngài, tôi không có khả năng để trò chuyện với nhà diễn thuyết như ngài. Thưa ngài, lành thay xin ngài nói về ý nghĩa.”
“Cái ấy không phải là sự sống. Hơi thở vào hơi thở ra, những cái này gọi là thân hành.”
Vị trưởng lão đã thuyết giảng về Vi Diệu Pháp, rồi Anantakāya đã tuyên bố mình trở thành người cận sự nam.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Atha kho devamantiyo āyasmantaṃ nāgasenaṃ etadavoca ‘‘rājā, bhante, milindo evamāha ‘sve antepure raññā saddhiṃ sallāpo bhavissatī’’’ti. ‘‘Suṭṭhū’’ti thero abbhānumodi. Atha kho tassā rattiyā accayena devamantiyo ca anantakāyo ca maṅkuro ca sabbadinno ca yena milindo rājā tenupasaṅkamiṃsu, upasaṅkamitvā rājānaṃ milindaṃ etadavocuṃ ‘‘āgacchatu, mahārāja, bhadanto nāgaseno’’ti? ‘‘Āma āgacchatū’’ti. ‘‘Kittakehi bhikkhūhi saddhiṃ āgacchatū’’ti? ‘‘Yattake bhikkhū icchati, tattakehi bhikkhūhi saddhiṃ āgacchatū’’ti.
Then Devamantiya said to the Venerable Nāgasena, 'Venerable sir, King Milinda says this: "Tomorrow there will be a conversation with the king in the inner palace."' 'Very well,' the Elder assented. Then, after that night had passed, Devamantiya, Anantakāya, Maṅkura, and Sabbadinna approached King Milinda. Having approached, they said to King Milinda, 'Great king, may the venerable Nāgasena come?' 'Yes, let him come.' 'With how many monks should he come?' 'Let him come with as many monks as he wishes.'
Khi ấy, quan đại thần Devamantiyo bạch với trưởng lão Nāgasena rằng: “Bạch ngài, đức vua Milinda có phán rằng: ‘Ngày mai, trong cung sẽ có buổi đàm luận cùng với đức vua’.” Trưởng lão hoan hỷ đáp: “Lành thay”. Rồi sau khi đêm ấy trôi qua, các quan đại thần Devamantiyo, Anantakāya, Maṅkura, và Sabbadinna cùng đi đến yết kiến đức vua Milinda. Sau khi đến, họ tâu với đức vua Milinda rằng: “Tâu đại vương, ngài Nāgasena có nên đến không ạ?” “Phải, hãy để ngài ấy đến.” “Ngài ấy nên đến cùng với bao nhiêu vị tỳ-khưu?” “Ngài ấy muốn bao nhiêu vị tỳ-khưu thì hãy đến cùng với bấy nhiêu vị.”
Atha kho sabbadinno āha ‘‘āgacchatu, mahārāja, dasahi bhikkhūhi saddhi’’nti, dutiyampi kho rājā āha ‘‘yattake bhikkhū icchati, tattakehi bhikkhūhi saddhiṃ āgacchatū’’ti. Dutiyampi kho sabbadinno āha ‘‘āgacchatu, mahārāja, dasahi bhikkhūhi saddhi’’nti. Tatiyampi kho rājā āha ‘‘yattake bhikkhū icchati, tattakehi bhikkhūhi saddhiṃ āgacchatū’’ti. Tatiyampi kho sabbadinno āha ‘‘āgacchatu, mahārāja, dasahi bhikkhūhi saddhi’’nti. ‘‘Sabbo panāyaṃ sakkāro paṭiyādito, ahaṃ bhaṇāmi ‘yattake bhikkhū icchati, tattakehi bhikkhūhi saddhiṃ āgacchatū’ti. Ayaṃ, bhaṇe sabbadinno, aññathā bhaṇati, kiṃ nu mayaṃ nappaṭibalā bhikkhūnaṃ bhojanaṃ dātu’’nti? Evaṃ vutte sabbadinno maṅku ahosi.
Then Sabbadinna said, 'Great king, let him come with ten monks.' For a second time, the king said, 'Let him come with as many monks as he wishes.' For a second time, Sabbadinna said, 'Great king, let him come with ten monks.' For a third time, the king said, 'Let him come with as many monks as he wishes.' For a third time, Sabbadinna said, 'Great king, let him come with ten monks.' The king then said, 'All these offerings have been prepared. I say, "Let him come with as many monks as he wishes." But this Sabbadinna, sirs, speaks otherwise. What, are we not able to provide food for the monks?' When this was said, Sabbadinna was disconcerted.
Khi ấy, quan Sabbadinna tâu: “Tâu đại vương, xin ngài ấy đến cùng với mười vị tỳ-khưu.” Lần thứ hai, đức vua lại phán: “Ngài ấy muốn bao nhiêu vị tỳ-khưu thì hãy đến cùng với bấy nhiêu vị.” Lần thứ hai, quan Sabbadinna lại tâu: “Tâu đại vương, xin ngài ấy đến cùng với mười vị tỳ-khưu.” Lần thứ ba, đức vua lại phán: “Ngài ấy muốn bao nhiêu vị tỳ-khưu thì hãy đến cùng với bấy nhiêu vị.” Lần thứ ba, quan Sabbadinna lại tâu: “Tâu đại vương, xin ngài ấy đến cùng với mười vị tỳ-khưu.” “Này, mọi sự cúng dường đã được chuẩn bị sẵn sàng, ta đã phán rằng: ‘Ngài ấy muốn bao nhiêu vị tỳ-khưu thì hãy đến cùng với bấy nhiêu vị.’ Này các khanh, Sabbadinna này lại nói khác đi. Chẳng lẽ chúng ta không đủ khả năng cúng dường vật thực cho các vị tỳ-khưu hay sao?” Khi được phán như vậy, quan Sabbadinna cảm thấy bối rối.
Atha kho devamantiyo ca anantakāyo ca maṅkuro ca yenāyasmā nāgaseno tenupasaṅkamiṃsu, upasaṅkamitvā āyasmantaṃ nāgasenaṃ etadavocuṃ ‘‘rājā, bhante, milindo evamāha ‘yattake bhikkhū icchati, tattakehi bhikkhūhi saddhiṃ āgacchatū’’’ti. Atha kho āyasmā nāgaseno pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya asītiyā bhikkhusahassehi saddhiṃ sāgalaṃ pāvisi.
Then Devamantiya, Anantakāya, and Maṅkura approached the Venerable Nāgasena. Having approached, they said to the Venerable Nāgasena, 'Venerable sir, King Milinda says this: "Let him come with as many monks as he wishes."' Then the Venerable Nāgasena, having dressed in the forenoon and taking his bowl and outer robe, entered Sāgala with eighty thousand monks.
Khi ấy, các quan đại thần Devamantiyo, Anantakāya, và Maṅkura cùng đi đến chỗ trưởng lão Nāgasena. Sau khi đến, họ bạch với trưởng lão Nāgasena rằng: “Bạch ngài, đức vua Milinda có phán rằng: ‘Ngài ấy muốn bao nhiêu vị tỳ-khưu thì hãy đến cùng với bấy nhiêu vị’.” Bấy giờ, vào buổi sáng, trưởng lão Nāgasena đắp y, mang y bát, cùng với tám mươi nghìn vị tỳ-khưu tiến vào thành Sāgala.
Atha kho anantakāyo āyasmantaṃ nāgasenaṃ nissāya gacchanto āyasmantaṃ nāgasenaṃ etadavoca ‘‘bhante nāgasena, yaṃ panetaṃ brūsi ‘nāgaseno’ti, katamo ettha, nāgaseno’’ti? Thero āha ‘‘ko panettha ‘nāgaseno’ti maññasī’’ti? ‘‘Yo so, bhante, abbhantare vāto jīvo pavisati ca nikkhamati ca, so ‘nāgaseno’ti maññāmī’’ti. ‘‘Yadi paneso vāto nikkhamitvā nappaviseyya, pavisitvā na nikkhameyya, jīveyya nu kho so puriso’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Ye panime saṅkhadhamakā saṅkhaṃ dhamenti, tesaṃ vāto puna pavisatī’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Ye panime vaṃsadhamakā vaṃsaṃ dhamenti, tesaṃ vāto puna pavisatī’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Ye panime siṅgadhamakā siṅgaṃ dhamenti, tesaṃ vāto puna pavisatī’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Atha kissa pana tena na marantī’’ti. ‘‘Nāhaṃ paṭibalo tayā vādinā saddhiṃ sallapituṃ, sādhu, bhante, atthaṃ jappehī’’ti. ‘‘Neso jīvo, assāsapassāsā nāmete kāyasaṅkhārā’’ti thero abhidhammakathaṃ kathesi. Atha anantakāyo upāsakattaṃ paṭivedesīti.
Then, as Anantakāya was walking in dependence on the Venerable Nāgasena, he said to the Venerable Nāgasena: 'Venerable Nāgasena, regarding this which is spoken of as "Nāgasena," what herein is Nāgasena?' The Elder said: 'What do you yourself consider "Nāgasena" to be?' 'Venerable sir, that inner wind, the life-principle which enters and exits, that I consider to be "Nāgasena."' 'But if this wind, having gone out, should not re-enter, or having entered, should not go out, would that person live?' 'No, venerable sir.' 'And for those conch-blowers who blow the conch, does their wind re-enter?' 'No, venerable sir.' 'And for those flute-players who play the flute, does their wind re-enter?' 'No, venerable sir.' 'And for those horn-blowers who blow the horn, does their wind re-enter?' 'No, venerable sir.' 'Then why do they not die from that?' 'I am not able to converse with you, a debater such as yourself. It is well, venerable sir, if you would explain the meaning.' 'That is not the life-principle; these are the in-breaths and out-breaths, which are bodily formations.' Thus the Elder gave a discourse from the Abhidhamma. Then Anantakāya declared himself a lay follower.
Khi ấy, quan Anantakāya đi theo hầu trưởng lão Nāgasena, bạch với trưởng lão Nāgasena rằng: “Bạch ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là ‘Nāgasena’, vậy ở đây, cái gì là Nāgasena?” Trưởng lão đáp: “Vậy theo ông, ở đây cái gì là ‘Nāgasena’?” “Bạch ngài, con cho rằng ngọn gió sinh mạng ở bên trong, đi vào và đi ra, đó chính là ‘Nāgasena’.” “Nếu ngọn gió này đi ra mà không đi vào, hoặc đi vào mà không đi ra, thì người ấy có thể sống được không?” “Bạch ngài, không ạ.” “Vậy những người thổi ốc tù và, khi họ thổi ốc, hơi gió của họ có quay trở lại không?” “Bạch ngài, không ạ.” “Vậy những người thổi sáo, khi họ thổi sáo, hơi gió của họ có quay trở lại không?” “Bạch ngài, không ạ.” “Vậy những người thổi kèn sừng, khi họ thổi kèn, hơi gió của họ có quay trở lại không?” “Bạch ngài, không ạ.” “Vậy tại sao họ không chết?” “Con không đủ khả năng để đàm luận với một người có tài biện luận như ngài. Bạch ngài, xin ngài hãy giảng giải ý nghĩa.” “Đó không phải là sinh mạng. Hơi thở vào và hơi thở ra này được gọi là các hành của thân.” Rồi trưởng lão thuyết một bài pháp Vi Diệu Pháp. Sau đó, quan Anantakāya tuyên bố mình là một người cận sự nam.
Anantakāyapañho catuttho.
The Fourth Question, of Anantakāya.
Câu hỏi của Anantakāya, phần thứ tư.