Bản dịch
MIL 3.1.15 — I. ĐẠI PHẨM
15. Paññālakkhaṇapañha
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, tuệ có gì là tướng trạng?”
“Tâu đại vương, quả là đã được tôi nói đến trước đây: ‘Tuệ có sự cắt đứt là tướng trạng.’ Và tuệ còn có sự soi sáng là tướng trạng.”
“Thưa ngài, tuệ có sự soi sáng là tướng trạng nghĩa là thế nào?”
“Tâu đại vương, tuệ trong khi được sanh lên thì xua tan bóng tối vô minh, tạo ra ánh sáng ngời của minh, phô bày ánh sáng của trí, làm cho các chân lý cao thượng được hiển hiện. Nhờ đó, hành giả nhìn thấy với tuệ chân chánh rằng: ‘là vô thường,’ hoặc ‘là khổ não,’ hoặc ‘là vô ngã’.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như người đàn ông đem cây đèn vào trong ngôi nhà tối tăm, cây đèn khi đã được đem vào thì xua tan bóng tối, tạo ra ánh sáng ngời, phô bày ánh sáng, làm cho các vật thể được hiển hiện. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, tuệ trong khi được sanh lên thì xua tan bóng tối vô minh, tạo ra ánh sáng ngời của minh, phô bày ánh sáng của trí, làm cho các chân lý cao thượng được hiển hiện. Nhờ đó, hành giả nhìn thấy với tuệ chân chánh rằng: ‘là vô thường,’ hoặc ‘là khổ não,’ hoặc ‘là vô ngã.’ Tâu đại vương, tuệ có sự soi sáng là tướng trạng nghĩa là như vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
15. Rājā āha ‘‘bhante nāgasena, kiṃlakkhaṇā paññā’’ti? ‘‘Pubbeva kho, mahārāja, mayā vuttaṃ ‘chedanalakkhaṇā paññā’ti, api ca obhāsanalakkhaṇā paññā’’ti. ‘‘Kathaṃ, bhante, obhāsanalakkhaṇā paññā’’ti? ‘‘Paññā, mahārāja, uppajjamānā avijjandhakāraṃ vidhameti, vijjobhāsaṃ janeti, ñāṇālokaṃ vidaṃseti, ariyasaccāni pākaṭāni karoti. Tato yogāvacaro ‘anicca’nti vā ‘dukkha’nti vā ‘anattā’ti vā sammappaññāya passatī’’ti.
The king said, “Venerable Nāgasena, what is the characteristic of wisdom?” “Great king, I have previously said that ‘the characteristic of wisdom is severing,’ and yet it also has the characteristic of illumination.” “How, venerable sir, does wisdom have the characteristic of illumination?” “Great king, when wisdom arises, it dispels the darkness of ignorance, generates the light of true knowledge, reveals the light of insight, and makes the noble truths manifest. Then, the yogi sees with right wisdom: ‘impermanent,’ or ‘suffering,’ or ‘non-self.’”
15. Vua hỏi: – Thưa ngài Nāgasena, tuệ có đặc tính gì? – Tâu Đại vương, trước đây tôi đã nói ‘tuệ có đặc tính cắt đứt’, và tuệ cũng có đặc tính làm sáng tỏ. – Thưa ngài, tuệ có đặc tính làm sáng tỏ như thế nào? – Tâu Đại vương, khi tuệ sanh khởi, nó xua tan bóng tối vô minh, làm phát sanh ánh sáng minh kiến, làm hiển lộ ánh sáng trí tuệ, làm cho các Thánh đế trở nên rõ ràng. Do đó, hành giả thấy bằng chánh tuệ rằng ‘là vô thường’, ‘là khổ’, hoặc ‘là vô ngã’.”
‘‘Opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, puriso andhakāre gehe padīpaṃ paveseyya, paviṭṭho padīpo andhakāraṃ vidhameti, obhāsaṃ janeti, ālokaṃ vidaṃseti, rūpāni pākaṭāni karoti. Evameva kho, mahārāja, paññā uppajjamānā avijjandhakāraṃ vidhameti, vijjobhāsaṃ janeti, ñāṇālokaṃ vidaṃseti, ariyasaccāni pākaṭāni karoti. Tato yogāvacaro ‘anicca’nti vā ‘dukkha’nti vā ‘anattā’ti vā sammappaññāya passati. Evaṃ kho, mahārāja, obhāsanalakkhaṇā paññā’’ti.
15. “Give me a simile.” “Just as, great king, if a man were to bring a lamp into a dark house, the lamp, once brought in, would dispel the darkness, generate radiance, reveal the light, and make forms manifest. In the very same way, great king, when wisdom arises, it dispels the darkness of ignorance, generates the light of true knowledge, reveals the light of insight, and makes the noble truths manifest. Then, the yogi sees with right wisdom: ‘impermanent,’ or ‘suffering,’ or ‘non-self.’ Thus, great king, wisdom has the characteristic of illumination.”
– Xin ngài hãy cho một ví dụ. – Tâu Đại vương, ví như một người mang đèn vào trong nhà tối, ngọn đèn được mang vào sẽ xua tan bóng tối, làm phát sanh ánh sáng, làm hiển lộ sự sáng, làm cho các hình sắc trở nên rõ ràng. Cũng vậy, tâu Đại vương, khi tuệ sanh khởi, nó xua tan bóng tối vô minh, làm phát sanh ánh sáng minh kiến, làm hiển lộ ánh sáng trí tuệ, làm cho các Thánh đế trở nên rõ ràng. Do đó, hành giả thấy bằng chánh tuệ rằng ‘là vô thường’, ‘là khổ’, hoặc ‘là vô ngã’. Như vậy, tâu Đại vương, tuệ có đặc tính làm sáng tỏ.”
‘‘Kallosi, bhante nāgasenā’’ti.
15. “Excellent, venerable Nāgasena.”
– Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khéo léo.
Paññālakkhaṇapañho pannarasamo.
The Fifteenth Question on the Characteristic of Wisdom.
Câu hỏi về đặc tính của tuệ, thứ mười lăm.