Bản dịch
MIL 3.1.11 — I. ĐẠI PHẨM
11. Sampakkhandanalakkhaṇasaddhāpañha
“Thưa ngài, tín có sự tiến vào là tướng trạng nghĩa là thế nào?”
“Tâu đại vương, giống như sau khi nhìn thấy tâm của những người khác đã được giải thoát, vị hành giả tiến vào quả Nhập Lưu, hoặc quả Nhất Lai, hoặc quả Bất Lai, hoặc phẩm vị A-la-hán, thực hành việc tu luyện để đạt đến pháp chưa được đạt đến, để chứng đạt pháp chưa được chứng đạt, để chứng đắc pháp chưa được chứng đắc. Tâu đại vương, tín có sự tiến vào là tướng trạng nghĩa là như vậy.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như đám mây lớn ở phía trên núi đổ mưa xuống, nước mưa ấy trong khi di chuyển xuống chỗ thấp, sau khi làm đầy các rãnh, các khe, các suối của ngọn núi, thì có thể làm đầy con sông; con sông trôi chảy ngập tràn hai con đê. Rồi có đám đông người đi đến, trong khi không biết mức độ cạn hay sâu của con sông, sợ hãi, ngần ngại, đứng ở bờ sông. Rồi một người nam đi đến, trong khi nhận biết thể lực và sức mạnh của mình đã buộc chặt chiếc khố rồi tiến vào và vượt qua. Sau khi nhìn thấy người ấy đã vượt qua được, đám đông người cũng vượt qua.
Tâu đại vương, giống như sau khi nhìn thấy tâm của những người khác đã được giải thoát, vị hành giả tiến vào quả Nhập Lưu, hoặc quả Nhất Lai, hoặc quả Bất Lai, hoặc phẩm vị A-la-hán, thực hành việc tu luyện để đạt đến pháp chưa được đạt đến, để chứng đạt pháp chưa được chứng đạt, để chứng đắc pháp chưa được chứng đắc. Tâu đại vương, tín có sự tiến vào là tướng trạng nghĩa là như vậy. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến ở Tương Ưng Bộ quý báu:
Vượt qua cơn lũ nhờ vào tín, vượt qua biển cả nhờ vào sự không xao lãng, vượt lên khổ đau nhờ vào sự tinh tấn, được hoàn toàn trong sạch nhờ vào tuệ.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
11. ‘‘Kathaṃ, bhante, sampakkhandanalakkhaṇā saddhā’’ti,? ‘‘Yathā, mahārāja, yogāvacaro aññesaṃ cittaṃ vimuttaṃ passitvā sotāpattiphale vā sakadāgāmiphale vā anāgāmiphale vā arahatte vā sampakkhandati yogaṃ karoti appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya. Evaṃ kho, mahārāja, sampakkhandanalakkhaṇā saddhā’’ti.
11. “How, venerable sir, does faith have the characteristic of plunging in?” “Just as, great king, a practitioner, seeing that the minds of others are liberated—whether in the fruit of stream-entry, once-returning, non-returning, or arahantship—plunges in, making an effort for the attainment of the unattained, for the realization of the unrealized, for the direct experience of the unexperienced. Thus, great king, faith has the characteristic of plunging in.”
11. “Thưa ngài, đức tin có đặc tính thôi thúc như thế nào?” – “Tâu Đại vương, vị hành giả, khi thấy tâm của người khác được giải thoát, liền thôi thúc hướng đến quả Dự lưu, hoặc quả Nhất lai, hoặc quả Bất lai, hoặc quả A-la-hán, và nỗ lực để đạt được điều chưa đạt, để chứng đắc điều chưa chứng đắc, để thực chứng điều chưa thực chứng. Tâu Đại vương, như vậy đó, đức tin có đặc tính thôi thúc.”
‘‘Opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, uparipabbate mahāmegho abhippavasseyya, taṃ udakaṃ yathāninnaṃ pavattamānaṃ pabbatakandarapadarasākhā paripūretvā nadiṃ paripūreyya, sā ubhato kūlāni saṃvissandantī gaccheyya, atha mahājanakāyo āgantvā tassā nadiyā uttānataṃ vā gambhīrataṃ vā ajānanto bhīto vitthato tīre tiṭṭheyya, athaññataro puriso āgantvā attano thāmañca balañca sampassanto gāḷhaṃ kacchaṃ bandhitvā pakkhanditvā tareyya, taṃ tiṇṇaṃ passitvā mahājanakāyopi tareyya. Evameva kho, mahārāja, yogāvacaro aññesaṃ cittaṃ vimuttaṃ passitvā sotāpattiphale vā sakadāgāmiphale vā anāgāmiphale vā arahatte vā sampakkhandati yogaṃ karoti appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya. Evaṃ kho, mahārāja, sampakkhandanalakkhaṇā saddhāti. Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā saṃyuttanikāyavare –
11. “Provide an illustration.” “Just as, great king, if a great rain cloud were to pour down on a mountaintop, that water, flowing according to the slope, would fill the mountain clefts, crevices, and gullies, then fill the river, which would flow overflowing its two banks. Then a great crowd of people might arrive and, not knowing the river's shallows or depths, stand afraid and hesitant on the bank. Then another person might arrive and, assessing his own strength and power, tie his lower garment tightly, plunge in, and cross over. Seeing him having crossed, the great crowd of people would also cross over. In the same way, great king, a practitioner, seeing that the minds of others are liberated—whether in the fruit of stream-entry, once-returning, non-returning, or arahantship—plunges in, making an effort for the attainment of the unattained, for the realization of the unrealized, for the direct experience of the unexperienced. Thus, great king, faith has the characteristic of plunging in. And this, great king, was spoken by the Blessed One in the excellent Connected Discourses:
“Xin ngài hãy cho một ví dụ.” – “Tâu Đại vương, ví như trên đỉnh núi có một đám mây lớn trút mưa. Nước mưa ấy chảy theo chỗ trũng, làm đầy các khe núi, hang động, và các nhánh khe, rồi làm đầy cả dòng sông. Dòng sông ấy chảy tràn cả hai bờ. Bấy giờ, một đám đông người đến, không biết sông nông hay sâu, nên sợ hãi và do dự đứng lại trên bờ. Rồi một người đàn ông khác đến, nhận thấy sức mạnh và năng lực của mình, bèn buộc chặt thắt lưng, nhảy xuống và bơi qua. Thấy người ấy đã qua được, đám đông cũng bơi qua theo. Cũng vậy, tâu Đại vương, vị hành giả, khi thấy tâm của người khác được giải thoát, liền thôi thúc hướng đến quả Dự lưu, hoặc quả Nhất lai, hoặc quả Bất lai, hoặc quả A-la-hán, và nỗ lực để đạt được điều chưa đạt, để chứng đắc điều chưa chứng đắc, để thực chứng điều chưa thực chứng. Tâu Đại vương, như vậy đó, đức tin có đặc tính thôi thúc. Tâu Đại vương, điều này đã được Đức Thế Tôn nói đến trong Tương Ưng Bộ ưu việt:
‘‘‘Saddhāya taratī oghaṃ, appamādena aṇṇavaṃ;
Vīriyena dukkhamacceti, paññāya parisujjhatī’’’ti †.
“By faith one crosses the flood, by heedfulness the ocean; by energy one overcomes suffering, by wisdom one is purified.”
“‘Nhờ đức tin, vượt qua bộc lưu; nhờ không dể duôi, vượt qua biển cả; nhờ tinh tấn, vượt qua đau khổ; nhờ trí tuệ, được thanh tịnh.’”
‘‘Kallosi, bhante nāgasenā’’ti.
“Well said, venerable Nāgasena!”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khéo léo.”
Sampakkhandanalakkhaṇasaddhāpañho ekādasamo.
The Eleventh Question on the Characteristic of Faith as Plunging In.
Câu hỏi thứ mười một về đặc tính thôi thúc của đức tin.