Bản dịch
MIL 3.1.1 — I. ĐẠI PHẨM
1. Paññattipañha
Khi ấy, đức vua Milinda đã đi đến gặp đại đức Nāgasena, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với đại đức Nāgasena, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã ngồi xuống một bên. Đại đức Nāgasena cũng đã tỏ bày vẻ thân thiện, chính vì thế đã làm hài lòng tâm ý của đức vua Milinda.
Khi ấy, đức vua Milinda đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Ngài đại đức được nhận biết bằng cách nào? Thưa ngài, ngài tên gì?” “Tâu đại vương, tôi được nhận biết là ‘Nāgasena.’ Tâu đại vương, các vị đồng Phạm hạnh gọi tôi là ‘Nāgasena.’ Hơn nữa, mẹ cha đặt tên là ‘Nāgasena,’ hoặc là ‘Sūrasena,’ hoặc là ‘Vīrasena,’ hoặc là ‘Sīhasena.’ Tâu đại vương, vả lại ‘Nāgasena’ cũng chỉ là từ phân biệt, là tên thừa nhận, là tên quy định, là tên gọi thông thường, bởi vì không người nào được tìm thấy ở đây.”
Khi ấy, đức vua Milinda đã nói với như vầy: “Xin quý vị năm trăm người xứ Yonaka và tám mươi ngàn vị tỳ khưu hãy lắng nghe trẫm. Vị Nāgasena này đã nói như vầy: ‘Bởi vì không người nào được tìm thấy ở đây.’ Vậy có hợp lý để chấp nhận điều ấy không?”
Khi ấy, đức vua Milinda đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài Nāgasena, nếu không người nào được tìm thấy, vậy thì ai bố thí y phục vật thực chỗ trú ngụ và thuốc men chữa bệnh cho ngài? Ai thọ dụng vật ấy? Ai trì giới? Ai gắn bó với sự tu tập? Ai chứng ngộ Đạo, Quả, và Niết Bàn? Ai sát hại mạng sống? Ai lấy vật không được cho? Ai tà hạnh trong các dục? Ai nói dối? Ai uống chất lên men? Ai gây nên năm nghiệp vô gián? Như thế thì không có thiện, không có bất thiện, không có người làm hoặc người sai bảo làm đối với các nghiệp thiện và bất thiện. Không có sự thành tựu quả đối với các nghiệp đã được làm tốt hoặc đã được làm xấu. Thưa ngài Nāgasena, nếu có người giết chết ngài, thì người ấy cũng không có tội giết hại mạng sống. Thưa ngài Nāgasena, ngài cũng không có thầy dạy học, không có thầy tế độ, không có sự tu lên bậc trên, điều ngài nói rằng: ‘Tâu đại vương, các vị đồng Phạm hạnh gọi tôi là Nāgasena,’ vậy ở đây cái gì là Nāgasena? Thưa ngài, có phải các sợi tóc là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Có phải các sợi lông là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Có phải các móng (tay chân … (như trên) … các răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, cơ hoành, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, thực phẩm chưa tiêu, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước mỡ (huyết tương), nước miếng, nước mũi, nước ở khớp xương, nước tiểu, bộ não ở đầu là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Thưa ngài, có phải sắc là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Có phải thọ là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Có phải tưởng là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Có phải các hành là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Có phải thức là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Thưa ngài, vậy thì sắc-thọ-tưởng-hành-thức là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Thưa ngài, vậy thì trừ ra sắc-thọ-tưởng-hành-thức là Nāgasena?”
“Tâu đại vương, không phải.”
“Thưa ngài, trong khi lần lượt hỏi về điều ấy mà trẫm vẫn không thấy ra được Nāgasena. Thưa ngài, chẳng lẽ âm thanh lại là Nāgasena? Vậy thì ở đây người nào là Nāgasena? Thưa ngài, ngài nói không có Nāgasena là điều không thật là lời dối trá.”
Khi ấy, đại đức Nāgasena đã nói với đức vua Milinda điều này: “Tâu đại vương, đại vương quả là có sự thanh lịch của dòng dõi Sát-đế-lỵ, có sự thanh lịch tột bực. Tâu đại vương, đối với bệ hạ đây trong lúc dẫm đạp lên các miểng chai, đá, cát sần sùi ở lớp cát nóng của mặt đất hừng hực và đi bộ vào lúc giữa trưa, hẳn nhiên các bàn chân đau nhức, thân mệt nhọc, tâm bị lui sụt, thân thức gắn liền với khổ sanh khởi. Vậy thì bệ hạ đi đến bằng chân, hay bằng xe cộ?”
“Thưa ngài, trẫm không đi đến bằng chân, trẫm đi đến bằng cỗ xe.”
“Tâu đại vương, nếu bệ hạ đi đến bằng cỗ xe, xin bệ hạ hãy chỉ cỗ xe cho tôi. Tâu đại vương, có phải cái gọng là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Có phải cái trục là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Có phải các bánh xe là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Có phải thùng xe là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Có phải thanh chống là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Có phải cái ách là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Có phải dây cương là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Có phải gậy thúc là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Tâu đại vương, vậy có phải gọng-trục-bánh xe-thùng xe-thanh chống-ách-dây cương-gậy thúc là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Tâu đại vương, vậy thì trừ ra gọng-trục-bánh xe-thùng xe-thanh chống-ách-dây cương-gậy thúc là cỗ xe?”
“Thưa ngài, không phải.”
“Tâu đại vương, trong khi lần lượt hỏi về điều ấy mà tôi vẫn không thấy ra được cỗ xe. Tâu đại vương, chẳng lẽ âm thanh lại là cỗ xe? Vậy thì ở đây cái gì là cỗ xe? Tâu đại vương, đại vương nói không có cỗ xe là điều không thật là lời dối trá. Tâu đại vương, đại vương là vị vua tối cao của toàn cõi xứ Jambudīpa, tại sao đại vương lại sợ hãi và nói lời dối trá? Xin quý vị năm trăm người xứ Yonaka và tám mươi ngàn vị tỳ khưu hãy lắng nghe tôi. Đức vua Milinda này đã nói như vầy: ‘Trẫm đi đến bằng cỗ xe.’ Trong khi được nói rằng: ‘Tâu đại vương, nếu bệ hạ đi đến bằng cỗ xe, xin bệ hạ hãy chỉ cỗ xe cho tôi’ thì không trình ra được cỗ xe. Vậy có hợp lý để chấp nhận điều ấy không?”
Khi được nói như vậy, năm trăm người xứ Yonaka đã tán thưởng đại đức Nāgasena bằng tiếng “Lành thay!” rồi đã nói với đức vua Milinda điều này: “Tâu đại vương, lúc này trong khi đại vương có khả năng, xin đại vương hãy nói.”
Khi ấy, đức vua Milinda đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài Nāgasena, trẫm không nói lời dối trá. Do cái gọng, do cái trục, do các bánh xe, do thùng xe, do thanh chống mà có được từ phân biệt, tên thừa nhận, tên quy định, tên gọi thông thường là ‘cỗ xe’.”
“Tâu đại vương, thật tốt đẹp thay đại vương nhận ra được cỗ xe. Tâu đại vương, cũng tương tợ y như thế đối với tôi, do các sợi tóc, do các sợi lông … (như trên) … do bộ não, do sắc, do thọ, do tưởng, do các hành, do thức mà có được từ phân biệt, tên thừa nhận, tên quy định, tên thông thường là ‘Nāgasena’. Tuy nhiên, theo ý nghĩa rốt ráo thì không người nào được tìm thấy ở đây. Tâu đại vương, điều này cũng đã được tỳ khưu ni Vajirā nói lên trong sự hiện diện của đức Thế Tôn rằng:
Giống y như việc ráp chung lại các bộ phận thì có tiếng gọi là ‘cỗ xe,’ tương tợ như vậy khi các uẩn hiện diện thì có sự công nhận là ‘con người’.”
“Thưa ngài Nāgasena, thật là kỳ diệu! Thưa ngài Nāgasena, thật là phi thường! Các sự ứng đối câu hỏi rất tuyệt vời đã được trình bày. Nếu đức Phật còn tại tiền thì Ngài cũng tán thưởng bằng tiếng ‘Lành thay!’ Này Nāgasena, thật tốt đẹp thay, thật tốt đẹp thay! Các sự ứng đối câu hỏi rất tuyệt vời đã được trình bày.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Atha kho milindo rājā yenāyasmā nāgaseno tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmatā nāgasenena saddhiṃ sammodi, sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi. Āyasmāpi kho nāgaseno paṭisammodanīyeneva † milindassa rañño cittaṃ ārādhesi. Atha kho milindo rājā āyasmantaṃ nāgasenaṃ etadavoca ‘‘kathaṃ bhadanto ñāyati, kinnāmosi bhante’’ti? ‘‘Nāgaseno’’ti kho ahaṃ, mahārāja, ñāyāmi, ‘‘nāgaseno’’ti kho maṃ, mahārāja, sabrahmacārī samudācaranti, api ca mātāpitaro nāmaṃ karonti ‘‘nāgaseno’’ti vā ‘‘sūraseno’’ti vā ‘‘vīraseno’’ti vā ‘‘sīhaseno’’ti vā, api ca kho, mahārāja, saṅkhā samaññā paññatti vohāro nāmamattaṃ yadidaṃ nāgasenoti, na hettha puggalo upalabbhatīti.
Then King Milinda approached the Venerable Nāgasena. Having approached, he exchanged courteous greetings with the Venerable Nāgasena. After concluding this pleasant and memorable conversation, he sat down to one side. The Venerable Nāgasena also, with a courteous reply, pleased King Milinda's mind. Then King Milinda said to the Venerable Nāgasena, 'How is the venerable one known? What is your name, venerable sir?' 'I am known as Nāgasena, Your Majesty, and my fellow monks address me as Nāgasena. Although my parents gave a name such as Nāgasena, or Sūrasena, or Vīrasena, or Sīhasena, nevertheless, Your Majesty, this "Nāgasena" is only an enumeration, an appellation, a concept, a conventional term, a mere name. Herein, no person is to be found.'
1. Bấy giờ, vua Milinda đi đến chỗ trưởng lão Nāgasena; sau khi đến, đã cùng trưởng lão Nāgasena trao đổi lời chào mừng. Sau khi kết thúc cuộc trò chuyện thân mật đáng ghi nhớ, nhà vua ngồi xuống một nơi thích hợp. Trưởng lão Nāgasena cũng làm cho tâm của vua Milinda được vui lòng bằng lời chào mừng đáp lại. Khi ấy, vua Milinda bạch với trưởng lão Nāgasena rằng: "Thưa ngài, người ta biết đến ngài như thế nào? Thưa ngài, ngài tên là gì?" Trưởng lão đáp: "Tâu Đại vương, tôi được biết đến là Nāgasena, và các vị đồng phạm hạnh gọi tôi là Nāgasena. Hơn nữa, cha mẹ đặt tên là Nāgasena, hoặc Sūrasena, hoặc Vīrasena, hoặc Sīhasena. Tuy nhiên, tâu Đại vương, cái gọi là Nāgasena này chỉ là một sự tính đếm, một danh xưng, một chế định, một cách dùng từ, một cái tên suông. Ở đây, không tìm thấy một cá nhân nào."
Atha kho milindo rājā evamāha ‘‘suṇantu me bhonto pañcasatā yonakā asītisahassā ca bhikkhū, ayaṃ nāgaseno evamāha ‘na hettha puggalo upalabbhatī’ti, kallaṃ nu kho tadabhinanditu’’nti. Atha kho milindo rājā āyasmantaṃ nāgasenaṃ etadavoca ‘‘sace, bhante nāgasena, puggalo nūpalabbhati, ko carahi tumhākaṃ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhāraṃ deti, ko taṃ paribhuñjati, ko sīlaṃ rakkhati, ko bhāvanamanuyuñjati, ko maggaphalanibbānāni sacchikaroti, ko pāṇaṃ hanati, ko adinnaṃ ādiyati, ko kāmesumicchācāraṃ carati, ko musā bhaṇati, ko majjaṃ pivati, ko pañcānantariyakammaṃ karoti, tasmā natthi kusalaṃ, natthi akusalaṃ, natthi kusalākusalānaṃ kammānaṃ kattā vā kāretā vā, natthi sukatadukkaṭānaṃ kammānaṃ phalaṃ vipāko, sace, bhante nāgasena, yo tumhe māreti, natthi tassāpi pāṇātipāto, tumhākampi, bhante nāgasena, natthi ācariyo, natthi upajjhāyo, natthi upasampadā. ‘Nāgasenoti maṃ, mahārāja, sabrahmacārī samudācarantī’ti yaṃ vadesi, ‘katamo ettha nāgaseno? Kinnu kho, bhante, kesā nāgaseno’’ti? ‘‘Na hi mahārājā’’ti. ‘‘Lomā nāgaseno’’ti? ‘‘Na hi mahārājā’’ti. ‘‘Nakhā…pe… dantā…pe… taco…pe… maṃsaṃ…pe… nhāru…pe… aṭṭhi…pe… aṭṭhimiñjaṃ…pe… vakkaṃ…pe… hadayaṃ…pe… yakanaṃ…pe… kilomakaṃ…pe… pihakaṃ…pe… papphāsaṃ…pe… antaṃ…pe… antaguṇaṃ…pe… udariyaṃ…pe… karīsaṃ…pe… pittaṃ…pe… semhaṃ…pe… pubbo…pe… lohitaṃ…pe… sedo…pe… medo…pe… assu…pe… vasā…pe… kheḷo…pe… siṅghāṇikā…pe… lasikā…pe… muttaṃ…pe… matthake matthaluṅgaṃ nāgaseno’’ti? ‘‘Na himahārājā’’ti. ‘‘Kiṃ nu kho, bhante, rūpaṃ nāgaseno’’ti? ‘‘Nahi mahārājā’’ti. ‘‘Vedanā nāgaseno’’ti?‘‘Na hi mahārājā’’ti. ‘‘Saññā nāgaseno’’ti? ‘‘Na hi mahārājā’’ti. ‘‘Saṅkhārā nāgaseno’’ti? ‘‘Na hi mahārājā’’ti. ‘‘Viññāṇaṃ nāgaseno’’ti? ‘‘Na hi mahārājā’’ti. ‘‘Kiṃ pana, bhante, rūpavedanāsaññāsaṅkhāraviññāṇaṃ nāgaseno’’ti? ‘‘Na hi mahārājā’’ti. ‘‘Kiṃ pana, bhante, aññatra rūpavedanāsaññāsaṅkhāraviññāṇaṃ nāgaseno’’ti? ‘‘Na hi mahārājā’’ti. ‘‘Tamahaṃ bhante, pucchanto pucchanto na passāmi nāgasenaṃ. Nāgasenasaddo yeva nu kho, bhante, nāgaseno’’ti? ‘‘Na hi mahārājā’’ti. ‘‘Ko panettha nāgaseno, alikaṃ tvaṃ, bhante, bhāsasi musāvādaṃ, natthi nāgaseno’’ti.
Then King Milinda said, 'May the five hundred venerable Yonakas and the eighty thousand monks listen to me. This Nāgasena says, "Herein, no person is to be found." Is it now proper to approve of that?' Then King Milinda said to the Venerable Nāgasena: 'If, venerable Nāgasena, a person is not to be found, who then gives you robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick? Who makes use of them? Who guards moral virtue? Who applies himself to meditation? Who realizes the paths, the fruits, and Nibbāna? Who takes life? Who takes what is not given? Who engages in sexual misconduct? Who speaks falsely? Who drinks intoxicants? Who commits the five acts with immediate consequence? Thus, there is no merit, there is no demerit; there is no doer or instigator of meritorious and demeritorious deeds; there is no fruit or result of good and evil deeds. If, venerable Nāgasena, someone were to kill you, for him there would be no act of taking life. For you also, venerable Nāgasena, there is no teacher, no preceptor, no ordination. When you say, "My fellow monks address me as Nāgasena," who then is this Nāgasena? Pray, venerable sir, are the hairs of the head Nāgasena?' 'Certainly not, Your Majesty.' 'Are the hairs of the body Nāgasena?' 'Certainly not, Your Majesty.' 'Are the nails… teeth… skin… flesh… sinews… bones… bone marrow… kidneys… heart… liver… pleura… spleen… lungs… intestines… mesentery… stomach contents… feces… bile… phlegm… pus… blood… sweat… solid fat… tears… liquid fat… saliva… nasal mucus… synovial fluid… urine… or the brain in the head Nāgasena?' 'Certainly not, Your Majesty.' 'Pray, venerable sir, is form Nāgasena?' 'Certainly not, Your Majesty.' 'Is feeling Nāgasena?' 'Certainly not, Your Majesty.' 'Is perception Nāgasena?' 'Certainly not, Your Majesty.' 'Are mental formations Nāgasena?' 'Certainly not, Your Majesty.' 'Is consciousness Nāgasena?' 'Certainly not, Your Majesty.' 'Then, venerable sir, are form, feeling, perception, mental formations, and consciousness taken together Nāgasena?' 'Certainly not, Your Majesty.' 'Then, venerable sir, is there a Nāgasena apart from form, feeling, perception, mental formations, and consciousness?' 'Certainly not, Your Majesty.' 'Venerable sir, though I ask and ask again, I do not see this Nāgasena. Is "Nāgasena" then just the sound, venerable sir?' 'Certainly not, Your Majesty.' 'Who then, here, is Nāgasena? You speak a falsehood, venerable sir, a lie. There is no Nāgasena.'
Bấy giờ, vua Milinda nói như vầy: 'Xin quý vị năm trăm người Yonaka và tám mươi ngàn vị tỳ khưu hãy lắng nghe lời của tôi. Vị Nāgasena này đã nói như vầy: 'Ở đây, không tìm thấy một cá nhân nào cả.' Lời nói ấy có đáng để tán thưởng chăng?' Bấy giờ, vua Milinda bạch với trưởng lão Nāgasena điều này: 'Bạch đại đức Nāgasena, nếu không tìm thấy cá nhân, vậy thì ai dâng cúng y, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng cho quý ngài? Ai là người thọ dụng chúng? Ai là người giữ giới? Ai là người thực hành thiền định? Ai là người chứng ngộ Đạo, Quả và Niết-bàn? Ai là người sát sanh? Ai là người lấy của không cho? Ai là người thực hành tà hạnh trong các dục? Ai là người nói dối? Ai là người uống rượu? Ai là người tạo năm nghiệp vô gián? Do đó, không có thiện, không có bất thiện. Không có người làm hay người sai làm các nghiệp thiện và bất thiện. Không có quả và dị thục của các nghiệp làm tốt và làm xấu. Bạch đại đức Nāgasena, nếu có người giết ngài, người ấy cũng không có tội sát sanh. Bạch đại đức Nāgasena, chính ngài cũng không có thầy dạy, không có thầy tế độ, không có sự thọ cụ túc giới. Ngài đã nói rằng: 'Tâu đại vương, các vị đồng phạm hạnh gọi tôi là Nāgasena.' Vậy ở đây, ai là Nāgasena? Bạch đại đức, có phải tóc là Nāgasena chăng?' 'Tâu đại vương, không phải.' 'Lông là Nāgasena chăng?' 'Tâu đại vương, không phải.' 'Móng... răng... da... thịt... gân... xương... tủy xương... thận... tim... gan... hoành cách mô... lá lách... phổi... ruột... màng ruột... dạ dày... phân... mật... đờm... mủ... máu... mồ hôi... mỡ đặc... nước mắt... mỡ lỏng... nước bọt... nước mũi... hoạt dịch... nước tiểu... cho đến... não trong đầu là Nāgasena chăng?' 'Tâu đại vương, không phải.' 'Bạch đại đức, vậy có phải sắc là Nāgasena chăng?' 'Tâu đại vương, không phải.' 'Thọ là Nāgasena chăng?' 'Tâu đại vương, không phải.' 'Tưởng là Nāgasena chăng?' 'Tâu đại vương, không phải.' 'Các hành là Nāgasena chăng?' 'Tâu đại vương, không phải.' 'Thức là Nāgasena chăng?' 'Tâu đại vương, không phải.' 'Bạch đại đức, vậy có phải sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức là Nāgasena chăng?' 'Tâu đại vương, không phải.' 'Bạch đại đức, vậy có phải cái gì khác ngoài sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức là Nāgasena chăng?' 'Tâu đại vương, không phải.' 'Bạch đại đức, tôi cứ hỏi mãi, hỏi mãi mà không thấy Nāgasena đâu cả. Bạch đại đức, có phải chỉ âm thanh 'Nāgasena' là Nāgasena chăng?' 'Tâu đại vương, không phải.' 'Vậy ở đây, ai là Nāgasena? Bạch đại đức, ngài đã nói lời không thật, lời dối trá, không có Nāgasena nào cả.'
Atha kho āyasmā nāgaseno milindaṃ rājānaṃ etadavoca ‘‘tvaṃ khosi, mahārāja, khattiyasukhumālo accantasukhumālo, tassa te, mahārāja, majjhanhikasamayaṃ tattāya bhūmiyā uṇhāya vālikāya kharāya sakkharakathalikāya † madditvā pādenāgacchantassa pādā rujjanti, kāyo kilamati, cittaṃ upahaññati, dukkhasahagataṃ kāyaviññāṇaṃ uppajjati, kiṃ nu kho tvaṃ pādenāgatosi, udāhu vāhanenā’’ti? ‘‘Nāhaṃ, bhante, pādenāgacchāmi, rathenāhaṃ āgatosmī’’ti. ‘‘Sace, tvaṃ mahārāja, rathenāgatosi, rathaṃ me ārocehi, kiṃ nu kho, mahārāja, īsā ratho’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Akkho ratho’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Cakkāni ratho’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Rathapañjaraṃ ratho’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Rathadaṇḍako ratho’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Yugaṃ ratho’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Rasmiyo ratho’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Patodalaṭṭhi ratho’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Kiṃ nu kho, mahārāja, īsāakkhacakkarathapañjararathadaṇḍayugarasmipatodā ratho’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Kiṃ pana, mahārāja, aññatra īsāakkhacakkarathapañjararathadaṇḍayugarasmipatodā ratho’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Tamahaṃ, mahārāja, pucchanto pucchanto na passāmi rathaṃ. Rathasaddoyeva nu kho, mahārāja, ratho’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Ko panettha ratho, alikaṃ, tvaṃ mahārāja, bhāsasi musāvādaṃ, natthi ratho, tvaṃsi, mahārāja, sakalajambudīpe aggarājā, kassa pana tvaṃ bhāyitvā musāvādaṃ bhāsasi, suṇantu me bhonto pañcasatā yonakā asītisahassā ca bhikkhū, ayaṃ milindo rājā evamāha ‘rathenāhaṃ āgatosmī’ti, sace tvaṃ, mahārāja, rathenāgato‘si, rathaṃ me ārocehī’ti vutto samāno rathaṃ na sampādeti, kallaṃ nu kho tadabhinanditu’’nti. Evaṃ vutte pañcasatā yonakā āyasmato nāgasenassa sādhukāraṃ datvā milindaṃ rājānaṃ etadavocuṃ ‘‘idāni kho tvaṃ, mahārāja, sakkonto bhāsassū’’ti.
Then the Venerable Nāgasena said to King Milinda: "You, great king, are of noble birth and delicate, exceedingly delicate. Surely, great king, when at midday you come walking on foot over hot ground, hot sand, and rough gravel, your feet hurt, your body becomes weary, your mind is afflicted, and painful bodily consciousness arises. Did you come on foot, or by vehicle?" "I did not come on foot, venerable sir, I came by chariot." "If you came by chariot, great king, then tell me what the chariot is. Is the pole the chariot?" "No, venerable sir." "Is the axle the chariot?" "No, venerable sir." "Are the wheels the chariot?" "No, venerable sir." "Is the chariot-frame the chariot?" "No, venerable sir." "Is the chariot-staff the chariot?" "No, venerable sir." "Is the yoke the chariot?" "No, venerable sir." "Are the reins the chariot?" "No, venerable sir." "Is the goad-stick the chariot?" "No, venerable sir." "Then, great king, are the pole, axle, wheels, chariot-frame, chariot-staff, yoke, reins, and goad-stick the chariot?" "No, venerable sir." "Then, great king, is the chariot something other than the pole, axle, wheels, chariot-frame, chariot-staff, yoke, reins, and goad-stick?" "No, venerable sir." "Therefore, great king, though I question you repeatedly, I do not see a chariot. Is 'chariot' merely a sound, great king?" "No, venerable sir." "What then is the chariot? You speak falsely, great king, you are telling a lie—there is no chariot! You, great king, are the foremost king in all of Jambudīpa; fearing whom, then, do you speak a lie? Let these five hundred Yonakas and eighty thousand monks hear me: this King Milinda says, 'I came by chariot.' But when told, 'If you came by chariot, great king, explain the chariot to me,' he cannot produce a chariot. Is it proper to approve of that?" When this was said, the five hundred Yonakas gave their approval to the Venerable Nāgasena and said to King Milinda: "Now, great king, speak if you are able!"
Bấy giờ, trưởng lão Nāgasena nói với vua Milinda điều này: 'Tâu đại vương, ngài là một vị vua Sát-đế-lỵ mềm mại, vô cùng mềm mại. Tâu đại vương, nếu vào giữa trưa, ngài đi bộ trên mặt đất nóng bỏng, trên cát nóng, trên sỏi đá và mảnh sành thô ráp, thì chân ngài sẽ đau, thân ngài sẽ mệt mỏi, tâm ngài sẽ bị tổn hại, và thân thức đi kèm với khổ sẽ khởi lên. Vậy ngài đã đi bộ đến, hay đi bằng xe?' 'Bạch đại đức, tôi không đi bộ đến, tôi đã đến bằng xe.' 'Tâu đại vương, nếu ngài đã đến bằng xe, xin hãy chỉ cho tôi chiếc xe. Tâu đại vương, có phải càng xe là xe chăng?' 'Bạch đại đức, không phải.' 'Trục xe là xe chăng?' 'Bạch đại đức, không phải.' 'Các bánh xe là xe chăng?' 'Bạch đại đức, không phải.' 'Thùng xe là xe chăng?' 'Bạch đại đức, không phải.' 'Thanh chống xe là xe chăng?' 'Bạch đại đức, không phải.' 'Ách xe là xe chăng?' 'Bạch đại đức, không phải.' 'Dây cương là xe chăng?' 'Bạch đại đức, không phải.' 'Roi ngựa là xe chăng?' 'Bạch đại đức, không phải.' 'Tâu đại vương, vậy có phải càng xe, trục xe, các bánh xe, thùng xe, thanh chống xe, ách xe, dây cương, và roi ngựa là xe chăng?' 'Bạch đại đức, không phải.' 'Tâu đại vương, vậy có phải cái gì khác ngoài càng xe, trục xe, các bánh xe, thùng xe, thanh chống xe, ách xe, dây cương, và roi ngựa là xe chăng?' 'Bạch đại đức, không phải.' 'Tâu đại vương, tôi cứ hỏi mãi, hỏi mãi mà không thấy chiếc xe đâu cả. Tâu đại vương, có phải chỉ âm thanh 'xe' là xe chăng?' 'Bạch đại đức, không phải.' 'Vậy ở đây, cái gì là xe? Tâu đại vương, ngài đã nói lời không thật, lời dối trá, không có chiếc xe nào cả. Tâu đại vương, ngài là vị vua đứng đầu toàn cõi Diêm-phù-đề, vậy ngài sợ ai mà nói lời dối trá? Xin quý vị năm trăm người Yonaka và tám mươi ngàn vị tỳ khưu hãy lắng nghe lời của tôi. Vua Milinda này đã nói như vầy: 'Tôi đã đến bằng xe.' Khi được yêu cầu: 'Tâu đại vương, nếu ngài đã đến bằng xe, xin hãy chỉ cho tôi chiếc xe,' ngài đã không thể trình bày được chiếc xe. Lời nói ấy có đáng để tán thưởng chăng?' Khi được nói như vậy, năm trăm người Yonaka đã tung hô 'Lành thay!' với trưởng lão Nāgasena và bạch với vua Milinda: 'Tâu đại vương, bây giờ, nếu có thể, xin ngài hãy nói.'
Atha kho milindo rājā āyasmantaṃ nāgasenaṃ etadavoca ‘‘nāhaṃ, bhante nāgasena, musā bhaṇāmi, īsañca paṭicca akkhañca paṭicca cakkāni ca paṭicca rathapañjarañca paṭicca rathadaṇḍakañca paṭicca ‘ratho’ti saṅkhā samaññā paññatti vohāro nāmamattaṃ pavattatī’’ti.
Then King Milinda said to the Venerable Nāgasena: "I do not speak falsely, Venerable Nāgasena. It is in dependence on the pole, the axle, the wheels, the chariot-frame, and the chariot-staff that there comes to be this reckoning, this convention, this concept, this common usage, this mere name: 'chariot'."
Bấy giờ, vua Mi-lan-đà bạch với ngài Nāgasena rằng: “Bạch Đại đức Nāgasena, trẫm không nói dối. Do duyên nơi càng xe, trục xe, các bánh xe, thùng xe, và gọng ách xe mà có sự đếm kể, danh xưng, chế định, cách gọi, chỉ là cái tên ‘cỗ xe’ được khởi lên.”
‘‘Sādhu kho, tvaṃ mahārāja, rathaṃ jānāsi, evameva kho, mahārāja, mayhampi kese ca paṭicca lome ca paṭicca…pe… matthake matthaluṅgañca paṭicca rūpañca paṭicca vedanañca paṭicca saññañca paṭicca saṅkhāre ca paṭicca viññāṇañca paṭicca ‘nāgaseno’ti saṅkhā samaññā paññatti vohāro nāmamattaṃ pavattati, paramatthato panettha puggalo nūpalabbhati. Bhāsitampetaṃ, mahārāja, vajirāya bhikkhuniyā bhagavato sammukhā –
“Well do you know the chariot, great king. In the very same way, great king, in dependence on my hair of the head, hair of the body… and so on… in dependence on the brain in the head, and in dependence on form, feeling, perception, mental formations, and consciousness, there comes to be this reckoning, this convention, this concept, this common usage, this mere name: ‘Nāgasena.’ In the ultimate sense, however, no person is found here. This was spoken, great king, by the bhikkhunī Vajirā in the Blessed One’s presence:
“Lành thay, tâu Đại vương, ngài biết rõ về cỗ xe. Cũng vậy, tâu Đại vương, đối với bần tăng cũng thế, do duyên nơi tóc, lông… cho đến… do duyên nơi óc trong đầu, do duyên nơi sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức mà có sự đếm kể, danh xưng, chế định, cách gọi, chỉ là cái tên ‘Nāgasena’ được khởi lên. Nhưng theo nghĩa chân đế, ở đây không tìm thấy một người nào. Tâu Đại vương, điều này đã được Tỳ-khưu-ni Vajirā nói lên trước sự hiện diện của Đức Thế Tôn –”
‘‘‘Yathā hi aṅgasambhārā, hoti saddo ratho iti;
Evaṃ khandhesu santesu, hoti ‘‘satto’’ti sammutī’’’ti †.
‘Just as from an assemblage of parts, the word “chariot” comes to be; so too, when the aggregates are present, there is the convention “a being.”’
“Ví như do sự kết hợp của các bộ phận, mà có tên gọi là ‘cỗ xe’; Cũng vậy, khi các uẩn hiện hữu, thì có danh xưng quy ước là ‘một chúng sanh’.”
‘‘Acchariyaṃ, bhante nāgasena, abbhutaṃ, bhante nāgasena, aticitrāni pañhapaṭibhānāni visajjitāni, yadi buddho tiṭṭheyya sādhukāraṃ dadeyya, sādhu sādhu nāgasena, aticitrāni pañhapaṭibhānāni visajjitānī’’ti.
"Wonderful, Venerable Nāgasena! Marvelous, Venerable Nāgasena! How very ingeniously have these questions been answered! If the Buddha were present, he would give his approval. Well done, well done, Nāgasena! How very ingeniously have these questions been answered!"
“Thật vi diệu, bạch Đại đức Nāgasena! Thật hy hữu, bạch Đại đức Nāgasena! Những câu trả lời cho các vấn đề thật vô cùng tài tình đã được giải đáp. Nếu Đức Phật còn tại thế, Ngài chắc chắn sẽ tán thán. Lành thay, lành thay, ngài Nāgasena, những câu trả lời cho các vấn đề thật vô cùng tài tình đã được giải đáp.”
Paññattipañho paṭhamo.
The First Question on Designation.
Vấn đề về Chế định, chương thứ nhất.