Bản dịch
MIL 2 — SỰ LIÊN HỆ TRONG QUÁ KHỨ
2. Pubbayogādi
BJT 1Nghe nói ở thời quá khứ, trong khi Giáo Pháp của đức Thế Tôn Kassapa đang vận hành, có hội chúng tỳ khưu đông đảo cư ngụ tại một trú xứ cạnh dòng sông. Tại nơi ấy, các vị tỳ khưu, được thành tựu về phận sự và giới hạnh, sau khi thức dậy vào lúc sáng sớm, cầm lấy các chổi dài cán, trong lúc suy tưởng về ân đức Phật, các vị quét sân và gom rác thành đống. Khi ấy, có một vị tỳ khưu đã nói với một vị sa di rằng: “Này sa di, hãy đến. Hãy đổ bỏ rác này.” Vị ấy vẫn bước đi như là không nghe. Trong khi được gọi đến lần thứ nhì, rồi đến lần thứ ba, vị ấy vẫn bước đi như là không nghe. Do đó, vị tỳ khưu ấy (nghĩ rằng): “Sa di này khó dạy,” rồi nổi giận, và đã ban cho cú đánh bằng cái cán chổi. Do đó, vị (sa di) ấy, vừa khóc lóc vì sợ hãi vừa đổ bỏ rác, đã lập nên lời phát nguyện thứ nhất rằng: “Do nghiệp phước thiện của việc đổ bỏ rác này, cho đến khi tôi đạt được Niết Bàn, trong khoảng thời gian ấy, tại mỗi nơi được lần lượt sanh ra, mong rằng tôi có đại quyền lực, có đại oai lực như là mặt trời lúc giữa trưa.” Sau khi đổ bỏ rác, vị ấy đã đi đến bến sông để tắm. Sau khi nhìn thấy làn sóng của dòng sông đang rì rào, vị ấy cũng đã lập nên lời phát nguyện thứ nhì rằng: “Do nghiệp phước thiện của việc đổ bỏ rác này, cho đến khi tôi đạt được Niết Bàn, trong khoảng thời gian ấy, tại mỗi nơi được lần lượt sanh ra, mong rằng tôi có tài ứng đối được sanh lên đúng trường hợp, có tài ứng đối không bị ngập ngừng như là làn sóng này vậy.” Vị tỳ khưu ấy, sau khi cất cây chổi ở phòng để chổi, cũng đang đi đến bến sông để tắm. Sau khi nghe được lời phát nguyện của vị sa di, vị ấy đã suy nghĩ rằng: “Cũng vì bị tác động bởi ta nên người này phát nguyện như thế. Có phải là sẽ không ảnh hưởng đến ta?” và đã lập nên lời phát nguyện rằng:
“Cho đến khi tôi đạt được Niết Bàn, trong khoảng thời gian ấy, tại mỗi nơi được lần lượt sanh ra, mong rằng tôi có tài ứng đối không bị ngập ngừng như là làn sóng ở sông này vậy. Mong rằng tôi có khả năng để gỡ rối, để tháo gỡ mọi sự ứng đối về câu hỏi được hỏi đi hỏi lại bởi người này.” Cả hai người ấy, trong khi luân hồi giữa chư Thiên và loài người, đã trải qua một khoảng thời gian giữa hai vị Phật. Và vị trưởng lão Moggalliputtatissa đã được đức Phật của chúng ta nhìn thấy như thế nào, thì hai người này cũng đã được nhìn thấy như thế: “Khi năm trăm năm đã trôi qua kể từ khi sự viên tịch Niết Bàn của Ta, những người này sẽ tái sanh.” Và đã được xác định rằng: “Pháp và Luật nào đã được thực hiện một cách vi tế và đã được thuyết giảng bởi Ta, hai người này sẽ làm cho Pháp và Luật ấy được tháo gỡ, được rõ ràng bằng phương thức hỏi đáp và sự đúng đắn về ví dụ so sánh, rồi sẽ hệ thống lại.”
BJT 2Trong hai người ấy, vị sa-di đã trở thành đức vua tên Milinda ở thành Sāgala thuộc xứ Jambudīpa (Ấn Độ), là người sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, có năng lực trong thời quá khứ hiện tại và vị lai, là người hành động có suy xét trong lúc thực hiện mọi công việc rèn luyện và phô diễn. Và vị này có nhiều học thuật đã được học như là: sự hiểu biết do lắng nghe, sách dạy về âm thanh, tính toán, ứng dụng, học thuật về hướng dẫn và phân biệt, thiên văn, âm nhạc, y khoa, bốn bộ Vệ Đà, cổ thư, sử học, chiêm tinh học, ảo thuật, chú thuật, lý luận, chiến đấu, âm luật, hải dương học, và Phật ngôn là mười chín. Đức vua là nhà tranh luận khó sánh bằng, khó khuất phục, được xem là hàng đầu trong số đông các vị giáo chủ. Trong toàn cõi xứ Jambudīpa, không có ai sánh bằng đức vua Milinda về sức mạnh, nhanh nhẹn, dũng cảm, và trí tuệ. Đức vua là người giàu sang, có nhiều tài sản, nhiều của cải, vô số binh lực và xe cộ.
BJT 3Vào một ngày nọ, đức vua Milinda rời khỏi thành với ước muốn xem xét nơi đóng quân và dàn binh của bốn binh chủng gồm vô số binh lực và xe cộ. Sau khi cho kiểm điểm quân đội ở ngoại thành, đức vua ấy vốn là người mở đầu câu chuyện và hứng thú việc khơi mào cuộc mạn đàm với các triết gia và các nhà ngụy biện, đã nhìn mặt trời rồi nói với các quan đại thần rằng: “Ngày hãy còn dài, chúng ta sẽ làm gì nếu đi vào thành ngay bây giờ? Có vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào là người sáng trí, có hội chúng, có đồ chúng, là giáo thọ sư của tập thể, tự xưng là A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, có khả năng để chuyện trò với trẫm để giải tỏa điều nghi hoặc?” Khi được nói như vậy, năm trăm người xứ Yonaka đã nói với đức vua rằng: “Tâu đại vương, có sáu vị thầy là Pūraṇa Kassapa, Makkhalī Gosāla, Nigaṇṭha Nātaputta, Sañjaya Bellaṭṭhiputta, Ajita Kesakambalī, Kakudha Kaccāyana. Các vị ấy có hội chúng, có đồ chúng, là giáo thọ sư của tập thể, được biết tiếng, có danh vọng, là các giáo chủ, được nhiều người đánh giá cao. Tâu đại vương, xin đại vương hãy đi đến, hãy hỏi họ câu hỏi, hãy giải tỏa điều nghi hoặc.”
BJT 4Khi ấy, được tháp tùng bởi năm trăm người xứ Yonaka, đức vua Milinda đã bước lên cỗ xe ngựa cao quý, loại phương tiện di chuyển tuyệt hảo, đi đến gặp Pūraṇa Kassapa, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với Pūraṇa Kassapa, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, đức vua Milinda đã nói Pūraṇa Kassapa điều này:
—Thưa thầy Kassapa, ai bảo hộ thế gian?
—Tâu đại vương, trái đất bảo hộ thế gian.
—Thưa thầy Kassapa, nếu trái đất bảo hộ thế gian, thế thì vì sao chúng sanh đi đến địa ngục vô gián lại đi ngang qua trái đất trước rồi mới đi đến địa ngục vô gián?
Được nói như vậy, Pūraṇa không những đã không thể nuốt trôi mà cũng không thể ói ra được, chỉ ngồi ủ rũ, im lặng, trầm ngâm.
BJT 5Sau đó, đức vua Milinda đã nói với Makkhalī Gosāla điều này:—Thưa thầy Gosāla, có các nghiệp thiện và bất thiện không? Có quả thành tựu của các nghiệp đã được làm tốt và đã được làm xấu không?
—Tâu đại vương, không có các nghiệp thiện và bất thiện, không có quả thành tựu của các nghiệp đã được làm tốt và đã được làm xấu. Tâu đại vương, những người nào ở đời này dòng dõi Sát-đế-lỵ, những người ấy đi đến đời sau cũng sẽ là dòng dõi Sát-đế-lỵ. Những người nào dòng dõi Bà-la-môn, thương buôn, nông phu, hạ tiện, hốt rác, những người ấy đi đến đời sau cũng sẽ là dòng dõi Bà-la-môn, thương buôn, nông phu, hạ tiện, hốt rác, thì có điều gì là bởi các nghiệp thiện và bất thiện?
—Thưa thầy Gosāla, nếu những người ở đời này là dòng dõi Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, thương buôn, nông phu, hạ tiện, hốt rác, những người ấy đi đến đời sau cũng sẽ là dòng dõi Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, thương buôn, nông phu, hạ tiện, hốt rác, không có điều gì được tạo nên bởi các nghiệp thiện và bất thiện. Thưa thầy Gosāla, như thế thì những người nào ở đời này bị chặt tay thì đi đến đời sau cũng sẽ bị chặt tay, những người nào bị chặt chân thì cũng sẽ bị chặt chân, những người nào bị xẻo tai thì cũng sẽ bị xẻo tai phải không ạ?
Được nói như vậy, Gosāla đã im lặng. Khi ấy, đức vua Milinda đã khởi ý điều ý: “Xứ Jambudīpa quả thật trống trơn! Xứ Jambudīpa quả thật vô nghĩa! Không có Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào có khả năng để chuyện trò với trẫm để giải tỏa điều nghi hoặc?”
BJT 6Sau đó, đức vua Milinda đã nói với các quan đại thần rằng: “Đêm trăng trong quả thật đáng yêu! Phải chăng hôm nay chúng ta nên đi đến gặp vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn để hỏi câu hỏi? Vị nào có khả năng để chuyện trò với trẫm để giải tỏa điều nghi hoặc?” Được nói như vậy, các quan đại thần đã im lặng, đứng yên, ngước nhìn khuôn mặt của đức vua.
BJT 7Vào lúc bấy giờ, thành Sāgala đã vắng bóng các Sa-môn, Bà-la-môn, gia chủ sáng trí trong mười hai năm. Nghe tin “các vị Sa-môn, Bà-la-môn, gia chủ sáng trí trú ngụ” ở nơi nào, đức vua đi đến nơi ấy và hỏi các vị ấy câu hỏi. Không có khả năng để làm hài lòng đức vua với câu trả lời cho câu hỏi, tất cả các vị ấy ra đi đến nơi này hoặc nơi khác. Những người nào không ra đi đến phương trời khác, tất cả bọn họ ở lại, giữ thái độ im lặng. Còn các vị tỳ khưu, phần đông thì đi đến dãy Hi-mã-lạp-sơn. Vào lúc bấy giờ, có một trăm koṭi (một tỷ) vị A-la-hán cư ngụ tại cao nguyên Rakkhita, núi Hi-mã-lạp.
BJT 8Lúc đó, đại đức Assagutta với thiên nhĩ giới đã nghe được lời nói của đức vua Milinda. Ngài đã cho triệu tập hội chúng tỳ khưu tại đỉnh núi Yugandhara và đã hỏi các vị tỳ khưu rằng: “Này các sư đệ, có vị tỳ khưu nào có năng lực để chuyện trò với đức vua Milinda để giải tỏa điều nghi hoặc?” Được nói như vậy, một trăm koṭi vị A-la-hán đã im lặng. Các vị đã im lặng khi được hỏi đến lần thứ nhì, đến lần thứ ba. Khi ấy, đại đức Assagutta đã nói với hội chúng tỳ khưu điều này: “Này các sư đệ, ở cõi trời Đao Lợi, về phía đông của lâu đài Vejayanta, có cung điện tên là Ketumatī. Nơi ấy, có vị Thiên tử tên Mahāsena cư ngụ. Vị ấy có năng lực để chuyện trò với đức vua Milinda để giải tỏa điều nghi hoặc.” Khi ấy, một trăm koṭi vị A-la-hán đã biến mất ở ngọn núi Yugandhara và hiện ra ở cõi trời Đao Lợi. Thiên chủ Sakka đã nhìn thấy các vị tỳ khưu ấy từ đàng xa đang tiến đến, sau khi nhìn thấy đã đi đến gặp đại đức Assagutta, sau khi đi đến đã đảnh lễ đại đức Assagutta rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, Thiên chủ Sakka đã nói với đại đức Assagutta điều này: “Bạch ngài, đại chúng tỳ khưu đã ngự đến. Tôi là người của tu viện của hội chúng. Có nhu cầu về điều gì? Có việc gì tôi cần phải làm?” Khi ấy, đại đức Assagutta đã nói với Thiên chủ Sakka điều này: “Tâu đại vương, vị vua này tên Milinda tại thành Sāgala, xứ Jambudīpa, là nhà tranh luận khó sánh bằng, khó khuất phục, được xem là hàng đầu trong số đông các vị giáo chủ. Ông ta đi đến gặp hội chúng tỳ khưu hỏi câu hỏi theo học thuyết về tà kiến và đã gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu.” Khi ấy, Thiên chủ Sakka đã nói với đại đức Assagutta điều này: “Bạch ngài, vị vua Milinda này đã chết đi từ nơi này rồi tái sanh vào loài người. Bạch ngài, có vị Thiên tử này tên là Mahāsena cư ngụ ở cung điện Ketumatī. Vị ấy có năng lực để chuyện trò với đức vua Milinda để giải tỏa điều nghi hoặc. Chúng ta sẽ thỉnh cầu vị Thiên tử ấy về việc tái sanh vào thế giới loài người.”
BJT 9Khi ấy, Thiên chủ Sakka đã dẫn đầu hội chúng tỳ khưu đi vào cung điện Ketumatī, ôm chầm lấy Thiên tử Mahāsena rồi đã nói điều này: “Này Thiên tử, hội chúng tỳ khưu thỉnh cầu Thiên tử về việc tái sanh vào thế giới loài người.” “Bạch ngài, tôi không có mục đích gì ở thế giới loài người. Thế giới loài người là căng thẳng bởi nhiều công việc. Bạch ngài, tôi sẽ là người lần lượt chứng đạt cao hơn rồi sẽ Niết-bàn ngay tại đây, nơi Thiên giới.” Trong khi Thiên chủ Sakka thỉnh cầu đến lần thứ nhì, đến lần thứ ba, Thiên tử Mahāsena cũng đã nói như vầy: “Bạch ngài, tôi không có mục đích gì ở thế giới loài người. Thế giới loài người là căng thẳng bởi nhiều công việc. Bạch ngài, tôi sẽ là người lần lượt chứng đạt cao hơn rồi sẽ Niết-bàn ngay tại đây, nơi Thiên giới.”
BJT 10Khi ấy, đại đức Assagutta đã nói với Thiên tử Mahāsena điều này: “Thưa Thiên tử, trong lúc xem xét thế gian này gồm cả chư Thiên, chúng tôi nhận thấy rằng không ai khác ngoại trừ ngài có được khả năng để đập đổ luận thuyết của đức vua Milinda để nâng đỡ Giáo Pháp. Thưa Thiên tử, hội chúng tỳ khưu thỉnh cầu ngài. Lành thay, bậc thiện nhân! Xin ngài hãy hạ sanh vào thế giới loài người, xin ngài hãy nâng đỡ và ban bố Giáo Pháp của đấng Thập Lực.” Được nói như vậy, Thiên tử Mahāsena (nghĩ rằng): “Nghe nói ta sẽ có khả năng để đập đổ luận thuyết của đức vua Milinda để nâng đỡ Giáo Pháp” đã trở nên mừng rỡ, phấn chấn, rất là phấn khởi, và đã bày tỏ sự chấp thuận: “Bạch đại đức, thật tốt đẹp thay! Tôi sẽ tái sanh vào thế giới loài người.”
BJT 11Sau đó, khi đã hoàn thành công việc cần làm ở Thiên giới, các vị tỳ khưu ấy đã biến mất giữa chư Thiên ở cõi trời Đao Lợi và hiện ra ở cao nguyên Rakkhita, núi Hi-mã-lạp. Khi ấy, đại đức Assagutta đã nói với hội chúng tỳ khưu điều này: “Này các sư đệ, trong hội chúng tỳ khưu có vị tỳ khưu nào đã không đi đến cuộc hội họp?” Được nói như vậy, có vị tỳ khưu nọ đã nói với đại đức Assagutta điều này: “Bạch ngài, có đại đức Rohaṇa cách đây bảy ngày đã đi vào núi Hi-mã-lạp và nhập thiền diệt, xin ngài hãy phái sứ giả đi đến gặp vị ấy.” Đúng vào giây phút ấy, đại đức Rohaṇa cũng vừa xuất khỏi thiền diệt (biết rằng): “Hội chúng chờ đợi ta” nên đã biến mất ở núi Hi-mã-lạp và hiện ra ở cao nguyên Rakkhita, phía trước một trăm koṭi vị A-la-hán. Khi ấy, đại đức Assagutta đã nói với đại đức Rohaṇa điều này:—Này sư đệ Rohaṇa, trong khi lời dạy của đức Phật đang suy tàn, không lẽ đệ không nhận thấy các việc cần phải làm của hội chúng?
—Bạch ngài, tôi đã thiếu sự quan tâm.
—Này sư đệ Rohaṇa, chính vì điều ấy đệ hãy thực hành hình phạt.
—Bạch ngài, tôi sẽ làm gì?
—Này sư đệ Rohaṇa, ở sườn núi Hi-mã-lạp có ngôi làng Bà-la-môn tên là Kajaṅgalā. Người Bà-la-môn tên Sonuttara cư ngụ tại nơi đó. Người con trai của ông sẽ được sanh ra; đứa bé trai tên là Nāgasena. Này sư đệ Rohaṇa, chính vì điều ấy đệ hãy đi vào khất thực ở gia đình ấy trong thời gian bảy năm mười tháng. Sau khi đi vào khất thực, đệ hãy tiếp độ đứa bé trai Nāgasena rồi cho xuất gia. Và khi đứa bé trai đã xuất gia thì đệ sẽ được thoát khỏi hình phạt. Vị ấy đã nói như vậy.
BJT 12Đại đức Rohaṇa cũng đã chấp thuận rằng: “Lành thay!” Còn về Thiên tử Mahāsena sau khi từ Thiên giới chết đi đã chấp nhận sự tiếp nối (tái sanh) trong bụng người vợ của Bà-la-môn Sonuttara. Có ba điều kỳ diệu phi thường đã xuất hiện cùng lúc với việc chấp nhận sự tiếp nối (tái sanh): Các vật dụng chiến đấu đã phát lên ngọn lửa, trái cây đầu mùa chín tới, có đám mây lớn đã đổ mưa.
Về phần đại đức Rohaṇa, kể từ việc chấp nhận sự tiếp nối (tái sanh) của vị Thiên tử, trong khi đi vào khất thực ở gia đình ấy trong thời gian bảy năm mười tháng, đã không nhận được một muỗng cơm, hay là một vá canh, hoặc là sự đảnh lễ, sự chắp tay, hay là hành động thích hợp, dầu là một ngày. Khi ấy, đại đức đã nhận được chỉ là sự chửi rủa, chỉ là sự mắng nhiếc. Dầu là chút ít lời nói: “Này ông, ông hãy đi đi” cũng đã không có người nói. Tuy nhiên, khi đã đến hạn kỳ bảy năm mười tháng, vào một ngày nọ đại đức đã nhận được chút ít lời nói: “Này ông, ông hãy đi đi.” Đúng vào ngày hôm ấy, cũng chính người Bà-la-môn, trong khi đi trở về do công việc bên ngoài, đã gặp vị trưởng lão ở lối ngược chiều và đã nói rằng:—Này ông xuất gia, ông đã đi đến nhà của chúng tôi chưa?
—Này ông Bà-la-môn, đúng vậy. Tôi đã đi đến.
—Vậy có phải ông đã nhận được cái gì đó?
—Này ông Bà-la-môn, đúng vậy. Tôi đã nhận được.
BJT 13Người Bà-la-môn với tâm ý hoan hỷ đã đi về nhà và hỏi rằng: “Mấy người đã cho vị xuất gia ấy vật gì đó phải không?”—“Chúng tôi đã không cho bất cứ vật gì.” Vào ngày kế, người Bà-la-môn đã ngồi ngay tại cửa nhà (nghĩ rằng): “Hôm nay, ta sẽ bắt bẻ vị xuất gia về việc nói dối.” Vào ngày kế, vị trưởng lão đã đến tại cửa nhà của người Bà-la-môn. Sau khi nhìn thấy vị trưởng lão, người Bà-la-môn đã nói như vầy: “Hôm qua, ông đã không nhận được bất cứ vật gì ở nhà chúng tôi mà lại nói là ‘Đã nhận được.’ Chẳng lẽ nói dối là thích đáng đối với các ông hay sao?” Vị trưởng lão đã nói rằng: “Này ông Bà-la-môn, trong bảy năm mười tháng chúng tôi đã không nhận được ở nhà của ông dầu là chút ít lời nói: ‘Này ông, ông hãy đi đi,’ còn hôm qua tôi đã nhận được chút ít lời nói: ‘Này ông, ông hãy đi đi.’ Vì có liên quan đến chút ít lời nói nhã nhặn này mà tôi đã nói như thế.” Người Bà-la-môn đã suy nghĩ rằng: “Những người này sau khi nhận được dầu là chút ít lời nói nhã nhặn mà lại ca tụng ở giữa mọi người là: ‘Chúng tôi đã nhận được.’ Vậy thì sau khi nhận được bất cứ loại vật thực cứng hoặc vật thực mềm nào khác, vì lẽ gì mà họ lại không ca tụng?” Sau khi phát khởi niềm tin, ông ta đã bảo bố thí một muỗng cơm và thức ăn phù hợp từ bữa cơm được chuẩn bị sẵn cho việc sử dụng của bản thân, rồi đã nói rằng: “Ngài sẽ nhận được vật thực này vào mọi lúc.” Kể từ ngày kế, sau khi nhìn thấy sự trầm tĩnh của vị trưởng lão trong khi đi đến, người Bà-la-môn càng phát khởi niềm tin nhiều hơn nữa và đã thỉnh cầu vị trưởng lão việc thọ thực bữa ăn tại nhà của mình một cách thường xuyên. Vị trưởng lão đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Mỗi một ngày, sau khi làm phận sự về thọ thực, trong khi từ giã vị trưởng lão đều thuyết giảng chút ít Phật ngôn rồi mới ra đi.
BJT 14Quả nhiên, đến hạn kỳ mười tháng người nữ Bà-la-môn ấy cũng đã sanh ra người con trai. Tên của đứa bé đã là “Nāgasena.” Đứa bé từ từ lớn lên, và đã sanh được bảy năm. Khi ấy, người cha của đứa bé trai Nāgasena đã nói với đứa bé trai Nāgasena điều này:
—Này Nāgasena thương, con cần phải học các môn học ở gia tộc Bà-la-môn này.
—Cha yêu quý, những điều gì gọi là các môn học ở gia tộc Bà-la-môn này?
—Này Nāgasena thương, ba bộ Vệ Đà gọi là các môn học. Các học thuật còn lại gọi là học thuật.
—Cha yêu quý, như thế thì con sẽ học.
BJT 15Sau đó, người Bà-la-môn Sonuttara đã trao một ngàn đồng là phần lương của vị thầy cho người thầy giáo Bà-la-môn, rồi cho sắp xếp cái giường nhỏ ở một bên tại một căn phòng bên trong tòa nhà dài, rồi đã nói với người thầy giáo Bà-la-môn điều này:
—Thưa vị Bà-la-môn, thầy hãy cho đứa bé trai này đọc tụng các chú thuật.
—Này bé trai thương, như thế thì con hãy học các chú thuật.
Rồi người thầy giáo Bà-la-môn đọc tụng. Đối với đứa bé trai Nāgasena, chỉ với một lần đọc thì ba bộ Vệ Đà đã được đi vào tâm, đạt được giọng, khéo được nắm bắt, khéo được xác định, khéo được tác ý. Chỉ cần một lần, kiến thức về ba bộ Vệ Đà cùng các từ vựng và nghi thức, luôn cả âm từ với sự phân tích, và truyền thống là thứ năm, đã sanh khởi đến đứa bé. Nó đã biết về cú pháp, về văn phạm, và đã không thiếu về phần triết học và các tướng trạng của bậc đại nhân.
BJT 16Khi ấy, đứa bé trai Nāgasena đã nói với người cha điều này:
—Cha yêu quý, ở gia tộc Bà-la-môn này còn có các môn cần phải học nào thù thắng hơn thế này, hay là chỉ chừng này thôi?
—Này Nāgasena thương, ở gia tộc Bà-la-môn này không còn có các môn cần phải học nào thù thắng hơn thế này. Chỉ chừng này là cần phải học thôi.
Sau đó, khi đã trả lời cuộc kiểm tra của thầy giáo, đứa bé trai Nāgasena đã từ tòa nhà dài bước xuống, tâm tự khiển trách về cuộc sống trong thời gian qua, rồi đã đi đến nơi thanh vắng trầm tư. Trong khi xem xét phần đầu, phần giữa, và phần cuối đối với học thuật của mình, nó đã không nhìn thấy cốt lõi, dầu là chút ít, ở phần đầu, phần giữa, hay phần cuối. (Nghĩ rằng): “Các bộ Vệ Đà này quả là rỗng không! Các bộ Vệ Đà này quả thật vô nghĩa, không có cốt lõi, thiếu đi cốt lõi!” nó đã trở nên ân hận, không hoan hỷ.
BJT 17Vào lúc bấy giờ, đại đức Rohaṇa ngồi tại trú xứ Vattaniya đã dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đứa bé trai Nāgasena, nên đã quấn y, trùm y, rồi cầm lấy bình bát và y biến mất ở trú xứ Vattaniya rồi hiện ra ở phía trước ngôi làng Bà-la-môn Kajaṅgalā. Đứa bé trai Nāgasena, đứng ở cánh cổng ra vào căn nhà của mình, đã nhìn thấy đại đức Rohaṇa từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã hoan hỷ, phấn khởi, vui mừng, sanh tâm phỉ lạc (nghĩ rằng): “Có lẽ vị xuất gia này có thể biết được cái gì đó là cốt lõi” nên đã đi đến gần đại đức Rohaṇa, sau khi đến gần đã nói với đại đức Rohaṇa điều này:
—Thưa ông, ông là ai mà cạo đầu mặc y ca-sa như vầy?
—Này cậu bé, ta được gọi là bậc xuất gia.
—Thưa ông, với việc gì mà ông được gọi là bậc xuất gia?
—Là bậc xuất gia để loại bỏ các điều ô nhiễm xấu xa. Này cậu bé, với điều ấy mà ta được gọi là bậc xuất gia.
18.—Thưa ông, vì lý do gì mà tóc của ông không giống như (tóc) của những người khác?
—Này cậu bé, sau khi nhìn thấy mười sáu điều vướng bận này, ta đã cạo bỏ râu tóc trở thành bậc xuất gia. Mười sáu điều gì? Sự vướng bận về trang điểm, sự vướng bận về trau chuốt, sự vướng bận về xức dầu, sự vướng bận về gội rửa, sự vướng bận về tràng hoa, sự vướng bận về chất thơm, sự vướng bận về thuốc bôi, sự vướng bận về thuốc harīṭaka, sự vướng bận về thuốc āmalaka, sự vướng bận về nhuộm tóc, sự vướng bận về buộc tóc, sự vướng bận về chải tóc, sự vướng bận về thợ hớt tóc, sự vướng bận về gỡ tóc rối, sự vướng bận về chấy rận, khi các sợi tóc bị rụng nhiều người buồn rầu, than vãn, rên rỉ, đấm ngực khóc lóc, rơi vào mê muội. Này cậu bé, bị rối rắm trong mười sáu điều vướng bận này, loài người xao lãng tất cả các học thuật vô cùng tinh tế.
19.—Thưa ông, vì lý do gì mà ngay cả các vải quàng của ông cũng không giống như (các vải quàng) của những người khác?
—Này cậu bé, các vải quàng xinh đẹp, được nương tựa vào lòng ham muốn, là các biểu hiện của hàng tại gia. Những lo sợ nào đó được sanh lên từ vải vóc, những điều ấy không có ở việc mặc vải ca-sa. Vì điều ấy mà ngay cả các vải quàng của ta cũng không giống như (các vải quàng) của những người khác.
—Thưa ông, ông có biết cái gọi là các học thuật?
—Này cậu bé, có chứ. Ta biết các học thuật. Chú thuật hạng nhất ở thế gian, ta cũng biết.
—Thưa ông, có thể nào ban điều ấy cho tôi không?
—Này cậu bé, được chứ. Có thể.
—Như thế thì ông hãy ban cho tôi đi.
—Này cậu bé, không phải lúc. Chúng ta hãy đi khất thực ở xóm nhà.
BJT 20Khi ấy, đứa bé trai Nāgasena đã cầm lấy bình bát từ tay của đại đức Rohaṇa rồi hướng dẫn đi vào nhà, sau đó đã tự tay làm hài lòng và toại ý đại đức Rohaṇa với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đại đức Rohaṇa đã thọ thực xong, bàn tay đã rời khỏi bình bát, cậu bé đã nói điều này: “Thưa ông, bây giờ ông hãy ban chú thuật cho tôi đi.”
“Này cậu bé, khi nào con không còn sự vướng bận, và thuyết phục được mẹ cha cho phép, rồi khoác vào hình tướng xuất gia mà ta đã đạt được, đến khi ấy ta sẽ ban cho,” vị trưởng lão đã đáp lại.
Sau đó, đứa bé trai Nāgasena đã đi đến gặp mẹ cha và nói rằng: “Thưa mẹ cha, vị xuất gia này nói rằng: ‘Ta biết chú thuật hạng nhất ở thế gian.’ Nhưng ông không ban cho kẻ không xuất gia trong sự chứng minh của mình. Con sẽ xuất gia trong sự chứng minh của vị này và sẽ học chú thuật ấy.”
BJT 21Khi ấy, mẹ cha của đứa bé nghĩ rằng: “Hãy để cho con trai của chúng ta cũng xuất gia rồi học chú thuật. Học xong rồi thì quay trở về,” và đã cho phép rằng: “Này con, hãy học đi.” Sau đó, đại đức Rohaṇa đã dẫn đứa bé trai Nāgasena đi đến trú xứ Vattaniya, rồi Vijambhavatthu, sau khi đi đến trú xứ Vijambhavatthu đã ngụ lại một đêm rồi đi đến cao nguyên Rakkhita, sau khi đi đến đã cho đứa bé trai Nāgasena xuất gia giữa một trăm koṭi vị A-la-hán. Và khi đã được xuất gia, đại đức Nāgasena đã nói với đại đức Rohaṇa điều này: “Bạch ngài, hình tướng của ngài con đã đạt được. Bây giờ xin ngài hãy ban chú thuật cho con.” Khi ấy, đại đức Rohaṇa đã suy nghĩ rằng: “Ta nên hướng dẫn Nāgasena cái gì trước, Kinh hay Vi Diệu Pháp?” rồi đã hướng dẫn Vi Diệu Pháp trước (nghĩ rằng): “Nāgasena này quả là sáng trí, có thể học Vi Diệu Pháp một cách thoải mái.”
Và đại đức Nāgasena chỉ với một lần đọc đã rành rẽ tất cả Tạng Vi Diệu Pháp ấy (tức là) bộ Dhammasaṅgaṇī (Pháp Tụ) gồm có nhóm ba, nhóm hai như là “các pháp thiện, các pháp bất thiện, các pháp vô ký,” bộ Vibhaṅga (Phân Tích) gồm có mười tám chương phân tích khởi đầu là chương Phân Tích về Uẩn, bộ Dhātukathā (Chất Ngữ) được phân loại thành mười bốn phần khởi đầu là phần “yếu hiệp bất yếu hiệp,” bộ Puggalapaññatti (Nhân Chế Định) được phân loại thành sáu phần khởi đầu là phần “uẩn chế định, xứ chế định,” bộ Kathāvatthu (Ngữ Tông) được phân loại sau khi đã tổng hợp một ngàn bài giảng: “năm trăm bài giảng về học thuyết của phái mình, năm trăm bài giảng về học thuyết của phái khác,” bộ Yamaka (Song Đối) được phân loại thành mười phần khởi đầu là phần “căn song, uẩn song,” bộ Paṭṭhāna (Vị Trí) được phân loại thành hai mươi bốn phần khởi đầu là phần “nhân duyên, cảnh duyên.” Đại đức Nāgasena đã nói rằng: “Bạch ngài, xin hãy dừng lại. Chớ giảng thêm nữa. Con sẽ đọc chỉ với chừng này.” Sau đó, đại đức Nāgasena đã đi đến gặp một trăm koṭi vị A-la-hán, sau khi đi đến đã nói với một trăm koṭi vị A-la-hán điều này: “Bạch các ngài, sau khi xếp vào trong ba câu này là ‘các pháp thiện, các pháp bất thiện, các pháp vô ký,’ con sẽ giảng chi tiết toàn bộ Tạng Vi Diệu Pháp.”
—Nāgasena, lành thay! Con hãy giảng.
BJT 22Khi ấy, đại đức Nāgasena đã giảng chi tiết bảy bộ sách trong bảy tháng. Quả đất đã gầm lên. Chư Thiên đã ban lời tán thưởng: “Lành thay!” Các Phạm Thiên đã vỗ tay. Các bột trầm hương của cõi trời và các bông hoa mạn-đà-la của cõi trời đã đổ mưa.
Sau đó, khi đại đức Nāgasena được tròn đủ hai mươi tuổi, một trăm koṭi vị A-la-hán đã cho tu lên bậc trên ở cao nguyên Rakkhita. Và khi đã được tu lên bậc trên, đại đức Nāgasena vào cuối đêm ấy lúc rạng đông đã quấn y trùm y rồi cầm bình bát và y, trong khi cùng với thầy tế độ đi vào làng để khất thực, đã sanh khởi ý nghĩ suy tầm như vầy: “Thầy tế độ của ta quả là rỗng không! Thầy tế độ của ta quả là ngu dốt! Ông đã bỏ qua phần còn lại về lời dạy của đức Phật và đã hướng dẫn ta Vi Diệu Pháp trước.”
BJT 23Khi ấy, đại đức Rohaṇa, sau khi dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đại đức Nāgasena, đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Này Nāgasena, con đã suy tầm về ý nghĩ suy tầm không thích đáng. Này Nāgasena, hơn nữa điều này quả là không thích đáng đối với con.” Khi ấy, đại đức Nāgasena đã khởi ý điều này: “Thật là kỳ diệu! Thật là phi thường! Thầy tế độ của ta biết được ý nghĩ suy tầm bằng tâm. Thầy tế độ của ta quả là sáng trí. Hay là ta nên xin ngài thứ lỗi?”
Khi ấy, đại đức Nāgasena đã nói với đại đức Rohaṇa điều này: “Bạch ngài, xin ngài thứ lỗi cho con. Con sẽ không suy tầm như thế nữa.” Khi ấy, đại đức Rohaṇa đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Này Nāgasena, chỉ với chừng ấy thì ta không thứ lỗi cho con đâu. Này Nāgasena, có thành phố tên là Sāgala. Tại nơi ấy, có đức vua tên Milinda cai trị vương quốc. Ông ta hỏi câu hỏi theo học thuyết về tà kiến và đã gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu. Nếu con đi đến nơi đó, cải hóa, và tạo niềm tin cho đức vua ấy; được vậy thì ta sẽ thứ lỗi cho con.”
BJT 24Đại đức Nāgasena đã nói rằng: “Bạch ngài, xin hãy để yên một đức vua Milinda. Bạch ngài, nếu tất cả các đức vua ở toàn cõi Jambudīpa đi đến để hỏi con câu hỏi, con sẽ trả lời và vạch rõ mọi điều ấy. Bạch ngài, xin ngài thứ lỗi cho con;” khi được trả lời: “Ta không thứ lỗi” thì đã nói rằng: “Bạch ngài, như thế thì ba tháng này con sẽ sống nương nhờ vào vị nào?” “Này Nāgasena, đại đức Assagutta này cư ngụ tại trú xứ Vattaniya. Này Nāgasena, con hãy đi đến gặp đại đức Assagutta, sau khi đi đến hãy đê đầu đảnh lễ hai bàn chân của đại đức Assagutta với lời thăm hỏi của ta. Và con hãy nói với vị ấy như vầy: ‘Bạch ngài, thầy tế độ của con xin đê đầu đảnh lễ hai bàn chân của ngài, và hỏi thăm về sự ít bệnh, ít đau, trạng thái nhẹ nhàng, khỏe mạnh, sống thoải mái (của ngài). Thầy tế độ của con đã gởi con đến sống hầu cận ngài trong ba tháng.’
BJT 25Và khi được hỏi: ‘Thầy tế độ của con là vị nào,’ thì con nên đáp rằng: ‘Bạch ngài, gọi là trưởng lão Rohaṇa.’ Khi được hỏi: ‘Ta đây tên gì?’ thì con nên đáp rằng: ‘Bạch ngài, thầy tế độ của con biết tên của ngài.’” “Bạch ngài, xin vâng.” Và đại đức Nāgasena, sau khi đảnh lễ đại đức Rohaṇa, đã hướng vai phải nhiễu quanh, rồi cầm lấy bình bát và y, trong khi tuần tự du hành đã đi đến trú xứ Vattaniya nơi đại đức Assagutta, sau khi đi đến đã đảnh lễ đại đức Assagutta rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, đại đức Nāgasena đã nói với đại đức Assagutta điều này: “Bạch ngài, thầy tế độ của con xin đê đầu đảnh lễ hai bàn chân của ngài. Và người dặn dò như vầy. Người hỏi thăm về sự ít bệnh, ít đau, trạng thái nhẹ nhàng, khỏe mạnh, sống thoải mái (của ngài). Bạch ngài, thầy tế độ của con đã gởi con đến sống hầu cận ngài trong ba tháng.” Khi ấy, đại đức Assagutta đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Con tên gì?” “Bạch ngài, con tên Nāgasena.” “Thầy tế độ của con tên gì?” “Bạch ngài, Thầy tế độ của con gọi là Trưởng Lão Rohaṇa.” “Ta đây tên gì?” “Bạch ngài, thầy tế độ của con biết tên của ngài.” “Này Nāgasena, tốt lắm! Hãy đem cất bình bát và y.” “Bạch ngài, lành thay!” rồi đã đem cất bình bát và y, rồi vào ngày kế tiếp, đã quét phòng, đã đem lại nước rửa mặt và tăm xỉa răng. Vị trưởng lão đã quét lại chỗ đã được quét, đã đổ đi nước ấy rồi đem lại nước khác, và đã dời đi gỗ chà răng ấy rồi lấy gỗ chà răng khác. Ngài đã không trao đổi chuyện trò. Sau khi đã làm như vậy bảy ngày, vào ngày thứ bảy ngài đã hỏi lần nữa. Khi được đại đức Nāgasena trả lời y như thế, ngài đã cho phép việc cư trú mùa mưa.
BJT 26Vào lúc bấy giờ, có một đại tín nữ đã hộ độ đại đức Assagutta thời gian ba mươi năm. Khi ấy, vào cuối thời điểm ba tháng, đại tín nữ ấy đã đi đến gặp đại đức Assagutta, sau khi đến đã nói với đại đức Assagutta điều này: “Bạch sư, có vị tỳ khưu nào khác hầu cận sư không?” “Này đại tín nữ, có vị tỳ khưu tên Nāgasena hầu cận chúng tôi.”
—Bạch sư Assagutta, như thế thì xin sư cùng với vị Nāgasena hãy nhận lời bữa thọ trai vào ngày mai.
Đại đức Assagutta đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Sau đó, vào cuối đêm ấy lúc rạng đông, đại đức Assagutta đã quấn y trùm y rồi cầm bình bát và y cùng với đại đức Nāgasena là vị Sa-môn hầu cận đã đi đến tư gia của người đại tín nữ, sau khi đi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi đã được xếp đặt.
Khi ấy, người đại tín nữ ấy đã tự tay làm hài lòng và toại ý đại đức Assagutta và đại đức Nāgasena với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm. Sau đó, khi đại đức Nāgasena đã thọ thực xong bàn tay đã rời khỏi bình bát, đại đức Assagutta đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Này Nāgasena, con hãy nói lời tùy hỷ cho người đại tín nữ,” nói xong điều ấy đã rời chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
BJT 27Sau đó, người đại tín nữ ấy đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Bạch sư Nāgasena, tôi đã lớn tuổi. Hãy nói lời tùy hỷ cho tôi với bài giảng Pháp thâm thúy.” Khi ấy, đại đức Nāgasena đã nói lời tùy hỷ cho người đại tín nữ ấy với bài giảng Vi Diệu Pháp thâm thúy, vượt trên thế gian, liên quan đến không tánh. Khi ấy, ngay tại chỗ ngồi ấy, Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến người đại tín nữ ấy: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Còn đại đức Nāgasena, sau khi nói lời tùy hỷ cho người đại tín nữ ấy, trong khi quán xét lại Pháp do mình thuyết giảng, đã khởi sự việc minh sát, và trong khi đang ngồi ngay tại chỗ ngồi ấy, đã thành tựu quả Nhập Lưu. Khi ấy, đại đức Assagutta, ngồi ở ngôi nhà tròn, sau khi biết được việc đạt thành Pháp nhãn của cả hai người đã thốt lời tán thưởng rằng: “Lành thay, lành thay! Này Nāgasena, với một phát bắn mũi tên mà hai thân thể to lớn đã bị vỡ tung.” Và nhiều ngàn chư Thiên đã thốt lời tán thưởng: “Lành thay!”
BJT 28Sau đó, đại đức Nāgasena đã từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến gặp đại đức Assagutta, sau khi đi đến đã đảnh lễ đại đức Assagutta rồi ngồi xuống một bên. Khi đại đức Nāgasena đã ngồi xuống một bên, đại đức Assagutta đã nói với đại đức Nāgasena điều này:
—Này Nāgasena, con hãy đi đến Pāṭaliputta. Ở thành phố Pāṭaliputta, tại tu viện Asoka, có đại đức Dhammarakkhita cư ngụ. Con hãy học lời dạy của đức Phật trong sự chứng minh của vị ấy.
—Bạch ngài, từ đây đến thành phố Pāṭaliputta là bao xa?
—Này Nāgasena, một trăm do-tuần.
—Bạch ngài, đường đi quả là xa. Trên đường đi, vật thực khó kiếm. Con sẽ đi thế nào?
—Này Nāgasena, con hãy đi. Trên đường đi, con sẽ nhận được đồ ăn khất thực gồm có cơm gạo ngon không có hạt đen, nhiều canh, nhiều thức ăn.
—Bạch ngài, xin vâng. Sau khi đảnh lễ đại đức Assagutta và hướng vai phải nhiễu quanh, đại đức Nāgasena đã cầm lấy bình bát và y, rồi ra đi du hành về phía Pāṭaliputta.
Vào lúc bấy giờ, nhà triệu phú người Pāṭaliputta cùng với năm trăm cỗ xe đang di chuyển ở con đường dẫn đến Pāṭaliputta. Nhà triệu phú người Pāṭaliputta đã nhìn thấy đại đức Nāgasena từ đàng xa đang tiến đến, sau khi nhìn thấy đã quay năm trăm cỗ xe trở lại và tiến đến gần đại đức Nāgasena, sau khi đến gần đã đảnh lễ đại đức Nāgasena rồi nói rằng: “Bạch sư, sư đi đâu?” “Này gia chủ, Pāṭaliputta.” “Tốt quá, thưa sư! Chúng tôi cũng đi Pāṭaliputta. Sư hãy thoải mái đi cùng chúng tôi.”
Sau đó, nhà triệu phú người Pāṭaliputta có được niềm tin vào bốn oai nghi của đại đức Nāgasena nên đã tự tay làm hài lòng và toại ý đại đức Nāgasena với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đại đức Nāgasena đã thọ thực xong bàn tay đã rời khỏi bình bát, ông ta đã cầm lấy một chiếc ghế thấp rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, nhà triệu phú người Pāṭaliputta đã nói với đại đức Nāgasena điều này:
—Bạch sư, sư tên gì?
—Này gia chủ, tôi tên Nāgasena.
—Bạch sư, vậy sư có biết lời dạy của đức Phật không?
—Này gia chủ, tôi có biết các câu về Vi Diệu Pháp.
—Bạch sư, thật là lợi ích cho chúng ta! Bạch sư, thật khéo đạt được cho chúng ta! Bạch sư, con cũng thích Vi Diệu Pháp, sư cũng chuyên về Vi Diệu Pháp. Bạch sư, thỉnh sư nói về các câu Vi Diệu Pháp.
BJT 29Khi ấy, đại đức Nāgasena đã thuyết giảng Vi Diệu Pháp cho nhà triệu phú người Pāṭaliputta. Ngay trong khi đang lần lượt thuyết giảng, Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến nhà triệu phú người Pāṭaliputta: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Sau đó, nhà triệu phú người Pāṭaliputta đã cho năm trăm cỗ xe đi trước, còn bản thân đi phía sau. Ông ta đã dừng lại ở đường rẽ hai không xa thành Pāṭaliputta, rồi nói với đại đức Nāgasena điều này: “Bạch sư Nāgasena, đường này dẫn đến tu viện Asoka. Bạch sư, còn đây là tấm mền len quý báu của tôi, bề dài mười sáu cánh tay, bề rộng tám cánh tay. Bạch sư, vì lòng thương tưởng xin sư hãy thọ nhận tấm mền len quý báu này.” Đại đức Nāgasena vì lòng thương tưởng đã thọ nhận tấm mền len quý báu ấy. Khi ấy, nhà triệu phú người Pāṭaliputta được hoan hỷ, phấn khởi, vui mừng, sanh tâm phỉ lạc, đã đảnh lễ đại đức Nāgasena, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
BJT 30Sau đó, đại đức Nāgasena đã đi đến tu viện Asoka gặp đại đức Dhammarakkhita, sau khi đi đến đã đảnh lễ đại đức Dhammarakkhita, và nói về lý do đi đến của mình. Sau đó, trong sự chứng minh của đại đức Dhammarakkhita, đại đức Nāgasena đã học Tam Tạng, lời dạy của đức Phật, về phần văn tự chỉ với một lần đọc trong ba tháng, rồi thêm ba tháng nữa chú tâm về phần ý nghĩa. Khi ấy, đại đức Dhammarakkhita đã nói với đại đức Nāgasena điều này:
—Này Nāgasena, cũng giống như người chăn bò bảo vệ con bò, còn những kẻ khác thưởng thức hương vị (sản phẩm) của bò, này Nāgasena tương tợ y như thế, mặc dù đang thuộc lòng Tam Tạng, lời dạy của đức Phật, con không hưởng được phần của bản thể Sa-môn.
—Bạch ngài, hãy là vậy. Với chừng này là đủ rồi.
Rồi ngay trong ngày ấy, đêm ấy, đại đức Nāgasena đã đạt được phẩm vị A-la-hán cùng với các Tuệ Phân Tích. Cùng với việc thâm nhập Chân Lý của đại đức Nāgasena, tất cả chư Thiên đã ban lời tán thưởng: “Lành thay.” Trái đất đã gầm lên. Các Phạm Thiên đã vỗ tay. Các bột trầm hương của cõi trời và các bông hoa mạn-đà-la của cõi trời đã đổ mưa.
BJT 31Vào lúc bấy giờ, một trăm koṭi vị A-la-hán đã tụ hội tại cao nguyên Rakkhita núi Hi-mã-lạp, và đã phái sứ giả đi đến gặp đại đức Nāgasena (nói rằng): “Nāgasena hãy đến. Chúng tôi có ý muốn gặp Nāgasena.” Khi ấy, sau khi nghe được lời nói của người sứ giả, đại đức Nāgasena đã biến mất ở tu viện Asoka và đã hiện ra ở cao nguyên Rakkhita núi Hi-mã-lạp, phía trước một trăm koṭi vị A-la-hán. Khi ấy, một trăm koṭi vị A-la-hán đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Này Nāgasena, đức vua Milinda này gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu với việc hỏi câu hỏi theo học thuyết về tà kiến. Này Nāgasena, thật tốt đẹp thay! Con hãy đi và cải hóa Milinda.”
“Bạch các ngài, xin hãy để yên một đức vua Milinda. Bạch các ngài, nếu tất cả các đức vua ở toàn cõi Jambudīpa đi đến để hỏi con câu hỏi, con sẽ trả lời và vạch rõ mọi điều ấy. Bạch các ngài, các ngài hãy đi đến thành phố Sāgala, không phải lo sợ.”
BJT 32Sau đó, các vị tỳ khưu trưởng lão đã làm cho thành phố Sāgala trở thành quầng ánh sáng màu y ca-sa với sự di chuyển ngược xuôi của các vị ẩn sĩ. Vào lúc bấy giờ, đại đức Āyupāla trú ngụ tại tự viện Saṅkheyya.
Khi ấy, đức vua Milinda đã nói với các quan đại thần rằng: “Đêm trăng trong quả thật đáng yêu! Phải chăng hôm nay chúng ta nên đi đến gặp vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn để hỏi câu hỏi? Vị nào có khả năng để chuyện trò với trẫm để giải tỏa điều nghi hoặc?” Được nói như vậy, năm trăm người xứ Yonaka đã nói với đức vua rằng: “Tâu đại vương, có vị trưởng lão tên Āyupāla thông Tam Tạng, là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa. Hiện nay, vị ấy trú ngụ tại tự viện Saṅkheyya. Tâu đại vương, xin đại vương hãy đi đến đại đức Āyupāla và hỏi câu hỏi.”
“Này các khanh, như thế thì các khanh hãy thông báo đến ngài đại đức.” Sau đó, một nhà tiên tri đã phái sứ giả đi đến gặp đại đức Āyupāla (nói rằng): “Thưa ngài, đức vua Milinda có ý muốn gặp đại đức Āyupāla.” Đại đức Āyupāla cũng đã nói như vầy: “Như thế thì ngài hãy đến.”
BJT 33Sau đó, được tháp tùng bởi năm trăm người xứ Yonaka, đức vua Milinda đã bước lên cỗ xe ngựa cao quý đi đến tự viện Saṅkheyya gặp đại đức Āyupāla, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với đại đức Āyupāla, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Milinda đã nói với đại đức Āyupāla điều này: “Bạch ngài Āyupāla, sự xuất gia của ngài là với mục đích gì? Và mục đích tột cùng của ngài là gì?” Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, sự xuất gia có mục đích thực hành Giáo Pháp và thực hành sự bình lặng.”
—Bạch ngài, có người tại gia nào cũng có sự thực hành Giáo Pháp, (và sự thực hành pháp bình lặng)?
—Tâu đại vương, có chứ. Cũng có người tại gia có sự thực hành Giáo Pháp và có sự thực hành pháp bình lặng. Tâu đại vương, trong khi đức Thế Tôn chuyển vận Bánh Xe Pháp ở thành Bārāṇasī, Isipatana, nơi vườn nai, đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của mười tám koṭi vị Phạm Thiên. Còn sự lãnh hội Giáo Pháp của chư Thiên thì vượt qua cách thức tính đếm. Tất cả những vị ấy đều là người tại gia, không phải bậc xuất gia.
Tâu đại vương, và hơn nữa, trong khi bài Kinh Mahāsamaya đang được thuyết giảng, trong khi bài Kinh Mahāmaṅgala đang được thuyết giảng, trong khi bài Kinh Samacittapariyāya đang được thuyết giảng, trong khi bài Kinh Rāhulovāda đang được thuyết giảng, trong khi bài Kinh Parābhava đang được thuyết giảng bởi đức Thế Tôn, đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của chư Thiên vượt lên trên cách thức tính đếm. Tất cả những vị ấy đều là người tại gia, không phải bậc xuất gia. ”
BJT 34Đức vua Milinda đã nói rằng: “Bạch ngài Āyupāla, như thế thì sự xuất gia của ngài là vô nghĩa; do kết quả của nghiệp ác đã làm trong quá khứ mà các Sa-môn Thích tử xuất gia và gìn giữ các pháp từ khước. Bạch ngài Āyupāla, những vị tỳ khưu (hành pháp) một chỗ ngồi (khi thọ thực), có lẽ trong quá khứ họ là những kẻ đạo tặc đoạt lấy tài sản của những người khác, sau khi cướp đoạt các tài sản của những người khác mà ngày nay, do kết quả của nghiệp ấy, họ trở thành các vị (hành pháp) một chỗ ngồi (khi thọ thực), không chấp nhận thọ thực lúc này lúc khác, nhiều chỗ ngồi. Đối với những vị ấy thì chẳng có giới hạnh, chẳng có khổ hạnh, chẳng có Phạm hạnh. Bạch ngài Āyupāla, những vị tỳ khưu (hành pháp) ngụ ở ngoài trời, có lẽ trong quá khứ họ là những kẻ đạo tặc tàn phá xóm làng, sau khi tiêu hủy các căn nhà của những người khác mà ngày nay, do kết quả của nghiệp ấy, họ trở thành các vị (hành pháp) ngụ ở ngoài trời, không chấp nhận thọ dụng các chỗ trú ngụ. Đối với những vị ấy thì chẳng có giới hạnh, chẳng có khổ hạnh, chẳng có Phạm hạnh. Bạch ngài Āyupāla, những vị tỳ khưu (hành pháp) về oai nghi ngồi (không nằm), có lẽ trong quá khứ họ là những kẻ đạo tặc cướp đường, sau khi bắt giữ các khách đi đường, trói lại, rồi bắt họ ngồi xuống mà ngày nay, do kết quả của nghiệp ấy, họ trở thành các vị (hành pháp) về oai nghi ngồi (không nằm), không chấp nhận được phép nằm. Đối với những vị ấy thì chẳng có giới hạnh, chẳng có khổ hạnh, chẳng có Phạm hạnh.”
BJT 35Được nói như vậy, đại đức Āyupāla đã im lặng, không đáp lại điều gì. Khi ấy, năm trăm người xứ Yonaka đã nói với đức vua Milinda điều này: “Tâu đại vương, vị trưởng lão là bậc sáng trí, tuy nhiên ngài không tự tin nên không đáp lại điều gì.” Sau đó, khi nhìn thấy đại đức Āyupāla có thái độ im lặng, đức vua Milinda đã vỗ tay, reo lên, rồi nói với những người xứ Yonaka điều này: “Xứ Jambudīpa quả thật trống trơn! Xứ Jambudīpa quả thật vô nghĩa! Không có Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào có khả năng để chuyện trò với trẫm để giải tỏa điều nghi hoặc?”
BJT 36Sau đó, đức vua Milinda, trong khi quan sát toàn thể hội chúng ấy, đã nhìn thấy những người Yonaka không bị sợ hãi, không có trạng thái bối rối, nên đã khởi ý điều này: “Ta nghĩ rằng chắc chắn là có vị tỳ khưu sáng trí nào khác có khả năng để chuyện trò với ta để giải tỏa điều nghi hoặc nên những người xứ Yonaka này không có trạng thái bối rối.” Khi ấy, đức vua Milinda đã nói với những người xứ Yonaka điều này: “Này các khanh, có vị tỳ khưu sáng trí nào khác có khả năng để chuyện trò với trẫm để giải tỏa điều nghi hoặc?”
BJT 37Vào lúc bấy giờ, đại đức Nāgasena được vây quanh bởi tập thể Sa-môn, là vị có hội chúng, có đồ chúng, là giáo thọ sư của tập thể, được biết tiếng, có danh vọng, được nhiều người đánh giá cao, là vị sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, khôn khéo, hiểu biết, rành mạch, nghiêm chỉnh, tự tin, nghe nhiều, thông Tam Tạng, hiểu biết sâu sắc, trí đã được khai mở, kinh điển được truyền thừa, tuệ phân tích đã được khai mở, rành rẽ pháp học về lời dạy của bậc Đạo Sư gồm chín thể loại, đã đạt đến sự toàn hảo, thiện xảo trong việc thâm nhập lời thuyết giảng về ý nghĩa của Giáo Pháp trong lời dạy của đấng Chiến Thắng, có tài ứng đối linh hoạt không bị ngập ngừng, có sự thuyết giảng phong phú, có sự phát biểu khéo léo, là vị khó sánh bằng, khó khuất phục, khó trội hơn, khó chèn, khó ép, không lao chao ví như biển cả, không dao động ví như núi chúa, dứt bỏ dục vọng, xua đi tăm tối, phát ra ánh sáng, là diễn giả hùng hồn, gây xáo trộn tập thể của các vị có đồ chúng khác, khuất phục các giáo chủ tà giáo khác, đối với các tỳ khưu, các tỳ khưu ni, các cận sự nam, các cận sự nữ, các vua chúa, các quan đại thần của đức vua thì được trọng vọng, được cung kính, được sùng bái, được cúng dường, được nể nang, nhận được các vật dụng về y phục vật thực chỗ trú ngụ và thuốc men chữa bệnh, đã đạt được đỉnh cao về lợi lộc và đỉnh cao về danh vọng, đang trình bày sự quý báu về lời dạy của đấng Chiến Thắng gồm chín thể loại đến những bậc hiểu biết lớn tuổi đang tập trung lắng nghe, đang chỉ ra con đường Giáo Pháp, đang nắm giữ ngọn đèn Giáo Pháp, đang nâng lên tòa lâu đài Giáo Pháp, đang hy sinh sự cống hiến cho Giáo Pháp, đang nâng đỡ biểu hiệu của Giáo Pháp, đang nâng lên ngọn cờ Giáo Pháp, đang làm vang lên tiếng tù và của Giáo Pháp, đang vỗ trống Giáo Pháp, đang rống tiếng rống sư tử, đang gầm tiếng gầm của vị Trời Inda (tiếng sấm), đang làm hài lòng toàn bộ thế gian với việc đã thốt lên giọng nói ngọt ngào, với việc đã trùm lên mạng lưới tia sét của trí tuệ, với việc đã mang nặng dòng nước thương yêu, với trận mưa lớn về sự Bất Tử của Giáo Pháp, trong khi tuần tự du hành qua làng mạc thị trấn kinh thành đã ngự đến thành phố Sāgala. Ở nơi ấy, đại đức Nāgasena ngụ tại tự viện Saṅkheyya cùng với tám chục ngàn vị tỳ khưu. Vì thế, đã có lời rằng:
“Là vị nghe nhiều, có sự thuyết giảng phong phú, khôn khéo, và tự tin, và thiện xảo về thời điểm, có tài ứng đối, và thông thái.
Và các tỳ khưu thông Tam Tạng, cùng với các vị thông năm bộ Kinh, và luôn cả các vị thông bốn bộ Kinh, các vị ấy tôn vinh Nāgasena.
Nāgasena là vị có tuệ thâm sâu, thông minh, biết được Đạo và không phải là Đạo, đã đạt đến mục đích tối thượng, có sự tự tin.
Được các vị tỳ khưu khôn khéo, có lời nói chân thật ấy tháp tùng, trong khi du hành qua làng mạc thị trấn, đã đi đến Sāgala.
Từ đó, Nāgasena đã ngụ tại tự viện Saṅkheyya. Giống như con sư tử ở ngọn núi, vị ấy thuyết giảng cho nhiều người.”
BJT 38Khi ấy, vị Devamantiya đã nói với đức vua Milinda điều này: “Tâu đại vương, xin đại vương hãy chờ đợi. Tâu đại vương, xin đại vương hãy chờ đợi. Tâu đại vương, có vị trưởng lão tên Nāgasena là bậc sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, nghiêm chỉnh, tự tin, nghe nhiều, có sự thuyết giảng phong phú, có tài ứng đối khôn khéo, đã đạt đến sự toàn hảo trong các tuệ phân tích về ý nghĩa, về các pháp, về ngôn từ, và về phép biện giải. Hiện nay, vị ấy ngụ tại tự viện Saṅkheyya. Tâu đại vương, xin đại vương hãy đi đến, hãy hỏi đại đức Nāgasena câu hỏi. Vị ấy có khả năng để chuyện trò với đại vương để giải tỏa điều nghi hoặc.”
BJT 39Khi ấy, đức vua Milinda, chợt nghe đến tên “Nāgasena,” đã có sự sợ hãi, đã có sự khiếp đảm, đã có nổi da gà. Khi ấy, đức vua Milinda đã nói với Devamantiya điều này: “Này khanh, có phải ngài tỳ khưu Nāgasena có khả năng để chuyện trò với trẫm?” “Tâu đại vương, vị ấy có khả năng để chuyện trò với cả vị Trời Inda, Yama, Varuṇa, Kuvera, Pajāpati, Suyāma, các vị hộ trì cõi Trời Đẩu Suất, luôn cả Đại Phạm Thiên là bậc cha ông, thì có gì với loài người?”
BJT 40Khi ấy, đức vua Milinda đã nói với Devamantiya điều này: “Này Devamantiya, như thế thì khanh hãy phái sứ giả đi đến gặp ngài đại đức.” “Tâu bệ hạ, xin vâng.” Rồi Devamantiya đã phái sứ giả đi đến gặp đại đức Nāgasena (nói rằng): “Bạch ngài, đức vua Milinda có ý muốn gặp đại đức Nāgasena.” Đại đức Nāgasena cũng đã nói rằng: “Như thế thì vị ấy hãy đến.”
BJT 41Sau đó, được tháp tùng bởi năm trăm người xứ Yonaka, đức vua Milinda đã bước lên cỗ xe ngựa cao quý cùng với đội quân binh đi đến tự viện Saṅkheyya gặp đại đức Nāgasena. Vào lúc bấy giờ, đại đức Nāgasena đang ngồi ở ngôi nhà tròn cùng với tám mươi ngàn vị tỳ khưu. Đức vua Milinda đã nhìn thấy hội chúng của đại đức Nāgasena từ đàng xa, sau khi nhìn thấy đã nói với Devamantiya điều này: “Này Devamantiya, hội chúng đông đảo này là của ai vậy?” “Tâu đại vương, là hội chúng của đại đức Nāgasena.” Lúc đó, sau khi nhìn thấy hội chúng của đại đức Nāgasena từ đàng xa, đức vua Milinda đã có sự khiếp đảm, đã có nổi da gà. Khi ấy, đức vua Milinda, tợ như con voi bị bao vây bởi những con tê giác, tợ như con rồng bị bao vây bởi những con kim-sỉ-điểu, tợ như con chó rừng bị bao vây bởi những con trăn, tợ như con gấu bị bao vây bởi những con trâu rừng, tợ như con ếch bị đuổi theo bởi con rắn, tợ như con nai bị đuổi theo bởi con báo, tợ như con rắn bị chạm trán người bắt rắn, tợ như con chuột bị chạm trán con mèo, tợ như con yêu tinh bị chạm trán thầy trừ tà, tợ như mặt trăng đi vào miệng của Rāhu (bị nguyệt thực), tợ như con rắn bị sa vào giỏ, tợ như con chim bị rơi vào lồng, tợ như con cá bị dính vào lưới, tợ như con người bị đi lạc vào rừng có thú dữ, tợ như loài Dạ-xoa phạm lỗi đối với Thiên Vương Vessavaṇa, tợ như vị Thiên tử có tuổi thọ bị cạn kiệt, trở nên sợ hãi, kinh hoàng, dáo dác, rúng động, lông dựng đứng lên, thất thần, lo âu, tâm bị tán loạn, nhụt ý, sau khi lấy lại sự can đảm (nghĩ rằng): “Chớ để người này xem thường ta,” đức vua đã nói với Devamantiya điều này: “Này Devamantiya, khanh chớ giới thiệu đại đức Nāgasena cho trẫm, trẫm sẽ nhận biết Nāgasena dầu chưa được nói ra.”
“Tâu đại vương, lành thay! Xin đại vương hãy tự nhận biết.”
BJT 42Vào lúc bấy giờ, đại đức Nāgasena là ở nơi hội chúng tỳ khưu của ngài gồm bốn mươi ngàn vị tỳ khưu kém thâm niên ở phía trước và bốn mươi ngàn vị tỳ khưu thâm niên hơn ở phía sau. Khi ấy, trong khi quan sát toàn thể hội chúng tỳ khưu ấy từ phía trước từ phía sau và ở chính giữa, đức vua Milinda đã nhìn thấy từ ở đàng xa đại đức Nāgasena đang ngồi ở giữa hội chúng tỳ khưu tợ như cho sư tử có bờm, không chút sợ hãi khiếp đảm, không bị nổi da gà, không sợ hãi thẹn thùng, sau khi nhìn thấy đã nhận ra nhờ vào sự biểu hiện: “Người này đây chính là Nāgasena.” Khi ấy, đức vua Milinda đã nói với Devamantiya điều này: “Này Devamantiya, có phải vị ấy chính là đại đức Nāgasena?” “Tâu đại vương, đúng vậy. Vị ấy chính là đại đức Nāgasena. Tâu đại vương, thật là tốt đẹp! Đại vương đã nhận ra vị Nāgasena.” Vì thế, đức vua đã trở nên hớn hở: “Dầu không được nói, trẫm đã nhận ra được Nāgasena.” Lúc đó, sau khi đã nhìn thấy đại đức Nāgasena, đức vua Milinda đã có sự sợ hãi, đã có sự khiếp đảm, đã có nổi da gà. Vì thế, có lời nói rằng:
“Sau khi nhìn thấy Nāgasena được thành tựu tánh hạnh, đang khéo được rèn luyện trong sự rèn luyện tối thượng, đức vua đã nói lời nói này:
‘Ta đã gặp nhiều nhà thuyết giáo, đã tham dự nhiều cuộc bàn luận, ta đã không có sự sợ hãi như thế này, như là sự run sợ của ta ngày hôm nay.
Sự thất bại chắc chắn sẽ xảy ra cho ta ngày hôm nay, khi tâm không được tập trung như vầy, và chính phần thắng sẽ là của Nāgasena.’”
Dứt Phần Ngoại Thuyết.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Atīte kira kassapassa bhagavato sāsane vattamāne gaṅgāya samīpe ekasmiṃ āvāse mahābhikkhusaṅgho paṭivasati, tattha vattasīlasampannā bhikkhū pātova uṭṭhāya yaṭṭhisammajjaniyo † ādāya buddhaguṇe āvajjentā aṅgaṇaṃ sammajjitvā kacavarabyūhaṃ karonti. Atheko bhikkhu ekaṃ sāmaṇeraṃ ‘‘ehi sāmaṇera, imaṃ kacavaraṃ chaḍḍehī’’ti āha, so asuṇanto viya gacchati, so dutiyampi…pe… tatiyampi āmantiyamāno asuṇanto viya gacchateva. Tato so bhikkhu ‘‘dubbaco vatāyaṃ sāmaṇero’’ti kuddho sammajjanidaṇḍena pahāraṃ adāsi. Tato so rodanto bhayena kacavaraṃ chaḍḍento ‘‘iminā kacavarachaḍḍanapuññakammena yāvāhaṃ nibbānaṃ pāpuṇāmi †, etthantare nibbattanibbattaṭṭhāne majjhanhikasūriyo † viya mahesakkho mahātejo bhaveyya’’nti paṭhamaṃ patthanaṃ paṭṭhapesi. Kacavaraṃ chaḍḍetvā nahānatthāya gaṅgātitthaṃ gato gaṅgāya ūmivegaṃ gaggarāyamānaṃ disvā ‘‘yāvāhaṃ nibbānaṃ pāpuṇāmi †, etthantare nibbattanibbattaṭṭhāne ayaṃ ūmivego viya ṭhānuppattikapaṭibhāno bhaveyyaṃ akkhayapaṭibhāno’’ti dutiyampi patthanaṃ paṭṭhapesi.
3. It is said that in the past, during the dispensation of the Blessed One Kassapa, a great community of monks resided in a monastery near the Ganges. There, monks endowed with virtuous conduct would rise early in the morning, take long-handled brooms, and, reflecting on the qualities of the Buddha, would sweep the courtyard and make piles of the rubbish. Then a certain monk said to a novice, 'Come, novice, throw away this rubbish.' But the novice, as if not hearing, went on his way. The monk, calling him a second time and a third time, was still met with the novice acting as if he did not hear and just going on his way. Then that monk, becoming angry, said, 'Truly, this novice is difficult to instruct!' and struck him with the broom handle. Then the novice, crying out of fear, while throwing away the rubbish, made his first aspiration: 'By this meritorious deed of throwing away rubbish, until I attain Nibbāna, in whatever place I am reborn in the interim, may I be of great power and great majesty, like the midday sun.' After throwing away the rubbish, he went to the bank of the Ganges to bathe. Seeing the roaring force of the waves of the Ganges, he made a second aspiration: 'Until I attain Nibbāna, in whatever place I am reborn in the interim, may I have ready and inexhaustible eloquence, like this force of waves.'
3. Người ta kể rằng, trong quá khứ, vào thời giáo pháp của Đức Thế Tôn Kassapa, có một đại chúng Tỳ-khưu sống trong một tu viện gần sông Hằng. Ở đó, các vị Tỳ-khưu có giới hạnh vẹn toàn, sáng sớm thức dậy, cầm chổi cán dài, trong khi quán tưởng về ân đức của Đức Phật, đã quét sân và gom rác lại thành đống. Bấy giờ, một vị Tỳ-khưu bảo một vị Sa-di: 'Này Sa-di, lại đây, hãy đem đống rác này đi đổ.' Vị Sa-di ấy làm như không nghe thấy và bỏ đi. Vị Tỳ-khưu gọi lần thứ hai... lần thứ ba, nhưng vị Sa-di vẫn làm như không nghe thấy và cứ thế bỏ đi. Bấy giờ, vị Tỳ-khưu ấy tức giận, nghĩ rằng: 'Sa-di này thật khó bảo,' rồi lấy cán chổi đánh một cái. Vị Sa-di ấy vừa khóc vừa sợ hãi, trong khi đổ rác đã phát nguyện đầu tiên rằng: 'Do công đức đổ rác này, cho đến khi con chứng đắc Niết-bàn, trong khoảng thời gian ấy, ở bất cứ nơi nào con tái sanh, mong con sẽ có được quyền lực và uy đức vĩ đại như mặt trời giữa trưa.' Sau khi đổ rác xong, vị ấy đi đến bến sông Hằng để tắm, thấy sóng sông Hằng cuồn cuộn gầm vang, liền phát nguyện lần thứ hai: 'Cho đến khi con chứng đắc Niết-bàn, trong khoảng thời gian ấy, ở bất cứ nơi nào con tái sanh, mong con sẽ có trí tuệ biện tài ứng đối nhanh nhạy và vô tận như những con sóng này.'
Sopi bhikkhu sammajjanisālāya sammajjaniṃ ṭhapetvā nahānatthāya gaṅgātitthaṃ gacchanto sāmaṇerassa patthanaṃ sutvā ‘‘esa mayā payojitopi tāva evaṃ pattheti, mayhaṃ kiṃ na samijjhissatī’’ti cintetvā ‘‘yāvāhaṃ nibbānaṃ pāpuṇāmi †, etthantare nibbattanibbattaṭṭhāne ayaṃ gaṅgāūmivego viya akkhayapaṭibhāno bhaveyyaṃ, iminā pucchitapucchitaṃ sabbaṃ pañhapaṭibhānaṃ vijaṭetuṃ nibbeṭhetuṃ samattho bhaveyya’’nti patthanaṃ paṭṭhapesi.
That monk too, having placed the broom in the place where brooms were kept, was going to the bank of the Ganges to bathe when he heard the novice's aspiration. He thought, 'If this one, who was prompted by me, makes such an aspiration, what could not be accomplished by me?' And he made this aspiration: 'Until I attain Nibbāna, in whatever place I am reborn in the interim, may I have inexhaustible eloquence like this force of the Ganges' waves, and may I be capable of disentangling and explaining every single question asked by this novice.'
Vị Tỳ-khưu kia cũng vậy, sau khi đặt chổi vào nhà để chổi, trong khi đi đến bến sông Hằng để tắm, nghe được lời phát nguyện của vị Sa-di, liền suy nghĩ: 'Vị này do ta sai bảo mà còn phát nguyện như vậy, tại sao điều đó lại không thành tựu cho ta chứ?' rồi phát nguyện rằng: 'Cho đến khi ta chứng đắc Niết-bàn, trong khoảng thời gian ấy, ở bất cứ nơi nào ta tái sanh, mong ta sẽ có trí tuệ biện tài vô tận như những con sóng sông Hằng này, và có khả năng gỡ rối, giải đáp tất cả những câu hỏi mà vị này sẽ hỏi.'
Te ubhopi devesu ca manussesu ca saṃsarantā ekaṃ buddhantaraṃ khepesuṃ. Atha amhākaṃ bhagavatāpi yathā moggaliputtatissatthero dissati, evametepi dissanti mama parinibbānato pañcavassasate atikkante ete uppajjissanti, yaṃ mayā sukhumaṃ katvā desitaṃ dhammavinayaṃ, taṃ ete pañhapucchanaopammayuttivasena nijjaṭaṃ niggumbaṃ katvā vibhajissantīti niddiṭṭhā.
Both of them, wandering through the realms of gods and humans, passed one Buddha-interval. Then, just as our Blessed One made a prophecy concerning the Elder Moggaliputtatissa, so too did he make a prophecy concerning these two: 'Five hundred years after my Parinibbāna has passed, these two will arise. The Dhamma and Vinaya which I have taught subtly and profoundly, they will clarify, making it free of tangles and knots, by means of asking questions and using similes and reasoning.'
Cả hai vị ấy, trong khi luân hồi trong các cõi trời và người, đã trải qua một Phật kỳ. Bấy giờ, Đức Thế Tôn của chúng ta cũng đã thọ ký cho hai vị này, giống như Ngài đã thọ ký cho Trưởng lão Moggaliputtatissa. Ngài đã chỉ rõ rằng: 'Sau khi ta nhập Niết-bàn hơn năm trăm năm, hai vị này sẽ xuất hiện. Họ sẽ phân tích Giáo pháp và Giới luật mà ta đã giảng dạy một cách vi diệu, làm cho nó trở nên không còn rối rắm, không còn khúc mắc, bằng phương tiện hỏi đáp, ví dụ và lý luận.'
4. Tesu sāmaṇero jambudīpe sāgalanagare milindo nāma rājā ahosi paṇḍito byatto medhāvī paṭibalo atītānāgatapaccuppannānaṃ mantayogavidhānakiriyānaṃ †, karaṇakāle nisammakārī hoti, bahūni cassa satthāni uggahitāni honti. Seyyathidaṃ, suti sammuti saṅkhyā yogā nīti visesikā gaṇikā gandhabbā tikicchā dhanubbedā † purāṇā itihāsā jotisā māyā ketu † mantanā yuddhā chandasā buddhavacanena † ekūnavīsati, vitaṇḍavādī † durāsado duppasaho puthutitthakarānaṃ aggamakkhāyati, sakalajambudīpe milindena raññā samo koci nāhosi yadidaṃ thāmena javena sūrena paññāya, aḍḍho mahaddhano mahābhogo anantabalavāhano.
4. Of those two, the novice became the king named Milinda in the city of Sāgala in Jambudīpa. He was wise, proficient, and intelligent, capable in the methods and procedures of sacred texts concerning the past, future, and present. When it was time to act, he was one who acted with careful consideration. He had mastered many sciences. These were nineteen in all: the Revealed Tradition (Suti), the Traditional Law (Sammuti), Sāṅkhya, Yoga, Nyāya, and Vaiśeṣika philosophies, mathematics, music, medicine, archery, the Purāṇas, history, astrology, magic, logic, spells, warfare, prosody, and the word of the Buddha. He was a debater, difficult to approach, and hard to overcome, acclaimed as the foremost among the many founders of schools of thought. In all of Jambudīpa, there was no one equal to King Milinda in strength, speed, courage, or wisdom. He was wealthy, of great wealth, and of great possessions, with an immeasurable army and number of vehicles.
4. Trong hai vị ấy, vị sa-di đã trở thành vị vua tên là Milinda ở thành Sāgala, cõi Diêm-phù-đề. Vị ấy là bậc hiền trí, thông thái, có trí tuệ, có khả năng đối với các việc làm, các phương pháp, các sự bàn luận trong quá khứ, vị lai, và hiện tại. Khi hành động, vị ấy thường suy xét cẩn thận. Và vị ấy đã học được nhiều môn học. Đó là: Thánh điển Vệ-đà (suti), luật lệ thế gian (sammuti), Số luận (saṅkhyā), Du-già (yogā), Chính trị luận (nīti), Thắng luận (visesikā), Toán học (gaṇikā), Âm nhạc (gandhabbā), Y học (tikicchā), Cung thuật (dhanubbedā), Cổ sự (purāṇā), Sử thi (itihāsā), Thiên văn (jotisā), Ảo thuật (māyā), Kế sách (ketu), Thần chú (mantanā), Binh pháp (yuddhā), Thi luật (chandasā), cùng với Phật ngôn (buddhavacanena), tổng cộng là mười chín môn. Vị ấy là người ngụy biện, khó bị tấn công, khó bị khuất phục, được xem là bậc đứng đầu trong số các giáo chủ ngoại đạo. Trong toàn cõi Diêm-phù-đề, không có ai sánh bằng vua Milinda về sức mạnh, tốc độ, sự dũng mãnh, và trí tuệ. Vị ấy giàu có, nhiều của cải, nhiều tài sản, có vô số binh lực và xe cộ.
5. Athekadivasaṃ milindo rājā anantabalavāhanaṃ caturaṅginiṃ balaggasenābyūhaṃ dassanakamyatāya nagarā nikkhamitvā bahinagare senaṅgadassanaṃ katvā † sāretvā so rājā bhassappavādako lokāyatavitaṇḍa † janasallāpaplava cittakotūhalo visārado vijambhako sūriyaṃ oloketvā amacce āmantesi ‘‘bahu bhaṇe tāva divasāvaseso kiṃ karissāma, idāneva nagaraṃ pavisitvā atthi koci paṇḍito samaṇo vā brāhmaṇo vā saṅghī gaṇī gaṇācariyo api arahantaṃ sammāsambuddhaṃ paṭijānamāno, yo mayā saddhiṃ sallapituṃ sakkoti kaṅkhaṃ paṭivinetuṃ, taṃ upasaṅkamitvā pañhaṃ pucchissāma, kaṅkhaṃ paṭivinayissāmā’’ti.
5. Then one day, King Milinda, desiring to inspect the formation of his immeasurable army and fourfold host, went forth from the city. Having inspected the military divisions outside the city and having dismissed them, that king—who was fond of discussion, whose mind was inclined toward and curious about the floating tide of talk with worldly sophists, who was confident and imposing—looked at the sun and addressed his ministers: 'Sirs, much of the day still remains. What shall we do, having just now entered the city? Is there any wise ascetic or brahmin—the head of a company, the head of a group, a teacher of a group, one who even claims to be an Arahant, a Perfectly Self-Enlightened One—who can converse with me and dispel my doubt? Let us approach him, ask questions, and dispel our doubt.'
5. Rồi một ngày nọ, vua Milinda, với mong muốn được xem đội quân bốn binh chủng với vô số binh lính và xe cộ, đã ra khỏi thành. Sau khi đã xem xét và duyệt binh xong ở bên ngoài thành, vị vua ấy, vốn thích đàm luận, có tâm háo hức, sôi nổi muốn tranh luận với những người theo phái Thuận thế và những người ngụy biện, đã dõng dạc, oai nghi nhìn lên mặt trời rồi nói với các vị đại thần: 'Này các khanh, ngày vẫn còn dài. Chúng ta sẽ làm gì đây, nếu vào thành ngay bây giờ? Có vị hiền trí nào, là sa-môn hay bà-la-môn, có giáo đoàn, có đồ chúng, là đạo sư, lại còn tự xưng là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, người có thể cùng ta đàm luận, có thể giải trừ hoài nghi cho ta chăng? Chúng ta sẽ đến gặp vị ấy để hỏi đạo, để giải trừ hoài nghi'.
Evaṃ vutte pañcasatā yonakā rājānaṃ milindaṃ etadavocuṃ ‘‘atthi, mahārāja, cha satthāro pūraṇo kassapo makkhaligosālo nigaṇṭho nāṭaputto † sañjayo belaṭṭhaputto ajito kesakambalo pakudho kaccāyano, te saṅghino gaṇino gaṇācariyakā ñātā yasassino titthakarā sādhusammatā bahujanassa, gaccha tvaṃ mahārāja, te pañhaṃ pucchassu, kaṅkhaṃ paṭivinayassū’’ti.
When this was said, five hundred Greeks said to King Milinda: “Great king, there are six teachers—Pūraṇa Kassapa, Makkhali Gosāla, Nigaṇṭha Nāṭaputta, Sañjaya Belaṭṭhaputta, Ajita Kesakambala, and Pakudha Kaccāyana. They are leaders of orders, heads of groups, teachers of groups, well-known, famous, founders of sects, and esteemed as virtuous by many people. Go, great king, ask them questions and dispel your doubts.”
Khi được nói như vậy, năm trăm vị đại thần người Yonaka đã tâu với vua Milinda lời này: 'Tâu Đại vương, có sáu vị đạo sư: Pūraṇa Kassapa, Makkhaligosāla, Nigaṇṭha Nāṭaputta, Sañjaya Belaṭṭhaputta, Ajita Kesakambala, và Pakudha Kaccāyana. Họ có giáo đoàn, có đồ chúng, là những vị đạo sư, nổi tiếng, có danh vọng, là những người sáng lập giáo phái, được nhiều người xem là bậc thiện trí. Xin Đại vương hãy đi đến, hỏi họ những câu hỏi, và giải trừ hoài nghi'.
6. Atha kho milindo rājā pañcahi yonakasatehi parivuto bhadravāhanaṃ rathavaramāruyha yena pūraṇo kassapo tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā pūraṇena kassapena saddhiṃ sammodi, sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi, ekamantaṃ nisinno kho milindo rājā pūraṇaṃ kassapaṃ etadavoca ‘‘ko, bhante kassapa, lokaṃ pāletī’’ti? ‘‘Pathavī, mahārāja, lokaṃ pāletī’’ti. ‘‘Yadi, bhante kassapa, pathavī † lokaṃ pāleti, atha kasmā avīcinirayaṃ gacchantā sattā pathaviṃ atikkamitvā gacchantī’’ti? Evaṃ vutte pūraṇo kassapo neva sakkhi ogilituṃ, no sakkhi uggilituṃ, adhomukho pattakkhandho tuṇhībhūto pajjhāyanto nisīdi.
6. Then King Milinda, surrounded by five hundred Greeks, mounted his fine chariot and approached Pūraṇa Kassapa. Having approached, he exchanged friendly and courteous greetings with Pūraṇa Kassapa, and then sat down to one side. Seated to one side, King Milinda said to Pūraṇa Kassapa: “Venerable Kassapa, who protects the world?” “The earth, great king, protects the world.” “But, Venerable Kassapa, if the earth protects the world, why do beings going to the Avīci hell pass beyond the earth to go there?” When this was said, Pūraṇa Kassapa was neither able to spit it out nor to swallow it down. He sat there silent, with downcast face and drooping shoulders, brooding.
6. Khi ấy, vua Milinda, được vây quanh bởi năm trăm vị đại thần Yonaka, đã lên cỗ xe tốt được kéo bởi ngựa hay và đi đến nơi có Pūraṇa Kassapa. Sau khi đến gần, ngài đã trao đổi lời chào hỏi thân mật với Pūraṇa Kassapa. Sau khi đã nói xong những lời đáng hoan hỷ, đáng ghi nhớ, ngài ngồi xuống một bên. Vua Milinda, sau khi đã ngồi xuống một bên, đã hỏi Pūraṇa Kassapa lời này: 'Thưa tôn giả Kassapa, cái gì bảo hộ thế gian?'. 'Tâu Đại vương, đất bảo hộ thế gian'. 'Thưa tôn giả Kassapa, nếu đất bảo hộ thế gian, vậy tại sao chúng sanh đi đến địa ngục Vô Gián lại vượt qua đất mà đi?'. Khi được hỏi như vậy, Pūraṇa Kassapa không thể nuốt vào, cũng không thể nhổ ra, cúi mặt, rũ vai, im lặng, trầm tư ngồi đó.
7. Atha kho milindo rājā makkhaliṃ gosālaṃ etadavoca ‘‘atthi, bhante gosāla, kusalākusalāni kammāni, atthi sukatadukkaṭānaṃ kammānaṃ phalaṃ vipāko’’ti? ‘‘Natthi, mahārāja, kusalākusalāni kammāni, natthi sukatadukkaṭānaṃ kammānaṃ phalaṃ vipāko. Ye te, mahārāja, idha loke khattiyā, te paralokaṃ gantvāpi puna khattiyāva bhavissanti, ye te brāhmaṇā vessā suddā caṇḍālā pukkusā, te paralokaṃ gantvāpi puna brāhmaṇā vessā suddā caṇḍālā pukkusāva bhavissanti. Kiṃ kusalākusalehi kammehī’’ti? ‘‘Yadi, bhante gosāla, idha loke khattiyā brāhmaṇā vessā suddā caṇḍālā pukkusā, te paralokaṃ gantvāpi puna khattiyā brāhmaṇā vessā suddā caṇḍālā pukkusāva bhavissanti, natthi kusalākusalehi kammehi karaṇīyaṃ. Tena hi, bhante gosāla, ye te idha loke hatthacchinnā, te paralokaṃ gantvāpi puna hatthacchinnāva bhavissanti. Ye pādacchinnā, te pādacchinnāva bhavissanti. Ye hatthapādacchinnā, te hatthapādacchinnāva bhavissanti. Ye kaṇṇacchinnā, te kaṇṇacchinnāva bhavissanti. Ye nāsacchinnā, te nāsacchinnāva bhavissanti. Ye kaṇṇanāsacchinnā, te kaṇṇanāsacchinnāva bhavissantī’’ti. Evaṃ vutte gosālo tuṇhī ahosi.
7. Then King Milinda said to Makkhali Gosāla: 'Venerable Gosāla, are there wholesome and unwholesome kamma? Is there a fruit and result of good and bad deeds?' 'There are no wholesome and unwholesome kamma, great king; there is no fruit and result of good and bad deeds. Those who are khattiyas here in this world, great king, upon going to the next world, will again be khattiyas. Those who are brahmins, vessas, suddas, caṇḍālas, and pukkusas, upon going to the next world, will again be brahmins, vessas, suddas, caṇḍālas, and pukkusas. What is to be done with wholesome and unwholesome kamma?' 'If, venerable Gosāla, those who are khattiyas, brahmins, vessas, suddas, caṇḍālas, and pukkusas here in this world, upon going to the next world, will again be khattiyas, brahmins, vessas, suddas, caṇḍālas, and pukkusas, and if there is nothing to be done by means of wholesome and unwholesome kamma, then in that case, venerable Gosāla, those whose hands are cut off here in this world will, upon going to the next world, again have their hands cut off. Those whose feet are cut off will again have their feet cut off. Those whose hands and feet are cut off will again have their hands and feet cut off. Those whose ears are cut off will again have their ears cut off. Those whose noses are cut off will again have their noses cut off. Those whose ears and noses are cut off will again have their ears and noses cut off.' When this was said, Gosāla became silent.
7. Khi ấy, vua Milinda hỏi Makkhaligosāla lời này: 'Thưa tôn giả Gosāla, có nghiệp thiện, nghiệp ác không? Có quả báo của nghiệp thiện, nghiệp ác không?'. 'Tâu Đại vương, không có nghiệp thiện, nghiệp ác. Không có quả báo của nghiệp thiện, nghiệp ác. Tâu Đại vương, ở đời này, những người thuộc dòng Sát-đế-lợi, sau khi sang đời sau, cũng sẽ lại là dòng Sát-đế-lợi. Những người thuộc dòng Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà-la, Chiên-đà-la, Pukkusa, sau khi sang đời sau, cũng sẽ lại là dòng Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà-la, Chiên-đà-la, Pukkusa. Nghiệp thiện, nghiệp ác thì có ích gì?'. 'Thưa tôn giả Gosāla, nếu ở đời này, những người thuộc dòng Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà-la, Chiên-đà-la, Pukkusa, sau khi sang đời sau, cũng lại trở thành dòng Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà-la, Chiên-đà-la, Pukkusa, và nếu không có việc gì phải làm với nghiệp thiện, nghiệp ác, vậy thì, thưa tôn giả Gosāla, những người bị cụt tay ở đời này, sau khi sang đời sau, cũng sẽ lại bị cụt tay hay sao? Những người bị cụt chân, cũng sẽ lại bị cụt chân hay sao? Những người bị cụt tay chân, cũng sẽ lại bị cụt tay chân hay sao? Những người bị cụt tai, cũng sẽ lại bị cụt tai hay sao? Những người bị cụt mũi, cũng sẽ lại bị cụt mũi hay sao? Những người bị cụt tai và mũi, cũng sẽ lại bị cụt tai và mũi hay sao?'. Khi được nói như vậy, Gosāla im lặng.
Atha kho milindassa rañño etadahosi ‘‘tuccho vata bho jambudīpo, palāpo vata bho jambudīpo, natthi koci samaṇo vā brāhmaṇo vā, yo mayā saddhiṃ sallapituṃ sakkoti kaṅkhaṃ paṭivinetu’’nti.
Then it occurred to King Milinda: 'Alas, Jambudīpa is empty! Alas, Jambudīpa is mere chaff! There is no ascetic or brahmin who is able to converse with me and dispel my doubt.'
Khi ấy, vua Milinda đã có suy nghĩ này: 'Ôi, cõi Diêm-phù-đề này thật trống rỗng! Ôi, cõi Diêm-phù-đề này thật vô vị! Không có một sa-môn hay bà-la-môn nào có thể cùng ta đàm luận, có thể giải trừ hoài nghi cho ta'.
Atha kho milindo rājā amacce āmantesi ‘‘ramaṇīyā vata bho dosinā ratti, kaṃ nu khvajja samaṇaṃ vā brāhmaṇaṃ vā upasaṅkameyyāma pañhaṃ pucchituṃ, ko mayā saddhiṃ sallapituṃ sakkoti kaṅkhaṃ paṭivinetu’’nti? Evaṃ vutte amaccā tuṇhībhūtā rañño mukhaṃ olokayamānā aṭṭhaṃsu.
Then King Milinda addressed his ministers: 'Sirs, this moonlit night is delightful. What ascetic or brahmin might we approach today to ask a question? Who is able to converse with me and dispel my doubt?' When this was said, the ministers became silent and stood there looking at the king’s face.
Khi ấy, vua Milinda nói với các vị đại thần: 'Ôi, đêm nay thật là đẹp! Hôm nay chúng ta nên đến gặp sa-môn hay bà-la-môn nào để hỏi đạo đây? Ai có thể cùng ta đàm luận, có thể giải trừ hoài nghi cho ta?'. Khi được nói như vậy, các vị đại thần im lặng, chỉ nhìn vào mặt vua mà đứng.
Tena kho pana samayena sāgalanagaraṃ dvādasa vassāni suññaṃ ahosi samaṇabrāhmaṇagahapatipaṇḍitehi, yattha samaṇabrāhmaṇagahapatipaṇḍitā paṭivasantīti suṇāti, tattha gantvā rājā te pañhaṃ pucchati, te sabbepi pañhavisajjanena rājānaṃ ārādhetuṃ asakkontā yena vā tena vā pakkamanti. Ye aññaṃ disaṃ na pakkamanti, te sabbe tuṇhībhūtā acchanti. Bhikkhū pana yebhuyyena himavantameva gacchanti.
Now at that time, for twelve years the city of Sāgala had been empty of wise ascetics, brahmins, and householders. Wherever the king heard that wise ascetics, brahmins, or householders were dwelling, he would go there and ask them a question. But all of them, being unable to satisfy the king with their answers, would depart in one direction or another. Those who did not depart to another region would all remain silent. The bhikkhus, however, for the most part went to the Himālaya.
Vào lúc bấy giờ, thành Sāgala trong suốt mười hai năm đã trống không các bậc trí thức là Sa-môn, Bà-la-môn, và gia chủ. Hễ nghe tin nơi nào có các bậc trí thức là Sa-môn, Bà-la-môn, và gia chủ cư ngụ, nhà vua liền đi đến đó và hỏi họ các câu hỏi. Tất cả họ, vì không thể làm hài lòng nhà vua bằng việc giải đáp câu hỏi, nên đã bỏ đi tứ tán. Những vị nào không bỏ đi nơi khác thì đều im lặng mà ở lại. Còn các vị tỳ-khưu thì phần lớn đều đi đến Hy-mã-lạp sơn.
8. Tena kho pana samayena koṭisatā arahanto himavante pabbate rakkhitatale paṭivasanti. Atha kho āyasmā assagutto dibbāya sotadhātuyā milindassa rañño vacanaṃ sutvā yugandharamatthake bhikkhusaṅghaṃ sannipātetvā bhikkhū pucchi ‘‘atthāvuso koci bhikkhu paṭibalo milindena raññā saddhiṃ sallapituṃ kaṅkhaṃ paṭivinetu’’nti?
8. Now at that time, a hundred koṭis of arahants were dwelling on the Rakkhita plateau in the Himālaya mountains. Then the Venerable Assagutta, having heard King Milinda’s words with his divine ear-element, assembled the Saṅgha of bhikkhus on the summit of Mount Yugandhara and asked the bhikkhus: 'Friends, is there any bhikkhu who is able to converse with King Milinda and dispel his doubt?'
8. Vào lúc bấy giờ, một trăm triệu vị A-la-hán đang cư ngụ tại cao nguyên Rakkhita trên núi Hy-mã-lạp. Bấy giờ, trưởng lão Assagutta, với thiên nhĩ thông, nghe được lời của vua Milinda, bèn triệu tập Tăng chúng trên đỉnh núi Yugandhara và hỏi các vị tỳ-khưu: 'Này chư hiền, có vị tỳ-khưu nào có khả năng đối đáp cùng vua Milinda, để dẹp tan sự hoài nghi (của vua) chăng?'
Evaṃ vutte koṭisatā arahanto tuṇhī ahesuṃ. Dutiyampi tatiyampi puṭṭhā tuṇhī ahesuṃ. Atha kho āyasmā assagutto bhikkhusaṅghaṃ etadavoca ‘‘atthāvuso tāvatiṃsabhavane vejayantassa pācīnato ketumatī nāma vimānaṃ, tattha mahāseno nāma devaputto paṭivasati, so paṭibalo tena milindena raññā saddhiṃ sallapituṃ kaṅkhaṃ paṭivinetu’’nti.
When this was said, the hundred koṭis of arahants remained silent. When they were asked a second and a third time, they remained silent. Then the Venerable Assagutta said to the Saṅgha of bhikkhus: 'Friends, in the Tāvatiṃsa realm, to the east of the Vejayanta palace, there is a celestial mansion named Ketumatī. A devaputta named Mahāsena dwells there. He is able to converse with that King Milinda and dispel his doubt.'
Khi được hỏi như vậy, một trăm triệu vị A-la-hán đều im lặng. Khi được hỏi lần thứ hai, lần thứ ba, các vị vẫn im lặng. Bấy giờ, trưởng lão Assagutta nói với Tăng chúng điều này: 'Này chư hiền, tại cõi trời Ba Mươi Ba, về phía đông của cung điện Vejayanta, có một thiên cung tên là Ketumatī. Tại đó, có một vị thiên tử tên là Mahāsena đang cư ngụ. Vị ấy có khả năng đối đáp cùng vua Milinda, để dẹp tan sự hoài nghi (của vua).'
Atha kho koṭisatā arahanto yugandharapabbate antarahitā tāvatiṃsabhavane pāturahesuṃ. Addasā kho sakko devānamindo te bhikkhū dūratova āgacchante, disvāna yenāyasmā assagutto tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṃ assaguttaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsi, ekamantaṃ ṭhito kho sakko devānamindo āyasmantaṃ assaguttaṃ etadavoca ‘‘mahā kho, bhante, bhikkhusaṅgho anuppatto, ahaṃ saṅghassa ārāmiko, kenattho, kiṃ mayā karaṇīya’’nti?
Then the hundred koṭis of arahants vanished from Mount Yugandhara and reappeared in the Tāvatiṃsa realm. Sakka, lord of the devas, saw those bhikkhus coming from afar. Having seen them, he approached the Venerable Assagutta, and after paying homage to him, he stood to one side. Standing to one side, Sakka, lord of the devas, said to the Venerable Assagutta: 'Venerable sir, a great Saṅgha of bhikkhus has arrived. I am the Saṅgha's attendant. What is your need? What is to be done by me?'
Bấy giờ, một trăm triệu vị A-la-hán biến mất khỏi núi Yugandhara và hiện ra tại cõi trời Ba Mươi Ba. Đế Thích, vua của chư thiên, từ xa đã thấy các vị tỳ-khưu đang đến. Thấy vậy, ngài liền đi đến chỗ trưởng lão Assagutta. Sau khi đến, ngài đảnh lễ trưởng lão Assagutta rồi đứng sang một bên. Đứng sang một bên, Đế Thích, vua của chư thiên, bạch với trưởng lão Assagutta điều này: 'Bạch ngài, một Tăng chúng đông đảo đã đến. Con là người phục vụ Tăng chúng. Chư vị có cần gì không ạ? Con phải làm gì đây?'
Atha kho āyasmā assagutto sakkaṃ devānamindaṃ etadavoca ‘‘ayaṃ kho, mahārāja, jambudīpe sāgalanagare milindo nāma rājā vitaṇḍavādī durāsado duppasaho puthutitthakarānaṃ aggamakkhāyati, so bhikkhusaṅghaṃ upasaṅkamitvā diṭṭhivādena pañhaṃ pucchitvā bhikkhusaṅghaṃ viheṭhetī’’ti.
Then the Venerable Assagutta said to Sakka, lord of the devas: 'Great king, in Jambudīpa, in the city of Sāgala, there is a king named Milinda. He is a sophist, difficult to approach, hard to overcome, and is reckoned the foremost among the many sectarian teachers. He approaches the Saṅgha of bhikkhus and, by questioning them with his speculative views, harasses the Saṅgha of bhikkhus.'
Bấy giờ, trưởng lão Assagutta nói với Đế Thích, vua của chư thiên, điều này: 'Tâu Đại vương, tại thành Sāgala ở cõi Diêm-phù-đề, có vị vua tên là Milinda, là một người ngụy biện, khó tiếp cận, khó khuất phục, được xem là bậc nhất trong số các nhà lập thuyết. Vị ấy đến gần Tăng chúng, dùng tà kiến để hỏi các câu hỏi, và làm phiền nhiễu Tăng chúng.'
Atha kho sakko devānamindo āyasmantaṃ assaguttaṃ etadavoca ‘‘ayaṃ kho, bhante, milindo rājā ito cuto manussesu uppanno, eso kho, bhante, ketumativimāne mahāseno nāma devaputto paṭivasati, so paṭibalo tena milindena raññā saddhiṃ sallapituṃ kaṅkhaṃ paṭivinetuṃ, taṃ devaputtaṃ yācissāma manussalokūpapattiyā’’ti.
Then Sakka, lord of the devas, said to the Venerable Assagutta: 'Venerable sir, this King Milinda, having passed away from here, has been reborn among humans. Venerable sir, in the Ketumatī mansion there dwells a devaputta named Mahāsena. He is able to converse with that King Milinda and dispel his doubt. Let us beseech that devaputta to take rebirth in the human world.'
Bấy giờ, Đế Thích, vua của chư thiên, bạch với trưởng lão Assagutta điều này: 'Bạch ngài, vua Milinda này từ đây mệnh chung đã sanh vào cõi người. Bạch ngài, tại thiên cung Ketumatī, có vị thiên tử tên là Mahāsena đang cư ngụ. Vị ấy có khả năng đối đáp cùng vua Milinda, để dẹp tan sự hoài nghi (của vua). Chúng ta hãy thỉnh cầu vị thiên tử ấy tái sanh vào cõi người.'
Atha kho sakko devānamindo bhikkhusaṅghaṃ purakkhatvā ketumativimānaṃ pavisitvā mahāsenaṃ devaputtaṃ āliṅgitvā etadavoca ‘‘yācati taṃ, mārisa, bhikkhusaṅgho manussalokūpapattiyā’’ti. ‘‘Na me, bhante, manussalokenattho kammabahulena, tibbo manussaloko, idhevāhaṃ, bhante, devaloke uparūparūpapattiko hutvā parinibbāyissāmī’’ti. Dutiyampi…pe… tatiyampi kho sakkena devānamindena yācito mahāseno devaputto evamāha ‘‘na me, bhante, manussalokenattho kammabahulena, tibbo manussaloko, idhevāhaṃ, bhante, devaloke uparūparūpapattiko hutvā parinibbāyissāmī’’ti.
Then Sakka, lord of the devas, having placed the Saṅgha of bhikkhus in front, entered the Ketumatī mansion, embraced the devaputta Mahāsena, and said: 'Friend, the Saṅgha of bhikkhus requests you to take rebirth in the human world.' 'Venerable sir, I have no use for the human world, which is full of affairs. The human world is fierce. Here itself in the deva world, venerable sir, by attaining ever higher rebirths, I will attain final Nibbāna.' When he was requested a second and a third time by Sakka, lord of the devas, the devaputta Mahāsena said the same: 'Venerable sir, I have no use for the human world, which is full of affairs. The human world is fierce. Here itself in the deva world, venerable sir, by attaining ever higher rebirths, I will attain final Nibbāna.'
Bấy giờ, Đế Thích, vua của chư thiên, dẫn đầu Tăng chúng, đi vào thiên cung Ketumatī, ôm lấy thiên tử Mahāsena và nói điều này: 'Này bạn hiền, Tăng chúng thỉnh cầu bạn tái sanh vào cõi người.' (Mahāsena đáp:) 'Bạch ngài, con không cần đến cõi người đầy rẫy công việc. Cõi người thật là mãnh liệt. Bạch ngài, chính tại cõi trời này, sau khi sanh lên các cõi cao hơn, con sẽ nhập Niết-bàn.' Lần thứ hai... lần thứ ba, khi được Đế Thích, vua của chư thiên, thỉnh cầu, thiên tử Mahāsena cũng nói như vậy: 'Bạch ngài, con không cần đến cõi người đầy rẫy công việc. Cõi người thật là mãnh liệt. Bạch ngài, chính tại cõi trời này, sau khi sanh lên các cõi cao hơn, con sẽ nhập Niết-bàn.'
Atha kho āyasmā assagutto mahāsenaṃ devaputtaṃ etadavoca ‘‘idha mayaṃ, mārisa, sadevakaṃ lokaṃ anuvilokayamānā aññatra tayā milindassa rañño vādaṃ bhinditvā sāsanaṃ paggahetuṃ samatthaṃ aññaṃ kañci na passāma, yācati taṃ, mārisa, bhikkhusaṅgho, sādhu sappurisa manussaloke nibbattitvā dasabalassa sāsanaṃ paggaṇhāhī’’ti. Evaṃ vutte mahāseno devaputto ‘‘ahaṃ kira milindassa rañño vādaṃ bhinditvā buddhasāsanaṃ paggahetuṃ samattho bhavissāmī’’ti haṭṭhapahaṭṭho udaggudaggo hutvā ‘‘sādhu, bhante, manussaloke uppajjissāmī’’ti paṭiññaṃ adāsi.
Then the Venerable Assagutta said to the devaputta Mahāsena: 'Friend, surveying this world with its devas, we see no one else apart from you who is capable of refuting King Milinda’s doctrine and upholding the Dispensation. The Saṅgha of bhikkhus requests you, friend. It would be good, O good man, if you would take birth in the human world and uphold the Dispensation of the Ten-Powered One.' When this was said, the devaputta Mahāsena became joyful and elated, thinking, 'It seems I will be capable of refuting King Milinda’s doctrine and upholding the Buddha’s Dispensation!' and he gave his promise: 'Very well, venerable sirs, I will be born in the human world.'
Bấy giờ, trưởng lão Assagutta nói với thiên tử Mahāsena điều này: 'Này bạn hiền, ở đây, khi chúng tôi nhìn khắp thế gian cùng với cõi trời, ngoài bạn ra, chúng tôi không thấy một ai khác có khả năng phá vỡ luận thuyết của vua Milinda và xiển dương giáo pháp. Này bạn hiền, Tăng chúng thỉnh cầu bạn. Này bậc thiện nhân, xin hãy tái sanh vào cõi người và hộ trì giáo pháp của bậc Thập Lực.' Khi được nói như vậy, thiên tử Mahāsena, với tâm hoan hỷ, phấn khởi, vui mừng, phấn chấn, nghĩ rằng: 'Ta quả thật sẽ có khả năng phá vỡ luận thuyết của vua Milinda và xiển dương Phật pháp,' rồi đã hứa rằng: 'Lành thay, bạch chư ngài, con sẽ sanh vào cõi người.'
9. Atha kho te bhikkhū devaloke taṃ karaṇīyaṃ tīretvā devesu tāvatiṃsesu antarahitā himavante pabbate rakkhitatale pāturahesuṃ.
9. Then those bhikkhus, having accomplished that task in the deva world, vanished from among the Tāvatiṃsa devas and reappeared on the Rakkhita plateau in the Himalayas.
9. Bấy giờ, các vị tỳ-khưu ấy, sau khi hoàn thành công việc đó ở cõi trời, đã biến mất khỏi cõi trời Ba Mươi Ba và hiện ra tại cao nguyên Rakkhita trên núi Hy-mã-lạp.
Atha kho āyasmā assagutto bhikkhusaṅghaṃ etadavoca ‘‘atthāvuso, imasmiṃ bhikkhusaṅghe koci bhikkhu sannipātaṃ anāgato’’ti. Evaṃ vutte aññataro bhikkhu āyasmantaṃ assaguttaṃ etadavoca ‘‘atthi, bhante, āyasmā rohaṇo ito sattame divase himavantaṃ pabbataṃ pavisitvā nirodhaṃ samāpanno, tassa santike dūtaṃ pāhethā’’ti. Āyasmāpi rohaṇo taṅkhaṇaññeva nirodhā vuṭṭhāya ‘‘saṅgho maṃ paṭimānetī’’ti himavante pabbate antarahito rakkhitatale koṭisatānaṃ arahantānaṃ purato pāturahosi.
Then the Venerable Assagutta said to the Saṅgha of bhikkhus: 'Friends, is there any bhikkhu in this Saṅgha who has not come to the assembly?' When this was said, a certain bhikkhu said to the Venerable Assagutta: 'Venerable sir, there is the Venerable Rohaṇa. Seven days ago he entered the Himalayas and attained cessation. You should send a messenger to him.' At that very moment, the Venerable Rohaṇa, having emerged from that cessation, thinking, 'The Saṅgha is waiting for me,' vanished from the Himalayas and reappeared on the Rakkhita plateau before the hundred koṭis of arahants.
Bấy giờ, trưởng lão Assagutta nói với Tăng chúng điều này: 'Này chư hiền, trong Tăng chúng này, có vị tỳ-khưu nào không đến hội họp không?' Khi được nói như vậy, một vị tỳ-khưu bạch với trưởng lão Assagutta điều này: 'Bạch ngài, có trưởng lão Rohaṇa. Bảy ngày trước, ngài đã vào núi Hy-mã-lạp và nhập Diệt tận định. Xin hãy cử một sứ giả đến chỗ ngài.' Trưởng lão Rohaṇa cũng ngay lúc đó xuất khỏi định, nghĩ rằng: 'Tăng chúng đang chờ đợi ta,' rồi biến mất khỏi núi Hy-mã-lạp và hiện ra trước mặt một trăm triệu vị A-la-hán tại cao nguyên Rakkhita.
Atha kho āyasmā assagutto āyasmantaṃ rohaṇaṃ etadavoca ‘‘kiṃ nu kho, āvuso, rohaṇa buddhasāsane bhijjante † na passasi saṅghassa karaṇīyānī’’ti. ‘‘Amanasikāro me, bhante, ahosī’’ti.
Then the Venerable Assagutta said to the Venerable Rohaṇa: 'Friend Rohaṇa, do you not see the duties of the Saṅgha when the Buddha’s Dispensation is being destroyed?' 'It was due to my inattention, venerable sir.'
Bấy giờ, trưởng lão Assagutta nói với trưởng lão Rohaṇa điều này: 'Này hiền giả Rohaṇa, khi Phật pháp đang bị rạn nứt, hiền giả không thấy những việc cần làm của Tăng chúng hay sao?' (Rohaṇa đáp:) 'Bạch ngài, con đã không tác ý đến việc đó.'
‘‘Tena, hāvuso rohaṇa, daṇḍakammaṃ karohī’’ti. ‘‘Kiṃ, bhante, karomī’’ti? ‘‘Atthāvuso rohaṇa, himavantapabbatapasse gajaṅgalaṃ † nāma brāhmaṇagāmo, tattha soṇuttaro nāma brāhmaṇo paṭivasati, tassa putto uppajjissati nāgasenoti nāma dārako, tena hi tvaṃ, āvuso rohaṇa, dasamāsādhikāni satta vassāni taṃ kulaṃ piṇḍāya pavisitvā nāgasenaṃ dārakaṃ nīharitvā pabbājehi, pabbajiteva tasmiṃ daṇḍakammato muccissasī’’ti. Āyasmāpi kho rohaṇo ‘‘sādhū’’ti sampaṭicchi.
'Then, friend Rohaṇa, you must carry out a penalty.' 'What must I do, venerable sir?' 'Friend Rohaṇa, on a slope of the Himalayas there is a brahmin village named Gajaṅgala. A brahmin named Soṇuttara lives there. A son will be born to him, a boy named Nāgasena. Therefore, friend Rohaṇa, for seven years and ten months you must enter that family for alms, lead out the boy Nāgasena, and give him the going forth. As soon as he has gone forth, you will be released from the penalty.' The Venerable Rohaṇa consented, saying, 'Very well.'
“Này hiền hữu Rohaṇa, nếu vậy, hãy thi hành hình phạt.” “Bạch ngài, con phải làm gì?” “Này hiền hữu Rohaṇa, ở sườn núi Hy-mã-lạp có một làng Bà-la-môn tên là Gajaṅgala. Ở đó có một vị Bà-la-môn tên là Soṇuttara đang sinh sống. Vị ấy sẽ có một người con trai, một đứa bé tên là Nāgasena. Này hiền hữu Rohaṇa, vì vậy, trong suốt bảy năm và mười tháng, hiền hữu hãy vào nhà ấy để khất thực, rồi đưa đứa bé Nāgasena ra và cho nó xuất gia. Chỉ khi đứa bé ấy xuất gia, hiền hữu mới được thoát khỏi hình phạt.” Tôn giả Rohaṇa liền vâng lời: “Lành thay.”
10. Mahāsenopi kho devaputto devalokā cavitvā soṇuttarabrāhmaṇassa bhariyāya kucchismiṃ paṭisandhiṃ aggahesi, saha paṭisandhiggahaṇā tayo acchariyā abbhutā dhammā pāturahesuṃ, āvudhabhaṇḍāni pajjaliṃsu, aggasassaṃ abhinipphannaṃ, mahāmegho abhippavassi. Āyasmāpi kho rohaṇo tassa paṭisandhiggahaṇato paṭṭhāya dasamāsādhikāni satta vassāni taṃ kulaṃ piṇḍāya pavisanto ekadivasampi kaṭacchumattaṃ bhattaṃ vā uḷuṅkamattaṃ yāguṃ vā abhivādanaṃ vā añjalikammaṃ vā sāmīcikammaṃ vā nālattha, atha kho akkosaññeva paribhāsaññeva paṭilabhati ‘‘aticchatha bhante’’ti vacanamattampi vattā nāma nāhosi, dasamāsādhikānaṃ pana sattannaṃ vassānaṃ accayena ekadivasaṃ ‘‘aticchatha bhante’’ti vacanamattaṃ alattha. Taṃ divasameva brāhmaṇopi bahi kammantā āgacchanto paṭipathe theraṃ disvā ‘‘kiṃ, bho pabbajita, amhākaṃ gehaṃ agamitthā’’ti āha. ‘‘Āma, brāhmaṇa, agamamhā’’ti. ‘‘Api kiñci labhitthā’’ti. ‘‘Āma, brāhmaṇa, labhimhā’’ti. So anattamano gehaṃ gantvā pucchi ‘‘tassa pabbajitassa kiñci adatthā’’ti. ‘‘Na kiñci adamhā’’ti. Brāhmaṇo dutiyadivase gharadvāre yeva nisīdi ‘‘ajja pabbajitaṃ musāvādena niggahessāmī’’ti. Thero dutiyadivase brāhmaṇassa gharadvāraṃ sampatto.
10. The devaputta Mahāsena, having passed away from the deva world, took conception in the womb of the brahmin Soṇuttara's wife. Together with his conception, three marvelous and wonderful phenomena appeared: weapons blazed forth, the best crops ripened, and a great cloud rained down. For seven years and ten months from the time of his conception, the Venerable Rohaṇa, entering that family for alms, did not receive on a single day even a ladleful of rice or a scoopful of gruel, nor a reverential salutation, a gesture of reverence, or a proper courtesy; instead, he received only abuse and scorn. There was no one to say even the mere words, “Pardon me, venerable sir.” But after the lapse of seven years and ten months, one day he received the mere words, “Pardon me, venerable sir.” That very day, the brahmin, returning from his work outside, saw the elder on the road and said: “Well, monk, did you go to our house?” “Yes, brahmin, we went.” “And did you receive anything?” “Yes, brahmin, we received.” Displeased, the brahmin went home and asked: “Did you give anything to that monk?” “We gave nothing.” The next day, the brahmin sat right at the door of the house, thinking: “Today I will censure that monk for his falsehood.” On the second day, the elder arrived at the brahmin's door.
10. Thiên tử Mahāsena từ cõi trời mệnh chung, đã nhập thai vào bụng của vợ Bà-la-môn Soṇuttara. Cùng lúc với sự nhập thai, ba điềm lạ phi thường đã hiện ra: các loại binh khí bừng sáng, lúa thóc hảo hạng được mùa, và một trận mưa lớn trút xuống. Tôn giả Rohaṇa, kể từ lúc vị ấy nhập thai, trong suốt bảy năm và mười tháng, khi vào nhà ấy để khất thực, không một ngày nào ngài nhận được dù chỉ một muỗng cơm, hay một vá cháo, hay một sự đảnh lễ, hay một sự chắp tay, hay một sự cung kính. Trái lại, ngài chỉ nhận được lời mắng nhiếc và chửi rủa. Thậm chí không có ai nói được một lời là: “Xin ngài hãy nhận lấy.” Nhưng sau khi bảy năm và mười tháng trôi qua, vào một ngày nọ, ngài đã nhận được một lời nói vỏn vẹn: “Xin ngài hãy nhận lấy.” Chính ngày hôm đó, vị Bà-la-môn đang từ nơi làm việc bên ngoài trở về, gặp vị trưởng lão trên đường và hỏi: “Này vị xuất gia, ông có đến nhà chúng tôi không?” “Thưa Bà-la-môn, có, tôi đã đến.” “Có nhận được gì không?” “Thưa Bà-la-môn, có, tôi đã nhận được.” Vị ấy không hài lòng, về đến nhà và hỏi: “Các người có cho vị xuất gia kia cái gì không?” “Chúng tôi không cho gì cả.” Vào ngày thứ hai, vị Bà-la-môn ngồi ngay ở cửa nhà, nghĩ rằng: “Hôm nay ta sẽ bắt lỗi vị xuất gia này về tội nói dối.” Vị trưởng lão vào ngày thứ hai đã đến cửa nhà của vị Bà-la-môn.
Brāhmaṇo theraṃ disvāva evamāha ‘‘tumhe hiyyo amhākaṃ gehe kiñci alabhitvāva ‘‘labhimhā’’ti avocuttha, vaṭṭati nu kho tumhākaṃ musāvādo’’ti. Thero āha ‘‘mayaṃ, brāhmaṇa, tumhākaṃ gehe ( ) † dasamāsādhikāni satta vassāni ‘aticchathā’ti vacanamattampi alabhitvā hiyyo ‘aticchathā’ti vacanamattaṃ labhimhā, athetaṃ vācāpaṭisandhāraṃ † upādāya evamavocumhā’’ti.
The brahmin, upon seeing the elder, said: “Yesterday, having received nothing at our house, you said, ‘We have received.’ Is it proper for you to speak falsely?” The elder replied: “Brahmin, for seven years and ten months while entering your house, we did not receive even the mere words ‘Pardon me.’ Yesterday we received the mere words ‘Pardon me,’ and it was on account of this kind greeting that we spoke thus.”
Vị Bà-la-môn vừa thấy vị trưởng lão liền nói thế này: “Hôm qua, các ông ở nhà chúng tôi không nhận được gì cả mà lại nói ‘chúng tôi đã nhận được’. Phải chăng việc nói dối là được phép đối với các ông?” Vị trưởng lão nói: “Thưa Bà-la-môn, chúng tôi ở nhà ông suốt bảy năm và mười tháng, ngay cả một lời nói ‘xin ngài hãy nhận lấy’ cũng chưa từng nhận được. Nhưng hôm qua, chúng tôi đã nhận được một lời nói vỏn vẹn ‘xin ngài hãy nhận lấy’. Vì vậy, dựa vào lời thăm hỏi đó mà chúng tôi đã nói như vậy.”
Brāhmaṇo cintesi ‘‘ime vācāpaṭisandhāramattampi labhitvā janamajjhe ‘labhimhā’ti pasaṃsanti, aññaṃ kiñci khādanīyaṃ vā bhojanīyaṃ vā labhitvā kasmā nappasaṃsantī’’ti pasīditvā attano atthāya paṭiyāditabhattato kaṭacchubhikkhaṃ, tadupiyañca byañjanaṃ dāpetvā ‘‘imaṃ bhikkhaṃ sabbakālaṃ tumhe labhissathā’’ti āha.
The brahmin thought: “If they praise it among people, saying, ‘We have received!’, after getting just a mere kind greeting, why would they not praise it when they receive some hard or soft food?” With his confidence aroused, he had a ladleful of almsfood and a suitable portion of curry given from the food prepared for himself, and said: “You will receive this almsfood always.”
Vị Bà-la-môn suy nghĩ: “Những vị này chỉ nhận được một lời thăm hỏi mà đã tán dương giữa đám đông rằng ‘chúng tôi đã nhận được’. Nếu nhận được bất kỳ vật thực nào khác, dù là đồ ăn cứng hay đồ ăn mềm, tại sao họ lại không tán dương chứ?” Nghĩ vậy, ông ta phát sinh tín tâm, bèn cho người dâng cúng một muỗng cơm từ phần cơm đã dọn sẵn cho mình, cùng với thức ăn tương xứng, rồi nói: “Từ nay, các ngài sẽ luôn nhận được phần vật thực này.”
So punadivasato pabhuti upasaṅkamantassa therassa upasamaṃ disvā bhiyyoso mattāya pasīditvā theraṃ niccakālaṃ attano ghare bhattavissaggakaraṇatthāya yāci. Thero tuṇhībhāvena adhivāsetvā divase divase bhattakiccaṃ katvā gacchanto thokaṃ thokaṃ buddhavacanaṃ kathetvā gacchati. Sāpi kho brāhmaṇī dasamāsaccayena puttaṃ vijāyi, ‘‘nāgaseno’’tissa nāmamakaṃsu, so anukkamena vaḍḍhanto sattavassiko jāto.
From the next day onward, seeing the elder’s serenity when he approached, the brahmin's confidence grew all the more, and he requested the elder to always take his meal at his house. The elder consented by silence. Day by day, after finishing his meal, he would speak a little of the Buddha’s teaching before departing. After ten months had passed, the brahmin’s wife gave birth to a son, and they named him Nāgasena. He grew up gradually and reached the age of seven.
Kể từ ngày hôm sau, vị ấy thấy được sự thanh tịnh của vị trưởng lão đến gần, nên càng thêm tịnh tín, và thỉnh cầu vị trưởng lão luôn luôn đến nhà mình để thọ thực. Vị trưởng lão im lặng nhận lời. Mỗi ngày, sau khi làm xong phận sự thọ thực, lúc ra về, ngài thuyết một ít Phật ngôn rồi mới đi. Vị nữ Bà-la-môn sau mười tháng đã hạ sinh một người con trai. Họ đặt tên cho đứa bé là “Nāgasena”. Đứa bé tuần tự lớn lên và được bảy tuổi.
11. Atha kho nāgasenassa dārakassa pitā nāgasenaṃ dārakaṃ etadavoca ‘‘imasmiṃ kho, tāta nāgasena, brāhmaṇakule sikkhāni sikkheyyāsī’’ti. ‘‘Katamāni, tāta, imasmiṃ brāhmaṇakule sikkhāni nāmā’’ti? ‘‘Tayo kho, tāta nāgasena, vedā sikkhāni nāma, avasesāni sippāni sippaṃ nāmā’’ti. ‘‘Tena hi, tāta, sikkhissāmī’’ti.
11. Then the father of the boy Nāgasena said to the boy Nāgasena: “My dear Nāgasena, you should learn the sciences of this brahmin family.” “What, father, are the sciences of this brahmin family?” “The three Vedas, my dear Nāgasena, are called the sciences; the remaining arts are called crafts.” “In that case, father, I will learn them.”
11. Bấy giờ, cha của đứa bé Nāgasena nói với đứa bé Nāgasena điều này: “Này con Nāgasena, con hãy học các môn học trong dòng dõi Bà-la-môn này.” “Thưa cha, trong dòng dõi Bà-la-môn này, những gì được gọi là môn học?” “Này con Nāgasena, ba bộ Vệ-đà được gọi là môn học, những kỹ thuật còn lại được gọi là kỹ nghệ.” “Thưa cha, nếu vậy, con sẽ học.”
Atha kho soṇuttaro brāhmaṇo ācariyabrāhmaṇassa ācariyabhāgaṃ sahassaṃ datvā antopāsāde ekasmiṃ gabbhe ekato mañcakaṃ paññapetvā ācariyabrāhmaṇaṃ etadavoca ‘‘sajjhāpehi kho, tvaṃ brāhmaṇa, imaṃ dārakaṃ mantānīti. Tena hi ‘tāta dāraka’ uggaṇhāhi mantānī’’ti. Ācariyabrāhmaṇo sajjhāyati nāgasenassa dārakassa ekeneva uddesena tayo vedā hadayaṅgatā vācuggatā sūpadhāritā suvavatthāpitā sumanasikatā ahesuṃ, sakimeva cakkhuṃ udapādi tīsu vedesu sanighaṇḍukeṭubhesu † sākkharappabhedesu itihāsapañcamesu padako veyyākaraṇo lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anavayo ahosi.
Then the brahmin Soṇuttara gave the brahmin teacher a fee of a thousand, had a couch prepared on one side in a chamber within the palace, and said to him: “Brahmin, have this boy recite the sacred texts.” The teacher said: “In that case, dear boy, learn the sacred texts.” The brahmin teacher recited, and with a single recitation the three Vedas were learned by heart by the boy Nāgasena, fluent on his tongue, well mastered, well analyzed, and well reflected upon. At once the eye of knowledge arose in him, and he became faultless in the three Vedas with their glossaries and poetics, their phonology and etymology, and with the histories as the fifth; he was a master of meter and grammar, and was fully accomplished in worldly philosophy and the marks of a great man.
Bấy giờ, Bà-la-môn Soṇuttara dâng cho vị thầy Bà-la-môn một ngàn đồng tiền làm học phí, cho dọn một chiếc giường ở một bên trong một căn phòng của lâu đài, rồi nói với vị thầy Bà-la-môn điều này: “Thưa ngài Bà-la-môn, xin ngài hãy dạy các thánh điển cho đứa bé này.” “Này con trẻ, nếu vậy, con hãy học các thánh điển.” Vị thầy Bà-la-môn bắt đầu đọc tụng. Chỉ với một lần chỉ dạy, đứa bé Nāgasena đã thuộc lòng ba bộ Vệ-đà, chúng đã đi vào tim, thuộc làu trên môi, được ghi nhớ kỹ, được phân định rõ ràng, được tác ý thuần thục. Chỉ một lần duy nhất, tuệ nhãn đã phát sinh trong ba bộ Vệ-đà cùng với các tập Nighaṇḍu, Keṭubha, Akkharappabheda, và Itihāsa là thứ năm. Cậu trở thành người thông thạo về từ cú (padako), ngữ pháp (veyyākaraṇo), và uyên thâm không thiếu sót trong các môn Lokāyata và Mahāpurisalakkhaṇa.
Atha kho nāgaseno dārako pitaraṃ etadavoca ‘‘atthi nu kho, tāta, imasmiṃ brāhmaṇakule ito uttarimpi sikkhitabbāni, udāhu ettakānevā’’ti. ‘‘Natthi, tāta nāgasena, imasmiṃ brāhmaṇakule ito uttariṃ sikkhitabbāni, ettakāneva sikkhitabbānī’’ti.
Then the boy Nāgasena said to his father: “Father, is there anything further to be learned in this brahmin tradition, or is this all?” “There is nothing further to be learned in this brahmin tradition, my dear Nāgasena. This is all that is to be learned.”
Bấy giờ, đứa bé Nāgasena nói với cha mình điều này: “Thưa cha, trong dòng dõi Bà-la-môn này, có còn điều gì cao hơn nữa để học không, hay chỉ có bấy nhiêu thôi?” “Này con Nāgasena, trong dòng dõi Bà-la-môn này, không có gì cao hơn nữa để học, chỉ có bấy nhiêu là cần phải học thôi.”
Atha kho nāgaseno dārako ācariyassa anuyogaṃ datvā pāsādā oruyha pubbavāsanāya coditahadayo rahogato paṭisallīno attano sippassa ādimajjhapariyosānaṃ olokento ādimhi vā majjhe vā pariyosāne vā appamattakampi sāraṃ adisvā ‘‘tucchā vata bho ime vedā, palāpā vata bho ime vedā asārā nissārā’’ti vippaṭisārī anattamano ahosi.
Then the boy Nāgasena, having completed his examination before his teacher, descended from the palace. His heart impelled by his former dispositions, he went to a secluded place and, while in solitude, he reviewed his learning from beginning to middle to end. Not seeing the slightest core of value in its beginning, middle, or end, he became remorseful and dissatisfied, thinking: “Empty, alas, are these Vedas! Chaff, alas, are these Vedas! They are sapless and without a core!”
Bấy giờ, cậu bé Nāgasena, sau khi đã hỏi xong vị thầy, đi xuống từ lâu đài, với tâm được thôi thúc bởi các khuynh hướng từ quá khứ, đã đi đến nơi vắng vẻ, độc cư. Trong khi xem xét phần đầu, phần giữa, và phần cuối của môn học của mình, không thấy được một chút cốt lõi nào ở phần đầu, hoặc ở phần giữa, hoặc ở phần cuối, cậu đã trở nên hối hận và không hài lòng, (nghĩ rằng): “Ôi, những kinh Vệ-đà này thật trống rỗng! Ôi, những kinh Vệ-đà này thật rỗng tuếch, không có cốt lõi, không có tinh túy!”
12. Tena kho pana samayena āyasmā rohaṇo vattaniye senāsane nisinno nāgasenassa dārakassa cetasā cetoparivitakkamaññāya nivāsetvā pattacīvaramādāya vattaniye senāsane antarahito gajaṅgalabrāhmaṇagāmassa purato pāturahosi. Addasā kho nāgaseno dārako attano dvārakoṭṭhake ṭhito āyasmantaṃ rohaṇaṃ dūratova āgacchantaṃ, disvāna attamano udaggo pamudito pītisomanassajāto ‘‘appeva nāmāyaṃ pabbajito kañci sāraṃ jāneyyā’’ti yenāyasmā rohaṇo tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṃ rohaṇaṃ etadavoca ‘‘ko nu kho, tvaṃ mārisa, ediso bhaṇḍukāsāvavasano’’ti. ‘‘Pabbajito † nāmāhaṃ dārakā’’ti. ‘‘Kena, tvaṃ mārisa, pabbajito nāmāsī’’ti? ‘‘Pāpakāni malāni pabbājeti, tasmāhaṃ, dāraka, pabbajito nāmā’’ti. ‘‘Kiṃkāraṇā, mārisa, kesā te na yathā aññesa’’nti? ‘‘Soḷasime, dāraka, palibodhe disvā kesamassuṃ ohāretvā pabbajito. ‘‘Katame soḷasa’’? ‘‘Alaṅkārapalibodho maṇḍanapalibodho telamakkhanapalibodho dhovanapalibodho mālāpalibodho gandhapalibodho vāsanapalibodho harīṭakapalibodho āmalakapalibodho raṅgapalibodho bandhanapalibodho kocchapalibodho kappakapalibodho vijaṭanapalibodho ūkāpalibodho, kesesu vilūnesu socanti kilamanti paridevanti urattāḷiṃ kandanti sammohaṃ āpajjanti, imesu kho, dāraka, soḷasasu palibodhesu paliguṇṭhitā manussā sabbāni atisukhumāni sippāni nāsentī’’ti. ‘‘Kiṃkāraṇā, mārisa, vatthānipi te na yathā aññesa’’nti? ‘‘Kāmanissitāni kho, dāraka, vatthāni, kāmanissitāni gihibyañjanabhaṇḍāni †, yāni kānici kho bhayāni vatthato uppajjanti, tāni kāsāvavasanassa na honti, tasmā vatthānipi me na yathā aññesa’’nti. ‘‘Jānāsi kho, tvaṃ mārisa, sippāni nāmā’’ti? ‘‘Āma, dāraka, jānāmahaṃ sippāni, yaṃ loke uttamaṃ mantaṃ, tampi jānāmī’’ti. ‘‘Mayhampi taṃ, mārisa, dātuṃ sakkā’’ti? ‘‘Āma, dāraka, sakkā’’ti. ‘‘Tena hi me dehī’’ti. ‘‘Akālo kho, dāraka, antaragharaṃ piṇḍāya paviṭṭhamhā’’ti.
12. Now at that time, the Venerable Rohaṇa was seated in his dwelling at Vattaniya. Having known with his own mind the thought in the mind of the boy Nāgasena, he dressed, took his bowl and robe, vanished from his dwelling at Vattaniya, and reappeared before the brahmin village of Gajaṅgala. The boy Nāgasena, standing in his own doorway, saw the Venerable Rohaṇa coming from afar. Seeing him, he was joyful, elated, exultant, and filled with rapture and happiness, thinking: “Perhaps this renunciate knows some essential teaching!” He then approached the Venerable Rohaṇa and said to him: “Who are you, sir, a shaven-headed man wearing the saffron robe?” “I am called a renunciate, boy.” “Why, sir, are you called a renunciate?” “Because one drives out evil, defiled states, boy, one is called a renunciate.” “For what reason, sir, is your hair not like that of others?” “Seeing these sixteen impediments, boy, I shaved off my hair and beard and went forth. What sixteen? The impediment of adornment, of beautification, of anointing with oil, of washing, of garlands, of perfumes, of scenting, of myrobalan fruit, of emblic fruit, of dyeing, of tying up, of combing, of the barber, of disentangling, and of lice. When their hair is in a bad state, people grieve, become weary, and lament; they beat their breasts and wail and fall into delusion. Entangled by these sixteen impediments, boy, people ruin all their most subtle skills.” “For what reason, sir, are your clothes not like those of others?” “Clothes, boy, are connected with sensual pleasures; the articles that are the insignia of a householder are connected with sensual pleasures. Whatever dangers arise from clothes do not exist for one who wears the saffron robe. That is why my clothes are not like those of others.” “Do you, sir, know any arts?” “Yes, boy, I know arts, and I also know the supreme teaching in the world.” “Can you give that to me, sir?” “Yes, boy, I can.” “Then give it to me.” “It is not the right time, boy. We have entered the village for alms.”
12. Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Rohaṇa đang ngồi tại trú xứ Vattaniya, biết được ý nghĩ trong tâm của cậu bé Nāgasena bằng tâm của mình, đã đắp y, mang y bát, biến mất khỏi trú xứ Vattaniya và hiện ra ở phía trước làng Bà-la-môn Gajaṅgala. Cậu bé Nāgasena, đang đứng ở cổng nhà mình, đã thấy trưởng lão Rohaṇa từ xa đi đến. Thấy vậy, cậu hoan hỷ, phấn khởi, vui mừng, tâm sanh hỷ lạc, (nghĩ rằng): “Mong rằng vị xuất gia này biết được điều gì cốt lõi,” rồi đi đến chỗ trưởng lão Rohaṇa. Sau khi đến, cậu nói với trưởng lão Rohaṇa điều này: “Thưa ngài, ngài là ai, người có đầu trọc và mặc y cà-sa như thế này?” – “Này cậu bé, ta được gọi là người xuất gia.” – “Thưa ngài, vì sao ngài được gọi là người xuất gia?” – “Này cậu bé, vì từ bỏ những điều ác, những cấu uế, nên ta được gọi là người xuất gia.” – “Thưa ngài, vì sao tóc của ngài không giống như của những người khác?” – “Này cậu bé, vì thấy mười sáu sự trở ngại này, ta đã cạo bỏ râu tóc và xuất gia.” – “Mười sáu điều ấy là gì?” – “Sự trở ngại của việc trang điểm, sự trở ngại của việc tô điểm, sự trở ngại của việc xoa dầu, sự trở ngại của việc gội rửa, sự trở ngại của việc kết hoa, sự trở ngại của việc thoa hương, sự trở ngại của việc ướp hương, sự trở ngại của việc dùng quả harīṭaka, sự trở ngại của việc dùng quả āmalaka, sự trở ngại của việc nhuộm, sự trở ngại của việc búi tóc, sự trở ngại của việc dùng lược, sự trở ngại của việc nhờ thợ hớt tóc, sự trở ngại của việc gỡ tóc, sự trở ngại của việc bắt chấy. Khi tóc bị rụng, họ sầu muộn, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực khóc lóc, đi đến mê muội. Này cậu bé, những người bị trói buộc bởi mười sáu sự trở ngại này đã hủy hoại tất cả các môn học vô cùng vi tế.” – “Thưa ngài, vì sao y phục của ngài cũng không giống như của những người khác?” – “Này cậu bé, y phục là thứ liên hệ đến dục vọng, các vật dụng và dấu hiệu của người tại gia là thứ liên hệ đến dục vọng. Bất cứ những nguy hiểm nào phát sinh từ y phục, những điều ấy không xảy ra đối với người mặc y cà-sa. Vì vậy, y phục của ta cũng không giống như của những người khác.” – “Thưa ngài, ngài có biết các môn học không?” – “Này cậu bé, ta biết các môn học, và ta cũng biết câu thần chú tối thượng trên đời.” – “Thưa ngài, có thể ban cho con câu thần chú ấy không?” – “Này cậu bé, có thể.” – “Vậy thì, xin hãy ban cho con.” – “Này cậu bé, chưa phải lúc, chúng ta đang vào trong làng để khất thực.”
Atha kho nāgaseno dārako āyasmato rohaṇassa hatthato pattaṃ gahetvā gharaṃ pavesetvā paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappetvā sampavāretvā āyasmantaṃ rohaṇaṃ bhuttāviṃ onītapattapāṇiṃ etadavoca ‘‘dehi me dāni, mārisa, manta’’nti. ‘‘Yadā kho tvaṃ, dāraka, nippalibodho hutvā mātāpitaro anujānāpetvā mayā gahitaṃ pabbajitavesaṃ gaṇhissasi, tadā dassāmī’’ti āha.
Then the boy Nāgasena took the bowl from the Venerable Rohaṇa’s hand, led him into the house, and with his own hands served and satisfied him with excellent hard and soft food. When the Venerable Rohaṇa had finished his meal and had withdrawn his hand from the bowl, Nāgasena said to him: “Now, sir, give me that teaching.” He replied: “When, boy, you are free from impediments and, having gained your parents’ permission, you take up the renunciate’s guise that I have taken up, then I will give it to you.”
Bấy giờ, cậu bé Nāgasena, sau khi nhận lấy bình bát từ tay trưởng lão Rohaṇa, đã mời ngài vào nhà, tự tay dâng cúng các món ăn thượng vị, cả vật thực cứng và vật thực mềm, cho đến khi ngài hài lòng và từ chối không nhận thêm. Khi trưởng lão Rohaṇa đã dùng xong và tay đã rời khỏi bình bát, cậu nói điều này: “Thưa ngài, bây giờ xin hãy ban cho con câu thần chú.” (Ngài) đáp: “Này cậu bé, khi nào con không còn bị ràng buộc, sau khi được cha mẹ cho phép, và thọ nhận hình tướng xuất gia mà ta đã thọ nhận, khi ấy ta sẽ ban cho.”
Atha kho nāgaseno dārako mātāpitaro upasaṅkamitvā āha ‘‘ammatātā, ayaṃ pabbajito ‘yaṃ loke uttamaṃ mantaṃ, taṃ jānāmī’ti vadati, na ca attano santike apabbajitassa deti, ahaṃ etassa santike pabbajitvā taṃ uttamaṃ mantaṃ uggaṇhissāmī’’ti. Athassa mātāpitaro ‘‘pabbajitvāpi no putto mantaṃ gaṇhatu, gahetvā puna āgacchissatī’’ti maññamānā ‘‘gaṇha puttā’’ti anujāniṃsu.
Then the boy Nāgasena approached his parents and said: “Mother and father, this renunciate says, ‘I know the highest sacred text in the world,’ but he does not give it to one who has not gone forth under him. I will go forth under him and learn that highest sacred text.” Thinking, “Even after going forth, our son will learn the sacred text and then return,” his parents gave their permission, saying: “Learn it, son.”
Bấy giờ, cậu bé Nāgasena đến gần cha mẹ và nói: “Thưa cha mẹ, vị xuất gia này nói rằng: ‘Ta biết câu thần chú tối thượng trên đời,’ và ngài không ban cho người chưa xuất gia ở gần mình. Con sẽ xuất gia với vị ấy để học câu thần chú tối thượng đó.” Bấy giờ, cha mẹ của cậu, nghĩ rằng: “Con trai của chúng ta hãy cứ xuất gia để học câu thần chú, sau khi học xong nó sẽ trở về,” đã cho phép: “Này con, hãy học đi.”
13. Atha kho āyasmā rohaṇo nāgasenaṃ dārakaṃ ādāya yena vattaniyaṃ senāsanaṃ, yena vijambhavatthu tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā vijambhavatthusmiṃ senāsane ekarattaṃ vasitvā yena rakkhitatalaṃ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā koṭisatānaṃ arahantānaṃ majjhe nāgasenaṃ dārakaṃ pabbājesi. Pabbajito ca panāyasmā nāgaseno āyasmantaṃ rohaṇaṃ etadavoca ‘‘gahito me, bhante, tava veso, detha me dāni manta’’nti. Atha kho āyasmā rohaṇo ‘‘kimhi nu khohaṃ nāgasenaṃ vineyyaṃ paṭhamaṃ vinaye vā suttante vā abhidhamme vā’’ti cintetvā ‘‘paṇḍito kho ayaṃ nāgaseno, sakkoti sukheneva abhidhammaṃ pariyāpuṇitu’’nti paṭhamaṃ abhidhamme vinesi.
13. Then the Venerable Rohaṇa, taking the boy Nāgasena, went to the dwelling at Vattaniya, to Vijambhavatthu. Having stayed one night in the dwelling at Vijambhavatthu, he went to Rakkhitatala. There, in the midst of a hundred koṭis of arahants, he gave the going forth to the boy Nāgasena. Having gone forth, the Venerable Nāgasena said to the Venerable Rohaṇa: “Venerable sir, I have taken on your guise; now give me the sacred text.” Then the Venerable Rohaṇa thought: “In which should I first train Nāgasena—in the Vinaya, the Suttas, or the Abhidhamma? This Nāgasena is wise; he can easily master the Abhidhamma.” So he first trained him in the Abhidhamma.
13. Bấy giờ, trưởng lão Rohaṇa, dẫn theo cậu bé Nāgasena, đã đi đến trú xứ Vattaniya, đến nơi gọi là Vijambhavatthu. Sau khi đến, ngài ở lại một đêm tại trú xứ ở Vijambhavatthu, rồi đi đến nơi gọi là Rakkhitatala. Sau khi đến, ngài đã cho cậu bé Nāgasena xuất gia giữa một trăm koṭi vị A-la-hán. Và sau khi xuất gia, trưởng lão Nāgasena đã nói với trưởng lão Rohaṇa điều này: “Bạch ngài, con đã thọ nhận hình tướng của ngài, bây giờ xin hãy ban cho con câu thần chú.” Bấy giờ, trưởng lão Rohaṇa suy nghĩ: “Ta nên dạy Nāgasena điều gì trước tiên, Luật tạng, Kinh tạng, hay Luận tạng?” rồi nghĩ rằng: “Nāgasena này là người có trí tuệ, có thể dễ dàng học thông suốt Luận tạng,” ngài đã dạy Luận tạng trước tiên.
Āyasmā ca nāgaseno ‘‘kusalā dhammā, akusalā dhammā, abyākatā dhammā’’ti tikadukapaṭimaṇḍitaṃ dhammasaṅgaṇīpakaraṇaṃ, khandhavibhaṅgādi aṭṭhārasa vibhaṅgapaṭimaṇḍitaṃ vibhaṅgappakaraṇaṃ, ‘‘saṅgaho asaṅgaho’’ti ādinā cuddasavidhena vibhattaṃ dhātukathāpakaraṇaṃ, ‘‘khandhapaññatti āyatanapaññattī’’ti ādinā chabbidhena vibhattaṃ puggalapaññattippakaraṇaṃ, sakavāde pañcasuttasatāni paravāde pañcasuttasatānīti suttasahassaṃ samodhānetvā vibhattaṃ kathāvatthuppakaraṇaṃ, ‘‘mūlayamakaṃ khandhayamaka’’nti ādinā dasavidhena vibhattaṃ yamakappakaraṇaṃ, ‘‘hetupaccayo ārammaṇapaccayo’’ti ādinā catuvīsatividhena vibhattaṃ paṭṭhānappakaraṇanti sabbaṃ taṃ abhidhammapiṭakaṃ ekeneva sajjhāyena paguṇaṃ katvā ‘‘tiṭṭhatha bhante, na puna osāretha, ettakenevāhaṃ sajjhāyissāmī’’ti āha.
And the Venerable Nāgasena mastered the Dhammasaṅgaṇī, adorned with the threefold and twofold classifications such as “wholesome states, unwholesome states, indeterminate states”; the Vibhaṅga, embellished with eighteen analyses such as the analysis of aggregates; the Dhātukathā, distinguished in fourteen ways beginning with “inclusion and non-inclusion”; the Puggalapaññatti, classified in six ways beginning with “the designation of aggregates, the designation of sense bases”; the Kathāvatthu, divided by combining a thousand suttas—five hundred on one’s own doctrine and five hundred on others’ doctrines; the Yamaka, divided into ten sections beginning with “the root pairs, the aggregate pairs”; and the Paṭṭhāna, classified in twenty-four ways beginning with “root condition, object condition.” Having made the entire Abhidhamma Piṭaka proficient with a single recitation, he said: “Stop, venerable sirs, do not recite further. I will recite it with just this much.”
Và Tôn giả Nāgasena, sau khi đã thông suốt toàn bộ tạng Abhidhamma chỉ bằng một lần tụng đọc — gồm bộ Dhammasaṅgaṇī được trang hoàng bởi các tam đề và nhị đề như ‘các pháp thiện, các pháp bất thiện, các pháp vô ký’; bộ Vibhaṅga được trang hoàng bởi mười tám loại phân tích bắt đầu với Phân tích Uẩn; bộ Dhātukathā được phân chia theo mười bốn cách bắt đầu với ‘bao gồm và không bao gồm’; bộ Puggalapaññatti được phân chia theo sáu cách bắt đầu với ‘chế định về uẩn và chế định về xứ’; bộ Kathāvatthu được phân chia sau khi tổng hợp một ngàn kinh, gồm năm trăm kinh về quan điểm của mình và năm trăm kinh về quan điểm của người khác; bộ Yamaka được phân chia theo mười cách bắt đầu với ‘Song đối Căn bản và Song đối Uẩn’; và bộ Paṭṭhāna được phân chia theo hai mươi bốn cách bắt đầu với ‘duyên nhân, duyên cảnh’ — đã thưa rằng: “Bạch ngài, xin hãy dừng lại, xin đừng đọc tiếp nữa. Chỉ với chừng này, con sẽ tự mình tụng đọc lại.”
14. Atha kho āyasmā nāgaseno yena koṭisatā arahanto tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā koṭisate arahante etadavoca ‘‘ahaṃ kho bhante ‘kusalā dhammā, akusalā dhammā, abyākatā dhammā’ti imesu tīsu padesu pakkhipitvā sabbaṃ taṃ abhidhammapiṭakaṃ vitthārena osāressāmī’’ti. ‘‘Sādhu, nāgasena, osārehī’’ti.
14. Then the venerable Nāgasena approached the hundred koṭis of arahants. Having approached, he said this to the hundred koṭis of arahants: “Venerable sirs, having placed the entire Abhidhamma Piṭaka into these three categories—‘wholesome states, unwholesome states, and indeterminate states’—I will recite it in detail.” They replied: “Good, Nāgasena, recite it.”
14. Bấy giờ, Tôn giả Nāgasena đi đến nơi có một trăm ức vị A-la-hán, sau khi đến, ngài thưa với một trăm ức vị A-la-hán rằng: “Bạch các ngài, con sẽ trình bày chi tiết toàn bộ tạng Abhidhamma, sắp xếp nó vào ba đề mục này: ‘các pháp thiện, các pháp bất thiện, các pháp vô ký’.” Các vị ấy đáp: “Lành thay, Nāgasena, hãy trình bày đi.”
Atha kho āyasmā nāgaseno satta māsāni satta pakaraṇāni vitthārena osāresi, pathavī unnadi, devatā sādhukāramadaṃsu, brahmāno apphoṭesuṃ, dibbāni candanacuṇṇāni dibbāni ca mandāravapupphāni abhippavassiṃsu.
Then the venerable Nāgasena recited the seven treatises in detail over seven months. The earth resounded, the devas gave cries of approval, the brahmās clapped their hands, and a shower of divine sandalwood powder and divine mandārava flowers rained down.
Bấy giờ, Tôn giả Nāgasena đã trình bày chi tiết bảy bộ luận trong bảy tháng. Trái đất rung động, chư thiên tung hô “lành thay”, các vị Phạm thiên vỗ tay, và mưa bột đàn hương cùng hoa Mạn-đà-la-thoa từ cõi trời rơi xuống.
15. Atha kho koṭisatā arahanto āyasmantaṃ nāgasenaṃ paripuṇṇavīsativassaṃ rakkhitatale upasampādesuṃ. Upasampanno ca panāyasmā nāgaseno tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya upajjhāyena saddhiṃ gāmaṃ piṇḍāya pavisanto evarūpaṃ parivitakkaṃ uppādesi ‘‘tuccho vata me upajjhāyo, bālo vata me upajjhāyo, ṭhapetvā avasesaṃ buddhavacanaṃ paṭhamaṃ maṃ abhidhamme vinesī’’ti.
15. Then the hundred koṭis of arahants conferred the higher ordination upon the venerable Nāgasena, who was fully twenty years of age, at Rakkhitatala. After his higher ordination, at the end of that night, in the forenoon, the venerable Nāgasena dressed, took his bowl and robe, and while entering the village for alms with his preceptor, he gave rise to such a thought: “My preceptor is indeed hollow, my preceptor is indeed a fool! Having set aside the rest of the Buddha’s word, he first trained me in the Abhidhamma.”
15. Bấy giờ, một trăm ức vị A-la-hán đã làm lễ thọ cụ túc giới cho Tôn giả Nāgasena, khi ngài tròn hai mươi tuổi, tại vùng Rakkhitatala. Sau khi thọ giới, vào buổi sáng hôm sau, Tôn giả Nāgasena đắp y, mang bát, cùng với thầy tế độ đi vào làng để khất thực, và một ý nghĩ như thế này đã khởi lên trong tâm ngài: “Ôi, thầy tế độ của ta thật rỗng tuếch! Ôi, thầy tế độ của ta thật ngu dốt! Ngài đã bỏ qua những lời dạy khác của Đức Phật mà lại dạy ta Abhidhamma trước tiên.”
Atha kho āyasmā rohaṇo āyasmato nāgasenassa cetasā cetoparivitakkamaññāya āyasmantaṃ nāgasenaṃ etadavoca ‘‘ananucchavikaṃ kho nāgasena parivitakkaṃ vitakkesi, na kho panetaṃ nāgasena tavānucchavika’’nti.
Then the venerable Rohaṇa, knowing with his mind the thought in the venerable Nāgasena’s mind, said to him: “Nāgasena, you are thinking an unsuitable thought. This is not fitting for you, Nāgasena.”
Bấy giờ, Tôn giả Rohaṇa, biết được ý nghĩ trong tâm của Tôn giả Nāgasena bằng tâm của mình, đã nói với Tôn giả Nāgasena rằng: “Này Nāgasena, ông đã khởi lên một ý nghĩ không thích hợp. Này Nāgasena, ý nghĩ này của ông thật không thích hợp.”
Atha kho āyasmato nāgasenassa etadahosi ‘‘acchariyaṃ vata bho, abbhutaṃ vata bho, yatra hi nāma me upajjhāyo cetasā cetoparivitakkaṃ jānissati, paṇḍito vata me upajjhāyo, yaṃnūnāhaṃ upajjhāyaṃ khamāpeyya’’nti. Atha kho āyasmā nāgaseno āyasmantaṃ rohaṇaṃ etadavoca ‘‘khamatha me, bhante, na puna evarūpaṃ vitakkessāmī’’ti.
Then it occurred to the venerable Nāgasena: “It is wonderful, it is amazing, that my preceptor knows the thought in my mind with his own mind! Indeed, my preceptor is wise. Let me now ask my preceptor for forgiveness.” Then the venerable Nāgasena said to the venerable Rohaṇa: “Forgive me, venerable sir. I will not think in such a way again.”
Bấy giờ, Tôn giả Nāgasena nghĩ rằng: “Ôi, thật kỳ diệu! Ôi, thật phi thường! Thầy tế độ của ta lại có thể biết được ý nghĩ trong tâm ta bằng tâm của ngài. Ôi, thầy tế độ của ta thật là một bậc hiền trí! Ta nên xin thầy tha lỗi.” Rồi Tôn giả Nāgasena thưa với Tôn giả Rohaṇa: “Bạch ngài, xin hãy tha lỗi cho con. Con sẽ không khởi lên ý nghĩ như vậy nữa.”
Atha kho āyasmā rohaṇo āyasmantaṃ nāgasenaṃ etadavoca ‘‘na kho tyāhaṃ nāgasena ettāvatā khamāmi, atthi kho nāgasena sāgalaṃ nāma nagaraṃ, tattha milindo nāma rājā rajjaṃ kāreti, so diṭṭhivādena pañhaṃ pucchitvā bhikkhusaṅghaṃ viheṭheti, sace tvaṃ tattha gantvā taṃ rājānaṃ dametvā buddhasāsane pasādessasi, evāhaṃ taṃ khamissāmī’’ti.
Then the venerable Rohaṇa said to the venerable Nāgasena: “Nāgasena, I do not forgive you for just this. There is, Nāgasena, a city named Sāgala, where a king named Milinda reigns. He harasses the Saṅgha of bhikkhus by asking questions in contentious debate. If you go there, subdue that king, and inspire his confidence in the Buddha’s Dispensation, then I will forgive you.”
Bấy giờ, Tôn giả Rohaṇa nói với Tôn giả Nāgasena: “Này Nāgasena, ta không tha lỗi cho ông chỉ với chừng đó. Này Nāgasena, có một thành phố tên là Sāgala, ở đó có một vị vua tên là Milinda đang trị vì. Vị vua ấy làm phiền nhiễu Tăng đoàn bằng cách đặt ra những câu hỏi dựa trên tà kiến. Nếu ông đến đó, chế ngự được vị vua ấy và làm cho ông ta có đức tin vào giáo pháp của Đức Phật, thì ta sẽ tha lỗi cho ông.”
‘‘Tiṭṭhatu, bhante, eko milindo rājā; sace, bhante, sakalajambudīpe sabbe rājāno āgantvā maṃ pañhaṃ puccheyyuṃ, sabbaṃ taṃ visajjetvā sampadālessāmi, ‘khamatha me bhante’ti vatvā, ‘na khamāmī’ti vutte ‘tena hi, bhante, imaṃ temāsaṃ kassa santike vasissāmī’ti āha’’. Ayaṃ kho, nāgasena, āyasmā assagutto vattaniye senāsane viharati, gaccha tvaṃ, nāgasena, yenāyasmā assagutto tenupasaṅkama, upasaṅkamitvā mama vacanena āyasmato assaguttassa pāde sirasā vanda, evañca naṃ vadehi ‘upajjhāyo me, bhante, tumhākaṃ pāde sirasā vandati, appābādhaṃ appātaṅkaṃ lahuṭṭhānaṃ balaṃ phāsuvihāraṃ pucchati, upajjhāyo me, bhante, imaṃ temāsaṃ tumhākaṃ santike vasituṃ maṃ pahiṇī’ti, ‘konāmo te upajjhāyo’ti ca vutte ‘rohaṇatthero nāma bhante’’ti vadeyyāsi, ‘ahaṃ konāmo’ti vutte evaṃ vadeyyāsi ‘mama upajjhāyo, bhante, tumhākaṃ nāmaṃ jānātī’’’ti. ‘‘Evaṃ bhante’’ti kho āyasmā nāgaseno āyasmantaṃ rohaṇaṃ abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā pattacīvaramādāya anupubbena cārikaṃ caramāno yena vattaniyaṃ senāsanaṃ, yenāyasmā assagutto tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṃ assaguttaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsi, ekamantaṃ ṭhito kho āyasmā nāgaseno āyasmantaṃ assaguttaṃ etadavoca ‘‘upajjhāyo me, bhante, tumhākaṃ pāde sirasā vandati, evañca vadeti appābādhaṃ appātaṅkaṃ lahuṭṭhānaṃ balaṃ phāsuvihāraṃ pucchati, upajjhāyo me, bhante, imaṃ temāsaṃ tumhākaṃ santike vasituṃ maṃ pahiṇī’’ti.
“Let alone King Milinda, venerable sir! If all the kings in the whole of Jambudīpa were to come and question me, I would answer them all and demolish their arguments. Having said, ‘Forgive me, venerable sir,’ and having been told, ‘I do not forgive,’ then, venerable sir, with whom am I to stay for this three-month period?” “Nāgasena, the venerable Assagutta is dwelling at the Vattaniya residence. Go to the venerable Assagutta. Having approached him, pay homage at his feet with your head in my name and say: ‘Venerable sir, my preceptor pays homage at your feet with his head and asks about your freedom from illness and affliction, about your lightness, strength, and comfortable abiding. Venerable sir, my preceptor has sent me to stay with you for this three-month period.’ If he asks, ‘What is your preceptor’s name?’ you should say, ‘The Elder Rohaṇa, venerable sir.’ If he asks, ‘What is my name?’ you should say, ‘Venerable sir, my preceptor knows your name.’” “So be it, venerable sir,” the venerable Nāgasena replied. Having paid homage to the venerable Rohaṇa and circumambulated him, he took his bowl and robe and, wandering on tour in due course, he approached the Vattaniya residence, where the venerable Assagutta was. Having approached and paid homage to the venerable Assagutta, he stood to one side. Standing to one side, the venerable Nāgasena said to the venerable Assagutta: “Venerable sir, my preceptor pays homage at your feet with his head and asks about your freedom from illness and affliction, about your lightness, strength, and comfortable abiding. Venerable sir, my preceptor has sent me to stay with you for this three-month period.”
“Bạch ngài, hãy để một mình vua Milinda sang một bên; bạch ngài, nếu tất cả các vị vua trên toàn cõi Diêm-phù-đề đến và hỏi con, con sẽ giải đáp tất cả và đập tan quan điểm của họ. Xin ngài hãy tha lỗi cho con.” Khi được trả lời: “Ta không tha lỗi,” ngài hỏi: “Vậy thì, bạch ngài, trong ba tháng mùa mưa này, con sẽ ở với ai?” “Này Nāgasena, Tôn giả Assagutta đang ở tại tu viện Vattaniya. Này Nāgasena, con hãy đi đến nơi Tôn giả Assagutta đang ở. Sau khi đến, hãy thay lời ta đảnh lễ dưới chân Tôn giả Assagutta và thưa với ngài như thế này: ‘Bạch ngài, thầy tế độ của con xin đảnh lễ dưới chân ngài và hỏi thăm ngài có được ít bệnh, ít não, thân thể nhẹ nhàng, khỏe mạnh và an lạc không. Bạch ngài, thầy tế độ của con đã gửi con đến ở với ngài trong ba tháng mùa mưa này.’ Và khi được hỏi: ‘Thầy tế độ của con tên là gì?’ con hãy trả lời: ‘Bạch ngài, tên là Trưởng lão Rohaṇa.’ Khi được hỏi: ‘Còn ta tên là gì?’ con hãy trả lời như thế này: ‘Bạch ngài, thầy tế độ của con biết tên của ngài.’” “Vâng, bạch ngài,” Tôn giả Nāgasena đáp, rồi đảnh lễ Tôn giả Rohaṇa, đi quanh ngài theo chiều kim đồng hồ, lấy y bát và tuần tự du hành đến tu viện Vattaniya, nơi Tôn giả Assagutta đang ở. Sau khi đến, ngài đảnh lễ Tôn giả Assagutta và đứng sang một bên. Đứng sang một bên, Tôn giả Nāgasena thưa với Tôn giả Assagutta: “Bạch ngài, thầy tế độ của con xin đảnh lễ dưới chân ngài và thưa rằng ngài hỏi thăm ngài có được ít bệnh, ít não, thân thể nhẹ nhàng, khỏe mạnh và an lạc không. Bạch ngài, thầy tế độ của con đã gửi con đến ở với ngài trong ba tháng mùa mưa này.”
Atha kho āyasmā assagutto āyasmantaṃ nāgasenaṃ etadavoca ‘‘tvaṃ kinnāmosī’’ti. ‘‘Ahaṃ, bhante, nāgaseno nāmā’’ti. ‘‘Konāmo te upajjhāyo’’ti? ‘‘Upajjhāyo me, bhante, rohaṇo nāmā’’ti. ‘‘Ahaṃ konāmo’’ti. ‘‘Upajjhāyo me, bhante, tumhākaṃ nāmaṃ jānātī’’ti.
Then the venerable Assagutta said to the venerable Nāgasena: “What is your name?” “Venerable sir, my name is Nāgasena.” “What is your preceptor’s name?” “Venerable sir, my preceptor’s name is Rohaṇa.” “What is my name?” “Venerable sir, my preceptor knows your name.”
Bấy giờ, trưởng lão Assagutta nói với trưởng lão Nāgasena rằng: “Thầy tên là gì?” “Bạch ngài, con tên là Nāgasena.” “Thầy tế độ của thầy tên là gì?” “Bạch ngài, thầy tế độ của con tên là Rohaṇa.” “Ta tên là gì?” “Bạch ngài, thầy tế độ của con biết tên của ngài.”
‘‘Sādhu, nāgasena, pattacīvaraṃ paṭisāmehī’’ti. ‘‘Sādhu bhante’’ti pattacīvaraṃ paṭisāmetvā punadivase pariveṇaṃ sammajjitvā mukhodakaṃ dantapoṇaṃ upaṭṭhapesi. Thero sammajjitaṭṭhānaṃ paṭisammajji, taṃ udakaṃ chaḍḍetvā aññaṃ udakaṃ āhari, tañca dantakaṭṭhaṃ apanetvā aññaṃ dantakaṭṭhaṃ gaṇhi, na ālāpasallāpaṃ akāsi, evaṃ satta divasāni katvā sattame divase puna pucchitvā puna tena tatheva vutte vassavāsaṃ anujāni.
“Good, Nāgasena, put away your bowl and robe.” “Very well, venerable sir,” he replied, and he put away his bowl and robe. The next day, having swept the monastery grounds, he prepared water for washing the face and a tooth-stick. The elder re-swept the swept place, discarded that water and brought other water, and removed that tooth-stick and took another. He did not engage in any talk. Having done this for seven days, on the seventh day he asked again, and when Nāgasena gave the same reply, he granted him permission for the rains-residence.
“Lành thay, Nāgasena, hãy cất y bát đi.” “Lành thay, bạch ngài.” Sau khi cất y bát, vào ngày hôm sau, ngài quét dọn khuôn viên tịnh xá, rồi dâng nước rửa mặt và tăm xỉa răng. Vị trưởng lão quét lại nơi đã được quét, đổ nước ấy đi và mang đến nước khác, bỏ tăm xỉa răng ấy đi và lấy tăm xỉa răng khác, ngài không nói chuyện hay trao đổi gì cả. Sau khi làm như vậy suốt bảy ngày, vào ngày thứ bảy, ngài lại hỏi, và khi vị kia trả lời y như trước, ngài đã cho phép an cư mùa mưa.
16. Tena kho pana samayena ekā mahāupāsikā āyasmantaṃ assaguttaṃ tiṃsamattāni vassāni upaṭṭhāsi. Atha kho sā mahāupāsikā temāsaccayena yenāyasmā assagutto tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṃ assaguttaṃ etadavoca ‘‘atthi nu kho, tāta, tumhākaṃ santike añño bhikkhū’’ti. ‘‘Atthi, mahāupāsike, amhākaṃ santike nāgaseno nāma bhikkhū’’ti. ‘‘Tena hi, tāta assagutta, adhivāsehi nāgasenena saddhiṃ svātanāya bhatta’’nti. Adhivāsesi kho āyasmā assagutto tuṇhībhāvena.
16. Now at that time, a great female lay follower had been supporting the Venerable Assagutta for thirty years. Then, at the end of the three-month period, that great female lay follower approached the Venerable Assagutta and said: “Dear sir, is there any other bhikkhu with you?” “Yes, great lay follower, there is a bhikkhu with us named Nāgasena.” “In that case, dear Assagutta, please consent to a meal for tomorrow together with Nāgasena.” The Venerable Assagutta consented by silence.
16. Vào lúc bấy giờ, có một vị đại nữ thí chủ đã hộ độ trưởng lão Assagutta trong khoảng ba mươi năm. Bấy giờ, sau ba tháng trôi qua, vị đại nữ thí chủ ấy đi đến chỗ trưởng lão Assagutta. Sau khi đến, bà nói với trưởng lão Assagutta rằng: “Thưa ngài, có vị tỳ-khưu nào khác ở cùng với ngài không?” “Thưa đại nữ thí chủ, có một vị tỳ-khưu tên là Nāgasena ở cùng với chúng tôi.” “Nếu vậy, thưa ngài Assagutta, xin ngài hãy nhận lời mời dùng bữa vào ngày mai cùng với thầy Nāgasena.” Trưởng lão Assagutta đã nhận lời bằng cách im lặng.
Atha kho āyasmā assagutto tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya āyasmatā nāgasenena saddhiṃ pacchāsamaṇena yena mahāupāsikāya nivesanaṃ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho sā mahāupāsikā āyasmantaṃ assaguttaṃ āyasmantañca nāgasenaṃ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi. Atha kho āyasmā assagutto bhuttāviṃ onītapattapāṇiṃ āyasmantaṃ nāgasenaṃ etadavoca ‘‘tvaṃ, nāgasena, mahāupāsikāya anumodanaṃ karohī’’ti idaṃ vatvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Then, when that night had passed, the Venerable Assagutta dressed in the forenoon, took his bowl and robe, and with the Venerable Nāgasena as his attendant monk, went to the dwelling of the great female lay follower. Having arrived, he sat down on the prepared seat. Then the great female lay follower with her own hands served and satisfied the Venerable Assagutta and the Venerable Nāgasena with fine hard and soft food until they were content. When he had finished his meal and withdrawn his hand from the bowl, the Venerable Assagutta said to the Venerable Nāgasena, “You, Nāgasena, give the discourse of appreciation to the great female lay follower.” Having said this, he rose from his seat and departed.
Bấy giờ, sau khi đêm ấy trôi qua, vào buổi sáng, trưởng lão Assagutta đắp y, mang y bát, cùng với trưởng lão Nāgasena là vị tỳ-khưu đi theo sau, đi đến nhà của vị đại nữ thí chủ. Sau khi đến, ngài ngồi xuống chỗ đã được soạn sẵn. Bấy giờ, vị đại nữ thí chủ ấy đã tự tay dâng cúng và làm cho trưởng lão Assagutta và trưởng lão Nāgasena hài lòng với các món vật thực thượng vị, cả đồ cứng lẫn đồ mềm, cho đến khi các ngài không dùng nữa. Bấy giờ, sau khi đã dùng bữa xong và tay đã rời khỏi bát, trưởng lão Assagutta nói với trưởng lão Nāgasena rằng: “Này Nāgasena, thầy hãy thuyết pháp tùy hỷ cho vị đại nữ thí chủ.” Nói xong, ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra về.
Atha kho sā mahāupāsikā āyasmantaṃ nāgasenaṃ etadavoca ‘‘mahallikā khohaṃ, tāta nāgasena, gambhīrāya dhammakathāya mayhaṃ anumodanaṃ karohī’’ti. Atha kho āyasmā nāgaseno tassā mahāupāsikāya gambhīrāya dhammakathāya lokuttarāya suññatappaṭisaṃyuttāya anumodanaṃ akāsi. Atha kho tassā mahāupāsikāya tasmiṃyeva āsane virajaṃ vītamalaṃ dhammacakkhuṃ udapādi ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ, sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti. Āyasmāpi kho nāgaseno tassā mahāupāsikāya anumodanaṃ katvā attanā desitaṃ dhammaṃ paccavekkhanto vipassanaṃ paṭṭhapetvā tasmiṃyeva āsane nisinno sotāpattiphale patiṭṭhāsi.
Then the great female lay follower said to the Venerable Nāgasena, “I am an old woman, dear sir. Give the discourse of appreciation for me with a profound Dhamma talk.” Then the Venerable Nāgasena gave the discourse of appreciation for that great female lay follower with a profound, supramundane Dhamma talk connected with emptiness. Then, right there on that very seat, the dust-free, stainless eye of the Dhamma arose in her: “Whatever is subject to origination is all subject to cessation.” And the Venerable Nāgasena, too, after giving the discourse of appreciation for the great female lay follower, reflected on the Dhamma he had taught, established insight, and while still seated there, became established in the fruit of stream-entry.
Bấy giờ, vị đại nữ thí chủ ấy nói với trưởng lão Nāgasena rằng: “Thưa ngài Nāgasena, tôi đã già rồi, xin ngài hãy thuyết một bài pháp thâm sâu để tùy hỷ cho tôi.” Bấy giờ, trưởng lão Nāgasena đã thuyết pháp tùy hỷ cho vị đại nữ thí chủ ấy bằng một bài pháp thâm sâu, siêu thế, liên quan đến tánh không. Bấy giờ, ngay tại chỗ ngồi đó, pháp nhãn không còn bụi bẩn, không còn cấu uế đã khởi lên cho vị đại nữ thí chủ ấy: “Phàm pháp gì có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có diệt tận.” Và trưởng lão Nāgasena, sau khi thuyết pháp tùy hỷ cho vị đại nữ thí chủ, trong khi quán chiếu lại bài pháp do chính mình thuyết giảng, đã thiết lập tuệ quán và, ngay khi đang ngồi trên chính chỗ ngồi đó, ngài đã an trú vào quả vị Tu-đà-hoàn.
Atha kho āyasmā assagutto maṇḍalamāḷe nisinno dvinnampi dhammacakkhupaṭilābhaṃ ñatvā sādhukāraṃ pavattesi ‘‘sādhu sādhu nāgasena, ekena kaṇḍappahārena dve mahākāyā padālitā’’ti, anekāni ca devatāsahassāni sādhukāraṃ pavattesuṃ.
Then the Venerable Assagutta, seated in the pavilion, knowing that both had attained the eye of the Dhamma, uttered an exclamation of approval: “Good, good, Nāgasena! With a single arrow-strike, two great bodies have been pierced!” And many thousands of devas also uttered exclamations of approval.
Bấy giờ, trưởng lão Assagutta, đang ngồi trong giảng đường, biết được cả hai người đều đã chứng đắc pháp nhãn, liền thốt lên lời tán thán: “Lành thay, lành thay, Nāgasena! Chỉ bằng một mũi tên mà đã bắn xuyên qua hai thân thể to lớn.” Và nhiều ngàn chư thiên cũng thốt lên lời tán thán.
17. Atha kho āyasmā nāgaseno uṭṭhāyāsanā yenāyasmā assagutto tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṃ assaguttaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi, ekamantaṃ nisinnaṃ kho āyasmantaṃ nāgasenaṃ āyasmā assagutto etadavoca ‘‘gaccha, tvaṃ nāgasena, pāṭaliputtaṃ, pāṭaliputtanagare asokārāme āyasmā dhammarakkhito paṭivasati, tassa santike buddhavacanaṃ pariyāpuṇāhī’’ti. ‘‘Kīva dūro, bhante, ito pāṭaliputtanagara’’nti? ‘‘Yojanasatāni kho nāgasenā’’ti. ‘‘Dūro kho, bhante, maggo. Antarāmagge bhikkhā dullabhā, kathāhaṃ gamissāmī’’ti? ‘‘Gaccha, tvaṃ nāgasena, antarāmagge piṇḍapātaṃ labhissasi sālīnaṃ odanaṃ vigatakāḷakaṃ anekasūpaṃ anekabyañjana’’nti. ‘‘Evaṃ bhante’’ti kho āyasmā nāgaseno āyasmantaṃ assaguttaṃ abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā pattacīvaramādāya yena pāṭaliputtaṃ tena cārikaṃ pakkāmi.
17. Then the Venerable Nāgasena rose from his seat, approached the Venerable Assagutta, paid homage to him, and sat down to one side. Seated to one side, the Venerable Assagutta said to the Venerable Nāgasena: “Go, Nāgasena, to Pāṭaliputta. In the city of Pāṭaliputta, the Venerable Dhammarakkhita resides at the Asokārāma. Learn the Buddha’s word in his presence.” “How far, venerable sir, is the city of Pāṭaliputta from here?” “A hundred yojanas, Nāgasena.” “The journey is long, venerable sir. Almsfood is difficult to obtain along the way—how shall I go?” “Go, Nāgasena. Along the way, you will receive almsfood—rice of fine quality, free from black specks, with many soups and various curries.” “Very well, venerable sir,” replied the Venerable Nāgasena. He paid homage to the Venerable Assagutta, circumambulated him keeping him to his right, took his bowl and robe, and set out on his journey to Pāṭaliputta.
17. Bấy giờ, trưởng lão Nāgasena đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đi đến chỗ trưởng lão Assagutta. Sau khi đến, ngài đảnh lễ trưởng lão Assagutta rồi ngồi xuống một bên. Trưởng lão Assagutta nói với trưởng lão Nāgasena đang ngồi một bên rằng: “Này Nāgasena, thầy hãy đi đến Pāṭaliputta. Tại thành Pāṭaliputta, trong tu viện Asokārāma, có trưởng lão Dhammarakkhita đang trú ngụ. Thầy hãy đến học Phật ngôn nơi vị ấy.” “Bạch ngài, từ đây đến thành Pāṭaliputta bao xa?” “Khoảng một trăm do-tuần, này Nāgasena.” “Bạch ngài, đường đi xa quá. Dọc đường lại khó khất thực. Làm sao con có thể đi được?” “Cứ đi đi, Nāgasena. Dọc đường thầy sẽ nhận được vật thực khất thực là cơm nấu từ gạo Sāli, không có hạt đen, với nhiều món canh và nhiều món ăn kèm.” “Vâng, bạch ngài.” Bấy giờ, trưởng lão Nāgasena đảnh lễ trưởng lão Assagutta, đi nhiễu quanh ngài theo chiều bên phải, rồi mang y bát lên đường du hành đến Pāṭaliputta.
18. Tena kho pana samayena pāṭaliputtako seṭṭhi pañcahi sakaṭasatehi pāṭaliputtagāmimaggaṃ paṭipanno hoti. Addasā kho pāṭaliputtako seṭṭhi āyasmantaṃ nāgasenaṃ dūratova āgacchantaṃ, disvāna yenāyasmā nāgaseno tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṃ nāgasenaṃ abhivādetvā ‘‘kuhiṃ gacchasi tātā’’ti āha. ‘‘Pāṭaliputtaṃ gahapatī’’ti. ‘‘Sādhu tāta, mayampi pāṭaliputtaṃ gacchāma. Amhehi saddhiṃ sukhaṃ gacchathā’’ti.
18. Now at that time, a merchant from Pāṭaliputta was traveling along the road to Pāṭaliputta with five hundred carts. From a distance, the merchant from Pāṭaliputta saw the Venerable Nāgasena approaching. Upon seeing him, he approached the Venerable Nāgasena, paid homage to him, and said, “Where are you going, dear sir?” “To Pāṭaliputta, householder.” “Excellent, dear sir. We too are going to Pāṭaliputta. Please travel comfortably with us.”
18. Vào lúc bấy giờ, có một vị trưởng giả người Pāṭaliputta đang đi trên con đường dẫn đến Pāṭaliputta với năm trăm cỗ xe. Vị trưởng giả người Pāṭaliputta nhìn thấy trưởng lão Nāgasena đang đi đến từ xa. Thấy vậy, ông liền đi đến chỗ trưởng lão Nāgasena. Sau khi đến, ông đảnh lễ trưởng lão Nāgasena và hỏi: “Thưa ngài, ngài đi đâu vậy?” “Tôi đi đến Pāṭaliputta, thưa gia chủ.” “Lành thay, thưa ngài. Chúng tôi cũng đi đến Pāṭaliputta. Xin ngài hãy đi cùng chúng tôi cho được thoải mái.”
Atha kho pāṭaliputtako seṭṭhi āyasmato nāgasenassa iriyāpathe pasīditvā āyasmantaṃ nāgasenaṃ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappetvā sampavāretvā āyasmantaṃ nāgasenaṃ bhuttāviṃ onītapattapāṇiṃ aññataraṃ nīcaṃ āsanaṃ gahetvā ekamantaṃ nisīdi, ekamantaṃ nisinno kho pāṭaliputtako seṭṭhi āyasmantaṃ nāgasenaṃ etadavoca ‘‘kinnāmosi tvaṃ tātā’’ti. ‘‘Ahaṃ, gahapati, nāgaseno nāmā’’ti. ‘‘Jānāsi kho, tvaṃ tāta, buddhavacanaṃ nāmā’’ti? ‘‘Jānāmi khohaṃ, gahapati, abhidhammapadānī’’ti. ‘‘Lābhā no tāta, suladdhaṃ no tāta, ahampi kho, tāta, ābhidhammiko, tvampi ābhidhammiko, bhaṇa, tāta, abhidhammapadānī’’ti. Atha kho āyasmā nāgaseno pāṭaliputtakassa seṭṭhissa abhidhammaṃ desesi, desente yeva pāṭaliputtakassa seṭṭhissa virajaṃ vītamalaṃ dhammacakkhuṃ udapādi ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ, sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti.
Then the merchant from Pāṭaliputta, pleased with the deportment of the Venerable Nāgasena, with his own hands served and satisfied him with fine hard and soft food until he was content. When the Venerable Nāgasena had finished his meal and withdrawn his hand from the bowl, the merchant took a low seat and sat down to one side. Seated to one side, the merchant from Pāṭaliputta said to the Venerable Nāgasena, “What is your name, dear sir?” “I, householder, am named Nāgasena.” “Do you know, dear sir, what is called the word of the Buddha?” “I know, householder, the texts of the Abhidhamma.” “What a gain for us, dear sir! What a great gain for us! I too am versed in the Abhidhamma, and you are versed in the Abhidhamma. Recite, dear sir, the texts of the Abhidhamma!” Then the Venerable Nāgasena taught the Abhidhamma to the merchant from Pāṭaliputta. And while he was teaching, the dust-free, stainless eye of the Dhamma arose in the merchant from Pāṭaliputta: “Whatever is subject to origination is all subject to cessation.”
Bấy giờ, vị trưởng giả ở thành Pāṭaliputta, do có tâm tịnh tín về oai nghi của trưởng lão Nāgasena, đã tự tay dâng cúng trưởng lão Nāgasena các món vật thực loại cứng và loại mềm thượng hạng cho đến khi ngài hài lòng và tỏ ý đã dùng đủ. Sau khi trưởng lão Nāgasena đã dùng xong, tay đã rời khỏi bát, vị ấy lấy một chỗ ngồi thấp hơn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi một bên, vị trưởng giả ở thành Pāṭaliputta bạch với trưởng lão Nāgasena rằng: ‘Thưa ngài, ngài tên là gì?’ ‘Này gia chủ, tôi tên là Nāgasena.’ ‘Thưa ngài, ngài có biết lời dạy của Đức Phật không?’ ‘Này gia chủ, tôi có biết các phần thuộc về Abhidhamma.’ ‘Thật là lợi ích cho chúng tôi, thưa ngài! Thật là khéo được cho chúng tôi, thưa ngài! Thưa ngài, tôi cũng là người thông hiểu Abhidhamma, và ngài cũng là người thông hiểu Abhidhamma. Thưa ngài, xin hãy đọc tụng các phần thuộc về Abhidhamma.’ Bấy giờ, trưởng lão Nāgasena đã thuyết giảng Abhidhamma cho vị trưởng giả ở thành Pāṭaliputta. Ngay trong khi đang nghe pháp, pháp nhãn không trần cấu, không ô nhiễm đã khởi lên cho vị trưởng giả ở thành Pāṭaliputta rằng: ‘Phàm điều gì có bản chất sanh khởi, tất cả điều ấy đều có bản chất đoạn diệt.’
Atha kho pāṭaliputtako seṭṭhi pañcamattāni sakaṭasatāni purato uyyojetvā sayaṃ pacchato gacchanto pāṭaliputtassa avidūre dvedhāpathe ṭhatvā āyasmantaṃ nāgasenaṃ etadavoca ‘‘ayaṃ kho, tāta nāgasena, asokārāmassa maggo, idaṃ kho, tāta, amhākaṃ kambalaratanaṃ soḷasahatthaṃ āyāmena, aṭṭhahatthaṃ vitthārena, paṭiggaṇhāhi kho, tāta, idaṃ kambalaratanaṃ anukampaṃ upādāyā’’ti. Paṭiggahesi kho āyasmā nāgaseno taṃ kambalaratanaṃ anukampaṃ upādāya. Atha kho pāṭaliputtako seṭṭhi attamano udaggo pamudito pītisomanassajāto āyasmantaṃ nāgasenaṃ abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā pakkāmi.
Then the merchant from Pāṭaliputta, having sent the five hundred carts on ahead while he himself followed behind, stood at a fork in the road not far from Pāṭaliputta and said to the Venerable Nāgasena: “This, dear Nāgasena, is the road to the Asokārāma. This, dear sir, is our precious blanket—sixteen cubits in length and eight cubits in width. Please accept, dear sir, this precious blanket out of compassion.” The Venerable Nāgasena accepted that precious blanket out of compassion. Then the merchant from Pāṭaliputta, elated, uplifted, exultant, and filled with joy and gladness, paid homage to the Venerable Nāgasena, circumambulated him keeping him to his right, and departed.
Bấy giờ, vị trưởng giả ở thành Pāṭaliputta cho năm trăm cỗ xe đi trước, còn mình thì đi theo sau. Khi đến gần thành Pāṭaliputta, tại một ngã ba đường, ông dừng lại và bạch với trưởng lão Nāgasena rằng: ‘Thưa ngài Nāgasena, đây là con đường dẫn đến tu viện Asokārāma. Thưa ngài, tấm thảm len quý báu này của chúng tôi dài mười sáu hắc-tay, rộng tám hắc-tay. Thưa ngài, vì lòng bi mẫn, xin ngài hãy nhận lấy tấm thảm len quý báu này.’ Trưởng lão Nāgasena đã nhận lấy tấm thảm len quý báu ấy vì lòng bi mẫn. Bấy giờ, vị trưởng giả ở thành Pāṭaliputta, với tâm ý hoan hỷ, phấn khởi, vui mừng, tràn đầy hỷ lạc, đã đảnh lễ trưởng lão Nāgasena, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải rồi ra đi.
19. Atha kho āyasmā nāgaseno yena asokārāmo yenāyasmā dhammarakkhito tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṃ dhammarakkhitaṃ abhivādetvā attano āgatakāraṇaṃ kathetvā āyasmato dhammarakkhitassa santike tepiṭakaṃ buddhavacanaṃ ekeneva uddesena tīhi māsehi byañjanaso pariyāpuṇitvā puna tīhi māsehi atthaso manasākāsi.
19. Then the Venerable Nāgasena went to the Asokārāma, to where the Venerable Dhammarakkhita was. Having approached, he paid homage to the Venerable Dhammarakkhita and explained the reason for his coming. In the presence of the Venerable Dhammarakkhita, in a single instructional recitation, he mastered the Tipiṭaka, the word of the Buddha, textually in three months, and then spent another three months attending to its meaning.
19. Bấy giờ, trưởng lão Nāgasena đi đến tu viện Asokārāma, đến nơi ở của trưởng lão Dhammarakkhita. Sau khi đến, ngài đảnh lễ trưởng lão Dhammarakkhita, trình bày lý do mình đến, rồi ở gần trưởng lão Dhammarakkhita, ngài đã học thông suốt Tam Tạng, là lời dạy của Đức Phật, về phương diện văn tự trong vòng ba tháng chỉ qua một lần đọc, và sau đó lại dành ba tháng nữa để suy ngẫm về phương diện ý nghĩa.
Atha kho āyasmā dhammarakkhito āyasmantaṃ nāgasenaṃ etadavoca ‘‘seyyathāpi, nāgasena, gopālako gāvo rakkhati, aññe gorasaṃ paribhuñjanti. Evameva kho, tvaṃ nāgasena, tepiṭakaṃ buddhavacanaṃ dhārentopi na bhāgī sāmaññassā’’ti. ‘‘Hotu, bhante, alaṃ ettakenā’’ti. Teneva divasabhāgena tena rattibhāgena saha paṭisambhidāhi arahattaṃ pāpuṇi, saha saccappaṭivedhena āyasmato nāgasenassa sabbe devā sādhukāramadaṃsu, pathavī unnadi, brahmāno apphoṭesuṃ, dibbāni candanacuṇṇāni dibbāni ca mandāravapupphāni abhippavassiṃsu.
Then the Venerable Dhammarakkhita said to the Venerable Nāgasena: 'Just as, Nāgasena, a cowherd looks after cows while others enjoy the products of the cow, so too, Nāgasena, though you bear in mind the Tipiṭaka, the word of the Buddha, you have no share in recluseship.' 'Let it be, venerable sir, that is enough.' And within that same day and night, he attained arahantship together with the analytical knowledges. Simultaneously with the Venerable Nāgasena's penetration of the truth, all the devas uttered an exclamation of approval, the earth resounded, the brahmās clapped their hands, and a shower of divine sandalwood powder and divine mandārava flowers fell.
Bấy giờ, trưởng lão Dhammarakkhita nói với trưởng lão Nāgasena rằng: ‘Này Nāgasena, ví như người chăn bò chăm sóc đàn bò, nhưng những người khác lại hưởng dùng các sản phẩm từ sữa. Cũng vậy, này Nāgasena, dù ghi nhớ Tam Tạng, lời dạy của Đức Phật, nhưng ngươi vẫn không phải là người được hưởng phần quả vị Sa-môn.’ ‘Xin vâng, thưa ngài. Bấy nhiêu đó là đủ rồi.’ Ngay trong phần ngày và phần đêm hôm ấy, ngài đã đắc quả A-la-hán cùng với các tuệ phân tích. Cùng lúc với sự chứng ngộ chân lý của trưởng lão Nāgasena, tất cả chư thiên đã đồng thanh tán thán ‘Lành thay!’, quả đất rung động, các vị Phạm thiên búng ngón tay, và bột đàn hương cõi trời cùng hoa Mạn-đà-la-thọ cõi trời đã tuôn xuống như mưa.
20. Tena kho pana samayena koṭisatā arahanto himavante pabbate rakkhitatale sannipatitvā āyasmato nāgasenassa santike dūtaṃ pāhesuṃ ‘‘āgacchatu nāgaseno, dassanakāmā mayaṃ nāgasena’’nti. Atha kho āyasmā nāgaseno dūtassa vacanaṃ sutvā asokārāme antarahito himavante pabbate rakkhitatale koṭisatānaṃ arahantānaṃ purato pāturahosi.
20. At that time, a hundred koṭis of arahants had gathered on the Rakkhita plateau in the Himalayas and sent a messenger to the Venerable Nāgasena, saying: 'Let Nāgasena come, we wish to see Nāgasena.' Then the Venerable Nāgasena, having heard the messenger’s words, vanished from the Asokārāma and appeared before the hundred koṭis of arahants on the Rakkhita plateau in the Himalayas.
20. Vào lúc bấy giờ, một trăm koṭi vị A-la-hán đã tụ hội tại cao nguyên Rakkhita trên dãy núi Himavanta và gửi một sứ giả đến chỗ trưởng lão Nāgasena với lời nhắn: ‘Mong rằng Nāgasena hãy đến đây. Chúng tôi muốn được gặp Nāgasena.’ Bấy giờ, sau khi nghe lời của sứ giả, trưởng lão Nāgasena biến mất khỏi tu viện Asokārāma và hiện ra trước một trăm koṭi vị A-la-hán tại cao nguyên Rakkhita trên dãy núi Himavanta.
Atha kho koṭisatā arahanto āyasmantaṃ nāgasenaṃ etadavocuṃ ‘‘eso kho, nāgasena, milindo rājā bhikkhusaṅghaṃ viheṭheti vādappaṭivādena pañhapucchāya. Sādhu, nāgasena, gaccha tvaṃ milindaṃ rājānaṃ damehī’’ti. ‘‘Tiṭṭhatu, bhante, eko milindo rājā; sace, bhante, sakalajambudīpe rājāno āgantvā maṃ pañhaṃ puccheyyuṃ, sabbaṃ taṃ visajjetvā sampadālessāmi, gacchatha vo, bhante, acchambhitā sāgalanagara’’nti. Atha kho therā bhikkhū sāgalanagaraṃ kāsāvappajjotaṃ isivātapaṭivātaṃ akaṃsu.
Then the hundred koṭis of arahants said to the Venerable Nāgasena: 'This King Milinda, Nāgasena, harasses the Sangha of bhikkhus with debate, counter-debate, and questioning. It would be good, Nāgasena, if you were to go and subdue King Milinda.' 'Let alone one King Milinda, venerable sirs. If all the kings in Jambudīpa were to come and ask me questions, I would resolve them all and shatter their arguments. Go, venerable sirs, without fear to the city of Sāgala.' Then the elder bhikkhus made the city of Sāgala radiant with their saffron robes and stirred it with the winds and counter-winds of the sages' passage.
Bấy giờ, một trăm koṭi vị A-la-hán nói với trưởng lão Nāgasena rằng: ‘Này Nāgasena, đức vua Milinda kia đang làm phiền nhiễu Tăng chúng bằng những câu hỏi và những lời tranh luận phản bác. Lành thay, này Nāgasena, ngươi hãy đi và nhiếp phục đức vua Milinda.’ ‘Thưa các ngài, xin hãy để một mình đức vua Milinda qua một bên. Thưa các ngài, nếu tất cả các vị vua trên toàn cõi Jambudīpa có đến và chất vấn con, con sẽ giải đáp và phá tan tất cả những câu hỏi ấy. Thưa các ngài, xin các ngài hãy đi đến thành Sāgala mà không chút sợ hãi.’ Bấy giờ, các vị trưởng lão Tỳ-khưu đã làm cho thành Sāgala rực sáng với ánh y ca-sa và làm cho gió của các bậc hiền thánh thổi xuôi ngược.
21. Tena kho pana samayena āyasmā āyupālo saṅkhyeyyapariveṇe paṭivasati. Atha kho milindo rājā amacce etadavoca ‘‘ramaṇīyā vata bho dosinā ratti, kannu khvajja samaṇaṃ vā brāhmaṇaṃ vā upasaṅkameyyāma sākacchāya pañhapucchanāya, ko mayā saddhiṃ sallapituṃ ussahati kaṅkhaṃ paṭivinetu’’nti. Evaṃ vutte pañcasatā yonakā rājānaṃ milindaṃ etadavocuṃ ‘‘atthi, mahārāja, āyupālo nāma thero tepiṭako bahussuto āgatāgamo, so etarahi saṅkhyeyyapariveṇe paṭivasati; gaccha, tvaṃ mahārāja, āyasmantaṃ āyupālaṃ pañhaṃ pucchassū’’ti. ‘‘Tena hi, bhaṇe, bhadantassa ārocethā’’ti.
21. At that time, the Venerable Āyupāla was dwelling in the Saṅkheyya monastery. Then King Milinda said to his ministers: “Sirs, this moonlit night is delightful! What ascetic or brahmin might we visit today for discussion and questioning? Who is able to converse with me and dispel my doubt?” When this was said, five hundred Yonakas said to King Milinda: “Great king, there is an elder named Āyupāla, a master of the Tipiṭaka, very learned, who has mastered the traditions. He is now dwelling in the Saṅkheyya monastery. Go, great king, and ask the Venerable Āyupāla questions.” “Then, sirs, inform the venerable one.”
21. Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Āyupāla đang trú tại tu viện Saṅkhyeyya. Bấy giờ, đức vua Milinda nói với các vị cận thần rằng: ‘Này các khanh, đêm thanh vắng thật là đáng vui thích. Hôm nay, chúng ta nên đến thăm vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào để đàm luận và hỏi đạo? Ai có thể cùng ta đối thoại và có khả năng xua tan những hoài nghi của ta?’ Khi được nói vậy, năm trăm vị cận thần người Yonaka bạch với đức vua Milinda rằng: ‘Tâu Đại vương, có vị trưởng lão tên là Āyupāla, thông thuộc Tam Tạng, học rộng, tinh thông các truyền thống. Vị ấy hiện đang trú tại tu viện Saṅkhyeyya. Tâu Đại vương, xin ngài hãy đến và chất vấn trưởng lão Āyupāla.’ ‘Nếu vậy, này các khanh, hãy đi báo cho vị tôn giả ấy biết.’
Atha kho nemittiko āyasmato āyupālassa santike dūtaṃ pāhesi ‘‘rājā, bhante, milindo āyasmantaṃ āyupālaṃ dassanakāmo’’ti. Āyasmāpi kho āyupālo evamāha ‘‘tena hi āgacchatū’’ti. Atha kho milindo rājā pañcamattehi yonakasatehi parivuto rathavaramāruyha yena saṅkhyeyyapariveṇaṃ yenāyasmā āyupālo tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmatā āyupālena saddhiṃ sammodi, sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi, ekamantaṃ nisinno kho milindo rājā āyasmantaṃ āyupālaṃ etadavoca ‘‘kimatthiyā, bhante āyupāla, tumhākaṃ pabbajjā, ko ca tumhākaṃ paramattho’’ti. Thero āha ‘‘dhammacariyasamacariyatthā kho, mahārāja, pabbajjā, sāmaññaphalaṃ kho pana amhākaṃ paramattho’’ti. ‘‘Atthi pana, bhante, koci gihīpi dhammacārī samacārī’’ti? ‘‘Āma, mahārāja, atthi gihīpi dhammacārī samacārī, bhagavati kho, mahārāja, bārāṇasiyaṃ isipatane migadāye dhammacakkaṃ pavattente aṭṭhārasannaṃ brahmakoṭīnaṃ dhammābhisamayo ahosi, devatānaṃ pana dhammābhisamayo gaṇanapathaṃ vītivatto, sabbete gihibhūtā, na pabbajitā.
Then Nemittika, the minister, sent a messenger to the Venerable Āyupāla, saying: “Venerable sir, King Milinda wishes to see the Venerable Āyupāla.” The Venerable Āyupāla replied: “Then let him come.” Then King Milinda, surrounded by five hundred Yonakas, mounted a splendid chariot and went to the Saṅkheyya monastery, to where the Venerable Āyupāla was. Having approached, he exchanged courteous and friendly greetings with the Venerable Āyupāla. After concluding this exchange of courteous and memorable talk, he sat down to one side. Seated to one side, King Milinda said to the Venerable Āyupāla: “For what purpose, venerable Āyupāla, is your going forth? And what is your ultimate goal?” The elder said: “Great king, our going forth is for the purpose of practicing the Dhamma and living rightly, and our ultimate goal is the fruit of recluseship.” “But, venerable sir, is there any householder who practices the Dhamma and lives rightly?” “Yes, great king, there are householders who practice the Dhamma and live rightly. When the Blessed One, great king, was setting in motion the Wheel of the Dhamma in the Deer Park at Isipatana near Bārāṇasī, eighteen koṭis of brahmas had their breakthrough to the Dhamma. As for the devas, their breakthrough to the Dhamma was beyond calculation. All of them were householders, not ones who had gone forth.
Bấy giờ, vị cận thần Nemittika phái một sứ giả đến chỗ trưởng lão Āyupāla, thưa rằng: “Bạch ngài, đức vua Milinda muốn được yết kiến trưởng lão Āyupāla.” Trưởng lão Āyupāla cũng đáp lại rằng: “Nếu vậy, hãy để đức vua đến.” Bấy giờ, đức vua Milinda, được vây quanh bởi khoảng năm trăm vị cận thần người Yona, ngự trên một cỗ xe tuyệt hảo, đi đến tu viện Saṅkhyeyya, nơi trưởng lão Āyupāla đang ở. Sau khi đến, ngài đã cùng trưởng lão Āyupāla trao đổi những lời chào hỏi thân mật. Sau khi kết thúc cuộc trò chuyện vui vẻ và đáng nhớ, ngài ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Milinda thưa với trưởng lão Āyupāla rằng: “Bạch ngài Āyupāla, sự xuất gia của quý ngài là vì mục đích gì, và mục đích tối hậu của quý ngài là gì?” Vị trưởng lão đáp: “Tâu đại vương, sự xuất gia là vì mục đích thực hành chánh pháp và thực hành đời sống bình đẳng. Còn mục đích tối hậu của chúng tôi là quả vị Sa-môn.” “Bạch ngài, vậy có người tại gia nào cũng thực hành chánh pháp và thực hành đời sống bình đẳng không?” “Tâu đại vương, có. Có những người tại gia cũng thực hành chánh pháp và thực hành đời sống bình đẳng. Tâu đại vương, khi Đức Thế Tôn chuyển Pháp luân tại vườn Lộc Uyển, ở Isipatana, gần Bārāṇasī, đã có mười tám koṭi vị Phạm thiên chứng ngộ Chánh pháp. Còn số lượng chư thiên chứng ngộ Chánh pháp thì không thể đếm xuể. Tất cả các vị ấy đều là người tại gia, không phải là người xuất gia.
‘‘Puna caparaṃ, mahārāja, bhagavatā kho mahāsamayasuttante desiyamāne, mahāmaṅgalasuttante desiyamāne, samacittapariyāyasuttante desiyamāne, rāhulovādasuttante desiyamāne, parābhavasuttante desiyamāne gaṇanapathaṃ vītivattānaṃ devatānaṃ dhammābhisamayo ahosi, sabbete gihibhūtā, na pabbajitā’’ti. ‘‘Tena hi, bhante āyupāla, niratthikā tumhākaṃ pabbajjā, pubbe katassa pāpakammassa nissandena samaṇā sakyaputtiyā pabbajanti dhutaṅgāni ca pariharanti. Ye kho te, bhante āyupāla, bhikkhū ekāsanikā, nūna te pubbe paresaṃ bhogahārakā corā, te paresaṃ bhoge acchinditvā tassa kammassa nissandena etarahi ekāsanikā bhavanti, na labhanti kālena kālaṃ paribhuñjituṃ, natthi tesaṃ sīlaṃ, natthi tapo, natthi brahmacariyaṃ. Ye kho pana te, bhante āyupāla, bhikkhū abbhokāsikā, nūna te pubbe gāmaghātakā corā, te paresaṃ gehāni vināsetvā tassa kammassa nissandena etarahi abbhokāsikā bhavanti, na labhanti senāsanāni paribhuñjituṃ, natthi tesaṃ sīlaṃ, natthi tapo, natthi brahmacariyaṃ. Ye kho pana te, bhante āyupāla, bhikkhū nesajjikā, nūna te pubbe panthadūsakā corā, te paresaṃ pathike jane gahetvā bandhitvā nisīdāpetvā tassa kammassa nissandena etarahi nesajjikā bhavanti, na labhanti seyyaṃ kappetuṃ, natthi tesaṃ sīlaṃ, natthi tapo, natthi brahmacariya’’nti āha.
“Furthermore, great king, while the Blessed One was teaching the Mahāsamaya Sutta, the Mahāmaṅgala Sutta, the Samacittapariyāya Sutta, the Rāhulovāda Sutta, and the Parābhava Sutta, a breakthrough to the Dhamma occurred for devas beyond calculation—all of them were householders, not ones who had gone forth.” “In that case, venerable Āyupāla, your going forth is pointless. It must be as a result of past evil kamma that the Sakyan ascetics go forth and undertake the ascetic practices. Those bhikkhus, venerable Āyupāla, who are one-session-eaters, surely in the past they were thieves who stole the property of others. Having plundered the property of others, as a result of that kamma they are now one-session-eaters, unable to eat from time to time. They have no virtue, no austerity, no holy life. And those bhikkhus, venerable Āyupāla, who are open-air dwellers, surely in the past they were village-plundering thieves. Having destroyed the homes of others, as a result of that kamma they are now open-air dwellers, unable to enjoy lodgings. They have no virtue, no austerity, no holy life. And those bhikkhus, venerable Āyupāla, who are sitters, surely in the past they were highway-robbing thieves. Having seized travelers on the road, bound them, and forced them to sit, as a result of that kamma they are now sitters, unable to arrange a bed. They have no virtue, no austerity, no holy life,” he said.
“Lại nữa, tâu đại vương, khi Đức Thế Tôn thuyết kinh Đại Hội (Mahāsamaya), kinh Đại Hạnh Phúc (Mahāmaṅgala), kinh Bình Đẳng Tâm (Samacittapariyāya), kinh Giáo Giới La-hầu-la (Rāhulovāda), kinh Suy Vong (Parābhava), đã có vô số chư thiên chứng ngộ Chánh pháp. Tất cả các vị ấy đều là người tại gia, không phải là người xuất gia.” “Bạch ngài Āyupāla, nếu vậy thì sự xuất gia của quý ngài là vô ích. Do kết quả của ác nghiệp đã tạo trong quá khứ mà các vị Sa-môn Thích tử phải xuất gia và thực hành các pháp đầu-đà. Bạch ngài Āyupāla, những vị tỳ-khưu nào thực hành hạnh nhất tọa thực (chỉ ăn một bữa), chắc hẳn trong quá khứ họ là những tên trộm cướp tài sản của người khác. Vì đã cướp đoạt tài sản của người khác, do kết quả của nghiệp đó mà nay họ phải thực hành hạnh nhất tọa thực, không được ăn uống tùy thời. Họ không có giới hạnh, không có khổ hạnh, không có phạm hạnh. Bạch ngài Āyupāla, những vị tỳ-khưu nào thực hành hạnh ở ngoài trời, chắc hẳn trong quá khứ họ là những tên trộm cướp phá làng mạc. Vì đã phá hoại nhà cửa của người khác, do kết quả của nghiệp đó mà nay họ phải thực hành hạnh ở ngoài trời, không được sử dụng sàng tọa. Họ không có giới hạnh, không có khổ hạnh, không có phạm hạnh. Bạch ngài Āyupāla, những vị tỳ-khưu nào thực hành hạnh ngồi (không nằm), chắc hẳn trong quá khứ họ là những tên cướp đường. Vì đã bắt, trói và bắt những người đi đường phải ngồi xuống, do kết quả của nghiệp đó mà nay họ phải thực hành hạnh ngồi, không được phép nằm nghỉ. Họ không có giới hạnh, không có khổ hạnh, không có phạm hạnh,” vua nói.
Evaṃ vutte āyasmā āyupālo tuṇhī ahosi, na kiñci paṭibhāsi. Atha kho pañcasatā yonakā rājānaṃ milindaṃ etadavocuṃ ‘‘paṇḍito, mahārāja, thero, api ca kho avisārado na kiñci paṭibhāsatī’’ti.
When this was said, the Venerable Āyupāla became silent; nothing occurred to him to say in reply. Then the five hundred Yonakas said to King Milinda: “The elder is wise, great king, but he lacks confidence and says nothing in reply.”
Khi được nói như vậy, trưởng lão Āyupāla giữ im lặng, không đáp lại lời nào. Bấy giờ, năm trăm vị cận thần người Yona tâu với đức vua Milinda rằng: “Tâu đại vương, vị trưởng lão này là người có trí tuệ, nhưng vì không dạn dĩ nên ngài không đáp lại lời nào.”
Atha kho milindo rājā āyasmantaṃ āyupālaṃ tuṇhībhūtaṃ disvā apphoṭetvā ukkuṭṭhiṃ katvā yonake etadavoca ‘‘tuccho vata bho jambudīpo, palāpo vata bho jambudīpo, natthi koci samaṇo vā brāhmaṇo vā, yo mayā saddhiṃ sallapituṃ ussahati kaṅkhaṃ paṭivinetu’’nti.
Then King Milinda, seeing that the Venerable Āyupāla had become silent, clapped his hands, gave a shout of triumph, and said to the Yonakas: “Jambudīpa is empty, sirs! Jambudīpa is mere chaff, sirs! There is no ascetic or brahmin who is able to converse with me and dispel my doubt.”
Bấy giờ, đức vua Milinda thấy trưởng lão Āyupāla im lặng, liền vỗ tay, reo hò và nói với các vị cận thần người Yona rằng: “Này các khanh, cõi Diêm-phù-đề này thật trống rỗng! Này các khanh, cõi Diêm-phù-đề này thật toàn là trấu lép! Không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào có khả năng đối thoại với ta để giải trừ mối nghi ngờ của ta.”
22. Atha kho milindassa rañño sabbaṃ taṃ parisaṃ anuvilokentassa abhīte amaṅkubhūte yonake disvā etadahosi ‘‘nissaṃsayaṃ atthi maññe añño koci paṇḍito bhikkhu, yo mayā saddhiṃ sallapituṃ ussahati, yenime yonakā na maṅkubhūtā’’ti. Atha kho milindo rājā yonake etadavoca ‘‘atthi, bhaṇe, añño koci paṇḍito bhikkhu, yo mayā saddhiṃ sallapituṃ ussahati kaṅkhaṃ paṭivinetu’’nti.
22. Then, as King Milinda surveyed the entire assembly, seeing that the Yonakas were unafraid and not dismayed, it occurred to him: “Without a doubt, I think, there must be some other wise bhikkhu who is able to converse with me, which is why these Yonakas are not dismayed.” Then King Milinda said to the Yonakas: “Is there, sirs, any other wise bhikkhu who is able to converse with me and dispel my doubt?”
22. Bấy giờ, khi đức vua Milinda nhìn khắp hội chúng, thấy các vị cận thần người Yona không sợ hãi, không bối rối, ngài liền khởi lên ý nghĩ: “Chắc chắn rằng, ta nghĩ, vẫn còn một vị tỳ-khưu có trí tuệ khác, người có khả năng đối thoại với ta. Chính vì lý do đó mà các vị cận thần người Yona này không hề bối rối.” Bấy giờ, đức vua Milinda nói với các vị cận thần người Yona rằng: “Này các khanh, có vị tỳ-khưu có trí tuệ nào khác, người có khả năng đối thoại với ta để giải trừ mối nghi ngờ của ta không?”
Tena kho pana samayena āyasmā nāgaseno samaṇagaṇaparivuto saṅghī gaṇī gaṇācariyo ñāto yasassī sādhusammato bahujanassa paṇḍito byatto medhāvī nipuṇo viññū vibhāvī vinīto visārado bahussuto tepiṭako vedagū pabhinnabuddhimā āgatāgamo pabhinnapaṭisambhido navaṅgasatthusāsane pariyattidharo pāramippatto jinavacane dhammatthadesanāpaṭivedhakusalo akkhayavicitrapaṭibhāno citrakathī kalyāṇavākkaraṇo durāsado duppasaho duruttaro durāvaraṇo dunnivārayo, sāgaro viya akkhobho, girirājā viya niccalo, raṇañjaho tamonudo pabhaṅkaro mahākathī paragaṇigaṇamathano paratitthiyamaddano bhikkhūnaṃ bhikkhunīnaṃ upāsakānaṃ upāsikānaṃ rājūnaṃ rājamahāmattānaṃ sakkato garukato mānito pūjito apacito lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṃ lābhaggayasaggappatto vuddhānaṃ viññūnaṃ sotāvadhānena samannāgatānaṃ sandassento navaṅgaṃ jinasāsanaratanaṃ, upadisanto dhammamaggaṃ, dhārento dhammappajjotaṃ, ussāpento dhammayūpaṃ, yajanto dhammayāgaṃ, paggaṇhanto dhammaddhajaṃ, ussāpento dhammaketuṃ, dhamento † dhammasaṅkhaṃ, āhananto dhammabheriṃ, nadanto sīhanādaṃ, gajjanto indagajjitaṃ, madhuragiragajjitena ñāṇavaravijjujālapariveṭhitena karuṇājalabharitena mahatā dhammāmatameghena sakalalokamabhitappayanto gāmanigamarājadhānīsu cārikaṃ caramāno anupubbena sāgalanagaraṃ anuppatto hoti. Tatra sudaṃ āyasmā nāgaseno asītiyā bhikkhusahassehi saddhiṃ saṅkhyeyyapariveṇe paṭivasati. Tenāhu porāṇā –
At that time, the Venerable Nāgasena—surrounded by a company of monks, the head of a group, a teacher of a group, famous, renowned, esteemed by many, wise, eloquent, of penetrating wisdom, skilled, sagacious, an elucidator, disciplined, confident, very learned, a master of the Tipiṭaka, an attainer of the highest knowledge, of penetrating intellect, who had mastered the traditions, a master of the analytical knowledges, a bearer of the ninefold teaching of the Master, who had attained the supreme perfection in the Conqueror's word, skilled in the exposition of the Dhamma and its meaning and in its realization, of inexhaustible and varied inspired speech, an eloquent speaker, of fine speech, difficult to assail, difficult to overcome, unanswerable, hard to check, hard to restrain; unshakable like the ocean, immovable like the king of mountains, an abandoner of defilements, a dispeller of darkness, a maker of light, a great orator, a crusher of the groups of other schools, a confounder of the followers of other creeds; honored, respected, revered, and venerated by bhikkhus, bhikkhunīs, laymen, and laywomen, by kings and royal ministers; a recipient of robes, almsfood, lodgings, and medicinal requisites for the sick; one who had attained the peak of gain and honor; one who explained the nine-limbed jewel of the Conqueror’s teaching to those who wished for growth, were intelligent, and were endowed with attentive ears, who pointed out the path of the Dhamma, who held aloft the torch of the Dhamma, who raised the pillar of the Dhamma, who performed the sacrifice of the Dhamma, who raised the banner of the Dhamma, who raised the standard of the Dhamma, who blew the conch of the Dhamma, who beat the drum of the Dhamma, who roared the lion’s roar, who thundered with the thunder of Indra; delighting the entire world with the great cloud of the deathless Dhamma, filled with the water of compassion, encircled by the net of the lightning of supreme knowledge, and thundering with a sweet voice—while wandering through villages, towns, and capital cities, in due course arrived at the city of Sāgala. There, it is said, the Venerable Nāgasena was dwelling in the Saṅkheyya monastery with eighty thousand bhikkhus. Thus have the ancients said:
Vào lúc bấy giờ, Trưởng lão Nāgasena, được đoàn thể sa-môn vây quanh, là vị có Tăng chúng, có giáo đoàn, là vị đạo sư của giáo đoàn, nổi danh, có tiếng tăm, được nhiều người công nhận là bậc thiện trí, là bậc hiền trí, thông thạo, có trí tuệ, tinh tế, hiểu biết, có khả năng giải thích rõ ràng, đã được huấn luyện, dũng mãnh, là bậc đa văn, thông suốt Tam Tạng, đã đạt đến đỉnh cao của trí tuệ, có trí tuệ phân tích, thông thuộc các bộ A-hàm, có trí tuệ vô ngại giải, là người duy trì giáo pháp học trong giáo huấn của Bậc Đạo Sư gồm chín chi phần, đã đạt đến sự toàn hảo trong lời dạy của Đấng Chiến Thắng, khéo léo trong việc thuyết giảng và thông hiểu ý nghĩa và pháp, có tài biện luận đa dạng không cạn kiệt, là người có tài ăn nói hấp dẫn, có lời nói tốt đẹp, khó bị tấn công, khó bị áp đảo, khó vượt qua, khó bị ngăn cản, khó bị cản trở, không bị khuấy động như biển cả, không lay chuyển như vua núi, đã từ bỏ phiền não, xua tan bóng tối vô minh, là người tạo ra ánh sáng trí tuệ, là bậc đại hùng biện, người đè bẹp các giáo đoàn ngoại đạo, người khuất phục các kẻ theo tà thuyết, được các vị tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni, cận sự nam, cận sự nữ, các vị vua, các vị đại thần của vua cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường, và kính phục, là người dễ dàng nhận được y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, thuốc men trị bệnh và các vật dụng cần thiết, đã đạt đến đỉnh cao của tài lợi và danh vọng, đang chỉ dạy kho tàng giáo pháp của Đấng Chiến Thắng gồm chín chi phần cho những người mong cầu sự tăng trưởng, mong cầu sự hiểu biết, và những người đã thành tựu trong việc lắng nghe, đang chỉ ra con đường Chánh pháp, đang giữ gìn ngọn đuốc Chánh pháp, đang dựng lên cột trụ Chánh pháp, đang thực hiện sự tế lễ Chánh pháp, đang giương cao lá cờ Chánh pháp, đang dựng lên ngọn cờ hiệu Chánh pháp, đang thổi lên tù và Chánh pháp, đang đánh lên trống trận Chánh pháp, đang rống lên tiếng rống sư tử, đang gầm lên tiếng sấm của trời Đế-thích, làm cho toàn thể thế gian được thỏa thích bằng đám mây pháp cam lồ vĩ đại, chứa đầy nước từ bi, được bao quanh bởi mạng lưới chớp sáng là trí tuệ ưu việt, với tiếng sấm là lời nói ngọt ngào, đang du hành qua các làng mạc, thị trấn, và kinh thành, tuần tự đi đến và đã tới thành Sāgala. Tại nơi ấy, Trưởng lão Nāgasena đang trú ngụ tại tu viện Saṅkhyeyya cùng với tám mươi ngàn vị tỳ-khưu. Do đó, các bậc cổ nhân đã nói rằng:
‘‘Bahussuto citrakathī, nipuṇo ca visārado;
Sāmayiko ca kusalo, paṭibhāne ca kovido.
“Very learned and an eloquent speaker, skilled and confident; versed in doctrine and adept, an expert in ready speech.”
“Vị ấy là bậc đa văn, có tài ăn nói hấp dẫn, lại tinh tế và dũng mãnh; là người thiện xảo về các học thuyết, và thông thạo về biện tài.”
‘‘Te ca tepiṭakā bhikkhū, pañcanekāyikāpi ca;
Catunekāyikā ceva, nāgasenaṃ purakkharuṃ.
“Those bhikkhus who were masters of the Tipiṭaka, and those who had mastered the five Nikāyas, and those who had mastered the four Nikāyas, all placed Nāgasena at their head.”
“Và các vị tỳ-khưu ấy, những bậc thông suốt Tam Tạng, những bậc thông suốt năm bộ Nikāya, và cả những bậc thông suốt bốn bộ Nikāya, đã vây quanh ngài Nāgasena.”
‘‘Gambhīrapañño medhāvī, maggāmaggassa kovido;
Uttamatthaṃ anuppatto, nāgaseno visārado.
“Of profound wisdom, intelligent, an expert on the path and the not-path; the confident Nāgasena has attained the ultimate goal.”
“Ngài Nāgasena, bậc có trí tuệ sâu sắc, có trí tuệ thâm nhập, thông thạo về chánh đạo và tà đạo, đã chứng đạt mục đích tối thượng, là bậc dũng mãnh.”
‘‘Tehi bhikkhūhi parivuto, nipuṇehi saccavādibhi;
Caranto gāmanigamaṃ, sāgalaṃ upasaṅkami.
“Surrounded by those bhikkhus, skilled and speakers of truth, wandering through village and town, he approached Sāgala.”
“Được các vị tỳ-khưu ấy, những bậc tinh tế và nói lời chân thật, vây quanh, ngài du hành qua các làng mạc và thị trấn, rồi đã đến gần thành Sāgala.”
‘‘Saṅkhyeyyapariveṇasmiṃ, nāgaseno tadā vasi;
Katheti so manussehi, pabbate kesarī yathā’’ti.
“In the Saṅkheyya monastery Nāgasena then dwelled; he conversed with the people, like a lion on a mountain.”
“Khi ấy, ngài Nāgasena đã trú tại tu viện Saṅkhyeyya. Vị ấy đã đàm luận với mọi người, như con sư tử chúa ở trên núi.”
23. Atha kho devamantiyo rājānaṃ milindaṃ etadavoca ‘‘āgamehi, tvaṃ mahārāja; atthi, mahārāja, nāgaseno nāma thero paṇḍito byatto medhāvī vinīto visārado bahussuto citrakathī kalyāṇapaṭibhāno atthadhammaniruttipaṭibhānapaṭisambhidāsu pāramippatto, so etarahi saṅkhyeyyapariveṇe paṭivasati, gaccha, tvaṃ mahārāja, āyasmantaṃ nāgasenaṃ pañhaṃ pucchassu, ussahati so tayā saddhiṃ sallapituṃ kaṅkhaṃ paṭivinetu’’nti. Atha kho milindassa rañño sahasā ‘‘nāgaseno’’ti saddaṃ sutvāva ahudeva bhayaṃ, ahudeva chambhitattaṃ, ahudeva lomahaṃso. Atha kho milindo rājā devamantiyaṃ etadavoca ‘‘ussahati bho nāgaseno bhikkhu mayā saddhiṃ sallapitu’’nti? ‘‘Ussahati, mahārāja, api indayamavaruṇakuverapajāpati suyāma santusitalokapālehipi pitupitāmahena mahābrahmunāpi saddhiṃ sallapituṃ, kimaṅgaṃ pana manussabhūtenā’’ti.
23. Then the minister Devamantiya said to King Milinda: “Pray wait, Your Majesty. There is, Your Majesty, an elder named Nāgasena who is wise, eloquent, intelligent, disciplined, confident, very learned, an eloquent speaker, and of fine inspired speech. He has attained the supreme perfection in the analytical knowledges of meaning, Dhamma, language, and inspired discourse. He now resides at the Saṅkheyya monastery. Go, Your Majesty, and ask the Venerable Nāgasena a question; he is capable of conversing with you and dispelling your doubt.” Then, just on hearing the name ‘Nāgasena,’ fear arose in King Milinda, trembling arose, and his hair stood on end. Then King Milinda said to the minister Devamantiya: “Sir, is the bhikkhu Nāgasena capable of conversing with me?” “He is capable, Your Majesty, of conversing even with Indra, Yama, Varuṇa, Kuvera, Pajāpati, Suyāma, Santusita, and the World Guardians, and even with Great Brahmā, the progenitor; how much more so with a human being!”
23. Bấy giờ, vị đại thần Devamantiyo tâu với vua Milinda điều này: “Xin Đại vương hãy khoan. Tâu Đại vương, có vị trưởng lão tên là Nāgasena, là bậc hiền trí, thông thạo, có trí tuệ, đã được huấn luyện, dũng mãnh, đa văn, có tài ăn nói hấp dẫn, có tài biện luận tốt đẹp, đã đạt đến sự toàn hảo trong các tuệ vô ngại giải về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và về biện tài. Hiện nay, vị ấy đang trú tại tu viện Saṅkhyeyya. Xin Đại vương hãy đi đến và hỏi các câu hỏi với Trưởng lão Nāgasena. Vị ấy có khả năng đàm luận cùng với Đại vương và xua tan sự hoài nghi.” Bấy giờ, vua Milinda vừa mới nghe đến danh xưng “Nāgasena” thì liền có sự sợ hãi, liền có sự run rẩy, liền có sự dựng tóc gáy. Bấy giờ, vua Milinda nói với đại thần Devamantiyo điều này: “Này khanh, tỳ-khưu Nāgasena có khả năng đàm luận cùng với ta chăng?” “Tâu Đại vương, vị ấy có khả năng đàm luận cả với các vị trời như Inda, Yama, Varuṇa, Kuvera, Pajāpati, Suyāma, Santusita, và các vị Hộ thế, và cả với vị ông cố là Đại Phạm thiên. Huống nữa là với một người phàm thì có gì mà không thể?”
Atha kho milindo rājā devamantiyaṃ etadavoca ‘‘tena hi, tvaṃ devamantiya, bhadantassa santike dūtaṃ pesehī’’ti. ‘‘Evaṃ devā’’ti kho devamantiyo āyasmato nāgasenassa santike dūtaṃ pāhesi ‘‘rājā, bhante, milindo āyasmantaṃ dassanakāmo’’ti. Āyasmāpi kho nāgaseno evamāha ‘‘tena hi āgacchatū’’ti.
Then King Milinda said to the minister Devamantiya: “Well then, Devamantiya, send a messenger to the venerable one.” “So be it, Your Majesty,” replied the minister Devamantiya, and he sent a messenger to the Venerable Nāgasena, saying, “Venerable sir, King Milinda wishes to see you.” The Venerable Nāgasena replied, “Then let him come.”
Bấy giờ, vua Milinda nói với đại thần Devamantiyo: “Này khanh Devamantiyo, nếu vậy, khanh hãy phái một sứ giả đến chỗ của bậc tôn giả.” “Tâu Thiên tử, xin vâng.” Vị đại thần Devamantiyo đã phái một sứ giả đến chỗ của Trưởng lão Nāgasena với lời nhắn: “Kính bạch Đại đức, vua Milinda có ý muốn diện kiến Trưởng lão.” Và Trưởng lão Nāgasena cũng đã nói như vầy: “Nếu vậy, hãy để ngài đến.”
Atha kho milindo rājā pañcamattehi yonakasatehi parivuto rathavaramāruyha mahatā balakāyena saddhiṃ yena saṅkhyeyyapariveṇaṃ yenāyasmā nāgaseno tenupasaṅkami. Tena kho pana samayena āyasmā nāgaseno asītiyā bhikkhusahassehi saddhiṃ maṇḍalamāḷe nisinno hoti. Addasā kho milindo rājā āyasmato nāgasenassa parisaṃ dūratova, disvāna devamantiyaṃ etadavoca ‘‘kassesā, devamantiya, mahatī parisā’’ti? ‘‘Āyasmato kho, mahārāja, nāgasenassa parisā’’ti.
Then King Milinda, surrounded by five hundred Yonakas, mounted a supreme chariot and, accompanied by a great host, approached the place where the Venerable Nāgasena was, at the Saṅkheyya monastery. At that time, the Venerable Nāgasena was seated in the circular pavilion with eighty thousand bhikkhus. From a distance, King Milinda saw the assembly of the Venerable Nāgasena, and upon seeing it, he said to the minister Devamantiya: “Whose, Devamantiya, is this great assembly?” “It is the assembly of the Venerable Nāgasena, Your Majesty,” he replied.
Bấy giờ, vua Milinda, được vây quanh bởi khoảng năm trăm vị người Yonaka, đã lên cỗ xe tốt nhất, cùng với một đoàn quân đông đảo, đi đến tu viện Saṅkhyeyya, đến chỗ của Trưởng lão Nāgasena. Vào lúc bấy giờ, Trưởng lão Nāgasena đang ngồi trong giảng đường cùng với tám mươi ngàn vị tỳ-khưu. Vua Milinda đã nhìn thấy hội chúng của Trưởng lão Nāgasena từ xa. Sau khi thấy, vua nói với đại thần Devamantiyo: “Này khanh Devamantiyo, hội chúng đông đảo này là của ai vậy?” “Tâu Đại vương, đó là hội chúng của Trưởng lão Nāgasena.”
Atha kho milindassa rañño āyasmato nāgasenassa parisaṃ dūratova disvā ahudeva bhayaṃ, ahudeva chambhitattaṃ, ahudeva lomahaṃso. Atha kho milindo rājā khaggaparivārito viya gajo, garuḷaparivārito viya nāgo, ajagaraparivārito viya kotthuko †, mahiṃsaparivuto viya accho, nāgānubaddho viya maṇḍūko, saddūlānubaddho viya migo, ahituṇḍikasamāgato † viya pannago, majjārasamāgato viya undūro, bhūtavejjasamāgato viya pisāco, rāhumakhagato viya cando, pannago viya peḷantaragato, sakuṇo viya pañjarantaragato, maccho viya jālantaragato, vāḷavanamanuppaviṭṭho viya puriso, vessavaṇāparādhiko viya yakkho, parikkhīṇāyuko viya devaputto bhīto ubbiggo utrasto saṃviggo lomahaṭṭhajāto vimano dummano bhantacitto vipariṇatamānaso ‘‘mā maṃ ayaṃ parijano paribhavī’’ti satiṃ † upaṭṭhapetvā devamantiyaṃ etadavoca – ‘‘mā kho, tvaṃ devamantiya, āyasmantaṃ nāgasenaṃ mayhaṃ ācikkheyyāsi, anakkhātaññevāhaṃ nāgasenaṃ jānissāmī’’ti. ‘‘Sādhu, mahārāja, tvaññeva jānāhī’’ti.
Then, seeing the assembly of the Venerable Nāgasena from afar, fear arose in King Milinda, trembling arose, and his hair stood on end. Then King Milinda—like an elephant surrounded by rhinoceroses, like a nāga surrounded by garuḷas, like a jackal surrounded by pythons, like a bear surrounded by buffaloes, like a frog pursued by a serpent, like a deer pursued by a tiger, like a serpent that has met a snake-charmer, like a mouse that has met a cat, like a goblin that has met an exorcist, like the moon in the mouth of Rāhu, like a serpent that has entered a basket, like a bird that has entered a cage, like a fish that has entered a net, like a man who has entered a forest of wild beasts, like a yakkha who has offended Vessavaṇa, like a devaputta whose lifespan is exhausted—afraid, agitated, terrified, shaken, with his hair standing on end, disheartened, distressed, with a bewildered mind and his thoughts overturned, established mindfulness, thinking, ‘May this assembly not hold me in contempt,’ and said to the minister Devamantiya: ‘Devamantiya, do not point out the Venerable Nāgasena to me; I shall recognize Nāgasena myself without him being pointed out.’ ‘Good, Your Majesty, recognize him yourself.’”
Bấy giờ, vua Milinda từ xa trông thấy hội chúng của trưởng lão Nāgasena, liền sanh tâm sợ hãi, thân thể run rẩy, lông tóc dựng đứng. Khi ấy, vua Milinda, giống như con voi bị bầy tê giác vây quanh, như con rồng bị bầy garuḷa vây quanh, như con chó rừng bị con trăn vây quanh, như con gấu bị bầy trâu vây quanh, như con ếch bị rắn đuổi theo, như con nai bị báo đuổi theo, như con rắn gặp người bắt rắn, như con chuột gặp con mèo, như quỷ pīśāca gặp thầy trừ tà, như mặt trăng lọt vào miệng Rāhu, như con rắn lọt vào trong giỏ, như con chim lọt vào trong lồng, như con cá lọt vào trong lưới, như người đi vào khu rừng có thú dữ, như dạ-xoa xúc phạm đến vua Vessavaṇa, như vị thiên tử đã hết tuổi thọ, trở nên sợ hãi, kinh động, hốt hoảng, bàng hoàng, lông tóc dựng đứng, tâm trí rối loạn, ưu phiền, tâm dao động, tâm trí biến đổi, rồi an trú chánh niệm và nghĩ rằng: "Mong rằng đám đông này đừng khinh miệt ta," và nói với vị đại thần Devamantiya rằng: "Này Devamantiya, khanh đừng chỉ cho ta biết trưởng lão Nāgasena là vị nào, ta sẽ tự mình nhận ra ngài Nāgasena dù không được chỉ bảo." Vị đại thần tâu: "Lành thay, tâu Đại vương, xin ngài hãy tự mình nhận ra."
Tena kho pana samayena āyasmā nāgaseno tassā bhikkhuparisāya purato cattālīsāya bhikkhusahassānaṃ navakataro hoti pacchato cattālīsāya bhikkhusahassānaṃ vuḍḍhataro.
At that time, in that assembly of bhikkhus, the Venerable Nāgasena was more junior than the forty thousand bhikkhus in front of him, and more senior than the forty thousand bhikkhus behind him.
Vào lúc ấy, trong hội chúng Tỳ khưu đó, trưởng lão Nāgasena là vị nhỏ tuổi hạ hơn bốn mươi ngàn vị Tỳ khưu ở phía trước, và là vị lớn tuổi hạ hơn bốn mươi ngàn vị Tỳ khưu ở phía sau.
Atha kho milindo rājā sabbaṃ taṃ bhikkhusaṅghaṃ purato ca pacchato ca majjhato ca anuvilokento addasā kho āyasmantaṃ nāgasenaṃ dūratova bhikkhusaṅghassa majjhe nisinnaṃ kesarasīhaṃ viya vigatabhayabheravaṃ vigatalomahaṃsaṃ vigatabhayasārajjaṃ, disvāna ākāreneva aññāsi ‘‘eso kho ettha nāgaseno’’ti.
Then King Milinda, surveying that entire Saṅgha of bhikkhus—in front, behind, and in the middle—saw from afar the Venerable Nāgasena seated in the midst of the Saṅgha of bhikkhus, like a maned lion, devoid of fear and dread, devoid of hair-raising excitement, devoid of fear and timidity. Seeing him, he knew by his demeanor alone: ‘This one here is Nāgasena.’”
Bấy giờ, vua Milinda trong khi quan sát toàn thể chúng Tăng ấy từ phía trước, phía sau, và ở giữa, đã trông thấy từ xa trưởng lão Nāgasena đang ngồi giữa chúng Tăng, giống như một con sư tử chúa, không còn sợ hãi kinh hoàng, không còn dựng lông tóc, không còn sợ hãi rụt rè. Vừa trông thấy, nhà vua liền nhận ra qua phong thái và nghĩ rằng: "Vị này ở đây chính là Nāgasena."
Atha kho milindo rājā devamantiyaṃ etadavoca ‘‘eso kho, devamantiya, āyasmā nāgaseno’’ti. ‘‘Āma, mahārāja, eso kho nāgaseno, suṭṭhu kho, tvaṃ mahārāja, nāgasenaṃ aññāsī’’ti. Tato rājā tuṭṭho ahosi ‘‘anakkhātova mayā nāgaseno aññāto’’ti. Atha kho milindassa rañño āyasmantaṃ nāgasenaṃ disvāva ahudeva bhayaṃ, ahudeva chambhitattaṃ, ahudeva lomahaṃso.
Then King Milinda said to Devamantiya, 'This, Devamantiya, is the Venerable Nāgasena.' 'Yes, Your Majesty, this is Nāgasena. Indeed, Your Majesty, you have recognized Nāgasena well.' Then the king was pleased, thinking, 'Nāgasena has been recognized by me without being pointed out.' Then, upon the very sight of the Venerable Nāgasena, fear arose in King Milinda, trembling arose, and his hair stood on end.
Bấy giờ, vua Milinda nói với vị đại thần Devamantiya: "Này Devamantiya, đây chính là trưởng lão Nāgasena." Vị đại thần tâu: "Vâng, tâu Đại vương, đây chính là Nāgasena. Tâu Đại vương, ngài đã nhận ra ngài Nāgasena rất tài tình." Sau đó, nhà vua hoan hỷ và nghĩ rằng: "Ta đã nhận ra Nāgasena dù không được chỉ bảo." Bấy giờ, vua Milinda, ngay khi trông thấy trưởng lão Nāgasena, liền sanh tâm sợ hãi, thân thể run rẩy, lông tóc dựng đứng.
Tenāhu –
Therefore it is said:
Do đó, các bậc cổ nhân đã nói rằng:
‘‘Caraṇena ca sampannaṃ, sudantaṃ uttame dame;
Disvā rājā nāgasenaṃ, idaṃ vacanamabravi.
“Endowed with conduct, well-tamed in the supreme discipline; seeing Nāgasena, the king spoke these words:
Nhà vua, sau khi thấy ngài Nāgasena, bậc đầy đủ phẩm hạnh và đã được khéo điều phục trong sự chế ngự tối thượng, đã nói lên lời này:
‘‘Kathitā † mayā bahū diṭṭhā, sākacchā osaṭā bahū;
Na tādisaṃ bhayaṃ āsi, ajja tāso yathā mama.
Many have I seen and spoken with, and many discussions have I engaged in; never has there been such fear as the terror that is mine today.
Ta đã thấy và đàm luận với nhiều bậc trí, đã tham gia nhiều cuộc thảo luận; chưa từng có sự sợ hãi nào như nỗi kinh hoàng của ta hôm nay.
‘‘Nissaṃsayaṃ parājayo, mama ajja bhavissati;
Jayo ca nāgasenassa, yathā cittaṃ na saṇṭhita’’nti.
Without doubt, defeat will be mine today, and victory Nāgasena’s, for my mind is not settled.
Chắc chắn hôm nay ta sẽ bại trận, và chiến thắng sẽ thuộc về Nāgasena, bởi tâm ta không thể an định.
Bāhirakathā niṭṭhitā.
The preliminary discourse is concluded.
Phần ngoại truyện đã kết thúc.