Bản dịch
JA 546 — Chuyện Đường Hầm Vĩ Đại (Tiền thân Mah à-Ummagga)
Vidhurajātaka
5799. Không có mùi thơm tổng hợp của mọi loài hoa, vòng đeo bằng sợi chỉ tỏa ra hương thơm của hoa kaṅgu tinh khiết. Cô gái vô lại này nói lời sai trái, bà lão đã nói sự thật.
Bảy Câu Hỏi Dành Cho Đứa Trẻ.
5800. Tâu chúa thượng, nếu ngài nghĩ rằng: ‘Người cha là tốt hơn so với người con,’ vậy thì con lừa này, đối với ngài, phải cao giá hơn con la, bởi vì con lừa là cha của con la.
Câu Hỏi về Con Lừa. Dứt Mười Chín Câu Hỏi.
5801. “Con tắc kè này ở trên đỉnh cổng chào, trước đây nó không ngước lên. Này Mahosadha, khanh có biết được vì sao con tắc kè lại ương ngạnh?”
5802. “Sau khi nhận được nửa đồng tiền chưa từng nhận được trước đây, con tắc kè khi dễ vị vua trị vì ở thành Mithilā, xứ Videha.”
Câu Hỏi về Con Tắc Kè.
5803. “Giả sử một người nữ có sắc đẹp, và nàng ấy có đức hạnh, người nam lại không ước muốn nàng ấy, này Mahosadha, khanh có tin không?”
5804. “Tâu đại vương, thần tin (điều ấy), nếu người nam có phần phước kém. Người may mắn và kẻ bất hạnh không bao giờ kết hợp với nhau.”
Câu Hỏi về May Mắn và Bất Hạnh.
5805 . “Đối với những kẻ thù trước đây chưa bao giờ có sự đối diện trong khoảng cách bảy bước chân ở thế gian này, giờ họ đã trở thành hai người bạn sống liên kết với nhau; nguyên nhân là thế nào?
5806 . Nếu hôm nay, vào bữa ăn sáng của trẫm, các khanh không có khả năng để trả lời câu hỏi ấy, trẫm sẽ trục xuất tất cả các khanh ra khỏi đất nước, bởi vì với những kẻ có tuệ tồi thì không có lợi ích cho trẫm.”
(Lời vị Senaka) 5807. “Ở nơi tập trung đông đảo dân chúng, ở nơi hãi hùng, ở cuộc hội họp ồn ào của loài người, chúng tôi có ý nghĩ bị rối loạn, có tâm tánh thất thường, không có khả năng để trả lời câu hỏi ấy.
5808 . Tâu vị chúa của loài người, các bậc sáng trí, với tâm được chuyên nhất và chỉ một mình, đã đi đến nơi thanh vắng, sau khi suy nghĩ kỹ lưỡng về ý nghĩa, sau khi nắm vững được vấn đề ở nơi cô quạnh, các vị sẽ nói về ý nghĩa ấy.”
(Lời vị Senaka) 5809 . “Đối với các trai trẻ dòng quý tộc và các trai trẻ thuộc hoàng gia, thịt cừu là đáng yêu, hợp ý. Những vị ấy không ăn thịt chó. Rồi tình thân hữu có thể xảy ra giữa con cừu và con chó.”
(Lời vị Pukkusa) 5810. Họ lột da của loài cừu vì nguyên nhân của sự thoải mái trong việc trải lên lưng ngựa. Và họ không trải lên bằng da của loài chó. Rồi tình thân hữu có thể xảy ra giữa con cừu và con chó.”
(Lời vị Kāvinda) 5811. Bởi vì cừu là loài thú có sừng cong, và không có các sừng ở loài chó. Cừu có thức nhai là cỏ và chó có thức ăn là thịt. Rồi tình thân hữu có thể xảy ra giữa con cừu và con chó.”
(Lời vị Devinda) 5812. Cừu là loài ăn cỏ và là loài ăn lá. Còn chó không ăn cỏ và không ăn lá. Chó có thể săn bắt thỏ và mèo. Rồi tình thân hữu có thể xảy ra giữa con cừu và con chó.”
(Lời đức Bồ Tát) 5813 . “Là con thú bốn chân thuộc loài tứ túc, con cừu có tám móng (mỗi chân có hai móng) không bị phát hiện (khi đi lấy thịt). Con chó này mang lại vật che đậy (rơm, cỏ) cho con cừu kia; con cừu kia mang lại thịt cho con chó này.
5814. Vị thủ lĩnh xứ sở Videha đã đi đến tòa lâu đài. Vị chúa của loài người đã thực sự nhìn thấy tận mắt việc trao đổi về thức ăn giữa con thú này với con kia. Và điều ấy xảy ra giữa con chó và con cừu.”
(Lời đức vua) 5815. “Thật vậy, lợi ích có vẻ không phải là ít ỏi đã có cho trẫm, là việc trẫm đây có được các bậc sáng suốt như thế này ở gia tộc! Bằng lời nói khéo léo, các bậc sáng trí thấu triệt ý nghĩa vi tế và sâu sắc của câu hỏi.
5816. Với tâm ý được hài lòng tột đỉnh, trẫm sẽ ban cho tất cả những bậc sáng suốt các khanh mỗi vị một cỗ xe kéo bởi lừa cái, và mỗi vị được ân huệ là một ngôi làng giàu có.”
Câu Hỏi Về Con Cừu
(thuộc Nhóm Mười Hai Kệ Ngôn).
(Lời đức vua)
5817. “Người có trí tuệ nhưng thiếu về uy quyền, hay là người có danh vọng mà không có trí tuệ, này Senaka, trẫm hỏi khanh về sự việc này, các bậc thiện xảo nói người nào trong hai người này là tốt hơn?”
(Lời vị Senaka)
5818. “Tâu vị chúa của loài người, thật vậy, những bậc trí và những kẻ ngu, những người có kiến thức và không có kiến thức, dầu cho có dòng dõi cao quý, cũng trở thành những người làm công việc phục vụ cho kẻ không có dòng dõi cao quý nhưng có danh vọng. Sau khi nhìn thấy điều ấy, thần nói rằng: Người có trí tuệ thấp kém nhưng có uy quyền là tốt hơn.”
(Lời đức vua)
5819. “Này Mahosadha, vị có trí tuệ hoàn hảo, có sự nhìn thấy tất cả các pháp, trẫm cũng hỏi luôn cả khanh nữa, giữa người ngu có danh vọng và người trí có ít của cải, các bậc thiện xảo nói người nào trong hai người này là tốt hơn?”
(Lời bậc sáng suốt Mahosadha)
5820. “Kẻ ngu làm các hành động xấu xa nghĩ rằng: ‘Chính cái này (uy quyền) là tốt hơn.’ Có sự nhìn thấy đời này, không nhìn thấy đời sau, kẻ ngu gánh lấy tai họa trong cả hai đời. Sau khi nhìn thấy điều ấy, thần nói rằng: Chính người có trí tuệ là tốt hơn, không phải kẻ ngu có danh vọng.”
(Lời vị Senaka)
5821. “Không phải tài nghệ này đem lại của cải, không phải các thân quyến, không phải ưu thế về cơ thể (đem lại của cải). Bệ hạ hãy nhìn xem gã Gorimanda ngu dốt đang tràn trề hạnh phúc, bởi vì uy quyền phục vụ cho gã. Sau khi nhìn thấy điều ấy, thần nói rằng: Người có trí tuệ thì bị hạ thấp, chính kẻ có uy quyền là tốt hơn.”
(Lời bậc sáng suốt Mahosadha)
5822. “Sau khi đạt được hạnh phúc, kẻ thiểu trí bị say mê. Luôn cả người bị tác động bởi khổ đau, cũng đi đến sự mê muội. Bị tác động bởi niềm hạnh phúc hay nỗi khổ đau đã xảy đến, con người run rẩy tựa như loài thủy tộc giãy giụa ở nơi nóng bức. Sau khi nhìn thấy điều ấy, thần nói rằng: Chính người có trí tuệ là tốt hơn, không phải kẻ ngu có danh vọng.”
(Lời vị Senaka)
5823. “Giống như cây có trái ngọt ở trong rừng, các con chim lai vãng ở xung quanh, cũng tương tự như thế, nhiều người phục vụ kẻ giàu sang, có tài sản, có của cải, vì nguyên nhân lợi lộc. Sau khi nhìn thấy điều ấy, thần nói rằng: Người có trí tuệ thì bị hạ thấp, chính kẻ có uy quyền là tốt hơn.”
(Lời bậc sáng suốt Mahosadha) 5824. “Chẳng tốt lành gì việc kẻ ngu có quyền thế tìm kiếm tài sản bằng bạo lực. Các viên quan canh giữ địa ngục kéo lôi kẻ ngu muội còn đang than khóc vào địa ngục vô số kể. Sau khi nhìn thấy điều ấy, thần nói rằng: Chính người có trí tuệ là tốt hơn, không phải kẻ ngu có danh vọng.”
(Lời vị Senaka) 5825. “Mọi dòng sông đều chảy vào sông Gaṅgā; tất cả các dòng sông ấy đều từ bỏ danh xưng và gốc gác. Trong khi đạt đến biển cả, sông Gaṅgā không còn được biết đến; bởi vì kẻ khác có quyền lực hiện diện ở trên đời, (người trí không còn được biết đến). Sau khi nhìn thấy điều ấy, thần nói rằng: Người có trí tuệ thì bị hạ thấp, chính kẻ có uy quyền là tốt hơn.”
(Lời bậc sáng suốt Mahosadha) 5826. “Biển cả to lớn mà vị Senaka đã nói đến ấy có các dòng sông luôn chảy vào không kể xiết, biển cả ấy, là đại dương, thường xuyên có lực đẩy khủng khiếp, nhưng không tràn qua bờ.
5827. Cũng tương tự như vậy, những lời nói làm nhảm của kẻ ngu (không qua mặt được người trí); uy quyền không bao giờ vượt hơn trí tuệ. Sau khi nhìn thấy điều ấy, thần nói rằng: Chính người có trí tuệ là tốt hơn, không phải kẻ ngu có danh vọng.”
(Lời vị Senaka) 5828. “Nếu kẻ có danh vọng đã đạt được địa vị trình bày sự việc cho những người khác, dầu cho không có giới hạnh, lời nói của chính kẻ ấy vẫn có giá trị ở giữa các thân quyến; chính uy quyền giúp cho gã ấy vượt lên, không phải trí tuệ. Sau khi nhìn thấy điều ấy, thần nói rằng: Người có trí tuệ thì bị hạ thấp, chính kẻ có uy quyền là tốt hơn.”
(Lời bậc sáng suốt Mahosadha) 5829. “Dẫu cho vì nguyên nhân của người khác hay của bản thân, kẻ ngu, kém trí tuệ, nói lời dối trá, kẻ ấy bị chê bai ở giữa hội chúng. Thậm chí sau khi chết, kẻ ấy còn bị đi đến chốn khổ đau. Sau khi nhìn thấy điều ấy, thần nói rằng: Chính người có trí tuệ là tốt hơn, không phải kẻ ngu có danh vọng.”
(Lời vị Senaka) 5830. “Nếu người có trí tuệ uyên bác, không dư dả, có ít tài sản, nghèo khó, trình bày sự việc, lời nói của người ấy không có giá trị ở giữa các thân quyến; và uy quyền không thuộc về người có trí tuệ. Sau khi nhìn thấy điều ấy, thần nói rằng: Người có trí tuệ thì bị hạ thấp, chính kẻ có uy quyền là tốt hơn.”
(Lời bậc sáng suốt Mahosadha) 5831. “Dẫu cho vì nguyên nhân của người khác hay của bản thân, người có trí tuệ uyên bác không nói lời sai trái, người ấy được tôn vinh ở giữa hội chúng. Và sau khi chết, người ấy được đi đến chốn an vui. Sau khi nhìn thấy điều ấy, thần nói rằng: Chính người có trí tuệ là tốt hơn, không phải kẻ ngu có danh vọng.”
(Lời vị Senaka) 5832. “Các con voi, bò, ngựa, các bông tai ngọc ma-ni, và các nữ nhân được phát hiện ở các gia tộc giàu có; toàn bộ tất cả các nàng ấy là vật sở hữu. Những người không có quyền thế là thuộc về người có quyền thế. Sau khi nhìn thấy điều ấy, thần nói rằng: Người có trí tuệ thì bị hạ thấp, chính kẻ có uy quyền là tốt hơn.”
(Lời bậc sáng suốt Mahosadha) 5833. “Uy quyền từ bỏ kẻ ngu muội, là kẻ có việc làm không được sắp xếp, ngu dốt, có suy nghĩ xấu xa, tựa như con rắn từ bỏ lớp da đã bị già cỗi. Sau khi nhìn thấy điều ấy, thần nói rằng: Chính người có trí tuệ là tốt hơn, không phải kẻ ngu có danh vọng.”
(Lời vị Senaka) 5834. “Tâu bậc tôn kính, năm người sáng suốt chúng thần, tất cả đều chắp tay hầu cận. Ngài đã khuất phục chúng thần và là vị chúa tể, tựa như Sakka là người chủ quản của các sanh linh, vị chúa của chư Thiên. Sau khi nhìn thấy điều ấy, thần nói rằng: Người có trí tuệ thì bị hạ thấp, chính kẻ có uy quyền là tốt hơn.”
(Lời bậc sáng suốt Mahosadha) 5835. “Kẻ ngu có danh vọng chính là nô lệ của người trí. Khi các công việc thuộc loại như thế ấy sanh khởi, người sáng suốt xếp đặt công việc một cách khéo léo, trong trường hợp ấy kẻ ngu đi đến sự rối loạn. Sau khi nhìn thấy điều ấy, thần nói rằng: Chính người có trí tuệ là tốt hơn, không phải kẻ ngu có danh vọng.
5836. Thật vậy, bởi vì chính trí tuệ đã được các bậc thiện nhân ca tụng; còn loài người ưa thích của cải, thì uy quyền được chúng yêu mến. Và trí của chư Phật là không thể sánh bằng. Uy quyền không bao giờ vượt hơn trí tuệ.”
(Lời đức vua) 5837. “Điều mà chúng ta đã hỏi khanh, khanh đã trả lời cho chúng ta. Này Mahosadha, vị có sự nhìn thấy tất cả các pháp, được hài lòng với việc giải thích câu hỏi, ta ban cho khanh một ngàn bò cái, một bò mộng, và một con voi, với mười cỗ xe kéo đã được thắng vào những con ngựa thuần chủng này, và ân huệ là mười sáu ngôi làng.”
Câu Hỏi về Uy Quyền và Kẻ Ngu
(thuộc Nhóm Hai Mươi Kệ Ngôn).
5839. Theo hướng đi có tiệm bánh và tiệm cháo, rồi có cây song diệp đã được trổ hoa; thiếp cho bằng tay nào thì thiếp nói về hướng đó, thiếp không nói về hướng phía bên tay mà thiếp không cho; con đường ấy dẫn đến ngôi làng Yavamajjhaka, chàng hãy nhận biết lối đi đã được che giấu ấy.
Câu Hỏi về Lối Đi Đã Được Che Giấu.
5839. Gã ấy đánh bằng những cánh tay, bằng những bàn chân, và gã ấy đấm vào mặt. Tâu bệ hạ, gã ấy quả thật đáng yêu; bệ hạ xem có ai đáng yêu hơn gã ấy?
5840. “Người nào, trong khi có cây đèn, trong khi đi tìm kiếm ngọn lửa, đã nhìn thấy con đom đóm lúc ban đêm và đã nghĩ là ngọn lửa?
5841. Kẻ ấy, trong khi nghiền nát bụi phân bò và các cỏ khô ở con đom đóm (để nhóm lửa), do hiểu biết sai lệch, đã không thể làm bùng cháy ngọn lửa.
5842. Cũng như vậy, bằng cách thức sai trái, kẻ ngu không đạt được sự lợi ích trong khi vắt sữa bò cái từ sừng bò, là nơi không tìm thấy sữa.
5843. Các chàng trai trẻ thu thập điều lợi ích theo nhiều cách thức, nhờ vào sự quở trách của những kẻ thù và nhờ vào sự nâng đỡ của các thân hữu.
5844. Nhờ việc thu phục các tướng lãnh của quân đội, và nhờ vào kế hoạch của các cận thần, các vị chúa tể trái đất cư ngụ ở trái đất, nơi cất giữ nhiều của cải.”
Câu Hỏi về Con Đom Đóm.
(Lời của một quan viên) 5845. “(Điều vị Senaka đã nói) quả đúng là sự thật, ngài dầu có trí tuệ uyên bác, thêm vào sự vinh quang, nghị lực, và thông minh như thế ấy vẫn không bảo vệ được vị thế và quyền lực đã đạt đến của ngài, khiến ngài phải ăn món lúa mạch với ít nước xúp.”
(Lời bậc sáng suốt Mahosadha) 5846. “Trong khi làm tăng trưởng hạnh phúc với sự khó nhọc, trong khi xem xét thời điểm hoặc chưa phải thời điểm, ta đã che giấu lòng mong muốn trong khi mở ra các cánh cửa đưa đến điều lợi ích; vì thế, ta hài lòng với cơm lúa mạch.
5847. Và sau khi nhận biết thời điểm cho việc ra sức, sau khi làm cho chín muồi sự lợi ích thông qua các kế hoạch, ta sẽ phô trương bản thân tựa như con sư tử đã vươn dậy; với sự thành tựu ấy, ngươi cũng sẽ gặp lại ta.”
(Lời đức vua) 5848. “Một số người không làm điều ác bởi vì họ hạnh phúc, thêm nữa một số người do sợ hãi việc dính líu đến điều tai tiếng; còn khanh, trong khi đang có nhiều ý tưởng về những lợi ích lớn lao, vì lý do gì mà khanh không gây ra sự khổ đau cho trẫm?”
(Lời bậc sáng suốt Mahosadha) 5849. “Các bậc sáng suốt không vì nguyên nhân hạnh phúc của bản thân mà tạo ra các ngiệp ác xấu. Những người tốt, dầu bị tác động bởi khổ đau, dầu bản thân bị vấp ngã, cũng không vì tham muốn và sân hận mà từ bỏ thiện pháp.”
(Lời đức vua) 5850. “Bằng bất cứ cách thức nào, mềm mỏng hay thô bạo, nên đưa bản thân ra khỏi tình trạng khốn khó, rồi sau đó mới thực hành thiện pháp.”
(Lời bậc sáng suốt Mahosadha) 5851. “Người ngồi hoặc nằm ở bóng râm của cây nào thì không nên bẻ gãy cành lá của cây ấy, bởi vì kẻ phản bội bạn bè là kẻ ác xấu.
5852. Nhờ vào vị nào mà một người có thể nhận thức được lẽ phải, và các bậc thiện nhân dẹp bỏ mối nghi ngờ đối với người này, chính vị ấy là hòn đảo và là nơi nương tựa của người này; người có sự hiểu biết không nên hủy hoại tình bạn với vị ấy.”
5853. “Người tại gia biếng nhác có sự thọ hưởng các dục, là không tốt, bậc xuất gia không tự chế ngự, là không tốt, vị vua có hành động không cân nhắc, là không tốt, người sáng suốt có sự phẫn nộ, việc ấy là không tốt.
5854. Vị Sát-đế-lỵ nên hành động sau khi cân nhắc. Bậc chúa tể một phương không thể không cân nhắc. Đối với vị vua có hành động đã được cân nhắc, danh vọng và tiếng tăm tăng trưởng.”
Câu Hỏi Uyên Bác.
5855. “Gã ấy đánh bằng những cánh tay, bằng những bàn chân, và gã ấy đấm vào mặt. Tâu bệ hạ, gã ấy quả thật đáng yêu; bệ hạ xem có ai đáng yêu hơn gã ấy?”
5856. “Người sỉ vả gã ấy tùy theo ý thích, nhưng người lại mong muốn sự quay về của gã ấy. Tâu bệ hạ, gã ấy quả thật đáng yêu; bệ hạ xem có ai đáng yêu hơn gã ấy?”
5857. “Người trách móc gã ấy với việc không có thật, người buộc tội với chuyện giả dối. Tâu bệ hạ, gã ấy quả thật đáng yêu; bệ hạ xem có ai đáng yêu hơn gã ấy?”
5858. “Trong khi lấy mang đi cơm, nước, y phục, và chỗ trú ngụ, thật vậy, những người lấy mang đi là những người tốt. Tâu bệ hạ, những người ấy quả thật đáng yêu; bệ hạ xem có những ai đáng yêu hơn những người ấy?”
Các Câu Hỏi Được Hỏi Bởi Vị Thiên Nhân.
(Lời đức vua) 5859. “Năm bậc nhân sĩ đã tụ hội lại. Có câu hỏi lóe lên ở trẫm, các vị hãy lắng nghe điều ấy. Có nên bày tỏ việc cần phải giấu kín đến người nào khác, cho dầu là việc đáng bị chê bai hay là việc đáng được khen ngợi?”
(Lời vị Senaka) 5860. “Tâu đấng hộ quốc, xin bệ hạ hãy bày tỏ với chúng thần. Bệ hạ là chủ nhân, là người nâng đỡ gánh nặng cho chúng thần, xin bệ hạ hãy nói ra điều ấy. Tâu vị chúa của loài người, sau khi nắm bắt được mong muốn và ý thích của bệ hạ, khi ấy năm vị sáng trí sẽ phát biểu.”
(Lời đức vua) 5861. “Cho dầu là việc đáng bị chê bai hay là việc đáng được khen ngợi, nên bày tỏ việc cần phải giấu kín đến người vợ, (nếu) nàng là người có giới hạnh, không thể bị xúi giục bởi người khác, chiều theo sự mong muốn và mệnh lệnh của chồng, đáng yêu, và hợp ý.”
(Lời vị Senaka) 5862. “Cho dầu là việc đáng bị chê bai hay là việc đáng được khen ngợi, nên bày tỏ việc cần phải giấu kín đến người bạn, (nếu) vị ấy là nơi nương tựa, nơi đi đến, nơi nâng đỡ đối với người gặp khó khăn, đối với người bị bệnh.”
(Lời vị Pukkusa) 5863. “Cho dầu là việc đáng bị chê bai hay là việc đáng được khen ngợi, nên bày tỏ việc cần phải giấu kín đến anh em trai, là người anh cả, anh thứ, hay em út, nếu người ấy có giới hạnh, trầm tĩnh, có bản tánh kiên định.”
(Lời vị Kāvinda) 5864. “Cho dầu là việc đáng bị chê bai hay là việc đáng được khen ngợi, nên bày tỏ việc cần phải giấu kín đến người con trai, là người tuân phục sự sai bảo của cha, là người con tiếp nối sự nghiệp của cha, là người có trí tuệ hoàn hảo.”
(Lời vị Devinda) 5865. “Tâu vị chúa tối thượng của loài người có hai chân, cho dầu là việc đáng bị chê bai hay là việc đáng được khen ngợi, nên bày tỏ việc cần phải giấu kín đến người mẹ, là người mẹ nuôi dưỡng kẻ ấy với sự mong mỏi, với sự yêu mến.”
(Lời bậc sáng suốt Mahosadha) 5866. “Riêng đối với việc cần phải giấu kín, chỉ có việc giấu kín là tốt, bởi vì đối với việc cần phải giấu kín, sự bày tỏ là không được khen ngợi. Khi việc chưa được hoàn tất, vị sáng trí nên chịu đựng; khi việc đã được hoàn tất, thì có thể nói ra một cách thoải mái.”
(Lời hoàng hậu Udumbaradevī) 5867. “Tâu chúa thượng, việc gì khiến bệ hạ ưu tư? Tâu vị chúa tể của loài người, bọn thiếp không nghe nói gì về việc ấy. Trong khi suy nghĩ về việc gì mà ngài phiền muộn? Tâu bệ hạ, không lẽ thiếp có lỗi lầm gì chăng?”
(Lời đức vua) 5868. “‘Kẻ có trí Mahosadha đáng bị giết chết,’ (nghe lời sàm tấu) trẫm đã ra lệnh hành quyết bậc có trí tuệ uyên bác. Trong khi suy nghĩ về việc ấy khiến trẫm phiền muộn. Này hoàng hậu, nàng chẳng có lỗi lầm gì.”
(Lời đức vua nói với bậc sáng suốt Mahosadha tại triều) 5869. “Tối hôm qua khanh đã ra về, bây giờ khanh đi đến. Khanh đã nghe điều gì? Ý của khanh nghi ngờ điều gì? Này bậc có trí tuệ uyên bác, người nào đã nói điều gì với khanh? Nào, hãy cho chúng ta nghe lời nói ấy. Khanh hãy nói điều ấy với trẫm.”
(Lời bậc sáng suốt Mahosadha) 5870. “Tâu vị chúa của loài người, nếu điều đã được nói ra bởi bệ hạ tối hôm qua rằng: ‘Kẻ có trí Mahosadha đáng bị giết chết,’ rồi bệ hạ đã bày tỏ cho người vợ ở nơi kín đáo. (Như thế) việc cần phải giấu kín đã được phơi bày, (bởi vì) thần đã nghe được điều ấy.
5871. Việc Senaka đã làm hành động xấu xa, có hình thức không tốt lành, ở khu rừng cây sāla, rồi đã bày tỏ cho người bạn ở nơi kín đáo. (Như thế) việc cần phải giấu kín đã được phơi bày, (bởi vì) thần đã nghe được điều ấy.
5872. Tâu vị chúa của loài người, Pukkusa, người của bệ hạ, đã bị phát khởi chứng bệnh (phong cùi), không thích hợp để đức vua chạm đến. Lão đã bày tỏ cho người em trai ở nơi kín đáo. (Như thế) việc cần phải giấu kín đã được phơi bày, (bởi vì) thần đã nghe được điều ấy.
5873. Căn bệnh này có hình thức không tốt lành, Kāvinda bị ám ảnh bởi Dạ-xoa Naradeva. Lão đã bày tỏ cho người con trai ở nơi kín đáo. (Như thế) việc cần phải giấu kín đã được phơi bày, (bởi vì) thần đã nghe được điều ấy.
5874. Thiên chủ Sakka đã cho đến ông nội của bệ hạ viên bảo ngọc ma-ni tuyệt hảo, có tám mặt. Hôm nay, viên ngọc ấy đã rơi vào tay của Devinda. Lão đã bày tỏ cho người mẹ ở nơi kín đáo. (Như thế) việc cần phải giấu kín đã được phơi bày, (bởi vì) thần đã nghe được điều ấy.
5875. Riêng đối với việc cần phải giấu kín, chỉ có việc giấu kín là tốt, bởi vì đối với việc cần phải giấu kín, sự bày tỏ là không được khen ngợi. Khi việc chưa được hoàn tất, vị sáng trí nên chịu đựng; khi việc đã được hoàn tất, thì có thể nói ra một cách thoải mái.
5876. Không nên bộc lộ việc cần phải giấu kín; nên bảo vệ nó như là của chôn giấu. Quả thật là không tốt đẹp nếu việc cần phải giấu kín bị phơi bày bởi người có sự nhận thức.
5877. Vị sáng suốt không nên bày tỏ điều bí mật cho phụ nữ, cho kẻ đối nghịch, cho kẻ có thể bị mua chuộc bởi tài vật và hạng người giả vờ kết thân.
5878. Người nào cho biết việc cần phải giấu kín đến kẻ không khôn ngoan do nỗi sợ hãi về chú thuật hay về sự đổ vỡ quan hệ đối với kẻ ấy, thì phải chịu đựng thân phận làm nô lệ (cho kẻ ấy).
5879. Càng có nhiều kẻ biết được việc cần phải giấu kín của một người (do) đã được thổ lộ, thì càng có nhiều kích động đối với người ấy; vì thế, không nên thố lộ điều bí mật.
5880. Vào ban ngày, nên tách ly rồi mới nói điều bí mật, vào ban đêm không nên thốt ra lời tốn quá nhiều thời gian. Bởi vì những kẻ nghe lén lắng nghe điều thố lộ; vì thế, điều thố lộ mau chóng đi đến việc rò rỉ.”
Câu Hỏi Dành Cho Năm Bậc Nhân Sĩ
(thuộc Nhóm Hai Mươi Kệ Ngôn).
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
546. Vidhurajātakaṃ (9)
546. The Vidhura Jātaka (9)
546. Chuyện tiền thân Vidhura (9)
Dohaḷakaṇḍaṃ
The Chapter on Craving
Phẩm Dohaḷa (Sự Thèm Muốn)
1346.
1346.
1346.
‘‘Paṇḍu kisiyāsi dubbalā, vaṇṇarūpaṃ † natavedisaṃ pure;
Vimale akkhāhi pucchitā, kīdisī tuyhaṃ sarīravedanā’’.
You are pale, emaciated, and weak; your complexion and form are not as they were before. O Vimalā, tell me, as you are asked, what is this bodily feeling of yours?
“Nàng xanh xao, ốm yếu, và yếu ớt, sắc diện của nàng trước đây không như thế này. Hỡi Vimalā, khi được hỏi, hãy nói cho ta biết, cảm giác trong thân của nàng như thế nào?”
1347.
1347.
1347.
‘‘Dhammo manujesu mātīnaṃ †, dohaḷo nāma janinda vuccati;
Dhammāhataṃ nāgakuñjara, vidhurassa hadayābhipatthaye’’.
It is a law for mothers among humans, O lord of men, called a 'dohaḷa'; struck by this law, O elephant among Nāgas, I long for the heart of Vidhura.
“Hỡi vị vua của dân, đây là lẽ tự nhiên của các bà mẹ ở loài người, được gọi là sự thèm muốn. Hỡi vị Long vương, bị ảnh hưởng bởi lẽ tự nhiên này, tôi mong muốn có được trái tim của Vidhura.”
1348.
1348.
1348.
‘‘Candaṃ kho tvaṃ dohaḷāyasi, sūriyaṃ vā atha vāpi mālutaṃ;
Dullabhañhi † vidhurassa dassanaṃ †, ko vidhuramidha mānayissati’’.
Do you long for the moon, the sun, or even the wind? For a sight of Vidhura is difficult to obtain; who will bring Vidhura here?
“Quả thật nàng đang thèm muốn mặt trăng, hay mặt trời, hoặc là gió. Quả vậy, việc nhìn thấy Vidhura là khó có được, ai sẽ mang Vidhura đến đây?”
1349.
1349.
1349.
‘‘Kinnu tāta tuvaṃ pajjhāyasi, padumaṃ hatthagataṃva te mukhaṃ;
Kinnu dummanarūposi issara, mā tvaṃ soci amittatāpana’’.
Why, dear father, do you ponder? Your face is like a lotus held in the hand. Why do you look so downcast, O lord? Do not grieve, O tormentor of enemies.
“Thưa cha, tại sao cha lại trầm tư? Gương mặt của cha như hoa sen bị tay vò nát. Thưa chúa tể, tại sao cha có vẻ ưu phiền? Hỡi người chế ngự kẻ thù, xin cha đừng sầu muộn.”
1350.
1350.
1350.
‘‘Mātā hi tava irandhati †, vidhurassa hadayaṃ dhaniyati;
Dullabhañhi vidhurassa dassanaṃ, ko vidhuramidha mānayissati’’.
Your mother, O Irandhatī, craves Vidhura's heart. For a sight of Vidhura is difficult to obtain; who will bring Vidhura here?
“Hỡi Irandhatī, quả vậy mẹ của con đang mong muốn có được trái tim của Vidhura. Quả vậy, việc nhìn thấy Vidhura là khó có được, ai sẽ mang Vidhura đến đây?”
1351.
1351.
1351.
‘‘Tassa bhattupariyesanaṃ † cara, yo vidhuramidha mānayissati’’;
‘‘Pituno ca sā sutvāna vākyaṃ, rattiṃ nikkhamma avassutiṃ cari’’.
“Go, seek a husband who will bring Vidhura here.” And she, having heard her father's words, went out at night and made a proclamation.
“Hãy đi tìm kiếm một người chồng cho nàng ấy, người mà sẽ mang Vidhura đến đây.” Và sau khi nghe lời nói của cha, nàng đã đi ra vào ban đêm và thực hiện lời rao.
1352.
1352.
1352.
‘‘Ke gandhabbe rakkhase ca nāge, ke kimpurise cāpi mānuse;
Ke paṇḍite sabbakāmadade †, dīgharattaṃ bhattā me bhavissati’’.
Who among the gandhabbas, rākkhasas, and nāgas, who among the kimpurisas and also humans, who among the wise, the givers of all desires, will be my husband for a long time?
“Ai trong các Càn-thát-bà, La-sát, và các loài Rồng, ai trong các Khẩn-na-la, cũng vậy trong loài người, ai là bậc hiền trí, người ban cho mọi điều mong muốn, sẽ là người chồng lâu dài của tôi?”
1353.
1353.
1353.
‘‘Assāsa hessāmi te pati, bhattā te hessāmi anindalocane;
Paññā hi mamaṃ tathāvidhā, assāsa hessasi bhariyā mama.
I will be your comfort and husband, I will be your supporter, O blameless-eyed one; for my wisdom is such that you will find comfort as my wife.
“Hãy yên tâm, ta sẽ là người chồng của nàng. Hỡi nàng có đôi mắt không chê vào đâu được, ta sẽ là người chồng của nàng. Quả vậy, trí tuệ của ta là như thế. Hãy yên tâm, nàng sẽ là người vợ của ta.
1354.
1354.
1354.
‘‘Avacāsi puṇṇakaṃ irandhatī †, pubbapathānugatena cetasā;
Ehi gacchāma pitu mamantike †, esova te etamatthaṃ pavakkhati.
Thus Irandhatī spoke to Puṇṇaka, with a mind following the ancient path: “Come, let us go to my father’s presence—he will explain this matter to you.”
Irandhatī đã nói với Puṇṇaka, với tâm đã có ý định từ trước: “Hãy đến, chúng ta hãy đi đến gần cha của ta. Chính vị ấy sẽ nói rõ ý nghĩa của việc này cho ngươi.”
1355.
1355.
1355.
‘‘Alaṅkatā suvasanā, mālinī candanussadā;
Yakkhaṃ hatthe gahetvāna, pitusantikupāgami’’.
Adorned, well-dressed, garlanded, anointed with sandalwood, taking the Yakkha by the hand, she approached her father's presence.
Được trang điểm, mặc y phục đẹp, đeo vòng hoa, thoa bột chiên-đàn, sau khi nắm tay vị Dạ-xoa, nàng đã đi đến gần cha.
1356.
1356.
1356.
‘‘Nāgavara vaco suṇohi me, patirūpaṃ paṭipajja suṅkiyaṃ;
Patthemi ahaṃ irandhatiṃ, tāya samaṅgiṃ karohi maṃ tuvaṃ.
Hear my words, O best of Nāgas; accept a suitable price. I desire Irandhatī—unite me with her.
“Hỡi vị Long vương cao quý, hãy nghe lời nói của tôi, hãy chấp nhận món quà cưới thích hợp. Tôi mong muốn có được Irandhatī, ngài hãy làm cho tôi được kết hợp với nàng ấy.”
1357.
1357.
1357.
‘‘Sataṃ hatthī sataṃ assā, sataṃ assatarīrathā;
Sataṃ valabhiyo puṇṇā, nānāratnassa kevalā;
Te nāga paṭipajjassu, dhītaraṃ dehirandhatiṃ’’.
A hundred elephants, a hundred horses, a hundred mule-drawn chariots, a hundred pinnacle-roofed houses filled entirely with various jewels—accept these, O Nāga, and give me your daughter Irandhatī.
“Một trăm con voi, một trăm con ngựa, một trăm cỗ xe do la kéo; một trăm cái giỏ đầy ắp hoàn toàn là các loại châu báu khác nhau. Hỡi Long vương, hãy chấp nhận những thứ ấy và hãy cho tôi người con gái Irandhatī.”
1358.
1358.
1358.
‘‘Yāva āmantaye ñātī, mitte ca suhadajjane †;
Anāmanta kataṃ kammaṃ, taṃ pacchā anutappati’’.
Let me first consult my kinsmen, friends, and companions. A deed done without consultation brings remorse later.
“Hãy đợi cho đến khi ta hỏi ý kiến bà con quyến thuộc, bạn bè và những người thân thiết. Việc làm được thực hiện mà không hỏi ý kiến, việc ấy sau này gây ra hối hận.”
1359.
1359.
1359.
Tato so varuṇo nāgo, pavisitvā nivesanaṃ;
Bhariyaṃ āmantayitvāna, idaṃ vacanamabravi.
Then that Nāga Varuṇa, entering his dwelling, addressed his wife and spoke these words.
Sau đó, vị Long vương Varuṇa ấy, sau khi đi vào cung điện, sau khi hỏi ý kiến người vợ, đã nói lời này:
1360.
1360.
1360.
‘‘Ayaṃ so puṇṇako yakkho, yācatī maṃ irandhatiṃ;
Bahunā vittalābhena, tassa dema piyaṃ mamaṃ’’.
This is that yakkha Puṇṇaka, who asks me for Irandhatī in exchange for a great gain of wealth; let us give my beloved to him.
“Đây là vị Dạ-xoa Puṇṇaka, đang xin ta (cưới) Irandhatī với lợi lộc là nhiều của cải. Chúng ta hãy cho hắn người con gái yêu quý của ta.”
1361.
1361.
1361.
‘‘Na dhanena na vittena, labbhā amhaṃ irandhatī;
Sace ca kho hadayaṃ paṇḍitassa, dhammena laddhā idha māhareyya;
Etena vittena kumāri labbhā, nāññaṃ dhanaṃ uttari patthayāma’’.
Not by riches, not by wealth, can our Irandhatī be obtained. But if he, having righteously obtained the heart of a wise man, should bring it here, by that wealth the maiden may be obtained. We desire no other wealth beyond that.
“Không phải bởi tài sản, không phải bởi của cải mà có thể có được Irandhatī của chúng ta. Quả thật, nếu trái tim của bậc hiền trí, sau khi có được bằng phương pháp đúng đắn, được mang đến đây; bởi của cải này, cô gái có thể có được, chúng tôi không mong muốn tài sản nào khác hơn nữa.”
1362.
1362.
1362.
Tato so varuṇo nāgo, nikkhamitvā nivesanā;
Puṇṇakāmantayitvāna, idaṃ vacanamabravi.
Then the Nāga Varuṇa, having gone out from his dwelling, addressed Puṇṇaka and spoke these words:
Sau đó, vị Long vương Varuṇa ấy, sau khi đi ra từ cung điện, sau khi gọi Puṇṇaka, đã nói lời này:
1363.
1363.
1363.
‘‘Na dhanena na vittena, labbhā amhaṃ irandhatī;
Sace tuvaṃ hadayaṃ paṇḍitassa, dhammena laddhā idha māharesi;
Etena vittena kumāri labbhā, nāññaṃ dhanaṃ uttari patthayāma’’.
Not by riches, not by wealth, can our Irandhatī be obtained. But if you, having righteously obtained the heart of a wise man, should bring it here, by that wealth the maiden may be obtained. We desire no other wealth beyond that.
“Không phải bởi tài sản, không phải bởi của cải mà có thể có được Irandhatī của chúng ta. Nếu ngươi, sau khi có được trái tim của bậc hiền trí bằng phương pháp đúng đắn, mang đến đây; bởi của cải này, cô gái có thể có được, chúng tôi không mong muốn tài sản nào khác hơn nữa.”
1364.
1364.
1364.
‘‘Yaṃ paṇḍitotyeke vadanti loke, tameva bāloti punāhu aññe;
Akkhāhi me vippavadanti ettha, kaṃ paṇḍitaṃ nāga tuvaṃ vadesi’’.
Whom some in the world call wise, others in turn call a fool. Since they disagree on this, explain to me: whom do you, O Nāga, call wise?
“Người mà một số người trên đời nói là bậc hiền trí, chính người ấy lại được những người khác nói là kẻ ngu. Ở đây họ có sự tranh luận, hãy nói cho tôi biết, hỡi Long vương, ngài gọi ai là bậc hiền trí?”
1365.
1365.
1365.
‘‘Korabyarājassa dhanañcayassa †, yadi te suto vidhuro nāma kattā;
Ānehi taṃ paṇḍitaṃ dhammaladdhā, irandhatī padacarā † te hotu.
Of the Kuru king Dhanañjaya, if you have heard of his minister named Vidhura, bring that wise one, righteously obtained, and let Irandhatī be your attendant.
“Nếu ngươi đã từng nghe về vị quan tên là Vidhura của vua Dhanañcaya xứ Kuru, hãy mang bậc hiền trí ấy đến đây, sau khi có được bằng phương pháp đúng đắn, và Irandhatī sẽ là người hầu gái của ngươi.”
1366.
1366.
1366.
‘‘Idañca sutvā varuṇassa vākyaṃ, uṭṭhāya yakkho paramappatīto;
Tattheva santo purisaṃ asaṃsi, ānehi ājaññamidheva yuttaṃ.
And having heard this word of Varuṇa, the yakkha arose, extremely pleased. Right there he instructed a man: “Bring here a harnessed thoroughbred.”
Nghe xong lời nói này của Varuna, dạ-xoa vô cùng hoan hỷ, đứng dậy. Ngay tại nơi ấy, vị ấy đã ra lệnh cho một người: ‘Hãy đem đến đây con ngựa hay đã được thắng yên cương.’
1367.
1367.
1367.
‘‘Jātarūpamayā kaṇṇā, kācamhicamayā † khurā;
Jambonadassa pākassa, suvaṇṇassa uracchado’’.
Its ears were made of gold, its hooves of crystal gems, its breastplate of refined Jambu-river gold.
‘(Con ngựa có) đôi tai bằng vàng ròng, móng guốc bằng pha lê; yếm ngực bằng vàng Diêm-phù-đàn thuần khiết.’
1368.
1368.
1368.
‘‘Devavāhavahaṃ yānaṃ, assamāruyha puṇṇako;
Alaṅkato kappitakesamassu, pakkāmi vehāyasamantalikkhe †.
Mounting the horse, a divine vehicle, Puṇṇaka, adorned, with trimmed hair and beard, departed through the air into the sky.
‘Là cỗ xe chuyên chở của chư Thiên, Puṇṇaka đã cỡi lên con ngựa. Được trang điểm, với râu tóc được cắt tỉa, vị ấy đã ra đi, bay bổng trên không trung.’
1369.
1369.
1369.
‘‘So puṇṇako kāmarāgena † giddho, irandhatiṃ nāgakaññaṃ jigīsaṃ †;
Gantvāna taṃ bhūtapatiṃ yasassiṃ, iccabravī vessavaṇaṃ kuveraṃ.
Puṇṇaka, consumed by lustful passion, desiring to win the nāga maiden Irandhatī, went to the glorious lord of beings and said this to Vessavaṇa Kuvera:
Puṇṇaka ấy, tham lam với ái dục, mong muốn chiếm được nàng tiên nữ loài rắn Irandhatī. Sau khi đi đến vị Chúa của các loài hữu tình, bậc danh tiếng, vị ấy đã nói như vầy với Vessavaṇa Kuvera.
1370.
1370.
1370.
‘‘Bhogavatī nāma mandire, vāsā hiraññavatīti vuccati;
Nagare nimmite kañcanamaye, maṇḍalassa uragassa niṭṭhitaṃ.
“In the palace named Bhogavatī, the dwelling called Hiraññavatī, in the city wrought of gold, established for the serpent king.”
‘Trong cung điện tên là Bhogavatī, nơi ở được gọi là Hiraññavatī; trong thành phố được tạo tác bằng vàng, được thiết lập cho xứ sở của loài rắn.’
1371.
1371.
1371.
‘‘Aṭṭālakā oṭṭhagīviyo, lohitaṅkassa masāragallino;
Pāsādettha silāmayā, sovaṇṇaratanehi chāditā.
With watchtowers and camel-necked parapets, of red arsenic and cat's eye gems; palaces there of stone, covered with gold and jewels.
‘Các tháp canh (hình) cổ lạc đà, (làm bằng) hồng mã não và đá mắt mèo. Các lâu đài ở đây làm bằng đá, được bao phủ bởi vàng và châu báu.’
1372.
1372.
1372.
‘‘Ambā tilakā ca jambuyo, sattapaṇṇā mucalindaketakā;
Piyaṅgu † uddālakā sahā, uparibhaddakā sinduvārakā †.
Mangoes, tilakas, and rose-apples, seven-leaved trees, mucalindas, ketakas; piyangus, uddālakas, sahas, uparibhaddakas, and sinduvārakas.
‘Xoài, tilaka, và trâm, sữa, mucalinda, dứa dại; lăng già, muồng hoàng yến, sala, uparibhaddakā, và ngũ trảo.’
1373.
1373.
1373.
‘‘Campeyyakā nāgamallikā, bhaginīmālā atha mettha koliyā;
Ete dumā pariṇāmitā, sobhayanti uragassa mandiraṃ †.
Champakas, nāga-mallikās, bhaginīmālā flowers, and here koliyā trees; these well-tended trees adorn the serpent’s dwelling.
‘Ngọc lan, lài rồng, bhaginīmālā, và ở đây có cả cây koliya. Những cây này sum suê, làm đẹp cho cung điện của loài rắn.’
1374.
1374.
1374.
‘‘Khajjurettha silāmayā, sovaṇṇadhuvapupphitā bahū;
Yattha vasato papātiko, nāgarājā varuṇo mahiddhiko.
Date palms there of stone, many with ever-golden flowers, where dwells the nāga king Varuṇa, born on a precipice, of great power.
‘Ở đây có nhiều cây chà là bằng đá, luôn trổ hoa bằng vàng. Nơi ấy, vua rắn Varuṇa, bậc đại thần lực, một vị hóa sanh, đang ngự trị.’
1375.
1375.
1375.
‘‘Tassa komārikā bhariyā, vimalā kañcanavelliviggahā;
Kālā taruṇāva uggatā, pucimandatthanī cārudassanā.
His young wife, Vimalā, flawless, with a form like a golden vine, dark, youthful, and well-risen, with breasts like nimb fruits, lovely to behold.
‘Vợ của vị ấy là nàng thiếu nữ Vimalā, thân hình như dây leo vàng. Nàng có làn da sẫm màu, trẻ trung, bộ ngực như nụ gòn, dáng vẻ yêu kiều.’
1376.
1376.
1376.
‘‘Lākhārasarattasucchavī, kaṇikārāva nivātapupphitā †;
Tidivokacarāva accharā, vijjuvabbhaghanā vinissaṭā.
With smooth skin the color of red lac, like a kaṇikāra tree flowered in a windless place; like a celestial nymph wandering in heaven, like lightning issued forth from a dense cloud.
‘Làn da xinh đẹp của nàng có màu đỏ như thuốc nhuộm cánh kiến, giống như hoa kanikara nở ở nơi khuất gió. Giống như tiên nữ dạo chơi ở cõi trời, giống như tia chớp lóe ra từ đám mây dày đặc.’
1377.
1377.
1377.
‘‘Sā dohaḷinī suvimhitā, vidhurassa hadayaṃ dhaniyati;
Taṃ tesaṃ demi issara, tena te denti irandhatiṃ mamaṃ’’.
“She, with pregnancy-longing and greatly bewildered, craves Vidhura’s heart. That I shall give to them, O lord, so that they may give Irandhatī to me.”
‘Nàng ấy đang mang thai, vô cùng kinh ngạc, thèm muốn trái tim của Vidhura. Tâu chúa công, con sẽ dâng trái tim ấy cho họ, nhờ đó họ sẽ gả Irandhatī cho con.’
1378.
1378.
1378.
‘‘So puṇṇako bhūtapatiṃ yasassiṃ, āmantaya vessavaṇaṃ kuveraṃ;
Tattheva santo † purisaṃ asaṃsi, ānehi ājaññamidheva yuttaṃ.
Puṇṇaka addressed the glorious lord of beings, Vessavaṇa Kuvera. Being right there, he instructed a man: “Bring here a harnessed thoroughbred.”
Puṇṇaka ấy đã thưa với vị Chúa của các loài hữu tình, bậc danh tiếng, Vessavaṇa Kuvera. Ngay tại nơi ấy, vị ấy đã ra lệnh cho một người: ‘Hãy đem đến đây con ngựa hay đã được thắng yên cương.’
1379.
1379.
1379.
‘‘Jātarūpamayā kaṇṇā, kācamhicamayā khurā;
Jambonadassa pākassa, suvaṇṇassa uracchado.
With ears made of gold, with hooves made of crystal; a breastplate of refined Jambu-river gold.
‘(Con ngựa có) đôi tai bằng vàng ròng, móng guốc bằng pha lê; yếm ngực bằng vàng Diêm-phù-đàn thuần khiết.’
1380.
1380.
1380.
‘‘Devavāhavahaṃ yānaṃ, assamāruyha puṇṇako;
Alaṅkato kappitakesamassu, pakkāmi vehāyasamantalikkhe’’.
Mounting the horse, a divine conveyance, Puṇṇaka, adorned, with trimmed hair and beard, departed through the air, into the sky.
‘Là cỗ xe chuyên chở của chư Thiên, Puṇṇaka đã cỡi lên con ngựa. Được trang điểm, với râu tóc được cắt tỉa, vị ấy đã ra đi, bay bổng trên không trung.’
1381.
1381.
1381.
‘‘So aggamā rājagahaṃ surammaṃ, aṅgassa rañño nagaraṃ durāyutaṃ †;
Pahūtabhakkhaṃ bahuannapānaṃ, masakkasāraṃ viya vāsavassa.
He went to delightful Rājagaha, the city of the king of Aṅga, hard to assail; with abundant provisions, much food and drink, like Masakkasāra, the city of Vāsava.
Vị ấy đã đi đến thành Rājagaha xinh đẹp, thành phố khó xâm phạm của vua xứ Aṅga. Nơi đây có nhiều thực phẩm, nhiều lúa gạo và thức uống, giống như thành Masakkasāra của trời Vāsava.
1382.
1382.
1382.
‘‘Mayūrakoñcāgaṇasampaghuṭṭhaṃ, dijābhighuṭṭhaṃ dijasaṅghasevitaṃ;
Nānāsakuntābhirudaṃ suvaṅgaṇaṃ †, pupphābhikiṇṇaṃ himavaṃva pabbataṃ.
Filled with the cries of flocks of peacocks and herons, resounding with birds, frequented by flocks of the twice-born; with beautiful courtyards, echoing with the calls of various birds, strewn with flowers, like the Himālaya mountain.
Thành phố vang dội tiếng kêu của các đàn công và diệc, vang vọng tiếng chim, được các bầy chim lui tới. Với tiếng hót hay của nhiều loài chim khác nhau, được rải đầy hoa, giống như ngọn núi Himava.
1383.
1383.
1383.
‘‘So puṇṇako vepulamābhirūhi †, siluccayaṃ kimpurisānuciṇṇaṃ;
Anvesamāno maṇiratanaṃ uḷāraṃ, tamaddasā pabbatakūṭamajjhe.
Puṇṇaka ascended Vepulla, the rocky height frequented by kimpurisas, while seeking a magnificent jewel. He saw it in the middle of the mountain peak.
Puṇṇaka ấy đã leo lên núi Vepula, ngọn núi đá được các vị khẩn-na-la thường lui tới. Trong khi tìm kiếm viên ngọc quý tuyệt vời, vị ấy đã nhìn thấy nó ở giữa đỉnh núi.
1384.
1384.
1384.
‘‘Disvā maṇiṃ pabhassaraṃ jātimantaṃ †, manoharaṃ † maṇiratanaṃ uḷāraṃ;
Daddallamānaṃ yasasā yasassinaṃ, obhāsatī vijjurivantalikkhe.
Seeing the radiant, high-quality gem, the captivating, magnificent jewel-treasure; shining brightly with glory, glorious, it gleams like lightning in the sky.
Sau khi nhìn thấy viên ngọc rực rỡ, thuộc loại tốt, viên ngọc quý tuyệt vời và quyến rũ, đang tỏa sáng với vẻ huy hoàng rực rỡ, nó chiếu sáng như tia chớp trên không trung.
1385.
1385.
1385.
‘‘Tamaggahī veḷuriyaṃ mahagghaṃ, manoharaṃ nāma mahānubhāvaṃ;
Ājaññamāruyha manomavaṇṇo, pakkāmi vehāyasamantalikkhe.
He grasped the precious veḷuriya gem, named Manohara, of great power; mounting the thoroughbred of delightful color, he departed through the air, into the sky.
Vị ấy đã nắm lấy viên ngọc lưu ly vô giá, tên là Manohara (Quyến Rũ Tâm Trí), có đại oai lực. Cỡi lên con ngựa hay có màu sắc như ý, vị ấy đã ra đi, bay bổng trên không trung.
1386.
1386.
1386.
‘‘So aggamā † nagaramindapatthaṃ, oruyhupāgacchi sabhaṃ kurūnaṃ;
Samāgate ekasataṃ samagge, avhettha yakkho avikampamāno.
He went to the city of Indapattha, descended, and approached the assembly of the Kurus. When a hundred kings had gathered in concord, the yakkha, unwavering, issued a challenge.
Vị ấy đã đi đến thành Indapattha, xuống ngựa và đi đến hội trường của xứ Kuru. Nơi một trăm vị (vua) đang hòa hợp hội họp, dạ-xoa đã không chút nao núng đưa ra lời thách đố.
1387.
1387.
1387.
‘‘Ko nīdha raññaṃ varamābhijeti, kamābhijeyyāma varaddhanena †;
Kamanuttaraṃ ratanavaraṃ jināma, ko vāpi no jeti varaddhanena’’.
“Who here among the kings is the supreme victor? Whom shall we conquer with superior wealth? What unsurpassed, excellent jewel shall we win? Or who indeed shall conquer us with superior wealth?”
‘Ở đây, ai trong số các vua sẽ chiến thắng được điều tốt nhất? Chúng tôi có thể chiến thắng ai với tài sản quý giá? Chúng tôi có thể thắng được viên ngọc quý vô song từ ai? Hoặc ai sẽ chiến thắng chúng tôi với tài sản quý giá?’
1388.
1388.
1388.
‘‘Kuhiṃ nu raṭṭhe tava jātibhūmi, na korabyasseva vaco tavedaṃ;
Abhītosi † no vaṇṇanibhāya sabbe, akkhāhi me nāmañca bandhave ca’’.
“In what land, pray, is your birthplace? This speech of yours is not that of a Kuru. By your appearance, you are fearless before us all; tell me your name and your kinsmen.”
‘Quê hương của ngươi ở xứ sở nào? Lời nói này của ngươi không giống của người Kuru. Ngươi không hề sợ hãi, dung mạo của ngươi giống như tất cả chúng ta. Hãy cho ta biết tên và quyến thuộc của ngươi.’
1389.
1389.
1389.
‘‘Kaccāyano māṇavakosmi rāja, anūnanāmo iti mavhayanti;
Aṅgesu me ñātayo bandhavā ca, akkhena devasmi idhānupatto’’.
“I am the young man Kaccāyana, O king; they call me Anūnanāma. My relatives and kinsmen are in Aṅga; I have come here for the sake of dicing.”
‘Tâu đại vương, tôi là một thanh niên thuộc dòng dõi Kaccāyana, họ gọi tôi là Anūnanāma. Thân quyến và bà con của tôi ở xứ Aṅga. Thưa ngài, tôi đến đây để chơi xúc xắc.’
1390.
1390.
1390.
‘‘Kiṃ māṇavassa ratanāni atthi, ye taṃ jinanto hare akkhadhutto;
Bahūni rañño ratanāni atthi, te tvaṃ daliddo kathamavhayesi’’.
“What treasures does this young man possess, which a gambler, winning from you, might take? The king has many treasures; how do you, a poor man, challenge him?”
‘Này chàng thanh niên, ngươi có những báu vật gì mà một tay cờ bạc khi thắng có thể lấy đi? Nhà vua có rất nhiều báu vật, ngươi là kẻ nghèo khó, làm sao dám thách thức các vị ấy?’
1391.
1391.
1391.
‘‘Manoharo nāma maṇī mamāyaṃ, manoharaṃ maṇiratanaṃ uḷāraṃ;
Imañca ājaññamamittatāpanaṃ, etaṃ me jinitvā hare akkhadhutto’’.
“This jewel of mine is named Manohara, a captivating and magnificent jewel-treasure; and this thoroughbred, the tormentor of foes—these things may the gambler take, having won them from me.”
‘Viên ngọc này của tôi tên là Manohara, một viên ngọc quý tuyệt vời và quyến rũ. Và cả con ngựa hay này, kẻ làm khổ não quân thù. Một tay cờ bạc khi thắng có thể lấy những thứ này của tôi.’
1392.
1392.
1392.
‘‘Eko maṇī māṇava kiṃ karissati, ājāniyeko pana kiṃ karissati;
Bahūni rañño maṇiratanāni atthi, ājāniyā vātajavā anappakā’’.
“What will one jewel do, young man? And what will one thoroughbred do? The king has many jewel-treasures, and not a few thoroughbreds swift as the wind.”
‘Này chàng thanh niên, một viên ngọc thì làm được gì? Và một con ngựa hay thì làm được gì? Nhà vua có rất nhiều ngọc quý, và không ít những con ngựa hay, nhanh như gió.’
Dohaḷakaṇḍaṃ nāma.
The Chapter on Pregnancy-Longing.
Phẩm Nói Về Sự Thèm Muốn Khi Mang Thai.
Maṇikaṇḍaṃ
The Chapter on the Jewel
Phẩm Nói Về Viên Ngọc.
1393.
1393.
1393.
‘‘Idañca me maṇiratanaṃ, passa tvaṃ dvipaduttama;
Itthīnaṃ viggahā cettha, purisānañca viggahā.
“And behold this jewel-treasure of mine, O best of bipeds; herein are the forms of women, and the forms of men.
‘Và đây là viên ngọc quý của tôi, xin ngài hãy nhìn, hỡi bậc tối thượng trong loài hai chân. Trong viên ngọc này có hình ảnh của những người nữ, và cả hình ảnh của những người nam.’
1394.
1394.
1394.
‘‘Migānaṃ viggahā cettha, sakuṇānañca viggahā;
Nāgarājā supaṇṇā ca †, maṇimhi passa nimmitaṃ.
“Herein are the forms of beasts, and the forms of birds; see Nāga kings and Supaṇṇas, fashioned in the jewel.
“Ở đây có cảnh tranh đấu của các loài thú, và cảnh tranh đấu của các loài chim; có cả các vua Rồng và các chim Thần cánh vàng, hãy xem được tạo ra trong viên ngọc.”
1395.
1395.
1395.
‘‘Hatthānīkaṃ rathānīkaṃ, asse pattī ca vammine †;
Caturaṅginimaṃ senaṃ, maṇimhi passa nimmitaṃ.
“The elephant corps, the chariot corps, horses, and armored foot soldiers; see this fourfold army fashioned in the jewel.
“Tượng binh, xa binh, kỵ binh, và bộ binh mặc áo giáp; hãy xem bốn binh chủng này được tạo ra trong viên ngọc.”
1396.
1396.
1396.
‘‘Hatthārohe anīkaṭṭhe, rathike pattikārake;
Balaggāni viyūḷhāni †, maṇimhi passa nimmitaṃ.
“Elephant riders, front-line soldiers, charioteers, and foot soldiers; see the divisions of the army arrayed, fashioned in the jewel.
“Những người cỡi voi, các tướng lãnh, những người đánh xe, các binh sĩ; các đội quân được dàn trận, hãy xem được tạo ra trong viên ngọc.”
1397.
1397.
1397.
‘‘Puraṃ uddhāpasampannaṃ †, bahupākāratoraṇaṃ;
Siṅghāṭakesu bhūmiyo, maṇimhi passa nimmitaṃ.
“A city complete with lofty ramparts, with many walls and archways; see the grounds at the crossroads, fashioned in the jewel.
“Thành phố có các thành lũy, nhiều tường thành và cổng chào; các khu đất ở các ngã tư, hãy xem được tạo ra trong viên ngọc.”
1398.
1398.
1398.
‘‘Esikā parikhāyo ca, palikhaṃ aggaḷāni ca;
Aṭṭālake ca dvāre ca, maṇimhi passa nimmitaṃ.
“Palisades and moats, trenches and crossbars; watchtowers and gates—see them fashioned in the jewel.
“Các cột trụ và các hào nước, các rãnh và các thanh ngang; các tháp canh và các cổng thành, hãy xem được tạo ra trong viên ngọc.”
1399.
1399.
1399.
‘‘Passa toraṇamaggesu, nānādijā gaṇā bahū;
Haṃsā koñcā mayūrā ca, cakkavākā ca kukkuhā.
“See at the archway paths many flocks of diverse birds: swans, cranes, and peacocks, ruddy geese and cuckoos.
“Hãy xem trên các lối đi ở cổng chào, có nhiều đàn chim đủ loại; thiên nga, diệc, công, và ngỗng trời, chim cu.”
1400.
1400.
1400.
‘‘Kuṇālakā bahū citrā, sikhaṇḍī jīvajīvakā;
Nānādijagaṇākiṇṇaṃ, maṇimhi passa nimmitaṃ.
“Many colorful kuṇāla birds, peacocks, and jīvajīvaka birds; see the jewel thronged with flocks of diverse birds, fashioned therein.
“Nhiều chim cúc cu sặc sỡ, chim công, chim đa đa; (cảnh) đầy dẫy các đàn chim đủ loại, hãy xem được tạo ra trong viên ngọc.”
1401.
1401.
1401.
‘‘Passa nagaraṃ supākāraṃ, abbhutaṃ lomahaṃsanaṃ;
Samussitadhajaṃ rammaṃ, soṇṇavālukasanthataṃ.
“Behold the city with its fine ramparts, amazing and hair-raising; with banners raised high, delightful, strewn with golden sand.
“Hãy xem thành phố có tường thành vững chắc, kỳ diệu và làm dựng tóc gáy; với cờ xí bay phất phới, đẹp đẽ, được rải bằng cát vàng.”
1402.
1402.
1402.
‘‘Passettha † paṇṇasālāyo, vibhattā bhāgaso mitā;
Nivesane nivese ca, sandhibyūhe pathaddhiyo.
“See here the leaf huts, divided and measured in sections; dwellings within dwellings, and well-arranged junctions and main roads.
“Hãy xem ở đây các am lá, được phân chia và đo đạc thành từng phần; trong các nơi cư trú và nhà ở, các nơi giao nhau, các đội hình, và các đường phố.”
1403.
1403.
1403.
‘‘Pānāgāre ca soṇḍe ca, sūnā † odaniyā gharā;
Vesī ca gaṇikāyo ca, maṇimhi passa nimmitaṃ.
“Drinking houses and taverns, slaughterhouses and cook-shops; prostitutes and courtesans—behold them fashioned in the jewel.
“Các quán rượu và các tiệm rượu, các lò mổ, các quán cơm; các kỹ nữ và các gái điếm, hãy xem được tạo ra trong viên ngọc.”
1404.
1404.
1404.
‘‘Mālākāre ca rajake, gandhike atha dussike;
Suvaṇṇakāre maṇikāre, maṇimhi passa nimmitaṃ.
“Garland-makers and dyers, perfumers and cloth-merchants; goldsmiths and jewelers—see them fashioned in the jewel.
“Những người làm vòng hoa và những người thợ nhuộm, những người bán nước hoa rồi đến những người bán vải; những người thợ vàng, những người thợ ngọc, hãy xem được tạo ra trong viên ngọc.”
1405.
1405.
1405.
‘‘Āḷārike ca sūde ca, naṭanāṭakagāyino;
Pāṇissare kumbhathūnike, maṇimhi passa nimmitaṃ.
“Cooks and chefs, dancers, actors, and singers; hand-clappers and pot-drummers—behold them fashioned in the jewel.
“Những người đầu bếp và những người nấu ăn, những vũ công, diễn viên, ca sĩ; những người vỗ tay, những người nhào lộn với chum, hãy xem được tạo ra trong viên ngọc.”
1406.
1406.
1406.
‘‘Passa bherī mudiṅgā ca, saṅkhā paṇavadindimā;
Sabbañca tāḷāvacaraṃ, maṇimhi passa nimmitaṃ.
“See the kettle-drums and tabors, conches, paṇava-drums, and diṇḍima-drums; and all manner of rhythmic instruments—behold them fashioned in the jewel.”
“Hãy xem các trống lớn và trống nhỏ, các tù và, trống cơm, và trống con; và tất cả các nhạc cụ gõ, hãy xem được tạo ra trong viên ngọc.”
1407.
1407.
1407.
‘‘Sammatālañca vīṇañca, naccagītaṃ suvāditaṃ;
Tūriyatāḷitasaṅghuṭṭhaṃ, maṇimhi passa nimmitaṃ.
Cymbals and lutes, dances and songs sweetly played; the sound of instruments being struck—behold them fashioned in the jewel.
“Cả chập chõa và đàn tỳ bà, điệu múa và bài hát được trình diễn hay; âm thanh vang dội của nhạc cụ và tiếng vỗ tay, hãy xem được tạo ra trong viên ngọc.”
1408.
1408.
1408.
‘‘Laṅghikā muṭṭhikā cettha, māyākārā ca sobhiyā;
Vetālike † ca jalle ca, maṇimhi passa nimmitaṃ.
Acrobats and boxers are here, magicians and showmen; bards and jesters—behold them fashioned in the jewel.
“Ở đây có những người nhào lộn và các võ sĩ, các nhà ảo thuật và các người làm trò; các người ngâm thơ và các anh hề, hãy xem được tạo ra trong viên ngọc.”
1409.
1409.
1409.
‘‘Samajjā cettha vattanti, ākiṇṇā naranāribhi;
Mañcātimañce bhūmiyo, maṇimhi passa nimmitaṃ.
Festivals are held here, thronged with men and women; grounds with platforms upon platforms—behold them fashioned in the jewel.
“Ở đây có các lễ hội đang diễn ra, đông đúc nam và nữ; các khán đài chồng lên nhau, các khu đất, hãy xem được tạo ra trong viên ngọc.”
1410.
1410.
1410.
‘‘Passa malle samajjasmiṃ, phoṭente † diguṇaṃ bhujaṃ;
Nihate nihatamāne ca, maṇimhi passa nimmitaṃ.
Behold the wrestlers in the assembly, slapping their doubled arms; the defeated and the victors—behold them fashioned in the jewel.
“Hãy xem các đô vật trong đấu trường, đang vỗ vào hai cánh tay; người bị đánh bại và người đang bị đánh bại, hãy xem được tạo ra trong viên ngọc.”
1411.
1411.
1411.
‘‘Passa pabbatapādesu, nānāmigagaṇā bahū;
Sīhā byagghā varāhā ca, acchakokataracchayo.
Behold at the foot of the mountains many herds of diverse beasts: lions, tigers, boars, bears, wolves, and hyenas.
“Hãy xem ở chân núi, có nhiều đàn thú đủ loại; sư tử, cọp, và heo rừng, gấu, chó sói, và linh cẩu.”
1412.
1412.
1412.
‘‘Palāsādā gavajā ca, mahiṃsā rohitā rurū;
Eṇeyyā ca varāhā † ca, gaṇino nīka † sūkarā.
Antelopes, wild oxen, buffaloes, roe deer, and spotted deer; gazelles, boars, and herds of pigs.
“Tê giác và bò tót, trâu, nai đỏ, và hươu Ruru; linh dương đen và heo rừng, các đàn lợn đủ loại.”
1413.
1413.
1413.
‘‘Kadalimigā bahū citrā, biḷārā sasakaṇṭakā;
Nānāmigagaṇākiṇṇaṃ, maṇimhi passa nimmitaṃ.
Many colorful musk deer, cats, and porcupines; thronged with flocks of diverse beasts, behold it fashioned in the jewel.
“Nhiều hươu Kadali sặc sỡ, mèo, thỏ, và nhím; (cảnh) đầy dẫy các đàn thú đủ loại, hãy xem được tạo ra trong viên ngọc.”
1414.
1414.
1414.
‘‘Najjāyo supatitthāyo, soṇṇavālukasanthatā;
Acchā savanti ambūni, macchagumbanisevitā.
Rivers with good fords, strewn with golden sand; clear waters flow, frequented by schools of fish.
“Các dòng sông có bến nước tốt, được rải bằng cát vàng; nước trong xanh chảy trôi, có các đàn cá bơi lội.”
1415.
1415.
1415.
‘‘Kumbhīlā makarā cettha, susumārā ca kacchapā;
Pāṭhīnā pāvusā macchā, balajā † muñjarohitā.
Crocodiles and makaras are here, dolphins and turtles too; pāṭhīna fish, pāvusa fish, balaja fish, and muñjarohita fish.
“Ở đây có cá sấu và các loài thủy quái, cá heo và rùa; cá Pāṭhīna, cá Pāvusa, cá Balaja, cá Muñja, và cá Rohita.”
1416.
1416.
1416.
‘‘Nānādijagaṇākiṇṇā, nānādumagaṇāyutā;
Veḷuriyaka-rodāyo †, maṇimhi passa nimmitaṃ.
Thronged with flocks of diverse birds, endowed with groves of diverse trees; with banks of lapis lazuli, behold them fashioned in the jewel.
“(Các dòng sông) đầy dẫy các đàn chim đủ loại, có các lùm cây đủ loại; có các bờ sông bằng ngọc lưu ly, hãy xem được tạo ra trong viên ngọc.”
1417.
1417.
1417.
‘‘Passettha pokkharaṇiyo, suvibhattā catuddisā;
Nānādijagaṇākiṇṇā, puthulomanisevitā.
Behold here the lotus ponds, well-divided in the four directions; thronged with flocks of diverse birds, frequented by large fish.
“Hãy xem ở đây các hồ sen, được phân chia rõ ràng ở bốn phương; đầy dẫy các đàn chim đủ loại, có các loài cá lớn bơi lội.”
1418.
1418.
1418.
‘‘Samantodakasampannaṃ, mahiṃ sāgarakuṇḍalaṃ;
Upetaṃ vanarājehi, maṇimhi passa nimmitaṃ.
Endowed with water all around, the earth with the ocean as its girdle; endowed with rows of forests—behold it fashioned in the jewel.
“Trái đất được bao quanh bởi nước, với đại dương làm hoa tai; được trang bị bởi các khu rừng lớn, hãy xem được tạo ra trong viên ngọc.”
1419.
1419.
1419.
‘‘Purato videhe passa, goyāniye ca pacchato;
Kuruyo jambudīpañca, maṇimhi passa nimmitaṃ.
Behold Videha in front, and Aparagoyāna behind; Kuru and Jambudīpa—behold them fashioned in the jewel.
“Hãy xem châu Videha ở phía trước, và châu Goyāniya ở phía sau; châu Kuru và châu Jambudīpa, hãy xem được tạo ra trong viên ngọc.”
1420.
1420.
1420.
‘‘Passa candaṃ sūriyañca, obhāsante catuddisā;
Sineruṃ anupariyante, maṇimhi passa nimmitaṃ.
Behold the moon and sun, illuminating the four directions, circling around Sineru—behold them fashioned in the jewel.
“Hãy xem mặt trăng và mặt trời, đang chiếu sáng bốn phương; đang đi vòng quanh núi Sineru, hãy xem được tạo ra trong viên ngọc.”
1421.
1421.
1421.
‘‘Sineruṃ himavantañca, sāgarañca mahītalaṃ †;
Cattāro ca mahārāje, maṇimhi passa nimmitaṃ.
Sineru and the Himalayas, the ocean and the surface of the earth; and the four Great Kings—behold them fashioned in the jewel.
“Núi Sineru và dãy Himavanta, đại dương và mặt đất; và Tứ Đại Thiên Vương, hãy xem được tạo ra trong viên ngọc.”
1422.
1422.
1422.
‘‘Ārāme vanagumbe ca, pāṭiye † ca siluccaye;
Ramme kimpurisākiṇṇe, maṇimhi passa nimmitaṃ.
In parks and woodland thickets, on slopes and rocky heights, delightful places thronged with kimpurisas—behold them fashioned in the jewel.
“Các khu vườn và các lùm cây trong rừng, các sườn núi và các đỉnh núi đá; đẹp đẽ, đầy dẫy các vị Khẩn Na La, hãy xem được tạo ra trong viên ngọc.”
1423.
1423.
1423.
‘‘Phārusakaṃ cittalataṃ, missakaṃ nandanaṃ vanaṃ;
Vejayantañca pāsādaṃ, maṇimhi passa nimmitaṃ.
The Phārusaka, Cittalata, Missaka, and Nandana forests; and the Vejayanta palace—behold them fashioned in the jewel.
“Vườn Phārusaka, vườn Cittalatā, vườn Missaka, và rừng Nandana; và cung điện Vejayanta, hãy xem được tạo ra trong viên ngọc.”
1424.
1424.
1424.
‘‘Sudhammaṃ tāvatiṃsañca, pārichattañca pupphitaṃ;
Erāvaṇaṃ nāgarājaṃ, maṇimhi passa nimmitaṃ.
The Sudhammā hall and Tāvatiṃsa, and the Pārichatta tree in bloom; and Erāvaṇa, the king of elephants—behold them fashioned in the jewel.
Hãy xem trong viên ngọc được tạo ra: Pháp đường Sudhammā và cõi trời Ba Mươi Ba, cây Pārichatta đang trổ hoa, và voi chúa Erāvaṇa.
1425.
1425.
1425.
‘‘Passettha devakaññāyo, nabhā vijjurivuggatā;
Nandane vicarantiyo, maṇimhi passa nimmitaṃ.
Behold here the celestial maidens, risen from the sky like lightning, wandering in Nandana—behold them fashioned in the jewel.
Hãy xem trong viên ngọc được tạo ra: Các thiên nữ, như tia chớp loé lên từ bầu trời, đang dạo chơi trong vườn Nandana.
1426.
1426.
1426.
‘‘Passettha devakaññāyo, devaputtapalobhinī;
Devaputte ramamāne †, maṇimhi passa nimmitaṃ.
Behold here the celestial maidens, enticing the sons of gods; and the sons of gods delighting—behold them fashioned in the jewel.
Hãy xem trong viên ngọc được tạo ra: Các thiên nữ đang quyến rũ các thiên tử, và các thiên tử đang vui đùa.
1427.
1427.
1427.
‘‘Parosahassapāsāde, veḷuriyaphalasanthate;
Pajjalante ca † vaṇṇena, maṇimhi passa nimmitaṃ.
A palace with over a thousand pinnacles, strewn with beryl slabs, and blazing with color—behold it fashioned in the jewel.
Hãy xem trong viên ngọc được tạo ra: Hơn một ngàn lâu đài, được lát bằng những phiến ngọc lưu ly, và đang rực rỡ sắc màu.
1428.
1428.
1428.
‘‘Tāvatiṃse ca yāme ca, tusite cāpi nimmite;
Paranimmitavasavattino †, maṇimhi passa nimmitaṃ.
The Tāvatiṃsa, Yāma, Tusita, and Nimmānarati realms, and the Paranimmitavasavattī gods—behold them fashioned in the jewel.
Hãy xem trong viên ngọc được tạo ra: Cõi trời Ba Mươi Ba và Dạ Ma, cả Đâu Suất và Hóa Lạc, và cõi Tha Hóa Tự Tại.
1429.
1429.
1429.
‘‘Passettha pokkharaṇiyo, vippasannodikā sucī;
Mandālakehi sañchannā, padumuppalakehi ca.
Behold here the lotus ponds, with very clear and pure water, covered with mandārava flowers, lotuses, and water lilies.
Hãy xem các hồ sen, nước trong vắt và tinh khiết, được bao phủ bởi hoa Mandālaka, cùng với hoa sen hồng và hoa sen xanh.
1430.
1430.
1430.
‘‘Dasettha rājiyo setā, dasanīlā † manoramā;
Cha piṅgalā pannarasa, haliddā ca catuddasa.
Here are ten white lines, ten delightful blue ones; six tawny, fifteen, and fourteen yellow.
Ở đây có mười hàng sen trắng, mười hàng sen xanhน่ารัก, sáu hàng màu hung đỏ, mười lăm hàng, và mười bốn hàng màu vàng nghệ.
1431.
1431.
1431.
‘‘Vīsati tattha sovaṇṇā, vīsati rajatāmayā;
Indagopakavaṇṇābhā, tāva dissanti tiṃsati.
Twenty there are golden, twenty made of silver; thirty are seen there, shining with the color of Indagopaka insects.
Ở đó có hai mươi hàng màu vàng kim, hai mươi hàng làm bằng bạc; và ba mươi hàng được thấy, tỏa sáng với màu của con bọ rùa.
1432.
1432.
1432.
‘‘Dasettha kāḷiyo chacca, mañjeṭṭhā pannavīsati;
Missā bandhukapupphehi, nīluppalavicittikā.
Here are ten black ones, and six, and twenty-five madder-red; mixed with bandhuka flowers, adorned with blue water lilies.
Ở đây có mười sáu hàng sen đen, hai mươi lăm hàng màu đỏ thẫm, xen lẫn với hoa Bandhuka, và điểm xuyết với hoa sen xanh.
1433.
1433.
1433.
‘‘Evaṃ sabbaṅgasampannaṃ, accimantaṃ pabhassaraṃ;
Odhisuṅkaṃ mahārāja, passa tvaṃ dvipaduttama’’.
Thus endowed with every feature, blazing and radiant, behold this prize, O great king, O supreme among bipeds.”
Thưa Đại vương, thưa đấng Tối thượng của loài hai chân, Ngài hãy xem vật cược này, hoàn hảo về mọi mặt, rực lửa và sáng chói.
Maṇikaṇḍaṃ nāma.
The Chapter on the Jewel.
Phần về Viên ngọc.
Akkhakaṇḍaṃ
The Chapter on Dice
Phần về Con súc sắc
1434.
1434.
1434.
‘‘Upāgataṃ rāja mupehi lakkhaṃ, netādisaṃ maṇiratanaṃ tavatthi;
Dhammena jissāma † asāhasena, jito ca no khippamavākarohi.
“Come now, O king, accept the wager! You do not possess such a jewel-treasure. By righteousness we shall win, not by force; and if you are defeated, yield it to us quickly.
Thưa đức vua, hãy đến với vật cược đã được đưa ra, ngài không có viên ngọc quý nào như thế này. Chúng ta sẽ chiến thắng một cách công bằng, không dùng bạo lực. Và nếu bị thua, hãy nhanh chóng giao nộp cho chúng tôi.
1435.
1435.
1435.
‘‘Pañcāla -paccuggata-sūrasena, macchā † ca maddā saha kekakebhi;
Passantu note asaṭhena yuddhaṃ, na no sabhāyaṃ na karonti kiñci’’.
“Let the Pañcālas who have come forth, the Sūrasenas, the Macchas, and the Maddas together with the Kekakas witness our contest without deceit; they do nothing for us in this assembly.”
Hãy để các vua Pañcāla, Sūrasena, Macchā, Maddā cùng với các vua Kekaka, những người không làm gì trong hội chúng của chúng ta, hãy để họ xem cuộc đấu không gian lận của ngài.
1436.
1436.
1436.
‘‘Te pāvisuṃ akkhamadena mattā, rājā kurūnaṃ puṇṇako cāpi yakkho;
Rājā kaliṃ viccinamaggahesi, kaṭaṃ aggahī puṇṇako nāma yakkho.
Intoxicated with the thrill of dice, they entered—the king of the Kurus and also the yakkha Puṇṇaka. The king chose and took the losing throw; the yakkha named Puṇṇaka took the winning one.
Họ bước vào, say sưa với đam mê súc sắc, vị vua của xứ Kuru và cả dạ xoa Puṇṇaka. Nhà vua, sau khi lựa chọn, đã cầm lấy con súc sắc thua; dạ xoa tên Puṇṇaka đã cầm lấy con súc sắc thắng.
1437.
1437.
1437.
‘‘Te tattha jūte ubhaye samāgate, raññaṃ sakāse sakhīnañca majjhe;
Ajesi yakkho naravīraseṭṭhaṃ, tatthappanādo tumulo babhūva’’.
There at the dice game, both having come together in the presence of kings and among friends, the yakkha defeated the best of heroic men, and a great, tumultuous shout of applause arose there.
Khi cả hai cùng tham gia vào ván súc sắc ở đó, trước sự hiện diện của các vị vua và giữa những người bạn, dạ xoa đã chiến thắng vị anh hùng lỗi lạc nhất. Bấy giờ, một tiếng huyên náo ầm ĩ đã nổi lên.
1438.
1438.
1438.
‘‘Jayo mahārāja parājayo ca, āyūhataṃ aññatarassa hoti;
Janinda jīnosi † varaddhanena, jito ca me khippamavākarohi’’.
“Victory, O great king, and defeat—for those who compete, one or the other occurs. Lord of men, you have been defeated for the noble stake; yield to me quickly what has been won.”
Thưa Đại vương, chiến thắng và thất bại, xảy đến cho một trong hai người tranh đấu. Thưa đức vua, ngài đã bị thua mất tài sản quý giá nhất. Hãy nhanh chóng giao nộp cho tôi vật đã bị tôi thắng được.
1439.
1439.
1439.
‘‘Hatthī gavassā maṇikuṇḍalā ca, yañcāpi mayhaṃ † ratanaṃ pathabyā;
Gaṇhāhi kaccāna varaṃ dhanānaṃ, ādāya yenicchasi tena gaccha’’.
“Elephants, cattle and horses, jeweled earrings, and whatever other treasure of mine is on earth—take, Kaccāna, the choicest of wealth, and having taken it, go wherever you wish.”
Voi, ngựa, và các đôi bông tai bằng ngọc, và bất cứ bảo vật nào khác của ta trên mặt đất; hỡi Kaccāna, hãy nhận lấy những tài sản quý giá nhất này, và sau khi nhận lấy, hãy đi đến bất cứ nơi nào ngươi muốn.
1440.
1440.
1440.
‘‘Hatthī gavassā maṇikuṇḍalā ca, yañcāpi tuyhaṃ ratanaṃ pathabyā;
Tesaṃ varo vidhuro nāma kattā, so me jito taṃ me avākarohi’’.
“Elephants, cattle and horses, jeweled earrings, and whatever other treasure of yours is on earth—the best among them is the minister named Vidhura. He has been won by me; yield him to me.”
Voi, ngựa, và các đôi bông tai bằng ngọc, và bất cứ bảo vật nào khác của ngài trên mặt đất; quý giá nhất trong số đó là vị quân sư tên Vidhura. Ông ấy đã bị tôi thắng được, hãy giao ông ấy cho tôi.
1441.
1441.
1441.
‘‘Attā ca me so saraṇaṃ gatī ca, dīpo ca leṇo ca parāyaṇo ca;
Asantuleyyo mama so dhanena, pāṇena me sādiso esa kattā’’.
“He is my very self, my refuge and my resort, my island, my shelter, and my final support. He is incomparable to me with any wealth; this minister is like my very life.”
Ông ấy là tự thân của ta, là nơi nương tựa và là đường đi của ta, là hòn đảo, là nơi ẩn náu, và là cứu cánh của ta. Ta không thể cân đo ông ấy với của cải; vị quân sư ấy cũng giống như mạng sống của ta.
1442.
1442.
1442.
‘‘Ciraṃ vivādo mama tuyhañcassa, kāmañca pucchāma tameva gantvā;
Esova no vivaratu etamatthaṃ, yaṃ vakkhatī hotu kathā † ubhinnaṃ’’.
“Long would this dispute between you and me last. Let us go and ask him as we please; let him resolve this matter for us. Whatever he says shall be the word for both of us.”
Cuộc tranh cãi giữa ta và ngươi sẽ còn kéo dài. Tốt hơn chúng ta hãy đi hỏi chính ông ấy. Hãy để chính ông ấy giải thích vấn đề này cho chúng ta. Bất cứ điều gì ông ấy nói, hãy để đó là lời quyết định cho cả hai.
1443.
1443.
1443.
‘‘Addhā hi saccaṃ bhaṇasi, na ca māṇava sāhasaṃ;
Tameva gantvā pucchāma, tena tussāmubho janā’’.
“Indeed, young man, you speak truthfully and without rashness. Let us go and ask him; then both of us will be satisfied.”
Chắc chắn rồi, ngươi nói đúng sự thật, và điều đó không phải là hành động vội vàng, hỡi chàng thanh niên. Chúng ta hãy đi hỏi chính ông ấy, nhờ đó cả hai chúng ta sẽ được hài lòng.
1444.
1444.
1444.
‘‘Saccaṃ nu devā vidahū kurūnaṃ, dhamme ṭhitaṃ vidhuraṃ nāmamaccaṃ;
Dāsosi rañño uda vāsi ñāti, vidhuroti saṅkhā katamāsi loke’’.
“Is it true, sir, that the Kurus know of the minister named Vidhura, who is established in righteousness? Are you the king’s slave or his kinsman? For what reason are you known in the world as ‘Vidhura’?”
Thưa Vidhura, bậc trí tuệ của xứ Kuru, người an trú trong Chánh pháp, có thật chăng điều này: Ngài là nô lệ của đức vua hay là quyến thuộc? Ngài được xem là gì trên đời?
1445.
1445.
1445.
‘‘Āmāyadāsāpi bhavanti heke, dhanena kītāpi bhavanti dāsā;
Sayampi heke upayanti dāsā, bhayā paṇunnāpi bhavanti dāsā.
“Some are slaves by birth, some are bought with wealth; some enter into servitude of their own accord, and some become slaves driven by fear.”
Có những người là nô lệ từ trong bụng mẹ, có những người là nô lệ do được mua bằng tiền; có những người tự nguyện làm nô lệ, và có những người trở thành nô lệ do bị nỗi sợ hãi xui khiến.
1446.
1446.
1446.
‘‘Ete narānaṃ caturova dāsā, addhā hi yonito ahampi jāto;
Bhavo ca rañño abhavo ca rañño, dāsāhaṃ devassa parampi gantvā;
Dhammena maṃ māṇava tuyha dajjā’’.
“These four are indeed the slaves of men. Surely I too was born from a womb. In the king’s prosperity and in the king’s decline, I am a slave of my lord, having gone even beyond. Righteously, O young man, he should give me to you.”
Đây là bốn loại nô lệ của con người. Chắc chắn rằng tôi cũng được sinh ra từ bụng mẹ. Sự thịnh suy của đức vua cũng là sự thịnh suy của tôi. Tôi là nô lệ của đức vua, ngay cả khi đi đến thế giới bên kia. Hỡi chàng thanh niên, hãy để ngài ấy trao tôi cho ngươi một cách hợp pháp.
1447.
1447.
1447.
‘‘Ayaṃ † dutīyo vijayo mamajja, puṭṭho hi kattā vivarettha † pañhaṃ;
Adhammarūpo vata rājaseṭṭho, subhāsitaṃ nānujānāsi mayhaṃ’’.
“This is my second victory today, for, being questioned, the minister has explained the matter. Truly, this foremost of kings is unrighteous; you do not approve of my well-spoken words.”
Hôm nay đây là chiến thắng thứ hai của ta, vì vị quân sư, khi được hỏi, đã giải đáp vấn đề. Than ôi, vị vua cao quý nhất quả là có bản chất bất chính, ngài không chấp thuận những lời nói tốt đẹp của ta.
1448.
1448.
1448.
‘‘Evaṃ ce no so vivarettha pañhaṃ, dāsohamasmi na ca khosmi ñāti;
Gaṇhāhi kaccāna varaṃ dhanānaṃ, ādāya yenicchasi tena gaccha’’.
“If he should not explain the question thus: ‘I am a slave, and not a relative,’ then take, Kaccāna, the best of riches; take what you desire and go where you wish.”
Nếu ông ấy đã giải đáp vấn đề cho chúng ta như vậy, rằng: 'Tôi là nô lệ, tôi không phải là quyến thuộc', thì hỡi Kaccāna, hãy nhận lấy tài sản quý giá nhất này. Sau khi nhận lấy, hãy đi đến bất cứ nơi nào ngươi muốn.
Akkhakaṇḍaṃ nāma.
The Section on Dice.
Phần về Con súc sắc.
Gharāvāsapañhā
The Question on Household Life
Những câu hỏi về đời sống tại gia
1449.
1449.
1449.
‘‘Vidhura vasamānāssa, gahaṭṭhassa sakaṃ gharaṃ;
Khemā vutti kathaṃ assa, kathannu assa saṅgaho.
“O Vidhura, for a householder living in his own home, how would his livelihood be secure? How indeed would he accumulate wealth?”
Thưa Vidhura, đối với một người gia chủ đang sống trong nhà của mình, làm thế nào để có được một sinh kế an ổn, và làm thế nào để có được sự tích lũy?
1450.
1450.
1450.
‘‘Abyābajjhaṃ † kathaṃ assa, saccavādī ca māṇavo;
Asmā lokā paraṃ lokaṃ, kathaṃ pecca na socati’’.
“How would he be free from ill will and be a speaker of truth, O young man? How, having passed on from this world to the next, does one not grieve?”
‘Làm thế nào để được không phiền não, và là người nói lời chân thật, hỡi thanh niên? Từ đời này sang đời khác, làm thế nào sau khi chết không sầu muộn?’
1451.
1451.
1451.
Taṃ tattha gatimā dhitimā, matimā atthadassimā;
Saṅkhātā † sabbadhammānaṃ, vidhuro etadabravi.
Then Vidhura—accomplished, resolute, intelligent, a seer of the goal, one who had comprehended all things—spoke thus:
Bậc trí tuệ, kiên trì, thông minh, thấy rõ ý nghĩa, người đã liễu tri tất cả các pháp, Vidhura, đã nói lên lời này.
1452.
1452.
1452.
‘‘Na sādhāraṇadārassa, na bhuñje sādumekako;
Na seve lokāyatikaṃ, netaṃ paññāya vaḍḍhanaṃ.
“He should not have a wife in common with others, nor should he enjoy delicacies alone. He should not pursue sophistry, for that is not conducive to the growth of wisdom.”
‘Không nên có vợ chung, không nên một mình ăn món ngon; không nên theo thế tục luận, điều này không phải là sự tăng trưởng của trí tuệ.’
1453.
1453.
1453.
‘‘Sīlavā vattasampanno, appamatto vicakkhaṇo;
Nivātavutti atthaddho, surato sakhilo mudu.
“He should be virtuous, accomplished in his duties, heedful, and discerning; of humble conduct, not obstinate, agreeable, friendly, and gentle.”
‘Là người có giới hạnh, thành tựu phận sự, không dể duôi, sáng suốt; có hạnh khiêm tốn, không kiêu căng, là người hiền hòa, thân mật, nhu mì.’
1454.
1454.
1454.
‘‘Saṅgahetā ca mittānaṃ, saṃvibhāgī vidhānavā;
Tappeyya annapānena, sadā samaṇabrāhmaṇe.
“He should be a unifier of friends, generous, and resourceful. He should always satisfy ascetics and brahmins with food and drink.”
‘Là người đoàn kết các bạn bè, là người biết chia sớt, là người có sự sắp đặt; nên luôn làm cho các vị Sa-môn, Bà-la-môn được thỏa thích với vật thực và đồ uống.’
1455.
1455.
1455.
‘‘Dhammakāmo sutādhāro, bhaveyya paripucchako;
Sakkaccaṃ payirupāseyya, sīlavante bahussute.
“He should be one who loves the Dhamma, a repository of learning, and inquisitive. He should respectfully attend upon the virtuous and the very learned.”
‘Nên là người ưa thích Chánh Pháp, là người chứa đựng điều đã được nghe, là người hay hỏi han; nên kính cẩn thân cận những vị có giới hạnh, có học thức sâu rộng.’
1456.
1456.
1456.
‘‘Gharamāvasamānassa, gahaṭṭhassa sakaṃ gharaṃ;
Khemā vutti siyā evaṃ, evaṃ nu assa saṅgaho.
“For a householder dwelling in his own home, thus would his livelihood be secure; thus indeed would he accumulate wealth.”
‘Đối với người gia chủ đang sống trong nhà của mình, như vậy sẽ là sự sinh sống được an ổn, như vậy chắc chắn sẽ là sự nhiếp trì.’
1457.
1457.
1457.
‘‘Abyābajjhaṃ siyā evaṃ, saccavādī ca māṇavo;
Asmā lokā paraṃ lokaṃ, evaṃ pecca na socati’’.
“Thus he would be without ill will and be a speaker of truth, O young man. Thus, having passed on from this world to the next, he does not grieve.”
‘Như vậy sẽ được không phiền não, và là người nói lời chân thật, hỡi thanh niên; từ đời này sang đời khác, như vậy sau khi chết không sầu muộn.’
Gharāvāsapañhā nāma.
The Question on Household Life.
Phẩm những câu hỏi về đời sống tại gia.
Lakkhaṇakaṇḍaṃ
The Section on Characteristics
Phẩm Tướng.
1458.
1458.
1458.
‘‘Ehi dāni gamissāma, dinno no issarena me;
Mamevatthaṃ † paṭipajja, esa dhammo sanantano’’.
“Come now, we shall go. You have been given to me by the lord. Submit to my purpose; this is the eternal law.”
‘Bây giờ, hãy đến, chúng ta sẽ đi. Ngươi đã được trao cho ta bởi vị chúa tể. Ngươi hãy thực hành vì lợi ích của ta, đây là quy luật vĩnh hằng.’
1459.
1459.
1459.
‘‘Jānāmi māṇava tayāhamasmi, dinnohamasmi tava issarena;
Tīhañca taṃ vāsayemu agāre, yenaddhunā anusāsemu putte’’.
“I know, young man, that I am yours; I have been given to you by your master. Let me stay at home for three days, that I may instruct my sons.”
‘Hỡi thanh niên, ta biết rằng ta là của ngươi, ta đã được trao bởi vị chúa tể của ngươi. Và chúng ta hãy ở lại trong nhà ba ngày, để trong thời gian ấy chúng ta có thể dạy dỗ các con trai.’
1460.
1460.
1460.
‘‘Taṃ me tathā hotu vasemu tīhaṃ, kurutaṃ bhavajja gharesu kiccaṃ;
Anusāsataṃ puttadāre bhavajja, yathā tayī pecca † sukhī bhaveyya’’.
“Let it be so for me; let us stay for three days. Do your duties in the house now. Instruct your wife and children now, so that when you have passed on, they may be happy.”
‘Điều ấy đối với ta hãy là như vậy, chúng ta hãy ở lại ba ngày. Các ngài hãy làm công việc ở trong nhà. Các ngài hãy dạy dỗ vợ con, để sau khi ngài ra đi, họ có thể được an lạc.’
1461.
1461.
1461.
‘‘Sādhūti vatvāna pahūtakāmo, pakkāmi yakkho vidhurena saddhiṃ;
Taṃ kuñjarājaññahayānuciṇṇaṃ, pāvekkhi antepuramariyaseṭṭho’’.
Saying, “Good,” the generous Yakkha departed with Vidhura. The noble chief entered the inner palace, a place frequented by royal elephants, nobles, and horses.
Sau khi đã nói: ‘Lành thay,’ dạ xoa có nhiều tham muốn đã ra đi cùng với Vidhura. Bậc Thánh tối thượng đã đi vào hậu cung, nơi thường lui tới của các con voi chúa và các con ngựa quý.
1462.
1462.
1462.
‘‘Koñcaṃ mayūrañca piyañca ketaṃ, upāgami tattha surammarūpaṃ;
Pahūtabhakkhaṃ bahuannapānaṃ, masakkasāraṃ viya vāsavassa’’.
There he approached a divinely beautiful place, with herons, peacocks, and beloved banners, abundant with food, with much to eat and drink, like the Masakkasāra garden of Vāsava.
Vị ấy đã đi đến nơi ấy, có hình thức rất khả ái, có chim hạc, chim công, và cây keta thân yêu, có nhiều vật thực, nhiều đồ ăn thức uống, giống như thành Masakkasāra của trời Đế Thích.
1463.
1463.
1463.
‘‘Tattha naccanti gāyanti, avhāyanti varāvaraṃ;
Accharā viya devesu, nāriyo samalaṅkatā.
There, well-adorned women danced and sang, calling out to one another, like celestial nymphs among the gods.
Ở nơi ấy, các người phụ nữ được trang điểm kỹ lưỡng đang nhảy múa, ca hát, và gọi mời nhau, những người xinh đẹp tuyệt vời, giống như các tiên nữ ở cõi trời.
1464.
1464.
1464.
‘‘Samaṅgikatvā pamadāhi yakkhaṃ, annena pānena ca dhammapālo;
Atthattha † mevānuvicintayanto, pāvekkhi bhariyāya tadā sakāse.
Having provided the Yakkha with female attendants, and with food and drink, Dhammapāla, reflecting only on the matter at hand, then approached his wife.
Sau khi đã cung phụng dạ xoa với các phụ nữ, với vật thực và đồ uống, vị Hộ Pháp, trong khi đang suy xét về lợi ích của mình, khi ấy đã đi đến bên cạnh người vợ.
1465.
1465.
1465.
‘‘Taṃ candanagandharasānulittaṃ, suvaṇṇajambonadanikkhasādisaṃ;
Bhariyaṃvacā ehi suṇohi bhoti, puttāni āmantaya tambanette.
He spoke to his wife, who was anointed with the fragrant essence of sandalwood and resembled an ornament of Jambu-river gold: ‘Come, listen, my lady. Summon the children, O you with copper-hued eyes.’”
Vị ấy đã nói với người vợ, người được thoa xức hương thơm của tinh chất chiên-đàn, tương tự như vòng vàng ở sông Jambu: ‘Này bà, hãy đến đây, hãy lắng nghe. Này người có đôi mắt màu đồng, hãy gọi các con trai.’
1466.
1466.
1466.
‘‘Sutvāna vākyaṃ patino anujjā †, suṇisaṃvaca tambanakhiṃ sunettaṃ;
Āmantaya vammadharāni cete, puttāni indīvarapupphasāme’’.
Having heard her husband’s words, Anujjā spoke to her daughter-in-law, who had copper-hued nails and beautiful eyes: ‘Summon these children, the armor-bearers, who are dark like blue lotus flowers.’”
Sau khi nghe lời nói của chồng, nàng Anujjā đã nói với con dâu, người có móng tay màu đồng, có đôi mắt đẹp: ‘Hãy gọi các con trai này, những người mang áo giáp, có màu sậm giống như hoa sen xanh.’
1467.
1467.
1467.
‘‘Te āgate muddhani dhammapālo, cumbitvā putte avikampamāno;
Āmantayitvāna avoca vākyaṃ, dinnāhaṃ raññā idha māṇavassa.
When they had arrived, Dhammapāla, unshaken, kissed his sons on the head. Having addressed them, he spoke these words: ‘I have been given by the king to this young man here.’”
Khi các người con ấy đã đến, vị Hộ Pháp, trong khi không run sợ, sau khi đã hôn lên đầu các con trai, sau khi đã gọi bảo, đã nói lên lời rằng: ‘Ta đã được đức vua trao cho người thanh niên này ở đây.’
1468.
1468.
1468.
‘‘Tassajjahaṃ attasukhī vidheyyo, ādāya yenicchati tena gacchati;
Ahañca vo sāsitumāgatosmi †, kathaṃ ahaṃ aparittāya gacche.
“Today I am at his disposal for his own happiness, and compliant; having taken me, he goes wherever he wishes. And I have come to instruct you all; how could I depart without giving you counsel?”
‘Hôm nay, ta là người phải tuân theo ý muốn của người ấy. Sau khi mang ta đi, người ấy đi đến nơi nào mà người ấy mong muốn. Và ta đã đến để dạy dỗ các con, làm thế nào ta có thể ra đi mà không để lại sự bảo vệ?’
1469.
1469.
1469.
‘‘Sace vo rājā kururaṭṭhavāsī †, janasandho puccheyya pahūtakāmo;
Kimābhijānātha pure purāṇaṃ, kiṃ vo pitā anusāse puratthā.
“If King Janasandha, the ruler of the Kurus, being full of desires, should ask you: ‘What do you recall of former times in the city? What did your father advise you in the past?’”
‘Nếu đức vua, người ngự trị ở xứ Kuru, là chúa tể của dân chúng, là người có nhiều tham muốn, có hỏi các con rằng: ‘Các ngươi có biết gì về điều xưa cũ ở trong quá khứ không? Trước đây, cha của các ngươi đã dạy dỗ điều gì?’
1470.
1470.
1470.
‘‘Samāsanā hotha mayāva sabbe, konīdha rañño abbhatiko manusso;
Tamañjaliṃ kariya vadetha evaṃ, mā hevaṃ deva na hi esa dhammo;
Viyaggharājassa nihīnajacco, samāsano deva kathaṃ bhaveyya’’.
“All of you, be of one mind with me. Who here is a man superior to the king? Having paid homage, you should speak thus: ‘Let it not be so, Your Majesty, for this is not right. How could one of lowly birth, a subject of the tiger-king, be of equal standing with you, Your Majesty?’”
‘Tất cả chúng con hãy ngồi cùng chỗ với ta. Ở đây, người nào là người vượt trội hơn đức vua?’ Chắp tay lại, các con hãy nói như vầy: ‘Tâu Thiên tử, xin đừng như vậy, vì điều này không phải là Chánh Pháp. Tâu Thiên tử, làm thế nào người có dòng dõi thấp kém lại có thể ngồi cùng chỗ với vua cọp?’
Lakkhaṇakaṇḍaṃ † nāma.
The Section on Characteristics.
Phẩm Tướng.
Rājavasati
On Dwelling with the King
Sự cư ngụ với đức vua.
1471.
1471.
1471.
‘‘So ca putte † amacce ca, ñātayo suhadajjane;
Alīnamanasaṅkappo, vidhuro etadabravi.
Then Vidhura, with unshrinking resolve of mind, spoke this to his sons and ministers, to his kinsmen, friends, and associates:
Và vị ấy, Vidhura, với ý chí không nao núng, đã nói lên lời này với các con trai, các vị bộ trưởng, các quyến thuộc, và các bạn bè thân hữu.
1472.
1472.
1472.
‘‘Ethayyo † rājavasatiṃ, nisīditvā suṇātha me;
Yathā rājakulaṃ patto, yasaṃ poso nigacchati.
“Come, sirs, sit down and listen to me regarding dwelling with the king: how a person who has entered a royal household attains fame.”
‘Này các ngài, hãy đến đây, sau khi ngồi xuống, hãy lắng nghe ta về sự cư ngụ với đức vua, về cách thức mà người đã đến gia đình hoàng tộc đạt được danh tiếng.’
1473.
1473.
1473.
‘‘Na hi rājakulaṃ patto, aññāto labhate yasaṃ;
Nāsūro nāpi dummedho, nappamatto kudācanaṃ.
“For one who has entered a royal household does not gain fame by being unknown; nor does a coward, a fool, or a heedless person ever gain it.”
‘Sau khi đã đến gia đình hoàng tộc, người không được biết đến không đạt được danh tiếng. Người không phải anh hùng, cả người có trí tuệ xấu, người dể duôi, không bao giờ (đạt được).’
1474.
1474.
1474.
‘‘Yadāssa sīlaṃ paññañca, soceyyaṃ cādhigacchati;
Atha vissasate tyamhi, guyhañcassa na rakkhati.
“When the king finds in him virtue, wisdom, and purity, then he trusts him and does not keep his own secrets from him.”
‘Khi vị vua nhận thấy được giới hạnh, trí tuệ, và sự trong sạch của người ấy, bấy giờ vị ấy tin tưởng ở người kia và không giữ gìn điều bí mật của mình.’
1475.
1475.
1475.
‘‘Tulā yathā paggahitā, samadaṇḍā sudhāritā;
Ajjhiṭṭho na vikampeyya, sa rājavasatiṃ vase.
“Like a scale held up, with beam balanced and well-supported, he should not waver when appointed to a task; such a one may dwell with the king.”
‘Giống như cái cân được cầm lên, có đòn cân bằng, được giữ gìn kỹ lưỡng, người được yêu cầu không nên dao động, người ấy có thể cư ngụ với đức vua.’
1476.
1476.
1476.
‘‘Tulā yathā paggahitā, samadaṇḍā sudhāritā;
Sabbāni abhisambhonto, sa rājavasatiṃ vase.
“Like a scale held up, with beam balanced and well-supported, accomplishing all things; such a one may dwell with the king.”
“Giống như chiếc cân được cầm lên, đòn cân ngang bằng, được giữ vững; người hoàn thành tất cả mọi việc, người ấy có thể sống trong sự phục vụ đức vua.
1477.
1477.
1477.
‘‘Divā vā yadi vā rattiṃ, rājakiccesu paṇḍito;
Ajjhiṭṭho na vikampeyya, sa rājavasatiṃ vase.
“Whether by day or by night, a wise man skilled in the king's affairs should not waver when appointed to a task; such a one may dwell with the king.”
“Dù là ban ngày hay là ban đêm, là người hiền trí trong các công việc của vua; khi được yêu cầu, không nên dao động, người ấy có thể sống trong sự phục vụ đức vua.
1478.
1478.
1478.
‘‘Divā vā yadi vā rattiṃ, rājakiccesu paṇḍito;
Sabbāni abhisambhonto, sa rājavasatiṃ vase.
“Whether by day or by night, a wise man skilled in the king's affairs, accomplishing all things; such a one may dwell with the king.”
“Dù là ban ngày hay là ban đêm, là người hiền trí trong các công việc của vua; người hoàn thành tất cả mọi việc, người ấy có thể sống trong sự phục vụ đức vua.
1479.
1479.
1479.
‘‘Yo cassa sukato maggo, rañño suppaṭiyādito;
Na tena vutto gaccheyya, sa rājavasatiṃ vase.
If there is a well-made path, well-prepared for him by the king, he should not go by it unless told; such a one may dwell in the royal residence.
“Con đường nào được làm tốt cho vị ấy, được đức vua chuẩn bị kỹ lưỡng; không được bảo, không nên đi theo con đường ấy, người ấy có thể sống trong sự phục vụ đức vua.
1480.
1480.
1480.
‘‘Na rañño sadisaṃ † bhuñje, kāmabhoge kudācanaṃ;
Sabbattha pacchato gacche, sa rājavasatiṃ vase.
He should never enjoy sensual pleasures equal to the king; in all things, he should walk behind; such a one may dwell in the royal residence.
“Không nên hưởng thụ các dục lạc giống như đức vua, vào bất cứ lúc nào; trong mọi nơi, nên đi phía sau, người ấy có thể sống trong sự phục vụ đức vua.
1481.
1481.
1481.
‘‘Na rañño sadisaṃ vatthaṃ, na mālaṃ na vilepanaṃ;
Ākappaṃ sarakuttiṃ vā, na rañño sadisamācare;
Aññaṃ kareyya ākappaṃ, sa rājavasatiṃ vase.
He should not wear clothing like the king’s, nor garlands, nor unguents. He should not adopt a bearing or manner similar to the king's; he should adopt a different bearing. Such a one may dwell in the royal residence.
“Không (dùng) y phục, vòng hoa, vật thoa giống như của đức vua; hay cách trang điểm, hay giọng nói, không nên hành xử giống như đức vua; nên thực hiện cách trang điểm khác, người ấy có thể sống trong sự phục vụ đức vua.
1482.
1482.
1482.
‘‘Kīḷe rājā amaccehi, bhariyāhi parivārito;
Nāmacco rājabhariyāsu, bhāvaṃ kubbetha paṇḍito.
When the king sports with his ministers, surrounded by his wives, a wise minister should not cultivate affection for the king’s wives.
“Đức vua vui đùa với các vị quan, được các bà vợ vây quanh; vị quan hiền trí không nên có tình ý với các bà vợ của vua.
1483.
1483.
1483.
‘‘Anuddhato acapalo, nipako saṃvutindriyo;
Manopaṇidhisampanno, sa rājavasatiṃ vase.
Not arrogant, not fickle, prudent, with senses restrained, endowed with mental resolve; such a one may dwell in the royal residence.
“Không kiêu căng, không dao động, khôn khéo, có các căn được thu thúc; người thành tựu sự quyết tâm của ý, người ấy có thể sống trong sự phục vụ đức vua.
1484.
1484.
1484.
‘‘Nāssa bhariyāhi kīḷeyya, na manteyya rahogato;
Nāssa kosā dhanaṃ gaṇhe, sa rājavasatiṃ vase.
He should not sport with the king’s wives, nor confer with them in private. He should not take wealth from the treasury; such a one may dwell in the royal residence.
“Không nên vui đùa với các bà vợ của vị ấy, không nên bàn bạc ở nơi kín đáo; không nên lấy tài sản từ kho tàng của vị ấy, người ấy có thể sống trong sự phục vụ đức vua.
1485.
1485.
1485.
‘‘Na niddaṃ bahu maññeyya †, na madāya suraṃ pive;
Nāssa dāye mige haññe, sa rājavasatiṃ vase.
He should not value sleep too much, nor drink liquor for intoxication. He should not kill animals in the royal park; such a one may dwell in the royal residence.
“Không nên xem trọng việc ngủ nhiều, không nên uống rượu để say sưa; không nên giết các con nai trong khu rừng của vị ấy, người ấy có thể sống trong sự phục vụ đức vua.
1486.
1486.
1486.
‘‘Nāssa pīṭhaṃ na pallaṅkaṃ, na kocchaṃ na nāvaṃ † rathaṃ;
Sammatomhīti ārūhe, sa rājavasatiṃ vase.
He should not mount the king's seat, couch, chair, boat, or chariot, thinking, 'I am honored'; such a one may dwell in the royal residence.
“Không nên leo lên ghế bành, giường, ghế dài, thuyền, hay xe của vị ấy, với ý nghĩ rằng: ‘Ta được chấp thuận,’ người ấy có thể sống trong sự phục vụ đức vua.
1487.
1487.
1487.
‘‘Nātidūre bhaje † rañño, nāccāsanne vicakkhaṇo;
Sammukhañcassa tiṭṭheyya, sandissanto sabhattuno.
A discerning person should attend upon the king from neither too far nor too near; he should stand before him, in sight of his master.
“Người sáng suốt không nên phục vụ đức vua ở quá xa, cũng không quá gần; và nên đứng ở phía trước mặt vị ấy, để được nhìn thấy bởi chủ nhân của mình.
1488.
1488.
1488.
‘‘Na ve † rājā sakhā hoti, na rājā hoti methuno;
Khippaṃ kujjhanti rājāno, sūkena’kkhīva ghaṭṭitaṃ.
A king is indeed not a friend, a king is not a companion; kings are quick to anger, like an eye struck by a sharp awn.
“Quả thật, đức vua không phải là bạn, đức vua không phải là người thân mật; các đức vua nhanh chóng nổi giận, giống như con mắt bị cái gai đâm phải.
1489.
1489.
1489.
‘‘Na pūjito maññamāno, medhāvī paṇḍito naro;
Pharusaṃ patimanteyya, rājānaṃ parisaṃgataṃ.
A wise and learned man, though honored, should not be conceited; he should not speak harshly in reply to the king when in an assembly.
“Người thông thái, bậc hiền trí, khi được tôn kính không nên tự mãn; không nên đáp lại một cách thô lỗ với đức vua đang ở giữa hội chúng.
1490.
1490.
1490.
‘‘Laddhadvāro labhe dvāraṃ †, neva rājūsu vissase;
Aggīva saṃyato tiṭṭhe †, sa rājavasatiṃ vase.
Having gained an entrance, he may find a further entrance; yet he should never trust in kings. He should remain restrained, like a fire; such a one may dwell in the royal residence.
“Có được lối vào, có thể nhận được cơ hội, nhưng không bao giờ nên tin tưởng nơi các đức vua; nên đứng một cách thận trọng như đối với lửa, người ấy có thể sống trong sự phục vụ đức vua.
1491.
1491.
1491.
‘‘Puttaṃ vā bhātaraṃ vā saṃ, sampaggaṇhāti khattiyo;
Gāmehi nigamehi vā, raṭṭhehi janapadehi vā;
Tuṇhībhūto upekkheyya, na bhaṇe chekapāpakaṃ.
When a khattiya favors his own son or brother with villages or towns, or with realms or provinces, one should remain silent and indifferent, speaking nothing cunning and wicked.
“Khi vị Sát-đế-lỵ nâng đỡ con trai hay em trai của mình, với các làng mạc hay thị tứ, hay với các xứ, hay với các quận; nên giữ im lặng, nên giữ thái độ xả, không nên nói điều khéo léo hay xấu xa.
1492.
1492.
1492.
‘‘Hatthārohe anīkaṭṭhe, rathike pattikārake;
Tesaṃ kammāvadānena †, rājā vaḍḍheti vetanaṃ;
Na tesaṃ antarā gacche, sa rājavasatiṃ vase.
Elephant-riders, soldiers, charioteers, and foot-soldiers—by their deeds and heroic acts, the king increases their wages. He should not come between them; such a one may dwell in the royal residence.
“Đối với những người cỡi voi, những người chỉ huy, những người đánh xe, những người đi bộ; do hành động và chiến công của họ, đức vua gia tăng tiền lương; không nên đi vào giữa họ, người ấy có thể sống trong sự phục vụ đức vua.
1493.
1493.
1493.
‘‘Cāpovūnudaro dhīro †, vaṃsovāpi pakampaye;
Paṭilomaṃ na vatteyya, sa rājavasatiṃ vase.
A wise person should be like an unstrung bow, or like a bamboo that is shaken; he should not go against the grain. Such a one may dwell in the royal residence.
“Người trí nên giống như cây cung có dây chùng, hoặc giống như cây tre có thể lay động; không nên hành xử ngược lại, người ấy có thể sống trong sự phục vụ đức vua.
1494.
1494.
1494.
‘‘Cāpovūnudaro assa, macchovassa ajivhavā †;
Appāsī nipako sūro, sa rājavasatiṃ vase.
Let him be like an unstrung bow, and like a tongueless fish; eating little, prudent, and brave, such a one may dwell in the royal residence.
“Nên giống như cây cung có dây chùng, nên giống như con cá không có lưỡi; ăn ít, khôn khéo, dũng cảm, người ấy có thể sống trong sự phục vụ đức vua.
1495.
1495.
1495.
‘‘Na bāḷhaṃ itthiṃ gaccheyya, sampassaṃ tejasaṅkhayaṃ;
Kāsaṃ sāsaṃ daraṃ balyaṃ, khīṇamedho nigacchati.
He should not go to women excessively, seeing the decline of his vigor; he succumbs to coughing, asthma, fear, and weakness, his intelligence diminished.
“Không nên đi đến với người nữ quá mức, trong khi thấy rõ sự suy giảm của năng lực; người trí tuệ suy giảm sẽ đạt đến bệnh ho, bệnh suyễn, sự sợ hãi, và sự yếu đuối.
1496.
1496.
1496.
‘‘Nātivelaṃ pabhāseyya, na tuṇhī sabbadā siyā;
Avikiṇṇaṃ mitaṃ vācaṃ, patte kāle udīraye.
Let him not speak excessively, nor always remain silent; at the proper time, let him utter speech that is concise and measured.
“Không nên nói quá nhiều, không nên luôn luôn im lặng; nên thốt ra lời nói không lan man, có chừng mực, vào lúc thích hợp.
1497.
1497.
1497.
‘‘Akkodhano asaṅghaṭṭo, sacco saṇho apesuṇo;
Samphaṃ giraṃ na bhāseyya, sa rājavasatiṃ vase.
Not angry, not contentious, truthful, gentle, and not slanderous; let him not speak frivolous words; such a one may dwell in the royal residence.
“Không nóng giận, không xung đột, chân thật, nhu mì, không nói đâm thọc; không nên nói lời vô ích, người ấy có thể sống trong sự phục vụ đức vua.
1498.
1498.
1498.
† ‘‘Mātāpettibharo assa, kule jeṭṭhāpacāyiko;
Saṇho sakhilasambhāso †, sa rājavasatiṃ vase †.
Let him be a supporter of his parents and respectful of the elders in his family. Gentle, with friendly conversation; such a one may dwell in the royal residence.
“Nên là người nuôi dưỡng cha mẹ, kính trọng người lớn tuổi trong gia tộc; nhu mì, có lời nói thân mật, người ấy có thể sống trong sự phục vụ đức vua.
1499.
1499.
1499.
‘‘Vinīto sippavā danto, katatto niyato mudu;
Appamatto suci dakkho, sa rājavasatiṃ vase.
Disciplined, skilled, self-controlled, well-trained, restrained, gentle, heedful, pure, and capable; such a one may dwell in the royal residence.
“Được huấn luyện, có tài nghệ, được chế ngự, đã được rèn luyện, tự chủ, nhu mì; không dể duôi, trong sạch, khéo léo, người ấy có thể sống trong sự phục vụ đức vua.
1500.
1500.
1500.
‘‘Nivātavutti vuddhesu, sappatisso sagāravo;
Surato sukhasaṃvāso, sa rājavasatiṃ vase.
Humble in conduct towards elders, respectful and reverent, well-disposed and easy to associate with; such a one may dwell in the royal residence.
“Có hạnh khiêm tốn đối với những người lớn tuổi, vâng lời, có sự tôn trọng; hoan hỷ, dễ chung sống, người ấy có thể sống trong sự phục vụ đức vua.
1501.
1501.
1501.
‘‘Ārakā parivajjeyya, sahituṃ pahitaṃ janaṃ;
Bhattāraññevudikkheyya, na ca aññassa rājino.
Let him avoid from afar people sent to cause conflict. Let him look up to his own master and not to another king.
“Nên tránh xa người được gởi đến để thử thách; chỉ nên trông mong đến chủ nhân của mình, và không đến vị vua nào khác.
1502.
1502.
1502.
‘‘Samaṇe brāhmaṇe cāpi, sīlavante bahussute;
Sakkaccaṃ payirupāseyya, sa rājavasatiṃ vase.
Ascetics and brahmins who are virtuous and very learned, let him respectfully attend upon them; such a one may dwell in the royal residence.
“Và cả các vị Sa-môn, Bà-la-môn có giới hạnh, có học thức sâu rộng; nên hầu cận một cách kính trọng, người ấy có thể sống trong sự phục vụ đức vua.
1503.
1503.
1503.
‘‘Samaṇe brāhmaṇe cāpi, sīlavante bahussute;
Sakkaccaṃ anuvāseyya, sa rājavasatiṃ vase.
Ascetics and brahmins who are virtuous and very learned, let him respectfully serve them; such a one may dwell in the royal residence.
“Và cả các vị Sa-môn, Bà-la-môn có giới hạnh, có học thức sâu rộng; nên cung cấp chỗ ở một cách kính trọng, người ấy có thể sống trong sự phục vụ đức vua.
1504.
1504.
1504.
‘‘Samaṇe brāhmaṇe cāpi, sīlavante bahussute;
Tappeyya annapānena, sa rājavasatiṃ vase.
Ascetics and brahmins who are virtuous and very learned, let him satisfy them with food and drink; such a one may dwell in the royal residence.
“Và cả các vị Sa-môn, Bà-la-môn có giới hạnh, có học thức sâu rộng; nên làm cho thỏa mãn với đồ ăn thức uống, người ấy có thể sống trong sự phục vụ đức vua.
1505.
1505.
1505.
‘‘Samaṇe brāhmaṇe cāpi, sīlavante bahussute;
Āsajja paññe sevetha, ākaṅkhaṃ vuddhimattano.
Having approached ascetics and brahmins who are virtuous and very learned, let the wise one associate with them, aspiring to one's own growth.
“Và cả các vị Sa-môn, Bà-la-môn có giới hạnh, có học thức sâu rộng; nên đến gần và phục vụ những bậc trí tuệ, nếu mong muốn sự tiến bộ cho bản thân.
1506.
1506.
1506.
‘‘Dinnapubbaṃ na hāpeyya, dānaṃ samaṇabrāhmaṇe;
Na ca kiñci nivāreyya, dānakāle vaṇibbake.
He should not reduce a gift previously given to ascetics and brahmins, nor should he turn away any beggars at the time of giving.
Không nên từ bỏ việc bố thí đã từng làm cho Sa-môn và Bà-la-môn; và không nên ngăn cản bất cứ điều gì đối với người ăn xin trong lúc bố thí.
1507.
1507.
1507.
‘‘Paññavā buddhisampanno, vidhānavidhikovido;
Kālaññū samayaññū ca, sa rājavasatiṃ vase.
Wise, endowed with intelligence, skilled in the method of arrangements, a knower of the right time and occasion; such a one may dwell in the royal residence.
Người có trí tuệ, thông minh, am tường các phương pháp sắp đặt; biết đúng thời, đúng lúc, người ấy có thể sống trong triều đình.
1508.
1508.
1508.
‘‘Uṭṭhātā kammadheyyesu, appamatto vicakkhaṇo;
Susaṃvihītakammanto, sa rājavasatiṃ vase.
Industrious in his duties, heedful and discerning, with well-organized work; such a one may dwell in the royal residence.
Người siêng năng trong công việc, không dễ duôi, sáng suốt; có công việc được tổ chức tốt, người ấy có thể sống trong triều đình.
1509.
1509.
1509.
‘‘Khalaṃ sālaṃ pasuṃ khettaṃ, gantā cassa abhikkhaṇaṃ;
Mitaṃ dhaññaṃ nidhāpeyya, mitaṃva pācaye ghare.
He should frequently visit the threshing floor, the hall, the livestock, and the fields. He should store grain in measured amounts and have measured amounts cooked at home.
Nên thường xuyên đi đến sân đập lúa, nhà kho, đàn gia súc, và ruộng đồng; nên cất giữ lúa thóc có chừng mực, và nấu nướng trong nhà cũng có chừng mực.
1510.
1510.
1510.
‘‘Puttaṃ vā bhātaraṃ vā saṃ, sīlesu asamāhitaṃ;
Anaṅgavā hi te bālā, yathā petā tatheva te;
Coḷañca nesaṃ piṇḍañca, āsīnānaṃ padāpaye.
As for one's own son or brother who is not established in virtue—those fools are indeed like the limbless, they are just like the departed. One should provide them with cloth and food when they are seated.
Đối với con trai hay anh em của mình, người không vững vàng trong giới hạnh; những kẻ ngu ấy quả thật là tàn phế, họ giống như ngạ quỷ; nên cho họ vải vóc và vật thực khi họ đang ngồi.
1511.
1511.
1511.
‘‘Dāse kammakare pesse, sīlesu susamāhite;
Dakkhe uṭṭhānasampanne, ādhipaccamhi ṭhāpaye.
Slaves, workers, and messengers who are well-established in virtue, skillful, and endowed with energy, let him establish in authority.
Đối với tôi tớ, người làm công, và người hầu, những người vững vàng trong giới hạnh; khéo léo và siêng năng, nên đặt họ vào vị trí cai quản.
1512.
1512.
1512.
‘‘Sīlavā ca alolo † ca, anurakkho † ca rājino;
Āvī raho hito tassa, sa rājavasatiṃ vase.
Virtuous and ungreedy, a guardian of the king, beneficial to him in public and in private; such a one may dwell in the royal residence.
Người có giới hạnh, không tham lam, và bảo vệ nhà vua; có ích cho vua cả nơi công khai lẫn riêng tư, người ấy có thể sống trong triều đình.
1513.
1513.
1513.
‘‘Chandaññū rājino cassa, cittaṭṭho assa rājino;
Asaṅkusakavutti’ssa, sa rājavasatiṃ vase.
He should know the king's will, his mind should be on the king; his conduct should be without crookedness. Such a one may dwell in the royal residence.
Người biết được ý muốn của nhà vua, được nhà vua quý mến; có hạnh kiểm không gây chướng ngại, người ấy có thể sống trong triều đình.
1514.
1514.
1514.
‘‘Ucchādaye ca nhāpaye †, dhove pāde adhosiraṃ;
Āhatopi na kuppeyya, sa rājavasatiṃ vase.
He should anoint and bathe the king, and wash his feet with head bowed; even when struck, he should not be angry. Such a one may dwell in the royal residence.
Nên xoa bóp, tắm rửa, và cúi đầu rửa chân cho vua; dù bị đánh cũng không nên tức giận, người ấy có thể sống trong triều đình.
1515.
1515.
1515.
‘‘Kumbhampañjaliṃ kariyā †, cāṭañcāpi † padakkhiṇaṃ;
Kimeva sabbakāmānaṃ, dātāraṃ dhīramuttamaṃ.
Let one make the añjali gesture like a pot, and respectfully circumambulate with pleasing speech, for the giver of all desires, the wise and supreme one.
Người ta còn chắp tay lạy cái ghè nước, và đi quanh cái nồi đất; huống chi là đối với bậc hiền trí tối thượng, người ban cho mọi điều mong muốn.
1516.
1516.
1516.
‘‘Yo deti sayanaṃ vatthaṃ, yānaṃ āvasathaṃ gharaṃ;
Pajjunnoriva bhūtāni, bhogehi abhivassati.
He who gives a couch, cloth, a vehicle, a resting place, a house; like a rain cloud, he rains down upon beings with riches.
Người nào cho giường nằm, y phục, xe cộ, nơi ở, nhà cửa; người ấy tuôn đổ tài sản xuống cho mọi người như thần mưa Pajjunna tưới mưa cho các chúng sanh.
1517.
1517.
1517.
‘‘Esayyo rājavasati, vattamāno yathā naro;
Ārādhayati rājānaṃ, pūjaṃ labhati bhattusu’’.
Thus a man, behaving in the royal residence, pleases the king and receives honor from his master.
Đây là cách sống trong triều đình, người nào hành xử như vậy; sẽ làm hài lòng nhà vua, và nhận được sự tôn trọng từ chủ của mình.
Rājavasati nāma.
The Royal Residence.
Phẩm Sống Trong Triều Đình.
Antarapeyyālaṃ
The Intermediate Summary
Phần Tỉnh Lược Ở Giữa.
1518.
1518.
1518.
‘‘Evaṃ samanusāsitvā, ñātisaṅghaṃ vicakkhaṇo;
Parikiṇṇo suhadehi, rājānamupasaṅkami.
Having thus instructed the assembly of relatives, the discerning one, surrounded by his well-wishers, approached the king.
Sau khi đã giáo huấn hội chúng quyến thuộc như vậy, bậc hiền trí; được các bạn hữu vây quanh, đã đi đến yết kiến nhà vua.
1519.
1519.
1519.
‘‘Vanditvā sirasā pāde, katvā ca naṃ padakkhiṇaṃ;
Vidhuro avaca rājānaṃ, paggahetvāna añjaliṃ.
Having bowed his head at his feet and circumambulated him, Vidhura, raising his joined hands, spoke to the king.
Sau khi cúi đầu đảnh lễ chân vua, và đi quanh theo chiều bên phải; Vidhura chắp tay lại và thưa với nhà vua.
1520.
1520.
1520.
‘‘Ayaṃ maṃ māṇavo neti, kattukāmo † yathāmati;
Ñātīnatthaṃ pavakkhāmi, taṃ suṇohi arindama.
This young man leads me, intending to act as he pleases. I will declare the welfare of my relatives; listen to that, O subduer of foes.
Chàng thanh niên này đang dẫn con đi, với ý định làm theo ý muốn của mình; con sẽ nói vì lợi ích của quyến thuộc, xin ngài, bậc chinh phục kẻ thù, hãy lắng nghe điều đó.
1521.
1521.
1521.
‘‘Putte ca me udikkhesi, yañca maññaṃ ghare dhanaṃ;
Yathā pecca † na hāyetha, ñātisaṅgho mayī gate.
I consider my sons and the other wealth in my home, so that my assembly of relatives may not decline when I have gone.
Xin ngài hãy chăm lo cho các con của con, và các tài sản khác trong nhà; để cho hội chúng quyến thuộc không bị suy sụp sau khi con đã ra đi.
1522.
1522.
1522.
‘‘Yatheva khalatī bhūmyā, bhūmyāyeva patiṭṭhati;
Evetaṃ khalitaṃ mayhaṃ, etaṃ passāmi accayaṃ’’.
Just as one stumbles on the ground and stands firm again upon the ground, so too this stumble of mine, I see this as a transgression.
Cũng như người vấp ngã trên mặt đất, thì lại đứng dậy trên chính mặt đất; cũng vậy, đây là sự vấp ngã của con, con thấy đây là lỗi lầm của mình.
1523.
1523.
1523.
‘‘Sakkā na gantuṃ iti mayha hoti, chetvā † vadhitvā idha kātiyānaṃ;
Idheva hohī iti mayha ruccati, mā tvaṃ agā uttamabhūripañña’’.
It is possible not to go, so I think, having cut down and slain the Kātyāyana here. 'Stay right here,' is what pleases me; do not go, O one of supreme abundant wisdom.
Ta nghĩ rằng: 'Ngươi không thể đi được', sau khi chém và giết tên Kātyāyana này tại đây; ta muốn rằng: 'Ngươi hãy ở lại đây', xin ngài, bậc có trí tuệ rộng lớn và tối thượng, đừng đi.
1524.
1524.
1524.
‘‘Mā hevadhammesu manaṃ paṇīdahi, atthe ca dhamme ca yutto bhavassu;
Dhiratthu kammaṃ akusalaṃ anariyaṃ, yaṃ katvā pacchā nirayaṃ vajeyya.
Do not set your mind on base things, but be devoted to the goal and the Dhamma. Shame on unwholesome, ignoble deeds, which, when done, one goes afterward to hell.
Xin ngài đừng hướng tâm đến những việc như vậy, hãy chuyên tâm vào điều lợi ích và chánh pháp; đáng khinh thay hành động bất thiện, không cao thượng, mà sau khi làm xong sẽ phải đi đến địa ngục.
1525.
1525.
1525.
‘‘Nevesa dhammo na puneta † kiccaṃ, ayiro hi dāsassa janinda issaro;
Ghātetuṃ jhāpetuṃ athopi hantuṃ, na ca mayha kodhatthi vajāmi cāhaṃ’’.
This is neither the Dhamma nor a proper task. For a master, O king, is indeed lord over a slave, with power to kill, to burn, or even to strike. I have no anger, and I will go.
Thưa đức vua, đây không phải là chánh pháp, cũng không phải là việc nên làm, vì bậc chủ nhân là người có quyền trên kẻ tôi tớ; để giết, để thiêu, hay để hành hạ. Con không có sân hận, và con xin đi.
1526.
1526.
1526.
‘‘Jeṭṭhaputtaṃ upaguyha, vineyya hadaye daraṃ;
Assupuṇṇehi nettehi, pāvisī so mahāgharaṃ’’.
Having embraced his eldest son, dispelling sorrow from his heart, with eyes full of tears, he entered the great house.
Ôm lấy người con trai cả, xua tan nỗi sầu muộn trong lòng; với đôi mắt đẫm lệ, vị ấy đã đi vào ngôi nhà lớn.
1527.
1527.
1527.
‘‘Sālāva sammapatitā †, mālutena pamadditā;
Senti puttā ca dārā ca, vidhurassa nivesane.
Like sāla trees well-fallen, crushed by the wind, so lie sons and wives in Vidhura's dwelling.
Giống như những cây sāla bị ngã rạp, bị gió quật ngã; các con trai và các bà vợ đang nằm trong nhà của Vidhura.
1528.
1528.
1528.
‘‘Itthisahassaṃ bhariyānaṃ, dāsisattasatāni ca;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, vidhurassa nivesane.
A thousand wives and seven hundred slave women, raising their arms, wailed in Vidhura's dwelling.
Một ngàn người vợ, và bảy trăm nữ tỳ; đã giơ tay lên và than khóc, trong nhà của Vidhura.
1529.
1529.
1529.
‘‘Orodhā ca kumārā ca, vesiyānā ca brāhmaṇā;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, vidhurassa nivesane.
Women of the inner chambers and princes, commoners and brahmins, raising their arms, wailed in Vidhura's dwelling.
“Các cung phi và các vương tử, các thương gia và các Bà-la-môn; đã giơ tay lên và than khóc, tại nhà của Vidhura.”
1530.
1530.
1530.
‘‘Hatthārohā anīkaṭṭhā, rathikā pattikārakā;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, vidhurassa nivesane.
Elephant riders, troop commanders, charioteers, and infantrymen, raising their arms, wailed in Vidhura's dwelling.
“Những người quản tượng, các tướng lãnh, những người đánh xe, và các bộ binh; đã giơ tay lên và than khóc, tại nhà của Vidhura.”
1531.
1531.
1531.
‘‘Samāgatā jānapadā, negamā ca samāgatā;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, vidhurassa nivesane.
The country people gathered, and the townspeople gathered, raising their arms, they wailed in Vidhura's dwelling.
“Dân chúng từ thôn quê đã tụ tập, và dân chúng từ thành thị cũng đã tụ tập; đã giơ tay lên và than khóc, tại nhà của Vidhura.”
1532.
1532.
1532.
‘‘Itthisahassaṃ bhariyānaṃ, dāsisattasatāni ca;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, kasmā no vijahissasi.
A thousand wives and seven hundred slave women, raising their arms, wailed, 'Why will you abandon us?'
“Một ngàn người vợ, và bảy trăm nữ tỳ; đã giơ tay lên và than khóc: ‘Vì sao ngài lại từ bỏ chúng tôi?’”
1533.
1533.
1533.
‘‘Orodhā ca kumārā ca, dāsisattasatāni ca;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, kasmā no vijahissasi.
Women of the inner chambers and princes, and seven hundred slave women, raising their arms, wailed, 'Why will you abandon us?'
“Các cung phi và các vương tử, và bảy trăm nữ tỳ; đã giơ tay lên và than khóc: ‘Vì sao ngài lại từ bỏ chúng tôi?’”
1534.
1534.
1534.
‘‘Hatthārohā anīkaṭṭhā, dāsisattasatāni ca;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, kasmā no vijahissasi.
Elephant riders and troop commanders, and seven hundred slave women, raising their arms, wailed, 'Why will you abandon us?'
“Các quản tượng, các tướng lãnh, và bảy trăm nữ tỳ này; Họ giơ cao tay và than khóc: ‘Vì sao ngài lại từ bỏ chúng tôi?’
1535.
1535.
1535.
‘‘Samāgatā jānapadā, dāsisattasatāni ca;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, kasmā no vijahissasi’’.
The country people gathered, and seven hundred slave women, raising their arms, wailed, 'Why will you abandon us?'
“Dân chúng trong xứ đã tụ tập, và bảy trăm nữ tỳ này; Họ giơ cao tay và than khóc: ‘Vì sao ngài lại từ bỏ chúng tôi?’”
1536.
1536.
1536.
‘‘Katvā gharesu kiccāni, anusāsitvā sakaṃ janaṃ;
Mittāmacce ca bhacce ca †, puttadāre ca bandhave.
Having done the duties in the house, having instructed his own people, friends and ministers and servants, children, wives, and relatives.
“Sau khi đã làm các công việc trong nhà, đã chỉ dạy cho người của mình, các bạn bè, các vị đại thần, và các người phục vụ, các con trai, vợ, và các quyến thuộc.
1537.
1537.
1537.
‘‘Kammantaṃ saṃvidhetvāna, ācikkhitvā ghare dhanaṃ;
Nidhiñca iṇadānañca, puṇṇakaṃ etadabravi.
Having arranged the affairs, and having declared the wealth in the house, the treasure, and the loans, he said this to Puṇṇaka.
“Sau khi đã sắp đặt công việc, đã chỉ bảo về tài sản trong nhà, cả về kho tàng và việc cho vay nợ, vị ấy đã nói điều này với Puṇṇaka.
1538.
1538.
1538.
‘‘Avasī tuvaṃ mayha tīhaṃ agāre, katāni kiccāni gharesu mayhaṃ;
Anusāsitā puttadārā mayā ca, karoma kaccāna † yathāmatiṃ te’’.
You have stayed in my house for three days; my duties in the house have been performed; and my children and wives have been instructed by me. Now, Kaccāna, let us act according to your wish.
“Ngài đã ở lại trong nhà của tôi ba ngày, các công việc trong nhà của tôi đã được làm xong. Các con trai và vợ của tôi cũng đã được tôi chỉ dạy. Này Kaccāna, chúng ta hãy làm theo ý muốn của ngài.”
1539.
1539.
1539.
‘‘Sace hi katte anusāsitā te, puttā ca dārā anujīvino ca;
Handehi dānī taramānarūpo, dīgho hi addhāpi ayaṃ puratthā.
If indeed, O Katta, your sons and wives and dependents have been instructed by you, then come now quickly, for long indeed is this journey ahead.
“Này vị chủ nhân, nếu các con trai, vợ, và những người tùy thuộc đã được ngài chỉ dạy, thì bây giờ hãy nhanh chóng lên, vì con đường phía trước này còn dài.
1540.
1540.
1540.
‘‘Achambhitova † gaṇhāhi, ājāneyyassa vāladhiṃ;
Idaṃ pacchimakaṃ tuyhaṃ, jīvalokassa dassanaṃ’’.
Without trembling, take hold of the noble steed's tail. This is your last sight of the living world.
“Hãy nắm lấy đuôi của con tuấn mã, không chút sợ hãi. Đây là lần cuối cùng ngài được nhìn thấy thế gian của người sống.”
1541.
1541.
1541.
‘‘Sohaṃ kissa nu bhāyissaṃ, yassa me natthi dukkaṭaṃ;
Kāyena vācā manasā, yena gaccheyya duggatiṃ’’.
Why should I fear, since I have done no evil by body, speech, or mind, by which one might go to a bad destination?
“Ta đây nào có sợ hãi điều gì, khi ta không có hành vi sai trái nào, bằng thân, bằng lời, hay bằng ý, mà do nhân ấy ta phải đi đến khổ cảnh.”
1542.
1542.
1542.
‘‘So assarājā vidhuraṃ vahanto, pakkāmi vehāyasamantalikkhe;
Sākhāsu selesu asajjamāno, kālāgiriṃ khippamupāgamāsi’’.
That king of horses, carrying Vidhura, departed through the sky; unimpeded by branches or rocks, it quickly reached Mount Kāla.
“Con ngựa chúa ấy, trong khi mang theo Vidhura, đã bay đi trong không trung, giữa bầu trời. Không bị vướng mắc ở các cành cây, ở các ngọn núi, nó đã nhanh chóng đi đến núi Kālāgiri.”
1543.
1543.
1543.
‘‘Itthisahassaṃ bhariyānaṃ, dāsisattasatāni ca;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, yakkho brāhmaṇavaṇṇena;
Vidhuraṃ ādāya gacchati.
A thousand wives and seven hundred slave women, raising their arms, wailed: 'The yakkha in the guise of a brahmin takes Vidhura away!'
“Một ngàn người vợ, và bảy trăm nữ tỳ; Họ giơ cao tay và than khóc: ‘Dạ-xoa trong hình dạng Bà-la-môn đang mang Vidhura đi mất.’
1544.
1544.
1544.
‘‘Samāgatā jānapadā, negamā ca samāgatā;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, yakkho brāhmaṇavaṇṇena;
Vidhuraṃ ādāya gacchati.
The country people gathered, and the townspeople gathered, raising their arms, they wailed: 'The yakkha in the guise of a brahmin takes Vidhura away!'
“Dân chúng trong xứ đã tụ tập, các thị dân cũng đã tụ tập; Họ giơ cao tay và than khóc: ‘Dạ-xoa trong hình dạng Bà-la-môn đang mang Vidhura đi mất.’
1545.
1545.
1545.
‘‘Itthisahassaṃ bhariyānaṃ, dāsisattasatāni ca;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, paṇḍito so kuhiṃ gato.
A thousand wives and seven hundred slave women, raising their arms, wailed: 'Where has that wise one gone?'
“Một ngàn người vợ, và bảy trăm nữ tỳ; Họ giơ cao tay và than khóc: ‘Vị hiền triết ấy đã đi đâu rồi?’
1546.
1546.
1546.
‘‘Samāgatā jānapadā, negamā ca samāgatā;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, paṇḍito so kuhiṃ gato’’.
The country people gathered, and the townspeople gathered, raising their arms, wailed: 'Where has that wise one gone?'
“Dân chúng trong xứ đã tụ tập, các thị dân cũng đã tụ tập; Họ giơ cao tay và than khóc: ‘Vị hiền triết ấy đã đi đâu rồi?’”
1547.
1547.
1547.
‘‘Sace so sattarattena, nāgacchissati paṇḍito;
Sabbe aggiṃ pavekkhāma †, natthattho jīvitena no’’.
If that wise one does not come within seven nights, we shall all enter the fire, for there is no purpose for us in life.
“Nếu trong bảy đêm nữa, vị hiền triết không trở về, tất cả chúng tôi sẽ đi vào trong lửa, sự sống của chúng tôi không còn ý nghĩa nữa.”
1548.
1548.
1548.
‘‘Paṇḍito ca viyatto ca, vibhāvī ca vicakkhaṇo;
Khippaṃ mociya attānaṃ, mā bhāyitthāgamissati’’ †.
Wise and accomplished, discerning and sagacious, he will quickly free himself and come. Do not fear.
“Vị ấy là bậc hiền triết, là người tài giỏi, là người sáng suốt, và là người thông thái. Sau khi nhanh chóng tự giải thoát, vị ấy sẽ trở về, các người chớ nên sợ hãi.”
Antarapeyyālaṃ nāma.
This is called the Intermediate Summary.
Phần gọi là Tỉnh Lược Trung Gian.
Sādhunaradhammakaṇḍaṃ
The Chapter on the Dhamma of the Good Man.
Phẩm về Pháp của Bậc Thiện Nhân.
1549.
1549.
1549.
‘‘So tattha gantvāna vicintayanto, uccāvacā cetanakā † bhavanti;
Nayimassa jīvena mamatthi kiñci, hantvānimaṃ hadayamānayissaṃ’’ †.
Having gone there and pondering, various thoughts arose in him: ‘His life is of no concern to me; I will kill him and bring his heart.’
Sau khi đã đi đến nơi ấy, dạ-xoa suy nghĩ rằng: “Các ý định quả là có nhiều loại khác nhau. Sự sống của người này đối với ta chẳng có ích lợi gì. Sau khi giết người này, ta sẽ lấy quả tim.”
1550.
1550.
1550.
‘‘So tattha gantvā pabbatantarasmiṃ †, anto pavisitvāna paduṭṭhacitto;
Asaṃvutasmiṃ jagatippadese, adhosiraṃ dhārayi kātiyāno.
Having gone there and entered within the mountain with a corrupted mind, in an unprotected place on the earth, Kātiyāna held him head-downwards.
Sau khi đã đi đến nơi ấy, ở trong khe núi, sau khi đã đi vào bên trong với tâm địa xấu xa, ở tại một nơi không được che chắn trên mặt đất, người thuộc dòng dõi Kātiyāna đã giữ vị ấy chúc đầu xuống.
1551.
1551.
1551.
‘‘So lambamāno narake papāte, mahabbhaye lomahaṃse vidugge;
Asantasanto kurūnaṃ kattuseṭṭho, iccabravi puṇṇakaṃ nāma yakkhaṃ.
As he hung in the hellish abyss, a place of great terror, hair-raising and difficult to pass, the chief minister of the Kurus, without trembling, spoke thus to the yakkha named Puṇṇaka.
Vị ấy, trong khi bị treo lơ lửng trên vực thẳm giống như địa ngục, rất đáng kinh sợ, làm dựng tóc gáy, và hiểm nghèo, vị cố vấn cao quý nhất của xứ Kuru, không hề run sợ, đã nói điều này với dạ-xoa tên là Puṇṇaka.
1552.
1552.
1552.
‘‘Ariyāvakāsosi anariyarūpo, asaññato saññatasannikāso;
You have the guise of a noble one, yet are ignoble in nature; you are unrestrained, though you appear restrained.
“Ngài có vẻ ngoài của bậc Thánh nhưng bản chất không phải là bậc Thánh, không được tự chế ngự nhưng lại giống như người có tự chế ngự.
Accāhitaṃ kammaṃ karosi ludraṃ, bhāve ca te kusalaṃ natthi kiñci.
You perform excessive and cruel deeds, and no wholesome quality exists in your being.
Ngài làm hành động kinh khủng và tàn bạo, và trong bản chất của ngài không có chút gì là thiện lành cả.
1553.
1553.
1553.
‘‘Yaṃ maṃ papātasmiṃ papātumicchasi, ko nu tavattho maraṇena mayhaṃ;
Amānusasseva tavajja vaṇṇo, ācikkha me tvaṃ katamāsi devatā’’.
You who wish to cast me into the precipice, what is your purpose in my death? Your appearance today is not human; tell me, what kind of deity are you?
“Việc ngài muốn xô tôi rơi xuống vực thẳm, cái chết của tôi có lợi ích gì cho ngài? Hôm nay, hình dạng của ngài giống như của một phi nhân. Xin hãy nói cho tôi biết, ngài là vị trời nào?”
1554.
1554.
1554.
‘‘Yadi te suto puṇṇako nāma yakkho, rañño kuverassa hi so sajibbo †;
Bhūmindharo varuṇo nāma nāgo, brahā sucī vaṇṇabalūpapanno.
If you have heard of the yakkha named Puṇṇaka, he is indeed a confidant of King Kuvera. Bhūmindhara is the Nāga named Varuṇa, great, pure, endowed with beauty and strength.
“Nếu ngài đã từng nghe về dạ-xoa tên là Puṇṇaka, người ấy chính là bạn đồng hành của vua Kuvera. Vị Long vương nâng đỡ quả đất tên là Varuṇa, là vị vĩ đại, trong sạch, có đủ sắc đẹp và sức mạnh.
1555.
1555.
1555.
‘‘Tassānujaṃ dhītaraṃ kāmayāmi, irandhatī nāma sā nāgakaññā;
Tassā sumajjhāya piyāya hetu, patārayiṃ tuyha vadhāya dhīra’’.
I desire his younger daughter, the Nāga maiden named Irandhatī. For the sake of that slender-waisted beloved, O wise one, I have brought you here for your destruction.
“Ta mong muốn người con gái út của vị ấy, nàng long nữ ấy tên là Irandhatī. Vì người yêu dấu có eo lưng thon thả ấy, hỡi bậc trí tuệ, ta đã lừa gạt ngài để giết ngài.”
1556.
1556.
1556.
‘‘Mā heva tvaṃ † yakkha ahosi mūḷho, naṭṭhā bahū duggahītena loke †;
Kiṃ te sumajjhāya piyāya kiccaṃ, maraṇena me iṅgha suṇomi † sabbaṃ’’.
O Yakkha, do not be so foolish. Many are lost in the world through wrong grasping. What has that slender-waisted beloved to do with my death? Come, let me hear everything.
“Này dạ-xoa, ngài chớ nên si mê như vậy. Nhiều người ở đời đã bị hủy hoại vì sự chấp thủ sai lầm. Việc của ngài với người yêu dấu có eo lưng thon thả có liên quan gì đến cái chết của ta? Nào, hãy để ta nghe tất cả.”
1557.
1557.
1557.
‘‘Mahānubhāvassa mahoragassa, dhītukāmo ñātibhato † hamasmi;
Taṃ yācamānaṃ sasuro avoca, yathā mamaññiṃsu sukāmanītaṃ.
I am a kinsman, desiring the daughter of the mighty, great serpent. When I requested her, my father-in-law spoke to me as if they considered me easily led by desire.
“Ta là người được quyến thuộc ủng hộ, mong muốn con gái của vị đại xà có oai lực lớn. Khi ta đang cầu xin, vị nhạc phụ tương lai đã nói, vì họ xem ta là người xứng đáng được mong đợi.
1558.
1558.
1558.
‘‘Dajjemu kho te sutanuṃ sunettaṃ, sucimhitaṃ candanalittagattaṃ;
Sace tuvaṃ hadayaṃ paṇḍitassa, dhammena laddhā idha māharesi;
Etena vittena kumāri labbhā, naññaṃ dhanaṃ uttari patthayāma.
‘We would give you the slender, fair-eyed maiden, with pure smiles and limbs anointed with sandalwood, if you, having rightfully obtained the heart of the wise one, bring it here. With this wealth the maiden may be obtained; we desire no other greater treasure.’
“Chúng tôi chắc chắn sẽ gả cho ngài người con gái có thân hình xinh đẹp, có đôi mắt đẹp, có nụ cười duyên dáng, thân thể được thoa dầu chiên-đàn, nếu ngài có thể lấy được quả tim của một vị hiền triết một cách hợp pháp và mang đến đây. Với của cải này, thiếu nữ có thể được cưới về; chúng tôi không mong muốn của cải nào khác cao quý hơn.
1559.
1559.
1559.
‘‘Evaṃ na mūḷhosmi suṇohi katte, na cāpi me duggahitatthi kiñci;
Hadayena te dhammaladdhena nāgā, irandhatiṃ nāgakaññaṃ dadanti.
Thus, I am not deluded—listen, O Kuru; nor have I any wrong grasping. With your heart, rightfully obtained, the Nāgas will give me Irandhatī, the Nāga maiden.
“Như vậy, ta không phải là kẻ si mê, xin ngài hãy lắng nghe, hỡi vị chủ nhân. Về phần ta cũng không có sự chấp thủ sai lầm nào cả. Với quả tim của ngài, có được một cách hợp pháp, các vị long vương sẽ gả nàng long nữ Irandhatī.
1560.
1560.
1560.
‘‘Tasmā ahaṃ tuyhaṃ vadhāya yutto, evaṃ mamattho maraṇena tuyhaṃ;
Idheva taṃ narake pātayitvā, hantvāna taṃ hadayamānayissaṃ’’.
Therefore, I am intent on your destruction—thus my purpose is served by your death. Right here, having cast you into a chasm and slain you, I will take your heart.
“Vì thế, ta đang nỗ lực để giết ngài. Như vậy, cái chết của ngài có lợi ích cho ta. Sau khi xô ngài rơi xuống địa ngục ngay tại đây, sau khi giết ngài, ta sẽ lấy quả tim.”
1561.
1561.
1561.
‘‘Khippaṃ mamaṃ uddhara kātiyāna, hadayena me yadi te atthi kiccaṃ;
Ye kecime sādhunarassa dhammā, sabbeva te pātukaromi ajja’’.
Quickly lift me up, Kātiyāna, if you have need of my heart. Whatever qualities a good man has, I will reveal them all to you today.
“Hỡi Kātyāyana, hãy nhanh chóng kéo tôi lên, nếu ngài có việc cần đến trái tim của tôi. Bất cứ những pháp nào của người thiện, hôm nay tôi sẽ trình bày tất cả cho ngài.”
1562.
1562.
1562.
‘‘So puṇṇako kurūnaṃ kattuseṭṭhaṃ, nagamuddhani khippaṃ patiṭṭhapetvā;
Assatthamāsīnaṃ samekkhiyāna, paripucchi kattāramanomapaññaṃ.
Then Puṇṇaka, having swiftly placed the foremost of the Kurus on the mountain peak, and observing him seated at the Assattha tree, questioned the Kuru of discerning wisdom.
Puṇṇaka ấy, sau khi nhanh chóng đặt người thợ bậc nhất của xứ Kuru lên trên đỉnh núi, thấy người thợ có trí tuệ cao thượng đã ngồi yên và bình phục, bèn hỏi.
1563.
1563.
1563.
‘‘Samuddhato mesi tuvaṃ papātā, hadayena te ajja mamatthi kiccaṃ;
Ye kecime sādhunarassa dhammā, sabbeva me pātukarohi ajja’’.
You have been lifted by me from the precipice; today I have need of your heart. Whatever qualities a good man has, reveal them all to me today.
“Ngươi đã được ta kéo lên khỏi vực thẳm, hôm nay ta có việc cần đến trái tim của ngươi. Bất cứ những pháp nào của người thiện, hôm nay hãy trình bày tất cả cho ta.”
1564.
1564.
1564.
‘‘Samuddhato tyasmi ahaṃ papātā, hadayena me yadi te atthi kiccaṃ;
Ye kecime sādhunarassa dhammā, sabbeva te pātukaromi ajja’’.
I have been lifted by you from the precipice. If you have need of my heart, whatever qualities a good man has, I will reveal them all to you today.
“Tôi đã được ngài kéo lên khỏi vực thẳm, nếu ngài có việc cần đến trái tim của tôi. Bất cứ những pháp nào của người thiện, hôm nay tôi sẽ trình bày tất cả cho ngài.”
1565.
1565.
1565.
‘‘Yātānuyāyī ca bhavāhi māṇava, allañca † pāṇiṃ parivajjayassu;
Mā cassu mittesu kadāci dubbhī, mā ca vasaṃ asatīnaṃ nigacche’’.
Be one who follows good custom, young man, and avoid harming a benefactor. Never be treacherous to friends, nor fall under the sway of unvirtuous women.
“Này chàng thanh niên, hãy là người đi theo sau người đã đi, và hãy tránh bàn tay ướt. Chớ bao giờ phản bội bạn bè, và chớ rơi vào quyền lực của những người phụ nữ không trinh hạnh.”
1566.
1566.
1566.
‘‘Kathaṃ nu yātaṃ anuyāyī hoti, allañca pāṇiṃ dahate kathaṃ so;
Asatī ca kā ko pana mittadubbho, akkhāhi me pucchito etamatthaṃ’’.
How does one follow good custom? How does one ‘burn the wet hand’? Who is an unvirtuous woman, and who is a treacherous friend? As I ask, explain this matter to me.
“Làm thế nào là người đi theo sau người đã đi? Làm thế nào người ấy đốt bàn tay ướt? Ai là người phụ nữ không trinh hạnh? Và ai là kẻ phản bạn? Được hỏi, xin hãy giải thích ý nghĩa này cho tôi.”
1567.
1567.
1567.
‘‘Asanthutaṃ † nopi ca diṭṭhapubbaṃ, yo āsanenāpi nimantayeyya;
Tasseva atthaṃ puriso kareyya, yātānuyāyīti tamāhu paṇḍitā.
One who would invite with a seat even someone unacquainted and never seen before—a person should act for their benefit; the wise call such a one a ‘follower of good custom.’
“Đối với người không quen biết, cũng chưa từng gặp mặt, mà mời mình dù chỉ bằng một chỗ ngồi, người kia nên làm điều lợi ích cho vị ấy. Bậc hiền trí gọi người như vậy là người đi theo sau người đã đi.”
1568.
1568.
1568.
‘‘Yassekarattampi ghare vaseyya, yatthannapānaṃ puriso labheyya;
Na tassa pāpaṃ manasāpi cintaye, adubbhī pāṇiṃ dahate mittadubbho.
In whose house one might stay for even a single night, where one might receive food and drink, one should not think ill of them even in one’s mind. To harm a friend is to ‘burn the wet hand’.
“Dù chỉ ở trong nhà của người nào một đêm, nơi mà người ấy nhận được đồ ăn thức uống, không nên có ý nghĩ xấu về người ấy, dù chỉ trong tâm. Kẻ phản bạn làm hại bạn thì cũng như tự đốt tay mình.”
1569.
1569.
1569.
‘‘Yassa rukkhassa chāyāya, nisīdeyya sayeyya vā;
Na tassa sākhaṃ bhañjeyya, mittadubbho hi pāpako.
Of the tree in whose shade one might sit or lie, one should not break a branch; for a betrayer of friends is evil.
“Dưới bóng của cây nào, dù ngồi hay dù nằm, không nên bẻ cành của cây ấy. Vì kẻ phản bạn là kẻ độc ác.”
1570.
1570.
1570.
‘‘Puṇṇampi cemaṃ pathaviṃ dhanena, dajjitthiyā puriso sammatāya;
Laddhā khaṇaṃ atimaññeyya tampi, tāsaṃ vasaṃ asatīnaṃ na gacche.
Even if a man were to give this entire earth filled with wealth to a woman he esteems, having found an opportunity, she might still despise him. Do not come under the sway of such unvirtuous women.
“Dù cho người đàn ông có dâng tặng cho người phụ nữ mình yêu quý cả trái đất này đầy của cải, khi có được cơ hội, nàng ta cũng sẽ khinh rẻ người ấy. Không nên rơi vào quyền lực của những người phụ nữ không trinh hạnh như vậy.”
1571.
1571.
1571.
‘‘Evaṃ kho yātaṃ anuyāyī hoti, allañca pāṇiṃ dahate punevaṃ;
Asatī ca sā so pana mittadubbho, so dhammiko hoti jahassu adhammaṃ’’.
Thus one follows good custom; thus one who burns the wet hand is a betrayer of friends; and such is an unvirtuous woman. Be righteous; abandon unrighteousness.
“Như vậy là người đi theo sau người đã đi, và như vậy là đốt bàn tay ướt. Như vậy là người phụ nữ không trinh hạnh, và như vậy là kẻ phản bạn. Hãy là người sống đúng Pháp, hãy từ bỏ phi pháp.”
Sādhunaradhammakaṇḍaṃ nāma.
The Chapter on the Qualities of a Good Person.
Phẩm về Pháp của người thiện.
Kālāgirikaṇḍaṃ
The Kālāgiri Chapter
Phẩm Kālāgiri
1572.
1572.
1572.
‘‘Avasiṃ ahaṃ tuyhaṃ tīhaṃ agāre, annena pānena upaṭṭhitosmi;
Mitto mamāsī visajjāmahaṃ taṃ, kāmaṃ gharaṃ uttamapañña gaccha.
I stayed three nights in your dwelling; I was attended with food and drink. You were my friend—I now release you. O one of supreme wisdom, go home as you wish.
“Ta đã ở trong nhà ngươi ba ngày, đã được phục vụ đồ ăn thức uống. Ngươi là bạn của ta, ta thả ngươi. Hỡi người có trí tuệ tối thượng, hãy đi về nhà theo ý muốn.”
1573.
1573.
1573.
‘‘Api hāyatu nāgakulā † attho, alampi me nāgakaññāya hotu;
So tvaṃ sakeneva subhāsitena, muttosi me ajja vadhāya pañña’’.
Let the welfare of the Nāga clan decline; enough for me with the Nāga maiden. By your own well-spoken words, O wise one, you are freed by me today from death.
“Mặc cho mục đích của dòng dõi Nāga bị thất bại, đối với ta, thiếu nữ Nāga cũng đủ rồi. Hỡi bậc trí tuệ, chính ngươi, nhờ vào lời thiện thuyết của mình, hôm nay được ta giải thoát khỏi cái chết.”
1574.
1574.
1574.
‘‘Handa tuvaṃ yakkha mamampi nehi, sasuraṃ te † atthaṃ mayi carassu;
Mayañca nāgādhipatiṃ vimānaṃ, dakkhemu nāgassa adiṭṭhapubbaṃ’’.
Come now, O yakkha, take me also; accomplish your purpose with your father-in-law through me. And let us see the palace of the Nāga king, never before seen.
“Này Dạ-xoa, vậy thì hãy đưa cả tôi đi nữa. Hãy thực hiện mục đích của ngài với cha vợ của ngài thông qua tôi. Và chúng ta sẽ được thấy cung điện của vua loài Nāga, cung điện của Nāga chưa từng được thấy trước đây.”
1575.
1575.
1575.
‘‘Yaṃ ve narassa ahitāya assa, na taṃ pañño arahati dassanāya;
Atha kena vaṇṇena amittagāmaṃ, tuvamicchasi uttamapañña gantuṃ’’.
Whatever would be for a person’s harm, a wise one ought not to see. For what reason, then, O one of supreme wisdom, do you wish to go to a hostile place?
“Điều gì quả thật là bất lợi cho con người, người có trí không nên thấy điều đó. Vậy thì, hỡi người có trí tuệ tối thượng, vì lý do gì mà ngài muốn đi đến làng của kẻ thù?”
1576.
1576.
1576.
‘‘Addhā pajānāmi ahampi etaṃ, na taṃ pañño arahati dassanāya;
Pāpañca me natthi kataṃ kuhiñci, tasmā na saṅke maraṇāgamāya’’.
Surely, I also understand this: a wise one ought not to see such a thing. But I have done no evil anywhere, therefore I do not fear the coming of death.
“Chắc chắn tôi cũng biết điều này: người có trí không nên thấy điều đó. Nhưng tôi đã không làm điều ác ở bất cứ đâu, vì thế tôi không lo sợ cái chết sẽ đến.”
1577.
1577.
1577.
‘‘Handa ca ṭhānaṃ atulānubhāvaṃ, mayā saha dakkhasi ehi katte;
Yatthacchati naccagītehi nāgo, rājā yathā vessavaṇo naḷiññaṃ †.
Come then, O Kuru, see with me this place of matchless power, where the Nāga dwells amidst dance and song, like King Vessavaṇa in Naḷinī.
“Này người thợ, vậy thì hãy đến, ngài sẽ cùng ta thấy nơi ở có uy lực không gì sánh bằng, nơi mà vua Nāga sống với ca múa, giống như vua Vessavaṇa ở tại Naḷinī.”
1578.
1578.
1578.
‘‘Taṃ nāgakaññā caritaṃ gaṇena, nikīḷitaṃ niccamaho ca rattiṃ;
Pahūtamālyaṃ † bahupupphachannaṃ †, obhāsatī vijjurivantalikkhe.
That place, frequented by groups of Nāga maidens, ever filled with sport by day and night, abundant with garlands, covered with many flowers, shines like lightning in the sky.
“Nơi ấy, với đoàn thiếu nữ Nāga đi lại, vui đùa luôn cả ngày lẫn đêm, với nhiều vòng hoa, được bao phủ bởi nhiều đóa hoa, tỏa sáng như tia chớp ở giữa không trung.”
1579.
1579.
1579.
‘‘Annena pānena upetarūpaṃ, naccehi gītehi ca vāditehi;
Paripūraṃ kaññāhi alaṅkatāhi, upasobhati vatthapilandhanena †.
Endowed with food and drink, with dances, songs, and music, replete with well-adorned maidens, it shines with garments and ornaments.
“Nơi ấy đầy đủ đồ ăn thức uống, với các điệu múa, bài hát, và tiếng nhạc. Tràn ngập các thiếu nữ được trang điểm, rực rỡ với y phục và đồ trang sức.”
1580.
1580.
1580.
‘‘So puṇṇako kurūnaṃ kattuseṭṭhaṃ, nisīdayī pacchato āsanasmiṃ;
Ādāya kattāramanomapaññaṃ, upānayī bhavanaṃ nāgarañño.
Then Puṇṇaka had the foremost of the Kurus sit behind him on the seat. Taking the Kuru of discerning wisdom, he brought him to the palace of the Nāga king.
Puṇṇaka ấy đã cho người thợ bậc nhất của xứ Kuru ngồi ở phía sau trên chỗ ngồi. Mang theo người thợ có trí tuệ cao thượng, y đã đến cung điện của vua Nāga.
1581.
1581.
1581.
‘‘Patvāna ṭhānaṃ atulānubhāvaṃ, aṭṭhāsi kattā pacchato puṇṇakassa;
Sāmaggi pekkhamāno † nāgarājā, pubbeva jāmātaramajjhabhāsatha’’.
Having reached that place of immeasurable power, the Kuru stood behind Puṇṇaka. Expecting concord, the Nāga king addressed his son-in-law beforehand.
Sau khi đến nơi có uy lực không gì sánh bằng, người thợ đứng ở phía sau Puṇṇaka. Vua Nāga, trong khi nhìn thấy sự hội họp, đã nói với người con rể trước tiên.
1582.
1582.
1582.
‘‘Yannu tuvaṃ agamā maccalokaṃ, anvesamāno hadayaṃ paṇḍitassa;
Kacci samiddhena idhānupatto, ādāya kattāramanomapaññaṃ’’.
You went to the world of mortals, seeking the heart of the wise one; have you now arrived here successfully, bringing the Kuru of discerning wisdom?
“Việc ngươi đã đi đến thế giới của người phàm, tìm kiếm trái tim của bậc hiền trí, có phải ngươi đã thành công trở về đây, mang theo người thợ có trí tuệ cao thượng chăng?”
1583.
1583.
1583.
‘‘Ayañhi so āgato yaṃ tvamicchasi, dhammena laddho mama dhammapālo;
Taṃ passatha sammukhā † bhāsamānaṃ, sukho have † sappurisehi saṅgamo’’.
Here he has come, the one you desired, rightfully obtained, my protector of the Dhamma. See him there, speaking face to face; truly, happy is association with the good.
“Vị này chính là người mà ngài mong muốn, đã đến đây rồi. Vị hộ pháp của tôi, đã được có được một cách đúng pháp. Hãy nhìn ngài ấy đang nói chuyện trực diện. Thật vậy, sự giao thiệp với bậc chân nhân là hạnh phúc.”
Kālāgirikaṇḍaṃ nāma.
The Chapter Called 'Kālāgiri'.
Phẩm tên là Kālāgiri.
1584.
1584.
1584.
‘‘Adiṭṭhapubbaṃ disvāna, macco maccubhayaṭṭito †;
Byamhito nābhivādesi, nayidaṃ paññavatāmiva’’.
Having seen one never seen before, a mortal, standing in fear of death, terrified, does not pay respect. This is not how the wise behave.
“Thấy điều chưa từng thấy, người phàm, đứng trước nỗi sợ hãi cái chết, bị bối rối nên không đảnh lễ. Điều này không giống như hành vi của người có trí tuệ.”
1585.
1585.
1585.
‘‘Na camhi byamhito nāga, na ca maccubhayaṭṭito;
Na vajjho abhivādeyya, vajjhaṃ vā nābhivādaye.
I am not terrified, O Nāga, nor do I stand in fear of death. One condemned should not pay respect, nor should one accept respect from the condemned.
“Thưa Nāga, tôi không bối rối, cũng không đứng trước nỗi sợ hãi cái chết. Người sắp bị giết không nên đảnh lễ, hoặc người ta không đảnh lễ kẻ sắp bị giết.”
1586.
1586.
1586.
‘‘Kathaṃ no abhivādeyya, abhivādāpayetha ve;
Yaṃ naro hantumiccheyya, taṃ kammaṃ nupapajjati’’.
How should one pay respect, or accept respect, when a person wishes to kill another? Such an action is not fitting.
“Làm sao có thể đảnh lễ, hoặc làm cho người khác đảnh lễ, người mà mình muốn giết? Hành động ấy là không thích hợp.”
1587.
1587.
1587.
‘‘Evametaṃ yathā brūsi, saccaṃ bhāsasi paṇḍita;
Na vajjho abhivādeyya, vajjhaṃ vā nābhivādaye.
It is just as you say; you speak the truth, O wise one. The condemned should not pay respect, nor should one accept respect from the condemned.
“Đúng như ngài nói, hỡi bậc hiền trí, ngài nói lên sự thật. Người sắp bị giết không nên đảnh lễ, hoặc người ta không đảnh lễ kẻ sắp bị giết.”
1588.
1588.
1588.
‘‘Kathaṃ no abhivādeyya, abhivādāpayetha ve;
Yaṃ naro hantumiccheyya, taṃ kammaṃ nupapajjati’’.
How should one pay respect, or accept respect, when a person wishes to kill another? Such an action is not fitting.
“Làm sao có thể đảnh lễ, hay làm cho người khác đảnh lễ? Người mà một người muốn giết, hành động ấy không thích hợp.”
1589.
1589.
1589.
‘‘Asassataṃ sassataṃ nu tavayidaṃ, iddhījutībalavīriyūpapatti †;
Pucchāmi taṃ nāgarājetamatthaṃ, kathaṃ nu te laddhamidaṃ vimānaṃ.
Is this attainment of yours—this power, splendor, strength, and energy—eternal or not eternal? I ask you this matter, O Nāga king: how did you obtain this celestial mansion?
“Sự thành tựu về thần thông, hào quang, sức mạnh, và tinh tấn này của ngài là vô thường hay là thường hằng? Tôi hỏi ngài, hỡi Long vương, về ý nghĩa này, làm sao ngài đã có được lâu đài này?”
1590.
1590.
1590.
‘‘Adhiccaladdhaṃ pariṇāmajaṃ te, sayaṃkataṃ udāhu devehi dinnaṃ;
Akkhāhi me nāgarājetamatthaṃ, yatheva te laddhamidaṃ vimānaṃ.
Was it obtained by chance, born from the ripening of past action, self-made, or given by the gods? Explain this matter to me, O Nāga king, just how you obtained this celestial mansion.
“Lâu đài này của ngài là do ngẫu nhiên có được, hay do sự biến hóa, hay do tự mình làm ra, hay là do chư Thiên ban cho? Xin hãy nói cho tôi biết, hỡi Long vương, về ý nghĩa này, làm thế nào mà ngài đã có được lâu đài này.”
1591.
1591.
1591.
‘‘Nādhiccaladdhaṃ na pariṇāmajaṃ me, na sayaṃkataṃ nāpi devehi dinnaṃ;
Sakehi kammehi apāpakehi, puññehi me laddhamidaṃ vimānaṃ’’.
Not gained by chance, nor by transformation, not self-made, nor given by the gods. By my own blameless deeds, by merits, this mansion was gained by me.
“Lâu đài này của tôi không phải do ngẫu nhiên có được, không phải do sự biến hóa, không phải do tự mình làm ra, cũng không phải do chư Thiên ban cho; do những hành động không ác độc của chính mình, do những phước báu mà tôi đã có được lâu đài này.”
1592.
1592.
1592.
‘‘Kiṃ te vataṃ kiṃ pana brahmacariyaṃ, kissa suciṇṇassa ayaṃ vipāko;
Iddhījutībalavīriyūpapatti, idañca te nāga mahāvimānaṃ’’.
What was your observance, what was your holy life? Of what well-practiced deed is this the result: this attainment of psychic power, splendor, strength, and energy, and this great mansion of yours, O Nāga?
“Giới hạnh của ngài là gì, phạm hạnh của ngài là gì? Quả báo này là của thiện hạnh nào? Sự thành tựu về thần thông, hào quang, sức mạnh, và tinh tấn, và lâu đài vĩ đại này của ngài, hỡi Long vương.”
1593.
1593.
1593.
‘‘Ahañca bhariyā ca manussaloke, saddhā ubho dānapatī ahumhā;
Opānabhūtaṃ me gharaṃ tadāsi, santappitā samaṇabrāhmaṇā ca.
My wife and I, in the human world, were both faithful and patrons of giving. My home then was like a public well, and ascetics and brahmins were satisfied.
“Tôi và vợ tôi ở cõi người, cả hai đều có đức tin, là những người chủ về bố thí. Ngôi nhà của tôi khi ấy giống như một giếng nước, các vị Sa-môn và Bà-la-môn đã được làm cho hài lòng.”
1594.
1594.
1594.
‘‘Mālañca gandhañca vilepanañca, padīpiyaṃ seyyamupassayañca;
Acchādanaṃ sāyanamannapānaṃ, sakkacca dānāni adamha tattha.
Garlands, perfumes, and unguents; lamps, beds, and lodgings; clothing, savories, food, and drink—we gave these gifts there with respect.
“Vòng hoa, hương liệu, và vật thoa xức, đèn đuốc, giường nằm, và nơi trú ngụ, y phục, thức ăn và đồ uống, chúng tôi đã cúng dường những vật thí ấy một cách kính cẩn ở nơi đó.”
1595.
1595.
1595.
‘‘Taṃ me vataṃ taṃ pana brahmacariyaṃ, tassa suciṇṇassa ayaṃ vipāko;
Iddhījutībalavīriyūpapatti, idañca me dhīra mahāvimānaṃ’.
That was my observance, that my holy life; of that well-practiced deed this is the result: this attainment of psychic power, splendor, strength, and energy, and this great mansion of mine, O wise one.
“Đó là giới hạnh của tôi, đó là phạm hạnh của tôi. Đây là quả báo của thiện hạnh ấy: sự thành tựu về thần thông, hào quang, sức mạnh, và tinh tấn, và lâu đài vĩ đại này của tôi, hỡi bậc hiền trí.”
1596.
1596.
1596.
‘‘Evaṃ ce te laddhamidaṃ vimānaṃ, jānāsi puññānaṃ phalūpapattiṃ;
Tasmā hi dhammaṃ cara appamatto, yathā vimānaṃ puna māvasesi’.
If you have thus obtained this mansion, you know the arising of the fruit of merit. Therefore, practice the Dhamma diligently, so that you may not lack a mansion again.
“Nếu ngài đã có được lâu đài này như vậy, và biết được sự thành tựu quả báo của các phước báu, thì do đó, hãy thực hành Pháp không phóng dật, để ngài có thể lại được ở trong lâu đài.”
1597.
1597.
1597.
‘‘Nayidha santi samaṇabrāhmaṇā ca, yesannapānāni dademu katte;
Akkhāhi me pucchito etamatthaṃ, yathā vimānaṃ puna māvasema’’.
For here there are no ascetics or brahmins to whom we might give food and drink. Being asked, explain this matter to me: how may we dwell in a mansion again?
“Ở đây không có các vị Sa-môn và Bà-la-môn, để chúng tôi có thể cúng dường vật thực và đồ uống, hỡi ngài tác giả. Xin hãy nói cho tôi biết, khi được hỏi, về ý nghĩa này, làm thế nào để chúng tôi có thể lại được ở trong lâu đài.”
1598.
1598.
1598.
‘‘Bhogī hi te santi idhūpapannā, puttā ca dārā anujīvino ca;
Tesu tuvaṃ vacasā kammunā ca, asampaduṭṭho ca bhavāhi niccaṃ.
For you have fellow serpents reborn here, sons, wives, and dependents. Towards them, in word and deed, be always uncorrupted.
“Quả vậy, có những loài rắn đã sanh ở đây, là con cái, vợ, và những người tùy tùng của ngài. Đối với họ, ngài bằng lời nói và hành động, hãy luôn luôn không có ác ý.”
1599.
1599.
1599.
‘‘Evaṃ tuvaṃ nāga asampadosaṃ, anupālaya vacasā kammunā ca;
Ṭhatvā idha yāvatāyukaṃ vimāne, uddhaṃ ito gacchasi devalokaṃ’’.
Thus, O Nāga, maintain non-offense in speech and action; having dwelt here in the mansion for the duration of your life, you will go upwards from here to the world of the gods.
“Như vậy, hỡi Long vương, ngài hãy duy trì sự không sân hận bằng lời nói và hành động. Sau khi sống ở đây trong lâu đài này cho đến hết tuổi thọ, từ đây ngài sẽ đi lên cõi trời.”
1600.
1600.
1600.
‘‘Addhā hi so socati rājaseṭṭho, tayā vinā yassa tuvaṃ sajibbo;
Dukkhūpanītopi tayā samecca, vindeyya poso sukhamāturopi’’.
Surely that most excellent king grieves, being without you for whom you are as life itself. Even one overcome by suffering, even one who is sick, would find happiness upon meeting you.
“Chắc chắn vị vua cao quý ấy đang sầu muộn, người mà ngài là bạn đồng hành, khi vắng ngài. Dù bị đau khổ chi phối, khi gặp lại ngài, người ấy, dù đang bệnh, cũng sẽ tìm thấy hạnh phúc.”
1601.
1601.
1601.
‘‘Addhā sataṃ bhāsasi nāga dhammaṃ, anuttaraṃ atthapadaṃ suciṇṇaṃ;
Etādisiyāsu hi āpadāsu, paññāyate mādisānaṃ viseso’’.
Truly, O Nāga, you speak the Dhamma of the good, unexcelled and meaningful. For in calamities such as these, the distinction of those like me is made known.
“Chắc chắn ngài nói về Pháp của bậc thiện, hỡi Long vương, là con đường lợi ích vô thượng, được khéo thực hành. Quả vậy, trong những tai họa như thế này, sự khác biệt của những người như tôi được nhận biết.”
1602.
1602.
1602.
‘‘Akkhāhi no tāyaṃ mudhā nu laddho, akkhehi no tāyaṃ ajesi jūte;
Dhammena laddho iti tāyamāha †, kathaṃ nu tvaṃ hatthamimassa māgato’’.
Tell us, was this man obtained for nothing? Tell us, did someone win you at dice? You say, 'I was obtained righteously.' How then did you come into this one's hand?
“Hãy nói cho chúng tôi biết, người này có phải được nhận một cách vô ích không? Hãy nói cho chúng tôi biết, người này có phải đã thắng trong cuộc đánh bạc không? Người này nói rằng ‘đã được nhận một cách hợp pháp’. Làm thế nào mà ngài đã rơi vào tay của người này?”
1603.
1603.
1603.
‘‘Yo missaro tattha ahosi rājā, tamāyamakkhehi ajesi jūte;
So maṃ jito rājā imassadāsi, dhammena laddhosmi asāhasena.
The king who was the lord there—this one defeated him at dice. That defeated king gave me to him. I was obtained righteously, without violence.
“Vị vua nào là người có quyền lực ở đó, người này đã thắng vị ấy trong cuộc đánh bạc bằng xúc xắc. Vị vua ấy, sau khi bị thua, đã trao tôi cho người này. Tôi đã được nhận một cách hợp pháp, không phải bằng bạo lực.”
1604.
1604.
1604.
‘‘Mahorago attamano udaggo, sutvāna dhīrassa subhāsitāni;
Hatthe gahetvāna anomapaññaṃ, pāvekkhi bhariyāya tadā sakāse.
The great serpent, joyful and elated, hearing the wise one's well-spoken words, took the one of noble wisdom by the hand and then led him into his wife's presence.
“Con mãng xà lớn, tâm hoan hỷ, phấn khởi, sau khi nghe những lời khéo nói của bậc hiền trí, đã nắm tay bậc trí tuệ không tỳ vết, rồi đi vào nơi ở của vợ mình.”
1605.
1605.
1605.
‘‘Yena tvaṃ vimale paṇḍu, yena bhattaṃ na ruccati;
Na ca me tādiso vaṇṇo, ayameso tamonudo.
He for whom you are pale, O Vimalā, for whom food does not please you—this is that dispeller of darkness.
“Hỡi nàng Vimalā, vì người nào mà nàng trở nên xanh xao, vì người nào mà thức ăn không làm nàng ngon miệng, và sắc diện của ta cũng không còn như trước, đây chính là người ấy, người xua tan bóng tối.”
1606.
1606.
1606.
‘‘Yassa te hadayenattho, āgatāyaṃ pabhaṅkaro;
Tassa vākyaṃ nisāmehi, dullabhaṃ dassanaṃ puna.
He whose heart you desire, this light-maker has come. Listen to his words; to see him again is rare.
“Người mà nàng cần đến trái tim, người tạo ra ánh sáng ấy đã đến đây. Hãy lắng nghe lời nói của người ấy, việc gặp lại là khó có được.”
1607.
1607.
1607.
‘‘Disvāna taṃ vimalā bhūripaññaṃ, dasaṅgulī añjaliṃ paggahetvā;
Haṭṭhena bhāvena patītarūpā, iccabravi kurūnaṃ kattuseṭṭhaṃ.
Vimalā, seeing him of vast wisdom, raised her ten-fingered hands in reverence. Appearing delighted and with a joyful heart, she spoke thus to the foremost of the Kurus.
“Nàng Vimalā, sau khi nhìn thấy bậc trí tuệ rộng lớn ấy, đã chắp mười ngón tay thành búp sen, với tâm trạng vui mừng, vẻ mặt hoan hỷ, đã nói điều này với bậc tác giả cao quý của xứ Kuru.”
1608.
1608.
1608.
‘‘Adiṭṭhapubbaṃ disvāna, macco maccubhayaṭṭito;
Byamhito nābhivādesi, nayidaṃ paññavatāmiva’’.
Having seen one never seen before, a mortal, beset by fear of death, would be bewildered and not pay homage. This is not like the wise.
“Sau khi thấy điều chưa từng thấy, người phàm, đứng trước nỗi sợ hãi cái chết, đã kinh ngạc và không đảnh lễ. Điều này không giống như (hành xử của) những người có trí tuệ.”
1609.
1609.
1609.
‘‘Na camhi byamhito nāgi, na ca maccubhayaṭṭito;
Na vajjho abhivādeyya, vajjhaṃ vā nābhivādaye.
I am not bewildered, O Nāgī, nor am I beset by fear of death. One who is to be killed should not pay homage, nor should one pay homage to one who is to be killed.
“Tôi không kinh ngạc, hỡi Long nữ, cũng không đứng trước nỗi sợ hãi cái chết. Người đáng bị giết không nên đảnh lễ, hoặc không nên đảnh lễ người đáng bị giết.”
1610.
1610.
1610.
‘‘Kathaṃ no abhivādeyya, abhivādāpayetha ve;
Yaṃ naro hantumiccheyya, taṃ kammaṃ nupapajjati’’.
How could one pay homage to, or have homage paid by, a person whom one wishes to kill? Such an action is not fitting.
“Làm sao có thể đảnh lễ, hay làm cho người khác đảnh lễ? Người mà một người muốn giết, hành động ấy không thích hợp.”
1611.
1611.
1611.
‘‘Evametaṃ yathā brūsi, saccaṃ bhāsasi paṇḍita;
Na vajjho abhivādeyya, vajjhaṃ vā nābhivādaye.
It is so, as you say. You speak the truth, O wise one. One who is to be killed should not pay homage, nor should one pay homage to one who is to be killed.
“Điều này đúng như ngài nói, ngài nói sự thật, hỡi bậc hiền trí. Người đáng bị giết không nên đảnh lễ, hoặc không nên đảnh lễ người đáng bị giết.”
1612.
1612.
1612.
‘‘Kathaṃ no abhivādeyya, abhivādāpayetha ve;
Yaṃ naro hantumiccheyya, taṃ kammaṃ nupapajjati’’.
How could one pay homage to, or have homage paid by, a person whom one wishes to kill? Such an action is not fitting.
“Làm sao có thể đảnh lễ, hay làm cho người khác đảnh lễ? Người mà một người muốn giết, hành động ấy không thích hợp.”
1613.
1613.
1613.
‘‘Asassataṃ sassataṃ nu tavayidaṃ, iddhījutībalavīriyūpapatti;
Pucchāmi taṃ nāgakaññetamatthaṃ, kathaṃ nu te laddhamidaṃ vimānaṃ.
Is this attainment of psychic power, splendor, strength, and energy of yours impermanent or permanent? I ask you this, O Nāga maiden: how did you obtain this mansion?
“Sự thành tựu về thần thông, hào quang, sức mạnh, và tinh tấn này của nàng là vô thường hay là thường hằng? Tôi hỏi nàng, hỡi Long nữ, về ý nghĩa này, làm sao nàng đã có được lâu đài này?”
1614.
1614.
1614.
‘‘Adhiccaladdhaṃ pariṇāmajaṃ te, sayaṃkataṃ udāhu devehi dinnaṃ;
Akkhāhi me nāgakaññetamatthaṃ, yatheva te laddhamidaṃ vimānaṃ’’.
Was it gained by chance, by transformation, self-made, or given by the gods? Explain to me, O Nāga maiden, just how you obtained this mansion.
“Lâu đài này của nàng là do ngẫu nhiên có được, hay do sự biến hóa, hay do tự mình làm ra, hay là do chư Thiên ban cho? Xin hãy nói cho tôi biết, hỡi Long nữ, về ý nghĩa này, làm thế nào mà nàng đã có được lâu đài này.”
1615.
1615.
1615.
‘‘Nādhiccaladdhaṃ na pariṇāmajaṃ me, na sayaṃ kataṃ nāpi devehi dinnaṃ;
Sakehi kammehi apāpakehi, puññehi me laddhamidaṃ vimānaṃ’’.
It was not gained by chance, nor by transformation, not self-made, nor given by the gods. By my own blameless deeds, by merits, this mansion was gained by me.
“Lâu đài này của tôi không phải do ngẫu nhiên có được, không phải do sự biến hóa, không phải do tự mình làm ra, cũng không phải do chư Thiên ban cho; do những hành động không ác độc của chính mình, do những phước báu mà tôi đã có được lâu đài này.”
1616.
1616.
1616.
‘‘Kiṃ te vataṃ kiṃ pana brahmacariyaṃ, kissa suciṇṇassa ayaṃ vipāko;
Iddhījutībalavīriyūpapatti, idañca te nāgi mahāvimānaṃ’’.
What was your observance, what was your holy life? Of what well-practiced deed is this the result: this attainment of psychic power, splendor, strength, and energy, and this great mansion of yours, O Nāgī?
“Giới hạnh của nàng là gì, phạm hạnh của nàng là gì? Quả báo này là của thiện hạnh nào? Sự thành tựu về thần thông, hào quang, sức mạnh, và tinh tấn, và lâu đài vĩ đại này của nàng, hỡi Long nữ.”
1617.
1617.
1617.
‘‘Ahañca kho sāmiko cāpi mayhaṃ, saddhā ubho dānapatī ahumhā;
Opānabhūtaṃ me gharaṃ tadāsi, santappitā samaṇabrāhmaṇā ca.
Indeed, I and my husband were both faithful and patrons of giving. My home then was like a public well, and ascetics and brahmins were satisfied.
“Quả vậy, tôi và chồng của tôi, cả hai đều có đức tin, là những người chủ về bố thí. Ngôi nhà của tôi khi ấy giống như một giếng nước, các vị Sa-môn và Bà-la-môn đã được làm cho hài lòng.”
1618.
1618.
1618.
‘‘Mālañca gandhañca vilepanañca, padīpiyaṃ seyyamupassayañca;
Acchādanaṃ sāyanamannapānaṃ, sakkaccaṃ dānāni adamha tattha.
Garlands, perfumes, and unguents; lamps, beds, and lodgings; clothing, savories, food, and drink—we gave these gifts there with respect.
‘Và vòng hoa, và hương thơm, và vật thoa xức, và đèn dầu, giường nằm, và trú xá; và y phục, chỗ nằm, đồ ăn, thức uống, ở nơi ấy chúng tôi đã dâng cúng các vật thí một cách kính cẩn.
1619.
1619.
1619.
‘‘Taṃ me vataṃ taṃ pana brahmacariyaṃ, tassa suciṇṇassa ayaṃ vipāko;
Iddhījutībalavīriyūpapatti, idañca me dhīra mahāvimānaṃ’’.
That was my observance, that my holy life; of that well-practiced deed this is the result: this attainment of psychic power, splendor, strength, and energy, and this great mansion of mine, O wise one.
‘Đấy là lời nguyện của tôi, đấy lại là đời sống Phạm hạnh, đây là quả báo của việc đã được thực hành tốt đẹp ấy; sự thành tựu về thần thông, hào quang, sức mạnh, tinh tấn, và này bậc hiền trí, đây là đại thiên cung của tôi’.
1620.
1620.
1620.
‘‘Evaṃ ce te laddhamidaṃ vimānaṃ, jānāsi puññānaṃ phalūpapattiṃ;
Tasmā hi dhammaṃ cara appamattā, yathā vimānaṃ puna māvasesi’’.
If you have thus obtained this mansion, and you know the arising of the fruit of merit, therefore practice the Dhamma diligently, so that you may not lack a mansion again.
‘Nếu thiên cung này đã được ngươi thành tựu như thế, và ngươi biết được sự thành tựu quả báo của các phước thiện; vì thế, hãy thực hành Chánh Pháp không dể duôi, để ngươi có thể lại được ở trong thiên cung’.
1621.
1621.
1621.
‘‘Nayidha santi samaṇabrāhmaṇā ca, yesannapānāni dademu katte;
Akkhāhi me pucchito etamatthaṃ, yathā vimānaṃ puna māvasema’’.
For here there are no ascetics or brahmins to whom we might give food and drink. Being asked, explain this matter to me: how may we dwell in a mansion again?
‘Ở đây không có các vị Sa-môn và Bà-la-môn, là những người mà chúng tôi có thể dâng cúng đồ ăn thức uống, hỡi bậc tác giả; được hỏi, xin ngài hãy nói cho tôi về ý nghĩa này, để chúng tôi có thể lại được ở trong thiên cung’.
1622.
1622.
1622.
‘‘Bhogī hi te santi idhūpapannā, puttā ca dārā anujīvino ca;
Tesu tuvaṃ vacasā kammunā ca, asampaduṭṭhā ca bhavāhi niccaṃ.
For you have fellow serpents reborn here, sons, wives, and dependents. Towards them, in word and deed, be always uncorrupted.
‘Quả thật, ở đây có các loài rắn đã được sanh lên là của ngươi, và các con trai, các người vợ, và các kẻ tùy thuộc; đối với họ, ngươi hãy luôn luôn không có tâm ý ác độc bằng lời nói và bằng hành động.
1623.
1623.
1623.
‘‘Evaṃ tuvaṃ nāgi asampadosaṃ, anupālaya vacasā kammunā ca;
Ṭhatvā idha yāvatāyukaṃ vimāne, uddhaṃ ito gacchasi devalokaṃ’’.
Thus, O Nāgī, maintain non-offense in speech and action; having dwelt here in the mansion for the duration of your life, you will go upwards from here to the world of the gods.
‘Hỡi nàng Nāgī, như thế ngươi hãy bảo vệ trạng thái không sân hận bằng lời nói và bằng hành động; sau khi đã lưu lại ở đây trong thiên cung cho đến hết tuổi thọ, từ nơi đây ngươi sẽ đi lên cõi trời’.
1624.
1624.
1624.
‘‘Addhā hi so socati rājaseṭṭho, tayā vinā yassa tuvaṃ sajibbo;
Dukkhūpanītopi tayā samecca, vindeyya poso sukhamāturopi’’.
Surely that most excellent king grieves, being without you for whom you are as life itself. Even one overcome by suffering, even one who is sick, would find happiness upon meeting you.
‘Quả thật, vị vua cao quý ấy đang sầu muộn, người mà không có ngài, là người mà ngài là bạn đồng hành; dầu bị khổ đau áp bức, dầu là người bệnh hoạn, sau khi gặp gỡ ngài, người ấy sẽ tìm thấy được an lạc’.
1625.
1625.
1625.
‘‘Addhā sataṃ bhāsasi nāgi dhammaṃ, anuttaraṃ atthapadaṃ suciṇṇaṃ;
Etādisiyāsu hi āpadāsu, paññāyate mādisānaṃ viseso’’.
Truly, O Nāgī, you speak the Dhamma of the good, unexcelled and meaningful. For in calamities such as these, the distinction of those like me is made known.
‘Quả thật, hỡi nàng Nāgī, nàng nói về Chánh Pháp của bậc chân nhân, là điều vô thượng, là câu kệ ý nghĩa, là điều được thực hành tốt đẹp; quả thật, trong những tai họa như thế này, sự đặc biệt của những người giống như tôi được biết đến’.
1626.
1626.
1626.
‘‘Akkhāhi no tāyaṃ mudhā nu laddho, akkhehi no tāyaṃ ajesi jūte;
Dhammena laddho iti tāyamāha, kathaṃ nu tvaṃ hatthamimassa māgato’’.
Tell us, was this man obtained for nothing? Tell us, did someone win you at dice? You say, 'I was obtained righteously.' How then did you come into this one's hand?
‘Xin hãy nói cho chúng tôi, có phải bậc tôn quý này đã bị đoạt một cách vô ích? Xin hãy nói cho chúng tôi, có phải ngài đã thắng bậc tôn quý này trong ván cờ xúc xắc? Bậc tôn quý này nói rằng: ‘Đã được đoạt một cách hợp pháp.’ Thế thì làm thế nào ngài đã đi vào tay của người này?’
1627.
1627.
1627.
‘‘Yo missaro tattha ahosi rājā, tamāyamakkhehi ajesi jūte;
So maṃ jito rājā imassadāsi, dhammena laddhosmi asāhasena.
The king who was the lord there—this one defeated him at dice. That defeated king gave me to him. I was obtained righteously, without violence.
‘Vị vua là người có quyền thế ở nơi ấy, người này đã chiến thắng vị ấy trong ván cờ xúc xắc; vị vua ấy, sau khi bị chinh phục, đã trao tôi cho người này. Tôi đã bị đoạt một cách hợp pháp, không do bạo lực.
1628.
1628.
1628.
‘‘Yatheva varuṇo nāgo, pañhaṃ pucchittha paṇḍitaṃ;
Tatheva nāgakaññāpi, pañhaṃ pucchittha paṇḍitaṃ.
Just as Varuṇa the Nāga asked the wise one a question, so too the Nāga maiden asked the wise one a question.
‘Giống như Varuṇa, vị Nāga, đã hỏi câu hỏi đến bậc hiền trí; cũng giống như thế, nàng thiếu nữ Nāga cũng đã hỏi câu hỏi đến bậc hiền trí.
1629.
1629.
1629.
‘‘Yatheva varuṇaṃ nāgaṃ, dhīro tosesi pucchito;
Tatheva nāgakaññampi, dhīro tosesi pucchito.
Just as the wise one, being questioned, pleased Varuṇa the Nāga, so too the wise one, being questioned, pleased the Nāga maiden.
‘Giống như bậc hiền trí, sau khi được hỏi, đã làm cho Varuṇa, vị Nāga, được hài lòng; cũng giống như thế, bậc hiền trí, sau khi được hỏi, đã làm cho nàng thiếu nữ Nāga được hài lòng.
1630.
1630.
1630.
‘‘Ubhopi te attamane viditvā, mahoragaṃ nāgakaññañca dhīro †;
Achambhī abhīto alomahaṭṭho, iccabravi varuṇaṃ nāgarājānaṃ.
The wise one, knowing that both the great serpent and the Nāga maiden were pleased in mind, being himself unstartled, fearless, and with hair not bristling, spoke thus to Varuṇa, the Nāga king.
‘Sau khi biết được cả hai vị ấy, con rắn lớn và nàng thiếu nữ Nāga, đều có tâm ý hoan hỷ, bậc hiền trí không run sợ, không khiếp đảm, không dựng lông tóc, đã nói điều này với Varuṇa, vị vua Nāga.
1631.
1631.
1631.
‘‘Mā rodhayi † nāga āyāhamasmi, yena tavattho idaṃ sarīraṃ;
Hadayena maṃsena karohi kiccaṃ, sayaṃ karissāmi yathāmati te’’.
"Do not hinder me, O Nāga, I have come for your purpose. With heart and flesh do what must be done; I myself will do as you think fit."
‘Này Nāga, chớ có trì hoãn, tôi đang ở đây, thân này là vì mục đích nào của ngài; hãy thực hiện công việc với tim và thịt, chính tôi sẽ làm theo như ý muốn của ngài’.
1632.
1632.
1632.
‘‘Paññā have hadayaṃ paṇḍitānaṃ, te tyamha paññāya mayaṃ sutuṭṭhā;
Anūnanāmo labhatajja dāraṃ, ajjeva taṃ kuruyo pāpayātu’’.
"Wisdom indeed is the heart of the wise, and by that wisdom we are greatly pleased. May Anūnanāma obtain his wife today; may he lead her to the Kurus even today."
‘Quả thật, trí tuệ là quả tim của các bậc hiền trí, chúng tôi rất hài lòng với trí tuệ ấy của ngài; hôm nay, người có danh xưng không thiếu sót hãy nhận lấy người vợ, ngay hôm nay, người ấy hãy đưa ngài đến xứ Kuru’.
1633.
1633.
1633.
‘‘Sa puṇṇako attamano udaggo, irandhatiṃ nāgakaññaṃ labhitvā;
Haṭṭhena bhāvena patītarūpo, iccabravi kurūnaṃ kattuseṭṭhaṃ.
That Puṇṇaka, delighted and elated, having obtained the Nāga maiden Irandhatī, with a joyous disposition and pleased appearance, thus spoke to the chief counsellor of the Kurus.
‘Puṇṇaka ấy, với tâm ý hoan hỷ, phấn khởi, sau khi đã nhận được Irandhatī, nàng thiếu nữ Nāga; với bản tánh vui mừng, với vẻ hoan hỷ, đã nói điều này với bậc tác giả cao quý của xứ Kuru.
1634.
1634.
1634.
‘‘Bhariyāya maṃ tvaṃ akari samaṅgiṃ, ahañca te vidhura karomi kiccaṃ;
Idañca te maṇiratanaṃ dadāmi, ajjeva taṃ kuruyo pāpayāmi’’.
"You have endowed me with a wife, and I, O Vidhura, will do what is needful for you. This jewel I also give to you, and today I will take you to the land of the Kurus."
‘Ngài đã làm cho tôi được đoàn tụ với vợ, và này Vidhura, tôi sẽ làm công việc cho ngài; và tôi trao cho ngài viên ngọc quý này, ngay hôm nay, tôi sẽ đưa ngài đến xứ Kuru’.
1635.
1635.
1635.
‘‘Ajeyyamesā tava hotu metti, bhariyāya kaccāna piyāya saddhiṃ;
Ānandi vitto † sumano patīto, datvā maṇiṃ mañca nayindapatthaṃ.
"May this friendship of yours be unconquerable, O Kaccāna, together with your beloved wife. Delighted, glad, well-disposed, and pleased, having given the jewel and the royal couch..."
‘Này Kaccāna, mong rằng tình bằng hữu này của ngài với người vợ thân yêu là không thể bị phá vỡ; hãy hoan hỷ, vui mừng, có tâm ý tốt đẹp, phấn khởi, sau khi đã trao viên ngọc, hãy đưa tôi đến Indapattha.
1636.
1636.
1636.
‘‘Sa puṇṇako kurūnaṃ kattuseṭṭhaṃ, nisīdayī purato āsanasmiṃ;
Ādāya kattāramanomapaññaṃ, upānayī nagaraṃ indapatthaṃ.
That Puṇṇaka seated the chief counsellor of the Kurus on the seat in front. Having taken the agent of excellent wisdom, he brought him to the city of Indapattha.
‘Puṇṇaka ấy đã để cho bậc tác giả cao quý của xứ Kuru ngồi ở phía trước trên chỗ ngồi; sau khi mang theo bậc tác giả có trí tuệ không chê trách được, người ấy đã đưa về thành phố Indapattha.
1637.
1637.
1637.
‘‘Mano manussassa yathāpi gacche, tatopissa khippataraṃ † ahosi;
Sa puṇṇako kurūnaṃ kattuseṭṭhaṃ, upānayī nagaraṃ indapatthaṃ’’.
"As swiftly as a man's mind might travel, even swifter was he. That Puṇṇaka brought the chief counsellor of the Kurus to the city of Indapattha."
‘Giống như tâm của con người có thể đi đến, chuyến đi ấy còn nhanh hơn thế nữa; Puṇṇaka ấy đã đưa bậc tác giả cao quý của xứ Kuru về thành phố Indapattha’.
1638.
1638.
1638.
‘‘Etindapatthaṃ nagaraṃ padissati, rammāni ca ambavanāni bhāgaso;
Ahañca bhariyāya samaṅgibhūto, tuvañca pattosi sakaṃ niketaṃ’’.
"Behold the city of Indapattha, and the delightful mango groves in their various parts. I am united with my wife, and you have reached your own abode."
‘Thành phố Indapattha này được nhìn thấy, và các khu rừng xoài đáng vui thích ở từng khu vực; và tôi đã được đoàn tụ với vợ, và ngài đã về đến trú xá của mình’.
1639.
1639.
1639.
‘‘Sa puṇṇako kurūnaṃ kattuseṭṭhaṃ, oropiya dhammasabhāya majjhe;
Ājaññamāruyha anomavaṇṇo, pakkāmi vehāyasamantalikkhe.
That Puṇṇaka, having caused the chief counsellor of the Kurus to descend in the middle of the assembly hall, mounted a noble steed of excellent form and departed through the air into the sky.
‘Puṇṇaka ấy, sau khi để cho bậc tác giả cao quý của xứ Kuru xuống ở giữa pháp đình; sau khi cỡi lên con tuấn mã có màu sắc không chê trách được, đã ra đi ở trên không, trong hư không.
1640.
1640.
1640.
‘‘Taṃ disvā rājā paramappatīto, uṭṭhāya bāhāhi palissajitvā;
Avikampayaṃ dhammasabhāya majjhe, nisīdayī pamukhamāsanasmiṃ’’.
Seeing him, the king was supremely pleased. Rising and embracing him with his arms, unwavering in the midst of the assembly hall, he seated him on the foremost seat.
‘Sau khi nhìn thấy vị ấy, đức vua vô cùng hoan hỷ, sau khi đứng dậy và ôm choàng bằng hai cánh tay; không có run rẩy, ở giữa pháp đình, ngài đã để cho vị ấy ngồi ở chỗ ngồi chính’.
1641.
1641.
1641.
‘‘Tvaṃ no vinetāsi rathaṃva naddhaṃ, nandanti taṃ kuruyo dassanena;
Akkhāhi me pucchito etamatthaṃ, kathaṃ pamokkho ahu māṇavassa’’.
"You are our guide, like a trainer of a yoked chariot. The Kurus rejoice at seeing you. Being asked by me, explain this matter: how was the release of that young man?"
‘Ngài là người huấn luyện của chúng tôi, giống như cỗ xe đã được thắng yên cương, dân chúng Kuru vui mừng với việc nhìn thấy ngài; được hỏi, xin hãy nói cho tôi về ý nghĩa này, sự giải thoát khỏi người thanh niên đã xảy ra như thế nào?’
1642.
1642.
1642.
‘‘Yaṃ māṇavotyābhivadī janinda, na so manusso naravīraseṭṭha;
Yadi te suto puṇṇako nāma yakkho, rañño kuverassa hi so sajibbo.
"He whom you call a young man, O king, is not human, O best of heroes. If you have heard of the yakkha named Puṇṇaka, he is indeed a courtier of King Kuvera."
‘Này vị vua của dân chúng, người mà ngài gọi là thanh niên, người ấy không phải là con người, hỡi bậc cao quý, bậc anh hùng của loài người; nếu ngài đã nghe nói về vị dạ-xoa tên là Puṇṇaka, quả thật người ấy là bạn đồng hành của vua Kuvera.
1643.
1643.
1643.
‘‘Bhūmindharo varuṇo nāma nāgo, brahā sucī vaṇṇabalūpapanno;
Tassānujaṃ dhītaraṃ kāmayāno, irandhatī nāma sā nāgakaññā.
"There is a great and pure Nāga named Varuṇa, a supporter of the earth, endowed with beauty and strength. Puṇṇaka desired his younger daughter, the Nāga maiden named Irandatī."
‘Vị Nāga tên là Varuṇa, là ngọn núi trên mặt đất, to lớn, trong sạch, thành tựu về sắc đẹp và sức mạnh; trong khi mong muốn người con gái của em gái ông ta, nàng thiếu nữ Nāga ấy tên là Irandhatī.
1644.
1644.
1644.
‘‘Tassā sumajjhāya piyāya hetu, patārayittha maraṇāya mayhaṃ;
So ceva bhariyāya samaṅgibhūto, ahañca anuññāto maṇi ca laddho’’.
"For the sake of that beloved, slender-waisted one, he deceived me unto death. He is now united with his wife, and I have been given leave, and the jewel has been obtained."
‘Vì lý do người thân yêu có vòng eo thon đẹp ấy, người ấy đã lừa dối tôi để tôi phải chết; chính người ấy đã được đoàn tụ với vợ, và tôi đã được cho phép và viên ngọc đã được nhận lấy’.
1645.
1645.
1645.
‘‘Rukkho hi mayhaṃ paddhāre † sujāto, paññākkhandho sīlamayassa sākhā;
Atthe ca dhamme ca ṭhito nipāko, gavapphalo hatthigavassachanno.
"Indeed, a tree of mine is well-grown on the main road, with a trunk of wisdom and branches of virtue. Established in both welfare and in Dhamma, it is mature, bearing sought-after fruit, and frequented by elephants, cattle, and horses."
‘Quả thật, một cây đã mọc lên tốt đẹp cho tôi ở trong thành phố, thân cây là trí tuệ, cành nhánh được làm bằng giới hạnh; sự chín muồi được an lập ở trong ý nghĩa và ở trong Chánh Pháp, quả là bò, được che phủ bởi voi, bò, và ngựa.
1646.
1646.
1646.
‘‘Naccagītatūriyābhinādite, ucchijja senaṃ † puriso ahāsi;
So no ayaṃ āgato sanniketaṃ, rukkhassimassāpacitiṃ karotha.
"Amidst the sounds of dance, song, and instrumental music, a man cut off my army and took me away. Now this very one has come to our abode; perform reverence for this tree."
‘Giữa tiếng vang của vũ, ca, và nhạc cụ, một người đàn ông đã cắt đứt đội quân và đã mang đi; người này của chúng ta đã đi đến trú xá của mình, hãy thực hiện sự tôn kính đối với cây này.
1647.
1647.
1647.
‘‘Ye keci vittā mama paccayena, sabbeva te pātukarontu ajja;
Tibbāni katvāna upāyanāni, rukkhassimassāpacitiṃ karotha.
"Whatever riches exist through my agency, let all of them be made manifest today. Having prepared substantial offerings, perform reverence for this tree."
‘Bất cứ ai đã trở nên giàu có do duyên của tôi, tất cả những người ấy hãy xuất hiện ngày hôm nay; sau khi đã thực hiện các vật dâng cúng tuyệt hảo, hãy thực hiện sự tôn kính đối với cây này.
1648.
1648.
1648.
‘‘Ye keci baddhā mama atthi raṭṭhe, sabbeva te bandhanā mocayantu;
Yatheva yaṃ bandhanasmā pamutto, evamete muñcare bandhanasmā.
"Whoever are bound in my kingdom, let all of them be freed from their bonds. Just as this one was freed from bondage, so may these be released from their bonds."
“Bất cứ ai bị giam cầm trong vương quốc của ta, hãy thả tất cả họ ra khỏi xiềng xích. Giống như ta đây đã được giải thoát khỏi sự trói buộc, cũng vậy, hãy để họ được giải thoát khỏi sự trói buộc.”
1649.
1649.
1649.
‘‘Unnaṅgalā māsamimaṃ karontu, maṃsodanaṃ brāhmaṇā bhakkhayantu;
Amajjapā majjarahā pivantu, puṇṇāhi thālāhi palissutāhi.
"Let them raise their ploughs for this month; let the brahmins feast on meat and rice. Let those who abstain from intoxicants drink liquor from full and overflowing bowls."
“Trong tháng này, hãy cho dân chúng nghỉ việc cày cấy, hãy để các Bà-la-môn ăn cơm với thịt. Những người không uống rượu, hãy cho họ uống rượu ngon, từ những chén bát đầy tràn.”
1650.
1650.
1650.
‘‘Mahāpathaṃ nicca samavhayantu, tibbañca rakkhaṃ vidahantu raṭṭhe;
Yathāññamaññaṃ na viheṭhayeyyuṃ, rukkhassimassāpacitiṃ karotha’’.
"Let them always keep the great highways in order, and establish strong protection in the realm, so that they may not harm one another. Perform reverence for this tree."
“Hãy cho quét dọn các con đường lớn luôn sạch sẽ, và hãy bố trí việc canh phòng cẩn mật trong vương quốc, để không ai làm hại lẫn nhau. Hãy tỏ lòng tôn kính đối với cây này.”
1651.
1651.
1651.
Orodhā ca kumārā ca, vesiyānā ca brāhmaṇā;
Bahuṃ annañca pānañca, paṇḍitassābhihārayuṃ.
The women of the royal court and the princes, the merchants and the brahmins, brought much food and drink to the wise one.
Các cung phi và các vương tử, các thương gia và các Bà-la-môn, đã mang nhiều đồ ăn thức uống đến cho bậc hiền trí.
1652.
1652.
1652.
Hatthārohā anīkaṭṭhā, rathikā pattikārakā;
Bahuṃ annañca pānañca, paṇḍitassābhihārayuṃ.
Elephant-riders, army commanders, charioteers, and foot-soldiers brought much food and drink to the wise one.
Những người quản tượng, các tướng lãnh, những người đánh xe, và các bộ binh, đã mang nhiều đồ ăn thức uống đến cho bậc hiền trí.
1653.
1653.
1653.
Samāgatā jānapadā, negamā ca samāgatā;
Bahuṃ annañca pānañca, paṇḍitassābhihārayuṃ.
The country-folk assembled, and the town-folk assembled; they brought much food and drink to the wise one.
Dân chúng từ thôn quê đã tụ tập, và dân chúng từ thành thị cũng đã tụ tập, đã mang nhiều đồ ăn thức uống đến cho bậc hiền trí.
1654.
1654.
1654.
Bahujano pasannosi, disvā paṇḍitamāgate;
Paṇḍitamhi anuppatte, celukkhepo pavattathāti.
The multitude was delighted, seeing the wise one arrive. When the wise one had arrived, a tossing up of clothes occurred.
Đông đảo dân chúng đã hoan hỷ, khi thấy bậc hiền trí trở về. Khi bậc hiền trí đã đến nơi, họ đã tung vải lên trời để chào mừng.
Vidhurajātakaṃ navamaṃ.
The Vidhura Jātaka, the Ninth.
Chuyện Bổn Sanh Vidhura, thứ chín.