Bản dịch
JA 545 — Chuyện Bậc Đại Trí Vô Song (Tiền thân Vidhurapandita)
8. Mahānāradakassapajātaka
Yếu gầy, ái hậu lại xanh xao…,
Bậc Đạo Sư kể câu chuyện n ày khi Ngài trú ở Kỳ Viên (Jetavana), liên quan đến sự Vi ên mãn của Trí tuệ tối thắng.
Một ngày kia các Tỷ kheo đưa ra một vấn đề tranh luận tại Chánh pháp Đường, bảo nhau:
- Này các Hiền giả, Bậc Đạo Sư đ ã đạt đại trí, quảng trí, Ng ài thật tinh thông, ứng đối mau lẹ, nhạy bén, lý giải sắc xảo v à có khả n ăng đánh đổ mọi biện luận của các đối thủ của Ng ài, nhờ uy lực Thắng trí của Ngài, Ngài đ ã phá tan những vấn đề nan giải do các vị hiền trí Sát-đế-ly đưa ra v à khiến họ phải yên lặng chấp nhận. Sau khi an trú họ vào Tam quy và Ngũ giới, Ngài dạy họ con đường đưa Niết-b àn bất tử.
Bậc Đạo Sư đi v ào, hỏi các Tỷ kheo đang ngồi b àn luận đề t ài gì và khi nghe vậy, Ngài bảo:
- Này các Tỷ kheo, Như Lai sau khi đạt Trí tuệ Vi ên mãn, đ ã phá tan mọi lý luận của các đối thủ v à giáo hóa các vị vua Sát- đế- ly c ùng nhiều vị khác, việc chẳng phải kỳ diệu gì. Vì từ ngàn xưa khi Ta còn đang tầm cầu Trí tuệ Tối thượng, Ta đ ã đầy đủ trí tuệ để phá kiến các đối thủ. Hơn thế nữa, chính vào thời Vidhurakumàra, trên đỉnh Hắc Sơn, cao chừng sáu mươi dặm, nhờ uy lực Thắng trí của Ta, Ta đ ã hàng phục Đại tướng Dạ-xoa Punnaka, khiến y phải chịu im lặng v à đem sinh mạng cúng dường.
Nói xong Ngài kể một câu chuyện quá khứ.
*
I. Trai giới bốn pháp
Ngày xưa tại quốc độ Kuru (Câu-lâu) th ành Indapatta có vi quốc vương cai trị với danh hiệu Dhanañjaya-Korabba. Ngài có vị Đại thần t ên gọi Vidhurapandita (Trí giả Vô song) cố vấn cho Ngài trong các thế sự cũng như thánh sự. Nhờ lời lẽ êm ái và biện tài siêu việt lúc thuyết Pháp, ông lôi cuốn mọi quốc vương ở cõi Jambudìpa (Diêm-phù- đề: Ấn độ) bằng những Pháp thoại du dương như các con voi say m ê đ àn sáo êm dịu, ông cũng không để cho các quốc vương trở về nước m ình mà ở lại trong kinh thành đại vinh quang ấy v à thuyết Pháp cho dân chúng với thần lực của một vị Phật.
Lúc bấy giờ có bốn gia chủ Bà-la-môn giàu sang tại Ba-la-nại, vốn là thân hữu, đ ã thấy được cảnh khổ của mọi dục vọng, n ên bỏ vào vùng Tuyết Sơn sống đời ẩn sĩ khổ hạnh.
Sau khi đ ã đạt được các Thắng trí v à các Thiền chứng, các vị ấy cũng vẫn tiếp tục tu hành tại đó, hằng ng ày sống bằng các thứ củ, quả rừng. Hôm đó các vị ấy du h ành để khất thực muối v à các thứ gia vị, cũng đến th ành Kàlacampa thuộc quốc độ Anga. Rồi bốn gia chủ vốn l à thân hữu với nhau, rất hoan hỷ trước oai nghi của các vị này, họ cung kính đảnh lễ xong cầm lấy cái b ình bát cúng dường các món ăn tuyệt hảo, mỗi gia chủ đều mời các vị về nh à mình, tự nguyện sắp đặt nơi an trú cho các vị trong hoa vi ên.
Thế là bốn vị ẩn sĩ, sau khi thọ thực trong nhà bốn vị gia chủ, liền du hành suốt ngày hôm ấy, một vị lên cõi trời Ba mươi ba, một vị khác lên cõi Long vương (Nàga), một vị khác lên cõi Kim sí điểu vương (Supanna)v à vị thứ tư đến ngự vi ên Migàcira thuộc quyền của vua Koravya.
Lúc bấy giờ, vị được hưởng một ng ày ở Thiên giới, sau khi chiêm ngưỡng cảnh huy hoàng của Thiên chủ Đế-Thích (Sakka), mi êu tả thật đầy đủ chi tiết cho thí chủ m ình nghe. Vị lên cõi Long vương và Kim sí điểu vương Supanna cũng vậy, rồi vị đến ngự vi ên của vua Koravya Dhanañijaya cũng lần lượt miêu tả cảnh huy hoàng của mỗi cung vua đ ã chứng kiến. Vì vậy cả bốn thí chủ đều nguyện cầu được cộng trú với chư Thi ên, nên sau khi thực hành bố thí cùng nhiều công đức khác, đến lúc mạng chung, một vị sinh l àm Thiên chủ Đế Thích; một vị khác c ùng với vợ con sinh vào cõi Long vương; một vị nữa sinh làm Kim sí điểu Supanna trong cung điện dưới hồ Simbali; c òn vị thứ tư được nhập mẫu thai chánh hậu của vua Dhanañjaya, trong lúc ấy bốn vị ẩn sĩ được sinh l ên Phạm Thiên giới.
Vương tử Koravya lớn khôn, đến khi vua cha từ trần, l ên ngôi trị vì rất đúng pháp, nhưng ng ài còn lừng danh vì tài nghệ đánh súc sắc. Ng ài nghe lời khuyến giáo của Trí giả Vidhura chuyên tâm bố thí, giữ gìn giới hạnh và hành trì trai giới.
Một ngày kia, sau khi hành trì trai giới xong, ngài vào ngự viên, nhất tâm tu tập thiền định, t ĩnh tọa ở một nơi an tịnh, ngài thực hành giới hạnh của một vị xuất gia.
Đế Thích (Sakka) cũng vậy, sau khi hành trì trai giới, nhận thấy thiên giới có nhiều trở ngại cho việc tu tập, liền đi xuống hoa viên ấy ở cõi nhân gian, tĩnh tọa ở một nơi an tịnh và hành trì Sa-môn hạnh.
Long vương Varuna cũng thế, sau khi hành trì trai giới, nhận thấy cõi Long vương có nhiều trở ngại cho việc tu tập, nên cũng lại vào hoa viên ấy, ngồi tĩnh tọa ở một nơi an tịnh thực hành Sa-môn hạnh.
Điểu vương Supanna cũng vậy, sau khi hành trì trai giới, nhận thấy rằng cõi Điểu vương có nhiều trở ngại cho việc tu tập, nên ngài đi vào ngự viên ấy, tĩnh tọa ở một nơi êm mát, thực hành Sa-môn hạnh.
Lúc bấy giờ, cả bốn vị ẩn sĩ vào buổi xế chiều, sau khi đứng dậy từ chỗ độc cư thiền định đến b ên hồ nước của hoàng gia, nhìn nhau, tâm đầy t ình cố tri thân ái, cùng ngồi xuống chào hỏi rất niềm nở.
Thiên chủ Sakka ngồi trên vương tọa, còn ba vị kia ngồi theo danh vị của mình. Lúc ấy Sakka Thiên chủ liền hỏi:
- Chúng ta đây đều l à bốn vị đế vương, vậy công đức đặc biệt nhất của mỗi vị l à gì?
Long vương Varulna đáp lời:
- Đức hạnh của Ta cao trọng hơn các Tôn giả.
Khi ba vị kia hỏi lý do, ngài đáp:
- Điểu vương Supanna n ày là cừu thù của ta, dù khi ta chưa ra đời hay ra đời r ồi cũng vậy, thế mà khi nhìn thấy một kẻ cừu thù tiêu diệt nòi giống của ta như thế, ta không hề có chút sân hận, cho nên đức hạnh của ta l à cao hơn cả.
Rồi ngài đọc vần kệ đầu ti ên trong Tiền thân Catuposatha (Trai giới bốn phần số 441).
1. Thiện nhân không cảm thấy hờn c ăm, Đối với một ai đáng hận sân, Không để nội tâm sân kh ởi dậy, Vị nào dù lúc giận trong lòng, Cũng không để lộ cho người thấy, Người gọi đó l à thanh tịnh nhân.
Đặc tính của ta là như thế, cho nên đức hạnh của ta vượt trên các Tôn giả.
Điểu vương Supanna nghe vậy, liền đáp:
- Loài rồng Nàga là thức ăn chính của ta, nhưng nay d ù thấy thức ăn kề tận miệng, ta cũng đ ành nhịn đói v à quyết không làm ác vì miếng ăn, vậy đức hạnh của ta cao hơn cả.
Và ngài ngâm bài kệ:
2. Người chịu đói, bụng đau rần, Ẩn sĩ tự điều phục món ăn, Không phạm ác h ành vì thực phẩm, Vị này, người gọi bậc Sa-môn.
Đến lượt Thiên chủ Sakka nói:
- Ta để lại đằng sau m ình mọi vinh quang ở thiên giới, mọi nguồn an lạc dâng tận tay, để xuống nhân gian thực h ành công hạnh, vậy đức hạnh của ta cao hơn cả.
Rồi ngài ngâm kệ:
3. Sau khi bỏ mọi thứ vui chơi, Không nói lời gian dối giữa đời, Vị ấy ghét xa hoa, nhục dục, Như vầy người gọi Sa-môn rồi.
Thiên chủ Sakka tự trình bày công đức của m ình như vậy. Rồi vua Dhanañjaya bảo:
- Nay ta đ ã rời triều đ ình cùng hậu cung với mười sáu ngàn phi tần có đủ t ài ca múa, ta hành trì Sa-môn hạnh trong ngự viên này, vậy đức hạnh của ta cao hơn cả.
Rồi ngài ngâm kệ tiếp theo:
4. Bậc toàn trí bỏ hết hoàn toàn, Mọi sở hữu và mọi dục tham, Tự chế, kiên tâm, vô ngã chấp, Vị này người gọi bậc Sa-môn.
Như vậy cả bốn vị đều tự cho đức hạnh của m ình là cao quý hơn cả, rồi vua hỏi Dhanañjaya:
- Này Đại vương, có bậc hiền trí n ào trong triều có thể giải mối nghi này ch ăng?
- Này các Đại vương, có chứ, trẫm có bậc Trí giả Vidhura đang giữ một chức vụ tối thượng trong triều, thường xuy ên thuyết thế pháp cũng như thánh pháp cho trẫm, vị ấy có thể giải quyết mối nghi này, ta hãy cùng đi đến vị ấy.
Bốn vị vua tức thì đồng ý. Thế l à bốn vị đều ra đi khỏi ngự vi ên, tiến về phía Thánh lễ đường, ban lệnh trang ho àng nơi ấy thật uy nghi, xong hội chúng kính mời Bồ-tát ngồi trên bảo tọa, chào ngài thật thân hữu rồi ngồi qua một bên và nói:
- Thưa bậc Trí giả, một mối nghi vừa khởi lên trong tâm chúng ta, xin ngài giải quyết cho:
5. Xin hỏi đại thần thượng trí minh, Trong khi đ àm đạo, khởi phân tranh, Nhờ khanh xét, giải nghi nan ấy, Hội chúng thoát nghi hoặc bởi khanh!
Bậc Đại Sĩ nghe xong liền bảo:
- Tâu các Đại vương, l àm sao tiểu thần biết các Đại vương nói đúng hay sai về đức hạnh của các Đại vương, trong khi các ng ài ngâm lời kệ qua cuộc tranh luận này?
Rồi ngài ngâm kệ thêm:
6. Bậc trí biết chân tướng việc đời, Nói năng khôn khéo, đúng theo thời, Nhưng d ù hiền trí, làm sao biết, Ý nghĩa kệ chưa nói với tôi? Vương tử Vi-na, Kim sí điểu, Long vương ấy nói thế n ào rồi? Thác- bà vương, tối cao Hoàng thượng, Của xứ Câu-lâu, hãy mở lời!
Các vị vua liền ngâm kệ này với ngài:
7. Kham nhẫn, Long vương thuyết giảng xong, Vương tử Vi-na, Sí điểu vương, Lại thuyết giảng về l òng tốt đẹp, Thác-b à vương thuyết đoạn trừ tham, Câu lâu Chúa thượng ly triền cái, Để đạt đến công hạnh vẹn to àn.
Sau khi nghe xong, bậc Đại Sĩ đáp kệ n ày:
8. Tất cả lời này chánh đáng thay, Không g ì sai trái ở nơi này, Người nào thích hợp lời như thế, Giống các t ăm xe ở trục quay, Người được gọi Sa-môn chánh hạnh, Đủ đầy các đức tính tr ên đây.
Như vậy bậc Đại Sĩ tuy ên thuyết đức hạnh của các vị vương đều l à một. Khi nghe xong, bốn vị vương đều rất hoan hỷ, liền ngâm kệ tán thán ng ài:
9. Khanh là bậc tối thắng, vô song, Hộ pháp, tinh thông luật, trí nhân, Khi hiểu vấn đề nhờ trí tuệ, Với t ài khéo cắt mọi nghi nan, Giống như người thợ ngà voi nọ, Cắt với lưỡi cưa thật dễ dàng!
Thế là cả bốn vị vua đều rất đẹp ý với lời giải thích vấn đề của ng ài. Thiên chủ Sakka thưởng ngài chiếc cẩm y bằng gấm thiên đ ình, Kim sí điểu vương tặng ng ài tràng hoa bằng vàng, Long vương Varuna tặng ngài hạt minh châu và vua Dhanañjaya ban thưởng một ngàn con bò cái v.v..Rồi vua Dhanãnjaya lại ngâm kệ với ngài:
10. Một ngàn bò cái, trẫm truyền ban, Một thớt voi, bò đực một ch àng, Mười cỗ xe và đ àn ngựa quý, Thêm mười sáu đệ nhất thôn l àng, Bởi vì trẫm thật đầy hoan hỷ, Cách giải vấn đề của Trí nhân!
Sau đó Sakka Thi ên chủ cùng các vị kia cung kính đảnh lễ bậc Đại Sĩ v à từ giã ra về cảnh giới của mình. Đến đây kết thúc Phần Trai giới Bốn pháp.
*
II. Ước vọng của chánh hậu Vimalà
Lúc bấy giờ chánh hậu của Long vương là bà Vimalà. Khi thấy ngài không đeo minh châu tr ên cổ, liền hỏi th ăm hạt châu ở đâu. Ng ài đáp:
- Trẫm rất hài lòng khi nghe bài thuyết Pháp của bậc Trí giả Vidhura, vị nam tử của Bà-la-môn Canda, nên đ ã tặng minh châu cho vị ấy, không những chỉ riêng trẫm, mà Thiên chủ Sakka cũng cũng cung kính tặng ngài chiếc thiên y bằng gấm trời, Điểu vương tặng tr àng hoa bằng vàng, còn vua Dhanañjaya tặng một ngàn con bò cùng nhiều thứ khác nữa.
- Vậy thì thần thiếp đoán vị ấy l à một bậc biện tài về Chánh pháp.
- Này ái hậu, ái hậu đang nói g ì vậy? Vị này chẳng khác nào một vị Phật xuất hiện ở cõi Diêm-phù- đề. Hằng trăm vị vua ở khắp c õi Diêm-phù- đề say sưa những lời l ẽ êm dịu của vị ấy, không còn muốn trở về triều nữa, chẳng khác nào bầy voi rừng mê mẩn vì tiếng đ àn cầm mà chúng yêu thích vậy. Đó l à đặc điểm của t ài hùng biện của ngài.
Khi bà nghe nói đến kỳ t ài của ngài như vậy, bà ước mong nghe ngài thuyết Pháp, bà nghĩ thầm: Nếu ta tâu với đức vua rằng ta muốn nghe vị ấy thuyết Pháp v à xin đức vua triệu vị ấy về đây, chắc đức vua sẽ không thuận; chi bằng ta thử giả bệnh v à than thở về nỗi ao ước của một nữ bệnh nhân".
Bà liền ra hiệu cho thị nữ đem b à lên tọa sàng. Khi vua không thấy bà vào dịp ngài đến vấn an b à và hỏi các thị nữ bà ở đâu, chúng tâu rằng b à bị bệnh, ngài liền đến thăm, ngồi b ên giường bà, xoa thân thể bà và ngâm kệ:
11. Yếu gầy, ái hậu lại xanh xao, Dung sắc chẳng như trước chút nào, Nào hỡi Vi-ma-là, hãy đáp: Nỗi đau n ày đến bởi v ì sao?
Bà đáp ng ài qua vần kệ sau:
12. Có một bệnh riêng của nữ nhân, Gọi là ước vọng, tấu Long quân, Thiếp mong đem đến đây không dối, Tim của Vi-dhu-ra Trí nhân!
Long vương bảo bà:
13. Ái hậu ước trời, tr ăng, gió mây, Gặp Hiền nhân ấy khó kh ăn thay! N ào ai có đủ t ài n ăng để, Đem bậc hiền nhân ấy đến đây?
Khi bà nghe nói vậy, liền nói to:
- Nếu không được như ý thần thiếp sẽ chết mất.
Rồi bà quay mặt đi, nghi êng lưng bà ra ngoài, lấy chiếc áo quay mặt lại. Vua trở về tư thất ngồi trên tọa sàng suy nghĩ tìm hiểu vì sao hoàng hậu Vimalà lại muốn có trái tim của Vidhura: "Nàng sẽ chết nếu không ăn được tim vị ấy, vậy l àm sao ta lấy được nó cho n àng?".
Lúc bấy giờ công chúa Irandatì, một long nữ diễm kiều, trang sức đầy ngọc v àng trân bảo, bước vào cung kính đảnh lễ vua cha, rồi đứng qua một b ên. Nàng trông thấy vua cha có vẻ lo âu, liền nói:
- Phụ vương có vẻ muộn phiền quá, vì duyên cớ gì?
14. Thân phụ, sao cha dáng rối ren, Long nhan như một đóa hoa sen, Bị tay ngắt vụng, sao buồn khổ, Bậc chiến thắng, xin chớ muộn phiền!
Nghe lời con gái, Long vương đáp:
15. I-ran-da hỡi, mẫu thân con, Ao ước trái tim bậc Trí nhân, Diện kiến Vi-dhu-ra thật khó, Triệu ngài, ai có đủ t ài n ăng?
Rồi ngài lại bảo nàng:
16. Này con, không có một triều thần, Đủ sức triệu Vi-dhu Trí nhân, Con hãy hy sinh vì mẫu hậu, Đi tìm ra một vị phu quân!
Thế là vua ra lệnh cho nàng lui ra cùng với câu kệ, gợi nên những tư tưởng không phù hợp với một nàng công chúa:
17. "Hãy tìm cho được một phu quân, Ch àng sẽ triệu hồi bậc Trí nhân." Công chúa đi ngay đ êm tối ấy, Để cho dòng dục vọng tuôn tràn.
Nàng đi hái các hoa tr ên Tuyết Sơn đủ sắc, hương, vị. Sau khi trang ho àng toàn thể ngọn núi như một viên bảo ngọc, nàng trải tọa sàng bằng hoa trên núi, rồi nhảy múa tưng bừng, nàng trỗi giọng ca một điệu rất êm ái du dương :
18. Càn-thát-bà hay đại lực thần, Long thần, quái vật hoặc ti ên, nhân, Bậc hiền, tài đủ ban điều ước, Ai sẽ l àm chồng tiện nữ ch ăng?
Lúc bấy giờ cháu của Đại vương Vessavana (Tỳ-sa-môn), tên gọi Punnaka, là một đại tướng Yakkha (Dạ-xoa, thần Đại lực) đang phi thần m ã Sindh dài ba dặm, b ăng qua triền núi đỏ tía của ngọn Hắc Sơn, để đến nơi hội họp của các thần Dạ-xoa, chợt nghe lời ca của n àng, và lời ca của nữ nhân này chàng đ ã từng nghe trong đời vừa qua xoáy sâu tận thịt da cân n ão chàng, thấm vào tận xương tủy khiến chàng ngơ ngẩn say mê, liền quay ngựa lại, ngồi trên lưng thần mã, chàng vội an ủi nàng:
- Ôi nương tử, ta xin vì nàng đem trái tim của Vidhura đến đây bằng trí lực của ta, bằng thần lực cũng như bằng tính trầm tĩnh của ta, xin n àng chớ lo ngại việc đó nữa.
Rồi chàng ngâm thêm kệ này:
19. Long nữ có đôi mắt diệu huyền, H ãy an tâm nhé, hỡi nàng tiên, Quả nhiên tài trí ta như vậy, Ta sẽ cùng nàng đẹp mối duy ên.
Thế là Irandatì trả lời, nàng suy nghĩ theo kinh nghiệm xa xưa của một lần được cầu hôn trong đời trước của n àng:
- Xin chàng đến đây c ùng với thiếp đi yết kiến phụ vương, ng ài sẽ giải thích việc này cho chàng rõ.
Rồi điểm trang lộng lẫy với xi êm y rực rỡ, chói lòa, đeo tr àng hoa, xức dầu đ àn hương xong, nàng nắm tay thần Dạ-xoa đem đến yết kiến vua cha.
Và tướng Punnaka đỡ lấy lưng n àng, cùng đi yết kiến cha n àng là Long vương xin cầu hôn công chúa:
20. Long vương, nghe lấy lời cầu hôn, Nhận sính lễ cân xứng quý nương, Thần hỏi I-ran-da ngọc nữ, Hãy ban công chúa thuộc về thần, Một tr ăm voi với trăm con ngựa, Tr ăm cỗ xe v à la một tr ăm, Ngọc quý trăm kho, xin nhận hết, Ban thần công chúa, tấu Long quân!
Long vương liền phán bảo:
- Hãy đợi ta hỏi ý kiến vương tộc, thân bằng quyến thuộc; l àm việc gì mà không hỏi ý kiến kẻ khác sẽ đem lại hối tiếc về sau.
Long vương vào cung, hỏi ý kiến Vương hậu:
- Thần Dạ-xoa Punnaka muốn cầu hôn công chúa Irandatì, vậy ta có nên gả con để đổi lấy vô số của cải ấy không?
Vương hậu Vimalà đáp:
- Không ai chinh phục được công chúa Irandat ì bằng ngọc vàng châu báu cả, nếu vị ấy có đủ t ài n ăng đem trái tim của Trí nhân Vidhura đến đây th ì sẽ chinh phục được công chúa bằng bảo vật ấy, chứ chúng ta không đ òi thêm của cải nào khác.
Thế là Long vương Varuna bước ra khỏi cung, hội ý với Punnaka, và bảo chàng:
- Công chúa Irandatì không thể được chinh phục bằng ngọc v àng châu báu, nếu chàng có đủ t ài n ăng đem lại đây quả tim của Trí nhân Vidhura, ch àng sẽ chiếm được công chúa bằng bảo vật đó, chúng ta không đ òi thêm của cải gì.
Punnaka đáp lời:
- Có người được kẻ n ày gọi là hiền nhân thì kẻ khác lại gọi là "ngốc tử", vì nhân thế có nhiều ý kiến khác nhau về một vấn đề như vậy. Vậy xin Đại vương cho tiểu thần biết rõ ai là người được Đại vương gọi là Trí nhân?
Long vương đáp:
- Nếu chàng có nghe danh tiếng Vidhura, đại thần của vua Dhana ñjaya, thì hãy đem vị ấy về đây, công chúa Irandat ì sẽ là chánh thê của chàng.
Khi nghe Long vương Varuna nói vậy, thần Dạ-xoa nhảy lên reo mừng, tức thì bảo quân hầu cận của chàng:
- Hãy đem tuấn m ã đầy đủ y ên cương lại đây cho ta. Tai ngựa đeo v àng, móng ngựa đeo ngọc, áo giáp bằng v àng.
Quân hầu vội đem tuấn m ã Sindh trang sức đầy đủ như g ã đã ra lệnh v à Punnaka cưỡi tuấn mã phi nhanh qua bầu trời về đến cung vua Vessavana, kể lại cho ng ài nghe chuyến phiêu lưu của chàng và do đó mô tả cảnh giới Long vương.
*
Việc này được diễn tả như sa u:
Punnaka lên ngựa, một tuấn mã đủ năng lực mang các Thi ên thần, chàng trang sức thật sang trọng, đầy ngọc ng à trân bảo, râu tóc tỉa thật gọn gàng, rồi phi nhanh qua bầu trời.
Lòng chàng đầy ước vọng đắm say, khao khát chiếm được Long nữ Irandat ì, chàng tìm đến Đại vương Vessavana Kuvera, tâu trình:
- Có cung thất Bhogavati được gọi l à Kim Đường, đó l à kinh thành của Long vương được xây trong th ành trì bằng vàng.
Các tháp canh có hình môi và cổ, với hồng ngọc và bảo châu màu lục nhãn, cung điện xây bằng cẩm thạch đầy đủ v àng ròng, bao phủ bằng ngọc chạm vàng.
Các cây xoài, tilaka, hồng đ ào, sattapanna, mucalinda, ketaka, piyaka, uddàlaka, saha và sinduvàrita với muôn hoa khoe sắc thắm trên bầu trời.
Các cây hoa champac, nàgamàlika, bhaginimàlà và táo nặng trĩu lá cành, mang lại vẻ diễm kiều cho cung điện Long vương.
Lại có một cây chà là khổng lồ bằng ngọc quý và hoa vàng không bao giờ tàn, đó l à nơi ngự trị Long vương Varuna đầy đủ oai thần v à được sinh từ Thi ên giới.
Cũng là nơi ngự trị của hoàng hậu Vimalà với hình dáng mềm mại như cây leo bằng vàng, thanh thanh như cây kàlà mới mọc, yêu kiều với bộ ngực như đôi quả nimba.
Da mượt mà tô điểm bằng son tươi thắm tựa hồ cây Kanik àra nở hoa trong bóng mát, như một nữ thần trên thiên giới, như ánh chớp lóe sáng giữa vầng mây. Bà đang say sưa tr àn trề niềm ước vọng lạ lùng, bà mong có được quả tim của Vidhura Hiền sĩ. Tiểu điệt xin đem nó lại cho các vị ấy, tâu Đại vương, rồi họ sẽ gả công chúa Irandatì cho tiểu điệt.
Vì không dám ra đi nếu không được lệnh của Đại vương Vessavana, nên chàng ngâm các bài kệ trên để đức vua nghe ch àng vì ngài đang bận d àn xếp một cuộc tranh chấp về một cung điện giữa hai vị Thi ên tử. Punnaka biết rằng lời chàng nói không được vua để ý đến n ên chàng lại gần một trong hai vị đang tranh chấp nắm phần thắng lợi trong cuộc. Vua Vessavana sau khi đ ã quyết định xong, không để ý đến vị Thi ên tử bại cuộc mà chỉ bảo vị kia:
- Chàng hãy đi về cung điện m à an trú.
Ngay khi ngài bảo:
- Chàng hãy đi.
Punnaka liền gọi vài vị Thiên tử làm chứng và bảo:
- Các vị xem thấy ta đ ã được Đại vương phái đi rồi.
Lập tức chàng ra lệnh đem tuấn m ã đến v à leo lên yên ngựa khởi hành.
*
Bậc Đạo Sư tả cảnh ấy như sau:
Sau khi Punnaka từ giã Vessavana Kuvera, Đại đế vinh quang của mọi lo ài, liền ra lệnh cho cận thần:
- Mang thần mã lại đây đầy đủ y ên cương, với tai đeo v òng, mông đeo ngọc, áo giáp bằng v àng dát sáng ngời.
Punnaka leo lên tuấn mã dành cho thiên thần, chàng trang điểm râu tóc thật oai vệ, rồi phi nhanh qua bầu trời.
Trong lúc vân du, chàng nghĩ: "Trí giả Vidhura có đám cận vệ rất đông, n ên không dễ gì bắt được ông. Tuy thế, vua Dhana ñjaya lại nổi tiếng về tài đánh súc sắc. Ta sẽ đánh thắng vua n ày qua ván bài rồi bắt lấy Vidhura. Hiện nay có rất nhiều ngọc quý trong kho của ngài, chắc ngài không đánh cuộc bằng giải h èn mọn đâu. Ta sẽ phải đem vi ên ngọc vô giá, vì vua này không nhận viên ngọc tầm thường đâu. Hiện nay có vi ên bảo châu vô giá thuộc quyền vua Chuyển luân ở trong núi Vepulla gần thành Vương Xá; ta sẽ đến lấy bảo ngọc ấy v à dụ vua chơi bài để thắng ng ài".
Rồi chàng thực hành ý định ngay.
*
Bậc Đạo Sư kể toàn thể câu chuyện:
Chàng đến th ành Vương Xá đầy lạc thú, kinh th ành xa xôi của nước Anga, trù phú lương thực, tràn trề thức ăn uống. Chẳng khác g ì Masakkaràsa, kinh thành của Thiên chủ Indra, dậy âm thanh của bầy công, hạc, với hoa viên tráng lệ bao quanh, muôn loài chim ca hót giống như Tuyết Sơn bao phủ đầy hoa. Thế l à Punnaka trèo lên núi Vepulla với các đỉnh núi đá chồng chất, nơi các quỷ thần cư ngụ, ch àng đi t ìm bảo ngọc đầy h ào quang, và cuối cùng chàng thấy nó nằm giữa lòng núi.
Khi chàng nhìn thấy viên bảo ngọc chiếu hào quang rực rỡ, diễm lệ muôn phần, chẳng khác nào tia chớp sáng lòa không gian, chàng vội vàng chụp lấy viên như ý bảo châu vô giá kia, leo lên thần mã vô song địch, v à tướng mạo chàng thật tuấn tú cao sang, chàng phi nhanh qua bầu trời vô tận.
Chàng đến kinh th ành Indàpatta, giáng lâm tại triều đ ình xứ Kuru (Câu-Lâu), dũng tướng Dạ-xoa liền triệu tập một tr ăm chiến sĩ tại đó:
21. Ai muốn chiếm phần thưởng đế vương? Ai, ta sẽ thắng cuộc tranh hùng? Vô song bảo ngọc nào ta đoạt? Ai sẽ chiếm ưu hạng bảo trân?
Chàng nói lên bốn câu kệ tán thán Đại vương Koravya như vậy. Vua nghĩ thầm: "Ta chưa từng nghe một vị anh hùng nào mở lời ca ngợi như thế này, vậy vị này là ai đây?" V à ngài liền hỏi chàng qua vần kệ này:
22. Công tử sinh ra quốc độ n ào, Lời này chẳng phải Ko-ra đâu, Ch àng hơn tất cả về hình tướng, Cho biết quý danh, quyến thuộc mau.
Chàng suy nghĩ : Nhà vua hỏi danh tánh của ta, hiện nay chỉ là tùy tướng phục dịch Punnaka song nếu ta bảo ta là Punnaka, vua sẽ nói: gã kia chỉ là một tùy tướng, tại sao gã dám nói với ta quá bạo gan như vậy? Và vua sẽ khinh thị ta, thôi ta sẽ nói cho ngài nghe danh tánh của ta trong đời sống vừa rồi". Thế l à chàng ngâm kệ:
23. Tiểu sinh tên gọi Kac-cà-na, Người chẳng gọi tên khác xấu xa, Thần đến đây t ìm trò giải trí, Thân bằng, quyến thuộc ở An-ga.
Vua liền hỏi:
- Thế Công tử định trao ta vật g ì nếu Công tử bại cuộc? Công tử đ ã có những gì nào?
Rồi vua ngâm kệ:
24. Ngọc gì Công tử có trong tay, Mà kẻ thắng mong được có ngay? Một vị vua nhiều châu ngọc quý, Ch àng nghèo sao dám thách như vầy?
Punnaka đáp:
25. Đây ngọc làm say đắm c õi lòng, Huy hoàng bảo ngọc tạo vinh quang; Người nào thắng chiếm vô song mã, Mọi địch thủ, thần m ã phá tan.
Khi vua nghe chàng nói, liền đáp:
26. Một vi ên ngọc ích lợi gì ch ăng? Một tuấn m ã sao lập chiến công? Vua chúa có nhiều viên ngọc quý, Và nhiều tuấn mã tốc như phong!
*
III. ĐẶC TÍNH CỦA BẢO CHÂU NHƯ Ý
Khi nghe lời vua phán, chàng thưa trình:
- Tâu Đại vương, tại sao Đại vương lại nói vậy? Chỉ có một thần mã và cũng có cả ngàn cả vạn tuấn mã khác; chỉ có một bảo châu và cũng có cả ngàn bảo châu khác; nhưng mọi tuấn mã hiệp lực lại cũng không sánh được với thần m ã này, xin Đại vương xem sức phi nhanh của nó đây.
Nói xong, chàng lên ngựa phi trên đỉnh trường th ành và bức trường thành bảy dặm này tựa hồ được vây quanh bởi bầy ngựa kề cổ nhau tr ùng trùng điệp điệp, rồi chẳng bao lâu chẳng c òn phân biệt được đâu l à ngựa, đâu l à thần Dạ-xoa nữa, mà chỉ còn thấy dải lụa hồng trên lưng chàng như thể phủ khắp trường thành.
Rồi chàng xuống ngựa, tâu vua rằng bây giờ vua đ ã chứng kiến sức phi nhanh của thần mã, chàng lại xin vua chứng kiến một chuyện kỳ lạ khác: chàng bảo thần mã phi nhanh trong hoa viên của kinh thành, trên mặt nước, ngựa phóng nhanh không ướt đến móng chân; rồi ch àng lại bảo ngựa dạo bước trên đám lá sen v à khi chàng vỗ tay, xòe bàn tay ra, ngựa liền đến đứng tr ên lòng bàn tay chàng. Sau đó ch àng lại nói:
- Đây chính là ngựa báu, tâu Đại vương.
- Đúng vậy, thưa Công tử.
- Giờ đây xin h ãy để ngựa báu qua một b ên trong chốc lát, xin Đại vương hãy xem thần lực của bảo châu. Tâu Chúa thượng, xin ngài ngự lãm viên bảo châu vô song địch của tiểu sinh: Trong bảo châu n ày có đủ thân h ình nam nhân cùng nữ nhân, thân hình của thú vật, cùng thân hình của chim muông, Long vương và Điểu vương, tất cả muôn loài đều hiện ra trong bảo châu n ày.
Cả một đ àn voi, một đ àn xe ngựa, quân sĩ, cờ xí, xin Chúa thượng ngự lãm cả đo àn kỵ mã, vệ sĩ của vua, chiến sĩ đang chiến đấu tr ên cỗ xe, chiến sĩ chiến đấu tr ên bộ, quân sĩ đang b ày binh bố trận, xin Chúa thượng ngự lãm mọi vật xuất hiện trong viên bảo châu này.`
Xin ngự lãm trong viên bảo châu này một kinh thành đầy đủ dinh thự ki ên cố lầu đ ài với nhiều cổng thành và trường thành, với nhiều tụ điểm đầy lạc thú - nơi bốn đại lộ giao nhau - Các đại trụ, h ào lũy, chấn song, then cửa, tháp canh, cổng thành; xin ngự lãm mọi vật xuất hiện trong viên bảo châu này.
Xin ngự lãm các đ àn chim muông đủ loại, tr ên đường sá, dưới cổng th ành: thiên nga, công, hạc, hồng nga, hải âu, sơn ca, cu cườm, jivajivaka, xin ngự lãm muôn loài chim đều tụ họp về đây v à xuất hiện trong viên bảo châu này.
Xin ngự lãm một kinh thành diệu kỳ với trường thành cao cả, khiến ta phải dựng tóc gáy vì kinh ngạc, thật vui mắt vì cờ xí rợp trời, đất cát to àn vàng ròng, xin ngự lãm các lều ẩn sĩ được phân chia đều đặn th ành từng khu vực, nhà cửa đủ loại, sân b ãi, đường sá c ùng các đường nhỏ chen kẽ.
Xin ngự lãm các trà đ ình tửu quán, các nhà tể sinh, cùng các tiệm thực phẩm cho các nội nhân, các gái giang hồ cùng các chàng phóng đ ãng, tất cả đều hiện ra trong bảo ngọc n ày. Những người kết tràng hoa, thợ giặt, các chiêm tinh gia, những lái buôn y phục, thợ kim hoàn nữ trang, tất cả đều hiện ra trong bảo châu n ày.
Xin ngự lãm các loại trống, lớn nhỏ, tù và, trống đồng, trống rung, đủ loại thanh la, đều xuất hiện trong bảo châu n ày.
Xin ngự lãm các loại vĩ cầm, khiêu vũ, ca hát thật du dương, các loại nhạc cụ, tiếng gồng chiêng rung đều xuất hiện trong bảo châu n ày.
Các tay đô vật, nhảy cao cũng có mặt nơi đây, cảnh hề múa rối, các thi sĩ, thợ hớt tóc của vua chúa tất cả đều xuất hiện trong bảo châu n ày.
Dân chúng tụ tập nơi đây, xin ngự l ãm các dãy ghế sân khấu hàng hàng lớp lớp xuất hiện trong bảo ngọc này.
Xin ngự lãm các tay đô vật đánh bằng hai cánh tay gập lại, xin ngự l ãm kẻ đánh c ùng người bị đánh vật đều xuất hiện trong bảo châu n ày.
Xin ngự lãm trên triền núi các đo àn hươu, nai, sư tử, cọp beo, gấu, chó sói, hoẵng, tê giác (tây ngu), gayal, trâu bò, hồng lộc, ruru, linh dương, lợn rừng, nimka, lợn nhà, hươu sao kadali, mèo, thỏ, muôn loài súc sinh đều hiện ra trong bảo ngọc n ày.
Những dòng sông đ ào thật đẹp, đáy lót to àn kim sa, nước trong vắt chảy nhẹ nhàng với đủ loại cá, cá sấu, các lo ài thủy quái, rùa, trạnh, pàthìna, pàvusa, vàlaja và muñjarohita.
Xin ngự lãm trong viên bảo châu này đủ loại cây, đủ lo ài chim và một khu rừng có những cành cây làm bằng ngọc bích (lapi lazuli).
Xin Chúa thượng ngự lãm các hồ nước được xây thật đều đặn bốn góc th ành với muôn loại chim cá rộn rã tung t ăng. Xin ngự l ãm quả đất được biển cả vây phủ, nước tr àn khắp nơi, điểm tô đủ loại cây cỏ, tất cả đều hiện ra trong bảo ngọc n ày.
Xin ngự lãm xứ Videha phía trước, Goyàniya phía sau, Kuru (Câu-lâu) và Jambudìpa (Diêm-phù- đề), đều xuất hiện trong bảo ngọc n ày.
Xin ngự lãm mặt trời, mặt tr ăng, chiếu sáng bốn phương trong khi đi v òng quanh núi Sineru (Tu-di) cũng xuất hiện trong bảo ngọc này.
Xin ngự lãm núi Sineru và Tuyết Sơn cùng Thần Hải và Tứ Đại Thiên vương bảo hộ thế giới, thảy đều xuất hiện trong bảo ngọc n ày.
Các hoa viên của Thiên chủ Indra như Phàrusaka, Cittalatà, Missaka, Nandana và cung Vejayanta, thảy đều xuất hiện trong bảo ngọc n ày.
Cung Sudhamma (Thiện pháp) của Thiên chủ Indra ở cõi trời Ba mươi ba, cây trời Pàricchatta (San hô) đang nở rộ hoa, thi ên tượng Eràvana, đều xuất hiện trong bảo châu n ày.
Xin ngự lãm các ngọc nữ của các vị trời đang hiện ra như tia chớp giữa không gian, nhởn nhơ trong ngự vi ên Nandana, tất cả đều xuất hiện trong bảo châu n ày.
Xin ngự lãm các ngọc nữ cõi trời đang m ê hoặc các tiên đồng, v à các tiên đồng đang thơ thẩn dạo chơi, tất cả đều xuất hiện trong bảo châu n ày.
Xin ngự lãm hơn ngàn cung điện phủ đầy ngọc bích hiện ra sáng ngời trong vi ên bảo châu này. Thiên chúng ở các cõi trời Ba mươi ba, Dạ-ma, Đâu-suất và Tha hóa tự tại thảy đều xuất hiện trong vi ên bảo châu này. Xin ngự lãm các hồ nước trong suốt đầy san hô v à sen súng trên cõi trời.
Trong bảo ngọc này có mười đường vân trắng, mười đường vân xanh đậm thật tuyệt trần, hai mươi mốt đường vân nâu v à mười bốn đường vân v àng nhạt, hai mươi đường vân v àng chói, hai mươi đường vân bạc, ba mươi đường vân đỏ. Mười sáu đường vân đen, hai mươi lăm đường vân m àu thiên thảo đỏ sẫm chen lẫn với hoa bandhuka v à tô điểm th êm những đóa sen xanh.
Tâu Chúa thượng, xin ngự lãm viên ngọc sáng rực như lửa này với vẻ đẹp to àn mỹ, đó sẽ l à giải thưởng dành cho kẻ thắng cuộc.
*
IV. GIẢI THƯỞNG CỦA CUỘC CHƠI BÀI
Sau khi nói xong, Punnaka liền hỏi:
- Tâu Đại vương, ví thử tiểu thần thua cuộc, tiểu thần xin dâng viên bảo ngọc này, song ví thử tiểu thần thắng cuộc, xin Chúa thượng ban vật gì cho tiểu thần?
- Ngoài thân ta cùng chiếc lọng trắng ra, tất cả giang sơn ta ngự trị đều đem ra treo giải được cả.
- Tâu Chúa thượng, xin Chúa thượng đừng chậm trễ nữa, v ì tiểu thần từ phương xa lại đây, xin Chúa thượng ra lệnh chuẩn bị ph òng đánh b ài.
Thế là vua ra lệnh cho các đại thần chuẩn bị ph òng đánh b ài và trải tấm thảm dệt đẹp nhất cho vua ngự, c ùng bảo tọa cho các vị quốc vương khác. Khi đ ã sắp đặt một chỗ thích hợp cho Punnaka, họ tr ình vua đ ã đến lúc chơi b ài.
Punnaka liền tâu vua qua bài kệ sau:
27. Đại vương, hãy đến đích cầu mong, Ng ài sẽ không giành được bảo trân, Ta h ãy thắng không nhờ bạo lực, Và ta thắng bởi lẽ công bằng, Khi ngài thất bại, xin đem trả, Phần thưởng ng ài ban tặng tiểu thần.
Vua liền đáp:
- Hỡi thiếu sinh, chàng đừng sợ ta l à một vị đại vương, mọi cuộc thắng bại của ta đều theo lẽ công b ình và không dùng bạo lực.
Thế rồi Punnaka ngâm kệ thỉnh cầu các vị vua kia chứng kiến cuộc thắng trận bằng lẽ công bình:
28. Hỡi các Đại vương Pañ-ca-la, Su-ra-se-na và Mac-cha, Mad-da cùng với Ke-ka-ka, Xin các Đại vương ngắm cuộc cờ, Không có dối gian hay phỉnh gạt, Không ai can thiệp việc đôi ta.
Sau đó vua được cả trăm vị vua khác hộ tống c ùng Punnaka vào phòng đánh b ài, tất cả đều ngồi xuống các bảo tọa, đặt con súc sắc v àng lên tấm bảng bằng bạc. Punnaka vội tâu:
- Tâu Đại vương, có hai mươi bốn lần ném súc sắc, gọi là màlika, sàvata, bahula, santi và bhadra v.v... xin Đại vương chọn con bài nào vừa ý.
Vua ưng thuận, rồi chọn con bài bahula, Punnaka chọn con bài sàvata. Rồi vua bảo:
- Này thiếu sinh, chàng đánh b ài trước đi.
- Tâu Đại vương, lần ném đầu ti ên không phải của tiểu thần, xin Đại vương đi trước.
Vua chấp thuận. Lúc bấy giờ mẫu thân của vua trong đời sống ngay trước đời n ày là thần hộ vệ của ngài, nên nhờ thần lực của bà, ngài thắng cuộc. Bà đứng cạnh đó, vua vừa nhớ lại nữ thần vừa ca b ài đánh súc sắc, rồi xoay con b ài trong tay và ném lên không. Nhờ thần lực của Punnaka, các con bài rơi xuống đúng cho ch àng thắng vua.
Phần vua với tài chơi súc sắc nhận ra rằng các con bài rơi xuống không hợp ý ngài, nên ngài chụp chúng lại, trộn đều chúng tr ên không rồi ném lên lần nữa, nhưng ngài vẫn thấy chúng rơi xuống không đúng ý ng ài nên vội chụp chúng lại trong lúc đang rơi.
Lúc ấy Punnaka nghĩ thầm: "Vị vua này đang chơi b ài với một thần Dạ-xoa như ta, vừa trộn bài khi chúng rơi xuống rồi lại chụp lấy chúng, tại sao như vậy chứ"? Khi biết có thần lực của nữ thần hộ vệ ngài, chàng giương to mắt như thể tức giận lắm và nhìn nữ thần khiến bà kinh hoàng chạy đi trốn tr ên đỉnh núi Cakkav àla mà vẫn còn run rẩy.
Khi ném bài đến lần thứ ba, mặc d ù vua biết chúng rơi xuống không đúng ý, ng ài cũng không thể đưa tay ra chụp lấy chúng v ì thần lực của Punnaka, nên chúng rơi xuống thất lợi cho ngài. Rồi Punnaka ném các con bài rơi xuống thắng thế cho chàng. Khi biết rằng chàng đ ã thắng, chàng vỗ tay ầm ĩ và nói ba lần:
- Tiểu thần đ ã thắng!
Tiếng chàng vang dội rung động cả c õi Diêm-phù- đề (Ấn Độ).
*
Bậc Đạo Sư tả lại sự việc như sau:
- Vua Câu-lâu và thần Dạ-xoa Punnaka say sưa bước vào mê hồn trận; vua chơi bài thua cuộc và Punnaka thắng cuộc. Cả hai vị giao đấu trước sự chứng kiến của các vị vua v à nhiều chứng nhân khác. Thần Dạ-xoa thắng vị vua tối cao của loài người và tiếng reo hò vang dội từ nơi ấy.
Vua không đẹp ý v ì thua cuộc, và Punnaka vội ngâm kệ an ủi ngài:
29. Thắng, bại thuộc về một phía thôi, Giữa hai phe chiến đấu tranh t ài, Đại vương đ ã mất phần ưu thắng, Chiến bại, xin trao giải thưởng tôi.
Sau đó vua bảo ch àng nhận giải qua vần kệ:
30. Ngựa, voi, bò, ngọc quý, hoa tai, Bất cứ gì ta có ở đời, H ãy lấy món nào cao quý nhất, Kac-cà-na, nhận rồi đi thôi.
Punnaka đáp:
31. Ngựa, voi, bò, ngọc quý, hoa tai, Bất cứ gì ngài có ở đời, Vi-dhu-ra đại thần ưu thắng, Người đ ã được tôi chiếm đoạt rồi!
Vua phán bảo:
32. Vị đại thần ta, chỗ trú an, L à người giúp đỡ, chốn nương thân, Chính l à thành lũy, thần phù hộ, Vị đại thần không thể sánh bằng, Giá trị bạc v àng, tài sản quý, Người như sinh mạng của vương quân.
Punnaka đáp:
33. Chúng ta tranh chấp sẽ dài dòng, Ta hãy đi t ìm vị đại thần, Hỏi vị ấy điều g ì ước muốn, Để người quyết định vấn đề chung, Những g ì người định phần ti ên quyết, Là bản án phân xử cuối cùng.
Vua phán:
34. Công tử, chàng ăn nói chánh chân, Quả ch àng chẳng nói thiếu công bằng, Chúng ta đi gặp người v à hỏi, Theo cách này, ta sẽ đẹp l òng.
Nói xong vua đưa cả trăm vị vua kia c ùng đi, Punnaka sung sướng vội v àng đến t òa án và bậc Trí nhân từ chỗ ngồi đứng dậy ch ào đón vua rồi ngồi xuống một b ên.
Sau đó Punnaka nói với bậc Đại Sĩ:
- Thưa bậc Trí giả, ngài thật chí công, ngài không hề nói lời hư vọng dù có đổi cả sinh mạng đi nữa, đó l à danh tiếng ngài lẫy lừng khắp thế giới này. Hôm nay tiểu sinh sẽ biết được ng ài có thật chí công như vậy ch ăng?
Rồi chàng ngâm kệ sau:
35. Thật chư Thiên phái xuống phàm trần, Đến xứ Câu-lâu làm đại thần, Cố vấn Vi-dhu-ra chánh trực, Ng ài là quyến thuộc hoặc tùy tùng, Của vương gia đấy, xin ng ài nói, Giá trị của ngài giữa thế nhân?
Bậc Đại Sĩ nghĩ thầm: "Người này hỏi về ta, nhưng ta không thể cho người ấy biết được ta l à quyến thuộc của vua hay là thượng nhân đối với vua, hay chẳng có giá trị g ì đối với vua cả. Tr ên thế gian này không có gì bảo đảm cho ta bằng sự thật, ta phải nói l ên sự thật".
Rồi ngài ngâm hai vần kệ chứng tỏ ngài không phải là quyến thuộc hay thượng nhân của vua, mà chỉ là một trong bốn loại tùy tùng của vua:
36. Một số nô tài thuở mẹ sinh, Kẻ vì tiền phải bán thân mình, Nhiều người tự nguyện làm nô lệ, Kẻ khác nô tài bởi hãi kinh. Đây bốn loại nô tài tất cả, Ở trên trần thế giữa nhân sinh. 37. Ta chính nô tài tự mẹ cha, Khổ ưu phát xuất tự vương gia, Ta là nô lệ đức vua đó, Cho dẫu ta theo kẻ khác m à. Ngài có quyền đem ta tặng cậu, Hỡi ch àng nam tử tự phương xa!
Punnaka nghe lời này vô cùng thích thú, vừa vỗ tay vừa nói:
38. Hôm nay tôi chiến thắng lần hai, Được hỏi, đại thần đ ã đáp ng ài, Thật vậy, Đại vương không đúng lý, Việc n ày đ ã quyết định xong xuôi, Nhưng ng ài không muốn đem trao trả, Phần thưởng ng ài dành để tặng tôi!
Nghe vậy, vua liền nổi giận với bậc Đại Sĩ và bảo:
- Ngươi chẳng hề quan tâm đến ta l à người đ ã ban vinh quang cho ngươi, lại quan tâm đến ch àng thiếu sinh này hợp nhãn ngươi mà thôi.
Rồi quay về phía Punnaka, vua nói:
- Nếu gã kia là một nô tài thì hãy đem g ã và đi ngay.
Vua lại ngâm kệ sau:
39. Nói gã trả lời câu hỏi ta: "Ta là nô lệ của vương gia, Chứ không quyến thuộc", thì chàng nhận, Bảo vật tối ưu này của ta, Kac-cà-na, nhận ngay, chàng hỡi, Rồi hãy đi đâu hợp ý m à.
Nhưng khi nói vậy, ngài suy nghĩ: "Thiếu sinh này sẽ đem Đại trí nhân đi đâu t ùy ý, sau khi vị ấy đi rồi, ta t ìm đâu ra được một buổi đ àm đạo lý thú về các thánh sự, vậy sao ta lại không thử thỉnh cầu vị ấy l ên bảo tọa ngồi rồi ta hỏi vài câu liên quan đến cuộc sống cư sĩ tại gia"? Thế l à vua bảo:
- Thưa bậc Trí giả, khi ngài đi rồi, trẫm sẽ khó t ìm đâu ra được một buổi đ àm đạo thú vị về các thánh sự. Vậy xin ng ài ngồi xuống bảo tọa đ ã được trang ho àng uy nghi đúng theo cương vị của ng ài và giải thích cho trẫm một vấn đề li ên quan đến cuộc sống cư sĩ tại gia có được chăng?
Bậc Đại Sĩ liền ưng thuận, và sau khi ngồi xuống bảo tọa được trang ho àng uy nghi, ngài giải thích vấn đề vua hỏi, đó l à vấn đề:
- Thưa bậc Trí giả Vidhura, làm thế nào có được cuộc sống hưng thịnh cho một cư sĩ tại gia? L àm thế nào có được l òng ưu ái của đồng loại m ình? Làm thế nào thoát được đau khổ? V à làm thế nào chàng niên thiếu nói điều chân thật thoát được mọi ưu n ão khi qua đến đời sau?
Lúc ấy Vidhura đầy đủ đại trí v à minh sát, là bậc thấy mục đích chân lý v à đang vững tâm tiến l ên, bậc thông thạo mọi pháp lành liền nói những lời này:
- Đừng chung chạ vợ người, đừng hưởng cao lương mỹ vị một m ình, đừng nói chuyện ph ù phiếm, vì việc này không t ăng trưởng trí tuệ. Phải đức độ, tận tụy với nhiệm vụ m ình, không phóng dật, sáng suốt, khiêm tốn, không nhẫn tâm, đầy từ bi, thân ái, h òa nhã, khéo léo chinh phục bạn lành, sẵn sàng phân phát bố thí, thận trọng sắp xếp công việc tùy theo mùa, luôn luôn sẵn sàng cúng dường các Sa-môn, Bà-la-môn đầy đủ vật thực. Phải mong cầu công chính v à làm cột trụ hộ trì Chánh pháp, sẵn sàng học hỏi và cung kính theo hầu các bậc đa văn đầy đức độ. Như vậy sẽ l à cuộc sống hưng thịnh cho một cư sĩ tại gia, như vậy là sẽ chiếm được l òng ưu ái của đồng loại m ình, như vậy là sẽ thoát khổ; và như vậy là chàng trẻ tuổi nói điều chân thật sẽ thoát khỏi sầu bi khi sang đến đời sau.
Như vậy sau khi giải đáp câu hỏi li ên quan cuộc sống cư sĩ, bậc Đại Sĩ bước xuống từ bảo tọa và vái chào vua. Phần vua cũng đáp lễ ng ài vô cùng cung kính, rồi đi c ùng với cả tr ăm vị vua khác, đến viếng tư thất của ng ài .
Khi bậc Đại Sĩ trở lại, Punnaka nói:
- Xin ngài đến đây, ta c ùng khởi hành, đức vua đ ã trao ngài cho tiểu sinh; vậy phải theo đúng nhiệm vụ đó. Ấy l à qui luật từ ngàn đời.
Bậc Trí giả Vidhura đáp lại:
- Hỡi thiếu sinh, ta biết lắm, chàng đ ã chiếm được ta, đức vua đ ã giao ta cho chàng, ta xin mời chàng về nghỉ ngơi tại nhà ta ba ngày nữa để ta dặn d ò các con ta.
Punnaka nghe vậy nghĩ thầm: "Bậc Trí giả này đ ã nói chân thật, đó l à một đại phúc cho ta, ví thử ng ài có mời ta ở lại bảy ngày hay nửa tháng, ta cũng nên nhận lời ngay lập tức." Thế là chàng đáp:
- Chuyện này cũng thuận lợi cho tiểu sinh, vậy ta cùng ở lại đó ba ng ày, thưa bậc Trí giả, nếu có việc gì cần giải quyết trong gia đ ình của bậc Trí giả, xin chỉ dạy cho quý phu nhân và các công tử, hầu mong các vị được hạnh phúc sau khi ng ài đi rồi.
Nới xong Punnaka cùng bậc Đại Sĩ đi về tư thất ng ài.
*
Bậc Đạo Sư tả sự việc ấy như sau:
Lòng đầy hoan hỷ v à háo hức khát khao, chàng Dạ-xoa đi c ùng bậc Trí giả Vidhura, vị đệ nhất hiền giả, đưa ch àng vào nội thất với đo àn bảo tượng và tuấn mã theo hầu.
Lúc bấy giờ bậc Đại Sĩ có ba cung thất dành cho ba mùa, cung đầu ti ên là Koñca, cung thứ hai là Mayùra, cung thứ ba là Piyaketa. Bài kệ sau đây nói về ba cung ấy:
40. Chàng đ ã đến nơi chốn đại gia: Ko ñca, Mayùra, Piyaketa, Mỗi nơi một cảnh đầy hoan lạc, Phong phú thức ăn uống cả nh à, Trông giống thiên cung trên thượng giới, Của Ind-ra, đại đế Sak-ka.
Sau khi ngài đến nơi, ng ài ra lệnh dọn một phòng ngủ và một chiếc bệ cao trên tầng thứ bảy của cung thất trang hoàng tráng lệ, trải vương sàng và bày biện đủ cao lương mỹ vị xong, ng ài chỉ cho chàng n ăm trăm mỹ nữ như ti ên trên trời, và bảo:
- Đây là những tỳ nữ của chàng, chàng cứ ở lại đây đừng lo ngại g ì cả.
Rồi ngài trở về tư thất. Khi ngài đi rồi, các mỹ nữ đem nhạc khí đủ loại ra ca múa tưng bừng trong lúc hầu hạ ch àng Punnaka.
*
Bậc Đạo Sư tả cảnh ấy như sau:
Các mỹ nữ điểm trang diễm lệ như các Thi ên thần, ca múa trò chuyện cùng chàng, mỗi nàng đều gắng sức đem hết mọi t ài n ăng ra biểu diễn.
Bậc hộ trì Chánh pháp ấy, sau khi cho chàng hưởng cao lương mỹ vị cùng nữ sắc, liền nghĩ đến việc cao quý bậc nhất, l à mang chàng vào giới thiệu cùng phu nhân.
Ngài bảo phu nhân đ ã được trang điểm bằng hương chi ên- đ àn cùng nhiều hương thơm khác đang đứng như một thanh bội ho àn bằng vàng ròng:
- Này phu nhân nghe đây, h ãy gọi các nam tử đến ngay, hỡi phu nhân có đôi mắt đẹp m àu hổ hoàng.
Anujjà nghe phu quân gọi liền bảo con dâu, một mỹ nhân có đôi mắt tuyệt trần, móng tay sáng rực như đồng:
- Này Cetà, nàng đeo v òng vàng lục lạc chẳng khác nào bào giáp, nàng là đóa súng xanh mơn mởn, h ãy đi gọi các con ta lại đây.
Nàng ấy vâng dạ xong đi suốt cả cung thất, tập hợp các thân hữu c ùng các công tử, công nương, lại bảo họ:
- Thân phụ quý vị muốn dặn dò quý vị đôi điều, đây l à lần cuối cùng quý vị gặp được ng ài đấy.
Công tử Dhammapàla-Kumàra nghe vậy liền khóc, vội đi đến gặp thân phụ c ùng các công tử em chàng. Khi vị cha thấy các con đến, không thể n ào giữ được vẻ b ình thản, liền ôm các con mắt đầy lệ, hôn đầu các con v à ghì lấy trưởng nam vào lòng một hồi lâu. Rồi ngài nhấc con lên, bước ra khỏi cung thất, ngồi xuống tọa sàng đặt tr ên chiếc bệ cao, ngài nhắn nhủ với cả ngàn công tử kia.
*
Bậc Đạo Sư tả cảnh ấy như sau:
Bậc hộ trì Chánh pháp, lòng không chút sợ hãi, hôn trán các con khi họ đến gần ng ài, và sau khi chào hỏi xong, ngài bảo họ:
- Ta được đức vua giao cho ch àng thiếu sinh này. Ta thuộc quyền sở hữu của chàng rồi, nhưng hôm nay ta còn được tự do t ìm thú vui riêng cho mình, rồi chàng sẽ đem ta đi đâu t ùy ý, cho nên ta muốn nhắn nhủ các con đôi điều, v ì làm sao ta ra đi m à không tìm cách cứu khổ các con được? Ví như Janasandha, vua xứ Câu Lâu, trịnh trọng hỏi các con: "Các khanh xem cái gì thật cổ kính ngay trong thời thượng cổ? Thân phụ các khanh dạy bảo điều g ì tiên khởi và tối thượng"? Rồi ví như nhà vua bảo: "Các khanh đồng đẳng với ta, ai trong các khanh lại không hơn một vị vua đ ã chứ"?, các con sẽ kính cẩn đảnh lễ vua v à tâu: "Xin Đại vương đừng nói vậy, không có luật lệ n ào như thế cả, làm sao một con chó rừng hèn mọn lại đồng đẳng với một vương hổ được "?
Sau khi nghe thuyết giáo xong, các vị công tử, công nương, thân bằng, quyến thuộc, gia nhân, dân chúng đều không giữ được l òng bình thản, đồng khóc lớn khiến bậc Đại Sĩ lại phải an ủi họ thêm nữa.
*
V. IDHURA KHUYẾN GIÁO THÂN NHÂN
Rồi sau khi đến với mọi người v à thấy họ đ ã giữ yên lặng, ngài nói:
- Này các con, đừng buồn khổ l àm gì, các sắc pháp đều vô thường, vinh quang cuối c ùng lại gây tai họa; tuy vậy ta sẽ chỉ cho các con một cách đạt vinh quang, đó l à chốn triều đ ình. Hãy chú ý lắng nghe cho kỹ.
Sau đó nhờ thần lực của một vị Phật, ng ài đưa họ v ào một cảnh triều đ ình.
*
Bậc Đạo Sư tả cảnh ấy như sau:
Khi ấy Vidhura thuyết Pháp cho tất cả thân bằng lẫn cừu thù, quyến thuộc cùng thê tử, tâm trí ngài viễn ly mọi sắc pháp:
- Này các vị hãy đến đây nghe cho kỹ trong khi ta nói về chốn triều đ ình, làm thế nào một nam tử vào chốn triều đ ình có thể đạt vinh quang. Khi v ào chốn triều đ ình còn là vô danh tiểu tốt, y không có thể có được vinh quang đâu, cũng không thể đạt vinh quang nếu y l à một tên hèn nhát, ngu ngốc hoặc vô tâm. Khi nào vua nhận thấy đức độ của y, t ài trí cũng như lòng thanh liêm của y, vua mới tin tưởng y và không giấu y những điều bí mật của ng ài. Khi nào được lệnh thi h ành một việc gì, y không được ngần ngại, như một chiếc cân thật chính xác, với cán cân thật ngang bằng v à như chiếc cân kia, nếu y sẵn sàng đảm trách mọi gánh nặng, y mới có thể ở chốn triều đ ình.
Bất kỳ ngày đ êm, một trí giả cũng không ngần ngại gì khi được giao quốc sự; một người như thế mới có thể ở chốn triều đ ình. Một bậc trí giả, khi được giao quốc sự, bất kỳ ng ày đ êm cũng phải đảm nhận mọi nhiệm vụ. Một người như vậy mới có thể ở chốn triều đ ình.
Người nào thấy được đạo lộ d ành cho vua và thận trọng sắp xếp mọi việc thuận lợi cho ngài, mà chính mình không dám bước vào đó, d ù được mời l àm như vậy, kẻ ấy mới có thể ở chốn triều đ ình. Đừng vì một duyên cớ gì vui hưởng các lạc thú như vua, mà phải theo sau hầu vua trong mọi việc, một kẻ như thế mới có thể ở trong chốn triều đ ình.
Đừng mặc y phục như vua, cũng không mang tràng hoa, xức dầu thơm như vua dùng, cũng không đeo các đồ trang sức như vua hay nói giọng như vua được; bao giờ cũng phải tạo một dáng điệu khác, cách phục sức khác. Một kẻ như vậy mới có thể ở chốn triều đ ình.
Nếu vua đang vui đ ùa cùng các cận thần hay đang được các cung nữ vây quanh ng ài, thì vị cận thần không nên nói bóng gió với các cung phi ấy. Người nào không dương dương tự đắc cũng không nhẹ dạ chóng đổi thay, m à phải thận trọng, luôn luôn biết tự chủ, người nào đạt được minh trí v à quyết tâm, người như vậy mới có thể ở chốn cung đ ình.
Đừng đ ùa cợt với các cung phi, cũng không nói chuyện riêng với họ, đừng lấy của cải trong công khố. Người như vậy mới có thể ở chốn triều đ ình. Đừng nghĩ nhiều đến việc ngủ nghỉ, cũng không ham rượu nồng quá độ, không giết hươu nai trong vườn ngự uyển, một kẻ như vậy mới ở được chốn cung đ ình.
Đừng ngồi trên vương tọa, long sàng, kim đôn, vương tượng hoặc vương xa, v ì nghĩ mình là kẻ có đặc quyền, một người như vậy mới có thể ở được chốn cung đ ình.
Đứng e dè giữ mình quá xa cách vua, nhưng cũng đừng quá gần gũi ng ài, luôn luôn sẵn sàng túc trực bên ngài, tâu gửi đôi điều l ên đấng chúa công. Đừng xem vua như một kẻ thường dân, không nên so sánh vua với bất kỳ một ai khác. Vua chúa rất dễ nổi cơn thịnh nộ, như con mắt dễ bị đau nếu đụng nhằm râu hạt thóc vậy. Vị hiền trí không n ên nghĩ rằng mình đang được ân sủng, lại cả gan nói năng thô lỗ với vua đa nghi. Nếu vị ấy gặp được vận may th ì cứ chụp lấy, nhưng đừng tin tưởng v ào vua chúa, phải luôn luôn biết phòng thân như đề ph òng hỏa hoạn, một kẻ như vậy mới có thể ở chốn triều đ ình.
Nếu vua sủng ái con hay em của ngài rồi ban cho họ một vài thôn làng, thị thành hay vài triều thần làm tùy tùng của họ, thì kẻ đó phải biết y ên lặng chờ đợi, đừng bảo l à vua khôn khéo hay lỗi lầm gì.
Nếu vua t ăng lương cho quan quản tượng hay vệ sĩ của ng ài, hoặc pháo binh hay bộ binh của ngài vì nghe được các chiến công của họ, kẻ ấy đừng n ên xen vào cản trở việc trên, một kẻ như vậy mới có thể ở được chốn triều đ ình.
Bậc trí giả phải biết giữ bụng bé như cây cung, nhưng lại biết uốn cong dễ dàng như cây tre; đừng l àm phật ý vua, như vậy mới có thể ở chốn triều đ ình. Phải biết giữ bụng bé như cây cung, mồm lặng thinh như loài cá, phải ăn uống chừng mực, can đảm v à thận trọng. Một kẻ như vậy mới có thể ở chốn triều đ ình.
Đừng lui tới với nữ nhân quá nhiều, sợ rằng phải hao mòn sinh lực, kẻ ngu ngốc chính là nạn nhân của bệnh ho hen, đau nhức m ình mẩy và tính trẻ con, đừng cười cợt thái quá, cũng đừng quá lặng lẽ, phải biết nói năng lúc thời cơ thuận tiện đến, lời nói phải khúc chiết, r õ ràng, được cân nhắc kỹ lưỡng. Đừng buông mình theo cơn nóng giận, cũng đừng chực sẵn s àng gây hận, lời lẽ phải chân thật, dịu dàng, không vọng ngữ và đừng nói năng nhảm nhí. Một kẻ như vậy mới có thể ở chốn triều đ ình.
Phải biết tự rèn luyện, học hỏi, tự chủ, có kinh nghiệm trong việc giao thương, ôn hòa, dịu dàng, thận trọng, liêm khiết, khéo léo. Một kẻ như vậy mới có thể ở chốn triều đ ình.
Đối xử khiêm tốn với người trên, sẵn sàng nghe lời kẻ khác, đầy l òng kính cẩn, từ ái, sống dễ chịu với người xung quanh. Một kẻ như vậy mới có thể ở chốn triều đ ình.
Phải biết lánh xa sứ giả của ngoại bang sai đến thương thảo, chỉ lưu tâm đến vị chúa tể của m ình, đừng biết đến vị vua n ào khác.
Phải biết tôn trọng các Sa-môn, Bà-la-môn đức độ v à đa văn, phải biết cung phụng các vị ấy, một kẻ như vậy mới có thể ở chốn triều đ ình.
Phải biết cúng dường các Sa-môn, Bà-la-môn đức độ v à đa văn đầy đủ vật dụng ăn uống, một kẻ như vậy mới có thể ở chốn triều đ ình. Phải biết đến gần v à thành tâm phụng sự các Sa-môn và Bà-la-môn đức độ, đa văn, cầu mong đó l à việc thiện chân chính của mình.
Đừng tìm cách tước đoạt của các Sa-môn, B à-la-môn những vật được cúng dường cho họ trước kia v à đừng t ìm cách ng ăn cản các khất sĩ v ào lúc chẩn tế. Một kẻ công chính, đầy đủ đại trí, khéo léo sắp xếp mọi công việc, thông thạo mọi thời cơ, một kẻ như vậy mới có thể ở chốn triều đ ình.
Một người đầy nghị lực lúc l àm việc, thận trọng khéo léo, có khả n ăng tiến h ành công việc đến th ành quả mỹ mãn, người ấy mới có thể ở được chốn triều đ ình.
Phải th ăm viếng thường xuy ên các sân đập lúa, đ àn trâu bò, gia súc, ruộng nương, phải cho cân thóc thật kỹ lưỡng và cất vào vựa, phải bảo đong lường kỹ mỗi khi nấu nướng trong nh à mình.
Đừng sử dụng hay đề bạt con hay em trai thiếu đức độ vững v àng, những con em như vậy không phải là những phần tử chân chính của giống nòi mình, phải xem chúng như chết rồi. Phải đem y phục, vật thực cấp dưỡng cho chúng v à bảo chúng ngồi im mà nhận lấy. Phải biết dùng ở cửa công những tùy tướng có đức độ vững v àng, khéo léo làm việc và biết đối phó lúc ngộ biến.
Một kẻ đức độ, vô tham, tận tụy với quân vương, luôn có mặt b ên ngài và mưu cầu quyền lợi cho ngài một kẻ như vậy mới có thể ở chốn triều đ ình.
Phải biết rõ ý vua, theo sát tâm tư ngài, đừng bao giờ h ành động trái ý ng ài, một kẻ như vậy mới có thể ở chốn cung đ ình, phải xoa dầu thơm và tắm cho ngài, phải cúi đầu xuống khi rửa chân cho ng ài; khi bị trừng phạt không hề tức giận, một kẻ như vậy mới có thể ở chốn triều đ ình.
Phải biết cúi đầu ch ào một chiếc bình đầy nước hay cung kính thi lễ một con quạ, hơn thế nữa, c òn phải ban phát đầy đủ cho mọi kẻ cầu xin, lúc n ào cũng phải tỏ ra khôn ngoan và lỗi lạc. Phải biết bố thí, tọa cụ, y phục, xe pháo, nhà cửa, tư dinh, phải tưới tràn đầy phúc lộc cho mọi người như một vầng mây lớn. Thưa quý vị, đó l à cách để ở được chốn triều đ ình, đó l à cách cư xử để được ân sủng của vua chúa, để được vinh quang do các ng ài ban thưởng.
*
VI. CUỘC DU HÀNH CỦA VIDHURA VÀ PUNNAKA
Ba ngày trôi qua, bậc Đại Sĩ thuyết giáo cho đám vợ con, bạn hữu c ùng nhiều người khác đ ã xong. Khi biết thời hạn đ ã mãn, từ tinh sương, sau bữa ăn đầy cao lương mỹ vị, ng ài bảo:
- Ta sẽ tạ từ đức vua v à ra đi c ùng chàng thiếu niên này.
Rồi ngài đi đến cung vua, c ùng với đám quyến thuộc vây quanh, đảnh lễ vua rồi đứng sang một b ên, nhắn nhủ đôi lời khôn ngoan, thực tiễn.
*
Bậc Đạo Sư tả cảnh ấy như sau:
Sau khi nhắn nhủ thân bằng quyến thuộc xong, bậc Đại trí được đám thân hữu vây quanh, c ùng đi đến cung vua. Đảnh lễ dưới chân vua và chúc tụng vua rất kính cẩn xong, Vidhura chắp tay lại tâu:
- Thiếu sinh này muốn sử dụng thần theo ý chàng, nên sẽ đem thần đi xa. Thần xin b ày tỏ đôi lời v ì các thân bằng quyến thuộc còn ở lại, xin hãy nghe thần tâu, hỡi đấng Đại vương đ ã chinh phục bao cừu thù. Xin Đại vương ch ăm sóc đám thê tử v à tài sản trong gia tộc tiểu thần, để khi thần đ ã đi rồi, thân quyến của thần cũng không bị t àn mạt. Vì khi quả đất rung chuyển, th ì mọi vật trên đó đều rung chuyển theo v à khi quả đất vững v àng, thì mọi vật mới vững vàng được. V ì thế thần thấy quyến thuộc của thần sẽ suy sụp theo sự suy sụp của thần; thần nhận đó l à lỗi của thần vậy.
Vua nghe vậy, liền bảo:
- Này bậc Trí giả, trẫm không muốn khanh ra đi tý n ào cả, vậy đừng đi nữa; trẫm sẽ triệu ch àng thiếu sinh ấy đến rồi lấy cớ giết g ã đi v à giấu nhẹm câu chuyện.
Ngài phát họa chuyện này qua vần kệ:
41. Này khanh, không thể bước đi ra, Đây chính điều cương quyết của ta. Khi đ ã giết xong chàng trẻ ấy, Khanh cần ở lại chốn này mà. Đây là thượng sách cho ta đó, Bậc Đại trí, xin chớ bỏ ta!
Bậc Đại Sĩ nghe vậy liền kêu to:
- Ý định như thế quả không xứng chút n ào với Đại vương.
Rồi ngài nói thêm:
42. Đừng để tâm v ào việc bất công, Hãy tinh cần luyện tập thân tâm, Đúng theo Thánh điển đầy thâm nghĩa; Ô nhục thay l à việc ác gian, Khi đ ã làm xong điều tội lỗi, Con người đọa địa ngục sau c ùng. 43. Chuyện này không phải lẽ công bằng, Đây chẳng phải là việc đáng l àm, Tâu Chúa công, vua là tối thượng, Quyền uy với kẻ dưới tồi tàn, Muốn đem giết nó hay thi êu sống, Thần giã từ không dám hận sân.
Nói xong Đại Sĩ kính cẩn vái chào vua rồi khích lệ các cung phi, quần thần đôi lời, xong bước ra khỏi cung điện, trong khi họ không c òn giữ được l òng can đảm, chịu đựng được nữa, c ùng bật tiếng khóc to và dân chúng trong kinh thành đồng k êu lên:
- Bậc Đại trí đang ra đi c ùng chàng tuổi trẻ, ta hãy mau mau ra tiễn ngài lên đường.
Họ nhìn theo ngài trong sân chầu, song họ bảo nhau:
- Đừng sầu khổ nữa, vạn pháp đều vô thường, giả tạm, vậy h ãy nhiệt tâm bố thí và làm các thiện pháp. Rồi họ trở lại, ai về nhà nấy.
*
Bậc Đạo Sư tả cảnh ấy như sau:
Sau khi ôm hôn trưởng nam và đ è nén nỗi đau đớn trong l òng, mắt đẫm lệ, bậc Đại Sĩ bước vào cung thất. Lúc bấy giờ có cả ngàn công tử, cả ngàn công nương, cả ngàn phu nhân, bảy tr ăm cung nữ, c ùng nhiều nô tỳ, cận vệ, thân bằng quyến thuộc quỳ xuống khắp nơi, cả cung điện chẳng khác n ào vườn cây sà-la ngả nghiêng trong cơn cuồng phong bão táp báo hiệu giờ tận thế.
*
Bậc Đạo Sư tả cảnh ấy như sau:
Gia quyến của Trí giả Vidhura nằm phủ phục khắp cung điện như vườn cây s àla ngã nghiêng tơi tả trong cơn bão táp.
Cả ngàn phu nhân, bảy tr ăm nữ tỳ dang tay ra than khóc trong cung của Vidhura. Các hậu phi, vương tử, các Vệ-xá, B à-la-môn, đang dang tay ra than khóc trong cung Vidhura. Các quan quản tượng, vệ sĩ, quản xa, bộ binh, đều dang tay than khóc trong cung của Vidhura. Thần dân khắp chốn th ành thị, thôn quê tụ tập lại đồng dang tay than khóc trong cung của Vidhura.
Sau khi an ủi quần chúng và hoàn tất mọi việc còn sót lại, bậc Đại Sĩ khích lệ các hậu phi và chỉ bảo cho họ những gì cần chỉ bảo, ngài đến gặp Punnaka cho ch àng hay rằng ngài đ ã làm xong mọi việc cần làm.
*
Bậc Đạo Sư tả cảnh ấy như sau:
Sau khi hoàn tất mọi việc cần thiết trong cung thất và chỉ bảo thân bằng quyến thuộc thê nhi, quân sư xong, sau khi sắp đặt mọi công việc b ên ngoài cần lưu tâm và thông báo mọi kho vựa trong nhà, kho gia bảo cùng nợ nần phải trả, ngài nói với Punnaka:
- Chàng đ ã ở lại trong cung ta ba ngày rồi, ta đ ã làm xong mọi việc cần thiết, chỉ dạy vợ con xong xuôi, giờ đây ta h ãy làm theo ý chàng, hỡi chàng Ca-chiên-diên.
Punnaka đáp lại:
- Nếu ngài đ ã hành động theo ý ng ài, đ ã chỉ bảo vợ con, tùy tướng xong rồi, thì than ôi, giờ đây ng ài đứng đó như người sắp vượt biển, cả một cuộc h ành trình dài trước mắt ngài. Vậy đừng sợ h ãi gì, hãy nắm lấy đuôi tuấn m ã cao sang của ta và đây l à lần cuối ngài thấy cảnh nhân gian.
Bậc Đại Sĩ liền đáp lại:
- Ta còn phải sợ ai chứ, khi ta không hề làm ác đối với ai từ thân, ngữ, ý, th ì làm sao ta gặp tai họa được?
Thế là bậc Đại Sĩ can đảm như con sư tử ki êu hùng, lớn tiếng bảo:
- Đây là cẩm bào của ta, đừng cởi nó ra nếu ta không cho phép.
Rồi với quyết tâm cao độ, ng ài thắt đai áo thật chặt, gỡ đuôi ngựa ra, hai tay nắm chặt lấy, thúc đôi chân v ào hông ngựa và bảo chàng:
- Ta đ ã nắm đuôi ngựa rồi, n ày thiếu niên, thôi hãy đi đâu t ùy ý chàng.
Lúc ấy Punnaka ra lệnh cho con ngựa có đủ trí khôn kia, nó liền nhảy vọt l ên bầu trời mang theo bậc Trí giả.
*
Bậc Đạo Sư tả cảnh ấy như sau:
Ngựa chúa mang Vidhura lên bầu trời, chẳng bao lâu đến ngọn Hắc Sơn m à chẳng đụng v ào cây cối núi non chập chùng.
Trong khi Punnaka đem bậc Đại Sĩ đi như vậy, các con ng ài cùng nhiều người đến chứng kiến đi v ào cung thất của ngài. Khi họ không thấy bậc Đại Sĩ đâu cả, họ liền khóc lóc thảm thiết v à ngã sóng sượt như thể chân cẳng họ đ ã đứt l ìa.
Rồi khi họ thấy và nghe bậc Đại Sĩ đang lúc ng ài bay lên trời mà chẳng rõ duyên cớ gì, họ lại than khóc đi thẳng v ào hoàng môn, với đám dân chúng theo sau. Vua nghe tiếng than khóc rền rỉ liền mở cửa sổ ra hỏi tại sao họ than khóc như vậy. Họ tr ình:
- Tâu Đại vương, đó chẳng phải l à chàng Bà-la-môn nào cả, mà chính thần Dạ-xoa giả dạng Bà-la-môn mang bậc Trí giả đi mất rồi. Không có ng ài, chúng thần không thiết sống nữa; nếu ngài không trở về trong vòng bảy ngày nữa, chúng thần sẽ chất gỗ hàng tr ăm h àng ngàn xe và tự thiêu cả cho rồi.
Vua nghe vậy liền đáp:
- Bậc Đại trí giả có giọng nói êm dịu sẽ thuyết phục chàng trai kia bằng giáo pháp của ngài và sẽ khiến chàng quy phục dưới nhân ngài, chẳng mấy chốc ngài sẽ trở về mang lại nụ cười cho bộ mặt sầu thảm của các khanh. Thôi đừng buồn rầu nữa.
Rồi ngài ngâm kệ:
44. Thật đại hiền l à bậc Trí nhân, Uyên thâm và đủ mọi t ài n ăng; Không lâu ng ài tự tìm đường thoát, Ng ài sẽ trở lui, chớ hãi hùng.
Trong khi đó Punnaka, sau khi đ ã đem bậc Đại Sĩ lên đỉnh Hắc Sơn, liền nghĩ thầm: "Người n ày còn sống thì ta không vinh hiển được, vậy ta sẽ giết y lấy quả tim đem về xứ Long vương dâng cho vương hậu Vimal à và sau khi chiếm được công chúa Irandat ì, ta sẽ lên Thiên giới ".
*
Bậc Đạo Sư tả cảnh ấy như sau:
Khi đ ã đến nơi, ch àng nghĩ thầm: "Loài có trí hiện hữu trong nhiều đẳng cấp. Người n ày sống, ta chẳng ích gì, vậy ta hãy giết y và lấy con tim".
Rồi chàng lại nghĩ: "Nếu chẳng cần giết y bằng chính tay ta, sao ta lại chẳng làm y chết đi v ì kinh sợ bằng cách hiện ra hình thù khủng khiếp". Thế là sau khi hiện hình ác quỷ, chàng đến gần nắm ng ài xuống đất, ngoạm ng ài trong miệng như thể sắp nuốt sống ngài, nhưng bậc Đại Sĩ chẳng hề dựng sợi tóc nào. Chàng lại hiện hình sư tử và voi hung, lấy r ăng v à ngà dọa tấn công ngài. Khi ngài chẳng tỏ ra khiếp sợ, chàng liền hiện hình đại m ãng xà, to như chiếc thuyền lớn, hình máng xối, đến gần ng ài rít lên, cuộn thân quanh ngài, phủ đầu ng ài bằng chiếc mào, ngài vẫn chẳng tỏ chút gì sợ hãi. Rồi chàng bảo:
- Nếu y đứng tr ên đỉnh núi v à rơi xuống ta sẽ làm y tan vụn ra từng mảnh.
Thế là chàng nổi trận cuồng phong, nhưng nó cũng chẳng lay động được đầu sợi tóc n ào của ngài cả. Rồi chàng để ng ài trên đỉnh núi, hiện h ình con voi làm rung chuyển ngọn núi ngả nghiêng như thể cây chà là rừng. Nhưng dù vậy, chàng cũng không thể làm lay động được đầu sợi tóc n ào của ngài cả. Sau đó ch àng bảo:
- Ta sẽ làm tim y vỡ ra vì khiếp đảm khi nghe một tiếng gầm kinh khủng.
Rồi chàng đi v ào trong núi, rống lên một tiếng gầm khủng khiếp rền vang cả đất trời nhưng bậc Đại Sĩ cũng chẳng tỏ ra khiếp sợ, vì ngài biết rằng dù chàng hiện hình Dạ-xoa, sư tử, voi hay Long vương, có làm mưa gió rung chuyển núi rừng hay vào trong núi gầm thét vang dội đi nữa, ch àng cũng chỉ là một phàm phu, không là gì khác.
Chàng Dạ-xoa liền nghĩ thầm: "Ta không thể nào giết y bằng cách tấn công bên ngoài, vậy ta chỉ còn cách giết y bằng chính tay ta". Thế là chàng đặt bậc Đại Sĩ lên trên đỉnh núi, c òn chính chàng xuống chân núi đi l ên từ lòng núi, như thể chàng xuyên sợi chỉ trắng qua hạt ngọc có xoi lỗ, với tiếng gầm lớn, chàng thô bạo chụp bậc Đại Sĩ tung lên xoay tít, dựng đầu ng ài xuống phía dưới trong khoảng không chẳng có vật gì để ng ài có thể nắm lấy được.
Cảnh ấy được mi êu tả như sau:
Sau khi đến đó v à vào trong núi, Kàtiyàna với tâm địa ác độc nắm lấy đầu dốc ng ài ngược xuống khoảng không gian bao la. Trong khi ngài lơ lửng như ở trên bờ địa ngục, cảnh tượng thật kinh ho àng, vô cùng nguy hiểm, khó vượt qua, bậc Hiền trí đệ nhất của to àn dân Câu-lâu vẫn không nao núng bảo chàng:
- Bản chất ngươi thật hèn hạ, mặc dù có lúc ngươi đ ã mang một hình tướng thật cao sang; ngươi phóng dật tột cùng mặc dù mang hình hài một vị khổ hạnh tự chế, ngươi đang phạm một việc ác độc v à kỳ quái, không có gì tốt đẹp trong bản chất của ngươi cả. Tại sao ngươi lại giết ta, khi ngươi muốn thấy ta rơi xuống vực thẳm n ày? Tướng mạo ngươi có vẻ siêu phàm, hãy cho ta biết ngươi là loại thiên thần gì?
Punnaka đáp lại:
- Có lẽ ngài đ ã nghe danh thần Dạ-xoa Punnaka, là đại thần của vua Kuvera. Có một Long vương cai trị địa giới t ên gọi Varuna, thật oai hùng, liêm khiết, có đầy đủ phong thái tốt đẹp c ùng dũng lực. Ta mơ ước công chúa, con của ngài, một Long nữ tên gọi Irandatì, vì yêu nương tử diễm kiều ấy nên ta đ ã quyết tâm sát hại ngài đấy, thưa bậc Trí giả.
Bậc Đại Sĩ suy nghĩ: "Thế giới này sụp đổ chỉ v ì một việc hiểu lầm, tại sao một kẻ si tình Long nữ lại muốn giết ta? Ta phải biết tất cả sự thật của câu chuyện này mới được ". Rồi ngài ngâm kệ:
45. Này chớ bị lừa, hỡi Dạ-xoa, Nhiều người bị hại bởi lầm to, Việc chàng yêu quý nàng Long nữ, Nào có liên quan việc giết ta? Này hãy mau lên, thần đại lực, Kể ta nghe mọi chuyện kia m à.
Punnaka liền đáp ng ài:
46. Vì yêu ái nữ đại Long vương, Ta hội ý thân tộc của n àng, Và lúc ta cầu hôn thiếu nữ, Nhạc gia đ ã nói với ta rằng Các ngài hiểu mối tình say đắm: "Ta sẽ ban chàng vị quý nương Hình dáng yêu kiều, mắt diễm lệ Nụ cười tươi đẹp ngát trầm hương . 47. Nếu ch àng đem sính lễ vương gia, Tim của Trí nhân Vi-dhu-ra, Chiếm được nhờ công bằng thắng trận, Công nương được gả giá n ày mà, Chúng ta không nhận quà gì khác". Như vậy ta đâu bị đánh lừa? Hỡi bậc chánh chân nghe thật kỹ, Không g ì lầm lẫn về phần ta. 48. Long vương sẽ gả vị công nương, Đổi trái tim nhờ thắng chánh chân, Chính bởi điều n ày ta đ ã quyết, Giết ngài theo cách chúng ta cần, Nếu ta ném xác ngài trong vực Ta sẽ giết ngài, lấy quả tâm!
Khi bậc Đại Sĩ nghe vậy, ngài suy nghĩ:
"Vương hậu Vimàla không cần trái tim của ta đâu. Vua Varuna sau khi nghe Pháp thoại, đ ã tán thán ta và ban ta châu báu; có lẽ khi ngài về cung đ ã tả lại n ăng lực thuyết Pháp của ta n ên Vimalà cũng mong muốn nghe ta thuyết giảng. Punnaka có lẽ đ ã nhận được lệnh của Varuna qua một sự hiểu lầm v à chàng ta cũng chịu tác động của sự lầm tưởng ri êng nên mới gây ra tai họa này. Vậy nay đặc tính của một bậc trí như ta l à có khả n ăng đưa ra ánh sáng v à khám phá mọi chân lý. Nếu Punnaka giết ta thì có ích gì? Nay ta sẽ bảo chàng: "Này thiếu sinh, ta biết Chánh pháp mà thiện nhân phải tuân theo, vậy trước khi ta chết, hãy đặt ta tr ên đỉnh núi v à nghe ta nói Pháp lành của thiện nhân, sau đó ch àng muốn làm gì tùy ý", rồi sau khi thuyết Pháp thiện nhân cho chàng, ta hãy để ch àng giết đi ".
Thế là ngài ngâm kệ trong khi lơ lửng giữa trời, đầu dốc ngược xuống dưới:
49. Hãy đặt ta ngay thẳng tức th ì, Nếu chàng cần có trái tim kia, Hôm nay ta thuyết cho chàng rõ Pháp của thiện nhân, hãy lắng nghe.
Punnaka suy nghĩ: "Pháp lành chưa hề được tuy ên thuyết trước chư Thiên và loài người. Vậy ta phải lập tức đặt ng ài đứng xuống v à nghe Pháp thiện nhân mới được ". Thế là chàng nhấc bậc Đại Sĩ lên và đặt ng ài trên đỉnh núi.
*
Bậc Đạo Sư miêu tả cảnh ấy như sau:
Punnaka, sau khi vội vàng đặt vị đệ nhất thiện nhân của xứ Câu-lâu xuống đỉnh núi, liền hỏi bậc Đạo Sư đại trí, trong khi ng ài ngồi nhìn cây pipul (cây đa):
- Ta đ ã đưa ng ài lên từ vực thẳm, ta cần quả tim ngài hôm nay, vậy hãy giảng cho ta nghe Pháp lành của thiện nhân.
Bậc Đại Sĩ đáp lại:
- Ta đ ã được ch àng cứu khỏi vực thẳm, nếu chàng cần trái tim ta, ta nguyện thuyết Pháp lành của thiện nhân cho chàng nghe hôm nay.
Rồi bậc Đại Sĩ bảo:
- Thân thể ta nhơ uế, cho ta tắm rửa ngay.
Thần Dạ-xoa ưng thuận, mang nước đến v à khi ngài đang tắm rửa, ch àng liền đem thi ên y cùng dầu thơm cho ngài. Sau khi ngài đ ã mặc y phục, trang điểm xong, ch àng lại đem vật thực tr ên thiên giới cho ngài. Sau bữa ăn, bậc Đại Sĩ trang hoàng đỉnh Hắc Sơn thật tr àn trề hoa lá, lại bài trí một sàng tọa lộng lẫy xong, ngài ngồi xuống ngâm vần kệ, trình bày phận sự của một thiện nhân với vẻ uy nghi tối thắng của một vị Phật:
50. Chàng hãy theo đường đ ã vạch ra, Chùi cho thật sạch bàn tay dơ, Đừng bao giờ phản bội bằng hữu, Đừng rớt v ào uy lực nữ ma.
Chàng Dạ-xoa không thể nào thấu triệt ý nghĩa của bốn qui luật được diễn tả quá ngắn gọn như vậy, liền hỏi th êm chi tiết:
- Thế nào đi theo con đường đ ã vạch sẵn? Thế nào là đốt đi b àn tay lấm dơ? Những ai là nữ nhân bất tịnh? Những ai phản bội thân bằng? Xin ngài nói rõ theo yêu cầu của ta.
Bậc Đại Sĩ đáp lại:
- Kẻ nào mời ta vào nghỉ ngơi khi ta là lữ khách chưa hề quen biết trước đây, ta h ãy làm theo họ. Bậc Trí giả gọi đó l à người đi theo con đường đ ã vạch sẵn. Ta trú chân trong bất kỳ nhà nào dù chỉ qua một đ êm và được mời ăn uống, th ì ta đừng có ý nghĩ xấu trong đầu về người đó, kẻ n ào phản bội bạn hữu là đốt một b àn tay vô tội . Đừng bẻ cành cây đ ã cho ta bóng mát khi nằm ngồi, kẻ phản bội bạn bè thật hèn hạ. Hãy trao tặng mọi thứ vàng bạc của cải ở đời cho nữ nhân m à ta đ ã lựa chọn, tuy thế nữ nhân sẽ khinh bỉ ta khi có dịp; vậy đừng rơi v ào uy lực của các nữ nhân bất tịnh. Như thế là một người biết theo đạo lộ đ ã vạch sẵn; thế là người ấy đốt cháy b àn tay vấy bẩn; đây l à nữ nhân bất tịnh; đây l à kẻ phản bội bằng hữu; còn kia là chính nhân, vậy hãy từ bỏ mọi bất công sai trái.
Như vậy, bậc Đại Sĩ đ ã thuyết Pháp cho chàng Dạ-xoa với uy nghi cao cả của một vị Phật về bốn phận sự của thiện nhân. Punnaka nghe xong, liền suy nghĩ: "Trong bốn lời khuyên này, bậc hiền trí chỉ cầu mong sự sống cho ngài, vì ngài thật sự đ ã tiếp đ ãi ta nồng hậu, dù ta còn là kẻ xa lạ trước đây; ta ở lại trong nh à ngài ba hôm, được ng ài quý trọng vô cùng. Thế mà ta đang l àm hại ngài chỉ vì một nữ nhân; hơn thế nữa, ta đang phản bội thân bằng, nếu ta l àm hại bậc Trí giả này tức là ta không theo thiện nhân pháp, vậy ta cần gì Long nữ Nàga đ ã chứ? Ta phải lập tức đem ng ài trở lại Indapatta làm cho những khuôn mặt u sầu của dân chúng tại đó được tươi vui v à ta sẽ đặt ng ài ngồi trên bảo tọa trong thính đường". Rồi ch àng nói to:
- Ta đ ã ở lại ba ngày trong nhà ngài, ta đ ã được ng ài cung phụng thức ăn thức uống, ng ài là bằng hữu của ta, ta sẽ để ng ài đi, hỡi bậc Trí giả tối thắng, ng ài cứ trở về nhà ngài theo ý nguyện. Ngoài ra những việc liên quan đến d òng giống Long vương đều hủy bỏ, ta không cần g ì Long nữ nữa nhờ những lời lẽ chính đáng của ng ài, nên ngài được thoát khỏi tai họa do ta giáng xuống hôm nay.
Bậc Đại Sĩ đáp lại:
- Này thiếu sinh, đừng đưa ta trở lại nh à mà cứ đem ta đến cung Long vương đi.
Rồi ngài ngâm kệ:
51. Chàng hãy đưa ta, hỡi Dạ-xoa, Đến th ăm nhạc phụ của ch àng mà, Rồi ta sẽ chỉ cho rồng chúa, Cung điện Long vương thuở đ ã qua, Ngài chẳng bao giờ trông thấy được, H ãy làm việc tốt nhất cho ta.
Punnaka đáp:
52. Bậc Trí không nên để mắt trông, Những g ì không lợi lạc thường nhân, Tại sao bậc Trí vô song địch, Ước muốn ra đi giữa địch quân?
Bậc Đại Sĩ đáp:
53. Quả thật ta đây biết r õ rành, Trí nhân chỉ để ý điều l ành, Nhưng không phạm tội bao giờ cả, Sao tử thần ta phải hãi kinh?
- Hơn nữa - ngài tiếp - nhờ bài thuyết Pháp của ta, một kẻ độc ác như ch àng đ ã được điều phục v à hồi tâm, nay chàng lại nói: "Ta không cần Long nữ nữa, ngài cứ trở về". Nên phận sự của ta là phải làm dịu lòng Long vương, cứ đem ta lại đó tức th ì.
Nghe vậy, Punnaka ưng thuận đáp:
- Này bậc Trí giả, ngài sẽ cùng ta chiêm ngưỡng thế giới huy hoàng vô song, nơi Long vương ngự trị giữa tiếng đ àn ca múa hát chẳng khác nào Thiên vương Vessavana (Tỳ-sa-môn) ở ngự viên Nalinì vậy. Có biết bao đo àn Long nữ xinh tươi với bao trò giải trí suốt sáng thâu đ êm, cùng với tr ăm hoa đua sắc, khiến cung điện sáng rực như ánh chớp giữa không gian. Đầy đủ sơn h ào hải vị, mỹ tửu, ca múa, đ àn sáo, các Long nữ với trang phục diễm kiều, cung điện sáng ngời với xi êm y và trân bảo.
*
VII. VIDHURA VÀO LONG CUNG
Rồi Punnaka đặt vị đệ nhất thiện nhân của xứ Câu-lâu ngồi đằng sau ch àng và mang bậc Hiền trí lỗi lạc ấy đến cung Long vương. Khi đến cung điện huy ho àng vô song ấy, bậc hiền trí đứng sau Punnaka v à Long vương nhìn thấy sự hòa hợp giữa hai vị, liền nói với phò mã tương lai như ngài đ ã nói trước kia:
- Khanh đ ã lên cõi nhân gian, đi t ìm quả tim của bậc Hiền trí. Nay phải ch ăng khanh đ ã chiến thắng trở về, mang theo bậc Đại trí vô song kia?
Punnaka đáp:
- Người mà Đại vương mong cầu đ ã đến, đó l à bậc bảo hộ tiểu thần trong mọi việc, người mà thần đ ã chiếm được bằng phương tiện chính đáng. Đại vương hãy xem ngài thuyết Pháp trước Đại vương. Diện kiến với thiện nhân sẽ đem lại an lạc.
Long vương ngâm kệ khi thấy bậc Đại Sĩ:
54. Người này đang đứng ngắm nh ìn ta, Rồng chúa, người chưa thấy trước kia, Nên hoảng hốt vì lòng sợ chết, Giờ không thể nói được lời ra, Với ta, trong lúc đầy kinh h ãi, Đây chẳng phải người Đại trí mà!
Trong lúc Long vương có ý nghĩ như vậy và mặc dù vua rồng không nói thẳng ra rằng vua không tôn trọng ngài, ngài vẫn biết, nhờ thượng trí, cách cư xử cao đẹp nhất đối với mọi chúng sinh, n ên ngài nói với vua rồng:
55. Thần không sợ, tấu Chúa rồng linh, Bởi cái chết, thần chẳng hãi kinh, Nhưng tội nhân không quyền được nói, Với đao phủ nọ sắp h ành hình, Và ngài cũng chẳng nên đ òi hỏi, Kẻ tội phạm kia đối đáp m ình.
Long vương liền ngâm kệ tán thán bậc Đại Sĩ:
56. Đúng như ngài nói, hỡi Hiền nhân, Ngài nói chánh chân: Một tội nhân, Không quyền nói với người hành quyết, Người ấy cũng không hỏi tội nhân!
Sau đó bậc Đại Sĩ ân cần nói với Long vương:
- Cảnh vinh quang, huy hoàng, oai lực cùng dòng dõi Long vương của Đại vương đều phải chịu sinh diệt, chưa phải trường tồn bất biến, thần xin hỏi Đại vương: Tâu Đại vương, làm thế nào ngài hưởng được cung điện n ày? Có phải không do duyên cớ gì cả hoặc do một nhân duyên trước kia phát khởi ra ch ăng? Có phải do ngài tạo ra hay do chư Thiên ban xuống? Xin hãy giải thích cho thần rõ, tâu Long vương, làm thế nào Đại vương hưởng được cung điện n ày?
Long vương đáp lời:
- Chẳng phải không có nguyên nhân gì mà ta hưởng được cảnh n ày, cũng không phải do một nhân duyên nào trước kia phát khởi ra, cũng không phải do ta tạo hay chư Thiên ban xuống, mà ta hưởng thụ cảnh này do công đức của ta đạt được.
Bậc Đại Sĩ lại nói:
- Đại vương phát nguyện ra sao? Và thực hành thánh hạnh như thế nào? Thiện nghiệp nào đ ã đưa lại phước quả n ày? Đó là cảnh vinh quang, huy hoàng, uy lực và dòng dõi Long vương của ngài cùng cung điện n ày, tâu Long vương.
Long vương đáp lại:
- Ở cõi trần thế, trẫm cùng vương hậu đều rất tín th ành và đầy l òng nhân từ: tư thất của trẫm biến thành khách đường. Các Sa-môn, B à-la-môn được cung phụng ẩm thực linh đ ình tại đó. V òng hoa, hương liệu, dầu thơm, đ èn đuốc, tọa s àng, tư phòng, y phục, lương thực trẫm đều chuy ên tâm cúng dường quảng đại tại đó. Ấy l à hạnh nguyện và cách hành trì công đức của trẫm; c òn đây l à phước quả của công đức ấy: Cảnh vinh quang, huy ho àng, dòng dõi Long vương cùng cung điện n ày, thưa bậc Trí giả.
Bậc Đại Sĩ lại bảo:
- Nếu Đại vương hưởng được cung điện n ày bằng cách ấy, Đại vương đ ã thấu hiểu quả báo của thiện nghiệp và luân hồi sinh tử, vậy thì xin Đại vương tinh tấn hành trì công đức để đời sau lại tái sinh v ào chốn cung đ ình.
Long vương đáp:
- Không có vị Sa-môn, Bà-la-môn nào đến đây để trẫm cúng dường vật thực, vậy thưa Tôn giả, xin cho trẫm biết điều trẫm đang mong cầu, đó l à làm cách nào để trẫm lại có thể tái sinh v ào chốn cung đ ình?
Bậc Đại Sĩ bảo:
- Có nhiều rồng rắn tái sinh trong chốn này, cùng với quyến thuộc, thê nhi, nô tỳ của chúng, vậy xin Đại vương đừng sát hại chúng bất kỳ bằng lời nói hay h ành động. Xin Đại vương thực hành thiện pháp trong lời nói cũng như hành động. Thế l à Đại vương sẽ được sống trọn đời trong cung điện n ày và khi từ trần sẽ lên cõi chư Thiên.
Sau khi nghe Pháp thoại của bậc Đại Sĩ, Long vương nghĩ thầm: "Bậc Hiền trí này không thể xa nhà quá lâu, vậy ta sẽ đưa ng ài đến yết kiến Vimal à cho nàng nghe chân ngôn của ngài, để xoa dịu nỗi ước vọng khát khao của n àng bấy lâu, thế là ta sẽ làm đẹp l òng vua Dhanañjaya và đưa bậc Hiền trí trở về l à chuyện rất phải". Thế rồi ngài nói:
- Vị đệ nhất minh quân quả thật đang ưu sầu v ì vắng ngài, vì ngài là cận thần của Đại vương ấy; một khi ngài đ ã trở về đó, d ù nay đang gặp hoạn nạn, khổ đau, th ì người như ngài cũng sẽ chóng tìm được an lạc.
Bậc Đại Sĩ liền tán thán Long vương:
- Đại vương thật đ ã phán lên những lời cao quý của thiện nhân, đó l à Chánh pháp tối thượng, chính trong những cơn nguy biến của cuộc đời như thế n ày, mà đặc tính của những kẻ như tiểu thần mới được sáng tỏ.
Long vương càng thêm hoan hỷ liền ngâm kệ:
57. Chàng chiếm ngài không trả giá sao? Chàng hơn ngài lúc trổ tài cao? Chàng tâu thắng cuộc công bình lắm, Ngài thuộc quyền chàng bởi cách nào?
Bậc Đại Sĩ đáp:
58. Pun-na-ka thắng cuộc tranh tài, Với Chúa thượng tôi lúc đánh b ài, Ngài đ ã tặng tôi vì chiến bại, Công bằng chàng thắng chẳng gì sai.
Long vương vô cùng hân hoan khi nghe những lời lẽ cao quý của bậc Hiền nhân, liền nắm tay bậc Đại trí đệ nhất ấy đưa v ào diện kiến vương hậu:
- Này Vimalà, vì vị này mà ái khanh đ ã xanh xao, hao mòn vóc ngọc bấy lâu, cao lương đ ã mất hương vị dưới mắt khanh, vì trái tim của vầng nhật này mà khanh đ ã chuốc lấy phiền não bấy lâu, nay hãy nghe lời ngài cho kỹ, khanh sẽ không còn dịp gặp lại ngài nữa đâu.
Khi Vimalà trông thấy bậc đệ nhất Hiền trí, liền chắp tay cung kính v à thưa với bậc đệ nhất Hiền trí của xứ Câu-lâu với tất cả l òng hoan hỷ:
59. Người này đang đứng ngắm nh ìn ta, Rồng chúa, người chưa thấy trước kia, Nên hoảng hốt vì lòng sợ chết, Giờ không thể nói được lời ra, Với ta, trong lúc đầy kinh h ãi, Đây chẳng phải người đại trí m à. 60. Thần không sợ, tâu chúa rồng linh, Vì cái chết, thần chẳng hãi kinh, Nhưng tội nhân không quyền được nói, Với đao phủ nọ sắp h ành hình, Vị này cũng chẳng nên đ òi hỏi, Kẻ tội phạm kia đối đáp m ình!
Rồi Long nữ cũng hỏi bậc Hiền trí như Long vương đ ã hỏi trước đây v à câu trả lời của ngài đ ã làm nàng hoan hỷ như Long vương vậy.
Bậc Hiền trí thấy rằng Long vương cùng Long nữ đều đẹp ý với câu đối đáp của ng ài, tâm trí càng kiên cường, chẳng chút sợ hãi liền nói với Long vương:
- Tâu Đại vương đừng ngại g ì, có tiểu thần đây, xin Đại vương tùy ý sử dụng sinh mạng tiểu thần, thịt da, tim óc tiểu thần ích lợi được việc g ì, tiểu thần xin tuân hành, Đại vương mặc tình định đoạt.
Long vương đáp:
- Trái tim của các bậc Hiền nhân chính là đại trí, hôm nay vương tộc chúng ta được hoan hỷ chính nhờ đại trí của ng ài. Vậy chàng thiếu niên có uy danh toàn hảo kia (tức Punnaka) hãy rước công chúa vu quy ngay hôm nay, cùng đưa ng ài trở về xứ Câu-lâu.
Nói xong Long vương Varuna trao công chúa Irandatì cho Punnaka khiến chàng vô cùng hoan hỷ liền dốc hết tâm can với bậc Đại Sĩ.
*
Bậc Đạo Sư tả lại sự việc như sau:
Punnaka vô cùng hoan hỷ vì đ ã chinh phục được Long nữ Irandali, tâm hồn ch àng đầy hạnh phúc, ch àng thưa với bậc đệ nhất thiện nhân xứ Câu-lâu:
61. Ngài đ ã làm ta được vợ ti ên, Ta mong đền đáp xứng người hiền, Ta trao ng ài ngọc vô song địch, V à rước ngài về xứ sở liền.
Lúc ấy bậc Đại Sĩ ngâm kệ khác tán dương chàng :
62. Mong tình đôi lứa chẳng phai t àn, Do chính lòng hoan hỷ ngập tràn, Chàng hãy tặng ta viên ngọc quý, Rồi mang ta trở lại quê hương.
Sau đó Punnaka đặt vị đệ nhất thiện nhân xứ Câu-lâu v ào chỗ ngồi trước chàng và đưa bậc Đại trí tối thượng về thành Indapatta. Chàng phi nhanh còn hơn cả tâm tư con người có thể bay bổng; rồi Punnaka đem vị đệ nhất thiện nhân của dân tộc Câu-lâu về th ành Indapatta.
Sau đó ch àng nói với ngài:
63. Hãy ngắm thành đô trước mắt ng ài: Phố phường khả ái, các vườn xoài, Nay ta được vợ ti ên như ý, Ngài trở về nhà thỏa nguyện thôi!
*
VIII. VIDHURA TRỞ VỀ NHÀ
Cùng ngày hôm ấy, đang lúc thủy triều dâng v ào sáng sớm, vua nằm mộng thấy ngay tại cung môn có một cây đại thọ, thân cây l à trí tuệ, cành lá là công đức v à kết quả là n ăm sản phẩm cao quý của b ò cái (sữa tươi, sữa đông, bơ tươi, bơ chín, bơ đặc), với đ àn voi ngựa được trang ho àng rực rỡ vây quanh, cùng đám đông dân chúng chắp tay cung kính đảnh lễ cây đại thọ. Bỗng một hắc nhân mặc hồng b ào, hoa tai đỏ, cầm khí giới trong tay đến chặt cây tận gốc , mặc cho dân chúng phản đối v à y kéo cây đi mất dạng ; xong y lại trở lại trồng cây v ào chỗ cũ rồi giã từ. Lúc ấy vua hiểu mộng liền nghĩ thầm: "Bậc Trí giả Vidhura chứ không ai khác chính là cây đại thọ, ch àng thiếu niên đem bậc Trí giả đi mất chính l à người chặt cây dù cho dân chúng phản đối, vậy ch àng sẽ trở lại đặt ng ài trước cửa Chánh pháp đường rồi ra đi. Hôm nay ta sẽ được chi êm ngưỡng bậc Trí giả ấy".
Thế là ngài hoan hỷ ban lệnh cho cả kinh thành trang hoàng rực rỡ, chuẩn bị Chánh pháp đường sẵn s àng cùng bảo tọa trong mái đ ình dát đầy trân bảo, c òn ngài có cả tr ăm vua vị khác vây quanh c ùng đám cận thần, dân chúng từ th ành thị đến thôn qu ê tụ tập lại đó ng ài nói lời an ủi họ:
- Các khanh đừng lo g ì, các khanh sẽ lại gặp bậc Hiền trí hôm nay.
Ngài cũng ngồi trong Chánh pháp đường, mong đợi bậc Hiền trí trở về. Lát sau Punnaka đem bậc Đại Sĩ đến đặt giữa đám đông ấy ngay cửa Chánh pháp đường rồi c ùng Irandatì trở về thiên giới của chàng.
*
Bậc Đạo Sư tả cảnh ấy như sau:
Chàng Punnaka dòng dõi cao sang, đặt vị đệ nhất thiện nhân của xứ Câu-lâu giữa đám dân chúng tôn s ùng ngài, rồi leo lên thần mã oai phong của chàng bay vút qua không gian. Vua vừa thấy ngài, lòng đầy hoan hỷ, vụt đứng dậy ôm lấy ng ài trong tay và không chút ngần ngại đặt ng ài lên ngai vàng trước mặt vua ở giữa hội chúng.
Sau khi chào hỏi thân hữu xong, vua đón tiếp ng ài ân cần và ngâm kệ:
64. Khanh dẫn chúng ta tựa cỗ xe, Dân Câu-lâu hỷ lạc tràn trề, Khi nhìn khanh, trả lời ta rõ, Sao chàng niên thiếu để khanh về?
Bậc Đại Sĩ đáp:
65 - 66. Chàng thiếu niên kia, tấu Đại vương, Chàng không phải một kẻ tầm thường, Hỡi anh hùng, có từng nghe nói, Đại lực Pun-na-ka, đại thần, Của Đại vương Đa-v ăn thượng giới? Có Long vương nọ đại h ùng cường, Va-ru-na ấy là danh tánh, Đầy đủ oai phong với lực thần. 67- 68. Pun-na-ka ái mộ công nương, Long nữ I-ran-da n õn nường, Chàng lập mưu cho thần phải chết, Chỉ vì kiều nữ chàng yêu thương; Nay chàng được vợ ti ên như ý, Thần được phép về đến cố hương, V à bảo ngọc kia thần chiếm được, L à trân châu xứng Chuyển luân vương.
- Long vương hài lòng lối thần giải đáp vấn đề li ên quan đến bốn cứu cánh của con người, n ên ban cho thần vinh dự nhận lãnh một viên bảo ngọc. Khi ngài trở về Long cung, vương hậu Vimalà hỏi ngài viên bảo ngọc của ngài để đâu rồi, ng ài liền kể lại tài thuyết Pháp của tiểu thần, khiến vương hậu ước ao được nghe Pháp thoại ấy n ên giả cách ước muốn trái tim tiểu thần. Long vương không hiểu rõ ước nguyện thật sự của bà, nên bảo Long nữ Irandatì: "Mẫu hậu của con đ òi trái tim của Vidhura, vậy con hãy tìm cho được một hiệp sĩ có khả năng đem trái tim ấy về đây". Trong khi công chúa đi t ìm, nàng gặp thần Dạ-xoa Punnaka là cháu của Đại vương Vessavana. Biết chàng ấy đang y êu nàng say đắm, n ên đem ch àng về trình phụ vương, ngài liền bảo chàng: "Nếu chàng đủ khả năng đem về cho trẫm trái tim của Vidhura, ch àng sẽ chiếm được công chúa".
Thế rồi chàng Dạ-xoa ấy, sau khi tìm được tr ên núi Vepulla viên bảo châu của một vị Chuyển luân vương, liền đi đến đây chơi b ài súc sắc và chiếm được thần nhờ thắng cuộc v à chàng ở lại tư thất tiểu thần ba ngày. Rồi chàng bảo tiểu thần nắm lấy đuôi thần m ã của chàng, ném tung tiểu thần lên không qua bao nhiêu cây cối, núi non ở vùng Tuyết Sơn, nhưng không giết được tiểu thần. Ch àng liền nổi trận cuồng phong trong đệ thất cảnh giới đầy cuồng phong ấy v à tung tiểu thần lên đỉnh Hắc Sơn cao sáu mươi dặm, nơi đây ch àng hiện hình sư tử cùng nhiều hình quái vật khác tấn công tiểu thần, nhưng cũng không giết được tiểu thần.
Cuối cùng theo lời thỉnh cầu của chàng, tiểu thần bảo cho chàng biết cách giết được tiểu thần. Kế đó tiểu thần thuyết giáo ch àng về thiện nhân pháp; khi nghe xong, chàng vô cùng hoan hỷ nên muốn đem tiểu thần trở về đây. Tiểu thần lại c ùng chàng đi đến Long cung, thuyết Pháp cho Long vương c ùng vương hậu nghe, cả triều đ ình Long vương đều thỏa dạ. Sau sáu ng ày thần ở lại Long cung, Long vương liền gả công chúa Irandatì cho Punnaka. Chàng thỏa nguyện khi đ ã chinh phục được n àng nên ban tặng thần nhiều châu báu làm quà. Sau đó Long vương ra lệnh ch àng đưa tiểu thần l ên thần mã do ý chàng tạo ra, chàng ngồi giữa công chúa ngồi phía sau, chàng đem tiểu thần về đây đặt giữa sân chầu, rồi c ùng Irandatì bay về kinh thành của chàng.
Tâu Đại vương, như vậy là vì mỹ nữ chàng yêu, chàng đ ã dự định giết tiểu thần để cưới được n àng. Nhưng khi Long vương nghe tiểu thần thuyết Pháp xong, lại hoan hỷ cho phép thần ra về. Và Punnaka lại trao tặng tiểu thần viên bảo châu như ý xúng đáng với một vị Chuyển luân vương, vậy xin Đại vương nhận lấy bảo châu này.
Nói xong ngài dâng bảo ngọc lên vua. Sáng hôm sau vua muốn thuật lại cho thần dân nghe về giấc mộng của mình, liền kể câu chuyện như sau:
Trước hoàng môn có một cây đại thọ, thân nó l à trí tuệ, cành lá là công đức, cây trái phát triển chín muồi theo lẽ tự nhi ên, trái của nó là n ăm sản phẩm của con b ò cái, cây được voi ngựa bao phủ chung quanh. Nhưng trong lúc mọi người đang đ àn ca múa hát, một người lạ mặt đến chặt cây tận gốc rồi mang đi, sau đó cây lại trở về cung điện n ày của ta, các ngươi hãy đến chi êm bái cây ấy.
Các ngươi hãy biểu lộ lòng hân hoan của các ngươi vì trẫm bằng hành động, vậy h ãy đem thật nhiều tặng vật đến chi êm bái cây này.
Bất cứ tù nhân trong quốc độ của trẫm đều được thả ra hết, cũng như cây n ày được giải thoát khỏi cảnh giam cầm, mọi người đều được trả tự do.
Dân chúng hãy vui chơi hội hè suốt tháng này, cất hết cày bừa đi, h ãy cung phụng các Bà-la-môn đủ thịt v à cơm gạo, hãy để các vị ấy uống rượu ở chỗ ri êng cho thỏa thích, dù quí vị nào có kiêng rượu hẳn đi nữa cũng cứ rót thật tr àn trề. Hãy mời luôn đám thảo khấu v à canh phòng quốc độ thật cẩn mật để không ai l àm hại láng giềng mình được. H ãy đến chi êm bái cây này.
Khi vua đ ã ra lệnh như vậy, các cung phi, vương tử, vệ xá, Bà-la-môn liền đem cho bậc Hiền trí thật nhiều thức ăn uống.
Các tượng sư, vệ sĩ, kỵ mã, bộ binh liền đem thức ăn uống cho ng ài. Dân chúng khắp thành thị, thôn quê tụ tập lại thành từng đám đem tặng thật nhiều thức ăn uống. Đám đông hoan hỷ, chi êm ngưỡng bậc Hiền trí sau khi ngài xuất hiện. Khi ngài mới đến, họ vẫy khăn tay v à reo vang khúc khải hoàn.
Một tháng sau, hội hè kết thúc. Bậc Đại Sĩ muốn hoàn thành thiện pháp của một vị Phật, liền thuyết giáo cho dân chúng, khuyên cáo vua và khi mạng chung, ngài được l ên thiên giới. Tuân theo lời dạy của ngài cùng theo gương vua, dân chúng xứ Câu-lâu đ ã cúng dường và thực hành thiện pháp, nên khi mạng chung đều đi l ên cộng trú với chư Thiên thật đông đảo.
*
Sau khi chấm dứt Pháp thoại, bậc Đạo Sư nói:
- Không phải chỉ ngày nay mà ngay trước kia, đức Phật khi đ ã đạt tối thắng trí, liền chứng tỏ t ài n ăng t ùy nghi phương tiện với cứu cánh.
Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy phụ mẫu của bậc Hiền trí chính là vương tộc ngày nay, chánh phi là mẹ của Ràhula (La-hầu-la), vị trưởng tử là La-hầu-la, Long vương Varuna là Sàriputta (Xá-lợi-phất), Kim Sí điểu vương l à Moggallàna (Mục-kiền-liên),Thiên chủ Sakka là Anuruddha (A-na-luật- đ à), vua Dhanañjaya là Ànanda và bậc Trí giả Vidhura chính là Ta.
-ooOoo- Đầu trang | Mục lục | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 Chân thành cám ơn đạo hữu HT đã giúp đánh máy bản vi tính, và đạo hữu PCC & NQ đã giúp dò soát (Bình Anson, 12-2005).
[ Mục lục Tiểu Bộ ][ Thư Mục Tổng Quát ]
last updated: 02-01-2006
BuddhaSasana Home Page This document is written in Vietnamese, with Unicode Times font
Tiểu Bộ Kinh - Tập IX
Chuyện Tiền Thân Đức Phật (VII)
Giáo sư Trần Phương Lan dịch Việt
Chương XXII Đại Phẩm (tiếp theo)
-ooOoo-
Bản dịch: Trần Phương Lan
Dịch bởi Trần Phương Lan. Trích từ Chuyện Tiền Thân Đức Phật (Jātaka), Tiểu Bộ Kinh. Nguồn: http://www.budsas.net/.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
545. Mahānāradakassapajātakaṃ (8)
545. The Mahānāradakassapa Jātaka (8)
545. Chuyện Bổn Sanh Đại Nārada Kassapa (8)
1153.
1153.
1153.
‘‘Ahu rājā videhānaṃ, aṅgati † nāma khattiyo;
Pahūtayoggo dhanimā, anantabalaporiso.
There was a king of the Videhans, a warrior named Aṅgati, with abundant transport, wealthy, a man of endless strength.
‘Đã có một vị vua của xứ Videha, một vị Sát-đế-lỵ tên là Aṅgati; ngài có nhiều xe cộ, giàu có, với quân lực và binh lính vô tận.’
1154.
1154.
1154.
So ca pannarasiṃ † rattiṃ, purimayāme anāgate;
Cātumāsā † komudiyā, amacce sannipātayi.
On the fifteenth night, before the first watch had passed, at the Cātumāsī Komudī festival, he assembled his ministers.
‘Và vào đêm rằm, trước khi canh đầu trôi qua, trong lễ hội Komudī bốn tháng một lần, vị ấy đã triệu tập các vị đại thần.’
1155.
1155.
1155.
‘‘Paṇḍite sutasampanne, mitapubbe † vicakkhaṇe;
Vijayañca sunāmañca, senāpatiṃ alātakaṃ.
The wise, learned, long-standing friends, and discerning ministers: Vijaya, Sunāma, and the general Alātaka.
‘(Những vị) uyên bác, có học thức, là những người bạn cũ, sáng suốt; (đó là) Vijaya và Sunāma, và vị tướng quân Alātaka.’
1156.
1156.
1156.
‘‘Tamanupucchi vedeho, ‘‘paccekaṃ brūtha saṃ ruciṃ;
Cātumāsā komudajja, juṇhaṃ byapahataṃ † tamaṃ;
Kāyajja ratiyā rattiṃ, viharemu imaṃ utuṃ’’.
The king of Videha asked them: ‘Each of you declare your inclination. Today is the Cātumāsī Komudī, the darkness is dispelled by moonlight. With what delight shall we pass this night, this season?’
‘Vị vua xứ Videha đã hỏi họ: ‘Mỗi vị hãy nói lên sở thích của mình; hôm nay là lễ hội Komudī bốn tháng một lần, ánh trăng đã xua tan bóng tối; đêm nay chúng ta nên sống trong thú vui nào trong mùa này?’
1157.
1157.
1157.
‘‘Tato senāpati rañño, alāto etadabravi;
‘‘Haṭṭhaṃ yoggaṃ balaṃ sabbaṃ, senaṃ sannāhayāmase.
Then the king’s general, Alāta, said this: ‘Let us equip the entire joyful and fit army and forces.’
‘Bấy giờ, vị tướng quân của nhà vua, Alāta, đã nói lời này: ‘Chúng ta hãy chuẩn bị tất cả quân đội, binh lính và lực lượng hùng hậu.’
1158.
1158.
1158.
‘‘Niyyāma deva yuddhāya, anantabalaporisā;
Ye te vasaṃ na āyanti, vasaṃ upanayāmase †;
Esā mayhaṃ sakā diṭṭhi, ajitaṃ ojināmase.
‘Let us go forth to battle, O deva, we men of endless strength. Those who do not come under your sway, let us bring under your sway. This is my own view: let us conquer the unconquered.’
‘Tâu Đại vương, chúng ta hãy xuất quân ra trận, với quân lực và binh lính vô tận; những ai chưa quy phục ngài, chúng ta hãy bắt họ quy phục. Đây là quan điểm của riêng thần, chúng ta hãy chinh phục những gì chưa được chinh phục.’
1159.
1159.
1159.
Alātassa vaco sutvā, sunāmo etadabravi;
‘‘Sabbe tuyhaṃ mahārāja, amittā vasamāgatā.
Hearing Alāta’s words, Sunāma said this: ‘All your enemies, great king, have come under your control.’
Nghe lời của Alāta, Sunāma thưa rằng: 'Tâu Đại vương, tất cả kẻ thù của ngài đã quy phục dưới quyền lực.'
1160.
1160.
1160.
‘‘Nikkhittasatthā paccatthā, nivātamanuvattare;
Uttamo ussavo ajja, na yuddhaṃ mama ruccati.
‘The enemies have laid down their weapons; they follow submissively. Today is the highest festival; war does not please me.’
'Kẻ thù đã buông bỏ vũ khí, họ trở nên khiêm cung và tuân phục. Hôm nay là lễ hội cao quý nhất, thần không thích chiến tranh.'
1161.
1161.
1161.
‘‘Annapānañca khajjañca, khippaṃ abhiharantu te;
Ramassu deva kāmehi, naccagīte suvādite’’.
‘Let them quickly bring you food, drink, and delicacies. Enjoy sensual pleasures, O deva, with dance, song, and fine music.’
'Xin hãy cho người mau chóng mang đến đồ ăn, thức uống, và vật thực. Tâu thiên tử, xin ngài hãy vui hưởng các dục lạc, với vũ điệu và ca khúc được trình diễn hay.'
1162.
1162.
1162.
Sunāmassa vaco sutvā, vijayo etadabravi;
‘‘Sabbe kāmā mahārāja, niccaṃ tava mupaṭṭhitā.
Hearing Sunāma's words, Vijaya said this: ‘All pleasures, O great king, are constantly available to you.’
Nghe lời của Sunāma, Vijaya thưa rằng: 'Tâu Đại vương, tất cả các dục lạc luôn luôn sẵn có cho ngài.'
1163.
1163.
1163.
‘‘Na hete dullabhā deva, tava kāmehi modituṃ;
Sadāpi kāmā sulabhā, netaṃ cittamataṃ † mama.
‘It is not difficult for you, O deva, to delight in sensual pleasures. Pleasures are always easily obtained; this is not my mind’s inclination.’
'Tâu thiên tử, những điều này không khó có được để ngài vui hưởng các dục lạc. Các dục lạc luôn luôn dễ dàng có được, đây không phải là ý kiến trong tâm của thần.'
1164.
1164.
1164.
‘‘Samaṇaṃ brāhmaṇaṃ vāpi, upāsemu bahussutaṃ;
Yo najja vinaye kaṅkhaṃ, atthadhammavidū ise’’.
‘Let us attend upon some learned ascetic or brahmin, a seer who knows the meaning and the Dhamma, who today might dispel our doubt.’
'Chúng ta hãy đến gần một vị Sa-môn hay Bà-la-môn, một bậc đa văn, một bậc hiền nhân thông hiểu ý nghĩa và Chánh pháp, người có thể giải tỏa mối nghi ngờ của chúng ta hôm nay.'
1165.
1165.
1165.
Vijayassa vaco sutvā, rājā aṅgati mabravi;
‘‘Yathā vijayo bhaṇati, mayhampetaṃva ruccati.
Hearing Vijaya's words, King Aṅgati said: ‘As Vijaya speaks, so it pleases me also.’
Nghe lời của Vijaya, vua Aṅgati phán rằng: 'Như Vijaya đã nói, điều ấy cũng làm ta hài lòng.'
1166.
1166.
1166.
‘‘Samaṇaṃ brāhmaṇaṃ vāpi, upāsemu bahussutaṃ;
Yo najja vinaye kaṅkhaṃ, atthadhammavidū ise.
‘Let us attend upon some learned ascetic or brahmin, a seer who knows the meaning and the Dhamma, who today might dispel our doubt.’
'Chúng ta hãy đến gần một vị Sa-môn hay Bà-la-môn, một bậc đa văn, một bậc hiền nhân thông hiểu ý nghĩa và Chánh pháp, người có thể giải tỏa mối nghi ngờ của chúng ta hôm nay.'
1167.
1167.
1167.
‘‘Sabbeva santā karotha matiṃ, kaṃ upāsemu paṇḍitaṃ;
Yo † najja vinaye kaṅkhaṃ, atthadhammavidū ise’’.
‘All of you, being present, make up your minds: whom, a wise one, should we attend upon? A seer who knows the meaning and the Dhamma, who today might dispel our doubt.’
'Tất cả những ai có mặt, hãy quyết định xem, chúng ta nên đến gần vị hiền trí nào, một bậc hiền nhân thông hiểu ý nghĩa và Chánh pháp, người có thể giải tỏa mối nghi ngờ của chúng ta hôm nay?'
1168.
1168.
1168.
‘‘Vedehassa vaco sutvā, alāto etadabravi;
‘‘Atthāyaṃ migadāyasmiṃ, acelo dhīrasammato.
Hearing Videha's words, Alāta said this: ‘There is in this deer park a naked ascetic, esteemed as wise.’
Nghe lời của vua Videha, Alāta thưa rằng: 'Có một vị lõa thể ở trong vườn Lộc Uyển, được xem là bậc hiền trí.'
1169.
1169.
1169.
‘‘Guṇo kassapagottāyaṃ, suto citrakathī gaṇī;
Taṃ deva † payirupāsemu †, so no kaṅkhaṃ vinessati’’.
‘He is Guṇa of the Kassapa clan, learned, an eloquent speaker, and the head of a school. Let us attend upon him, O deva; he will dispel our doubt.’
'Vị ấy là Guṇa, thuộc dòng họ Kassapa, nổi tiếng, là người thuyết giảng tài tình, có đồ chúng. Tâu thiên tử, chúng ta hãy đến gần vị ấy, vị ấy sẽ xua tan mối nghi ngờ của chúng ta.'
1170.
1170.
1170.
‘‘Alātassa vaco sutvā, rājā codesi sārathiṃ;
‘‘Migadāyaṃ gamissāma, yuttaṃ yānaṃ idhānaya’’.
Hearing Alāta’s words, the king ordered the charioteer: ‘We shall go to the deer park—bring the yoked chariot here.’
Nghe lời của Alāta, nhà vua ra lệnh cho người đánh xe: 'Chúng ta sẽ đi đến vườn Lộc Uyển, hãy mang xe đã thắng ngựa đến đây.'
1171.
1171.
1171.
Tassa yānaṃ ayojesuṃ, dantaṃ rūpiyapakkharaṃ †;
Sukkamaṭṭhaparivāraṃ, paṇḍaraṃ dosināmukhaṃ.
They yoked his chariot, made of ivory, with silver trappings, with white, polished fittings, white, its front like the moonlit night.
Họ đã thắng cỗ xe cho vua, làm bằng ngà, trang bị bằng bạc, với các phụ kiện màu trắng được đánh bóng, trắng tinh như vầng trăng ban đêm.
1172.
1172.
1172.
‘‘Tatrāsuṃ kumudāyuttā, cattāro sindhavā hayā;
Anilūpamasamuppātā †, sudantā soṇṇamālino.
There were four Sindh horses yoked, adorned with lotuses, swift as the wind, well-trained, and wearing golden garlands.
Được thắng vào đó là bốn con tuấn mã xứ Sindh, trắng như hoa súng, tốc độ của chúng ví như gió, được huấn luyện kỹ càng, trang điểm bằng những vòng hoa vàng.
1173.
1173.
1173.
‘‘Setacchattaṃ setaratho, setassā setabījanī;
Vedeho sahamaccehi, niyyaṃ candova sobhati.
With a white parasol, a white chariot, white horses, and a white fan, King Videha, together with his ministers, shone like the moon as he went forth.
Lọng trắng, xe trắng, ngựa trắng, quạt trắng. Vua Videha cùng với các vị cận thần, khi ra đi, tỏa sáng như vầng trăng.
1174.
1174.
1174.
‘‘Tamanuyāyiṃsu bahavo, indikhaggadharā † balī;
Assapiṭṭhigatā vīrā, narā naravarādhipaṃ.
Many strong sword-bearers followed him; heroes mounted on horses, men following the lord of excellent men.
Nhiều người đã đi theo ngài, những người mạnh mẽ mang gươm và dao găm, những anh hùng dũng cảm cưỡi trên lưng ngựa, những người đi theo vị chúa tể của những người cao quý nhất.
1175.
1175.
1175.
So muhuttaṃva yāyitvā, yānā oruyha khattiyo;
Vedeho sahamaccehi, pattī guṇamupāgami.
After traveling for a moment, the warrior-king descended from the chariot. Videha, with his ministers, approached Guṇa on foot.
Vị vua Sát-đế-lỵ ấy, sau khi đi được một lúc, đã xuống xe. Vua Videha cùng với các vị cận thần đã đi bộ đến gần Guṇa.
1176.
1176.
1176.
Yepi tattha tadā āsuṃ, brāhmaṇibbhā samāgatā;
Na te apanayī rājā, akataṃ bhūmimāgate.
Even those brahmins and wealthy men who were gathered there, having come to the unprepared ground, the king did not dismiss.
Những vị Bà-la-môn và gia chủ nào đã tụ tập ở đó lúc bấy giờ, nhà vua đã không xua đuổi họ, những người đã đến nơi chưa được chuẩn bị.
1177.
1177.
1177.
‘‘Tato so mudukā bhisiyā, muducittakasanthate †;
Mudupaccatthate rājā, ekamantaṃ upāvisi.
Then the king sat down to one side on a soft cushion, on a soft, painted spread, on a soft covering.
Sau đó, nhà vua ngồi xuống một bên, trên một tấm nệm mềm, trên một tấm thảm thêu mềm mại, trên một tấm trải mềm.
1178.
1178.
1178.
‘‘Nisajja rājā sammodi, kathaṃ sāraṇiyaṃ tato;
‘‘Kacci yāpaniyaṃ bhante, vātānamaviyaggatā †.
Seated, the king exchanged friendly greetings, then spoke words of courtesy: 'I hope, venerable sir, you are able to get along? Are your winds not disturbed?'
Sau khi ngồi xuống, nhà vua đã trao đổi những lời thăm hỏi thân mật, rồi nói những lời đáng ghi nhớ: 'Kính thưa ngài, ngài có được an khang không? Các khí trong người có được điều hòa không?'
1179.
1179.
1179.
‘‘Kacci akasirā vutti, labhasi † piṇḍayāpanaṃ †;
Apābādho casi kacci, cakkhuṃ na parihāyati’’.
I hope your livelihood is not difficult, and you obtain alms for sustenance? Are you free from illness? Is your eyesight not failing?
'Việc sinh kế của ngài có được dễ dàng không? Ngài có nhận đủ vật thực khất thực để sống không? Ngài có được vô bệnh không? Thị lực của ngài có bị suy giảm không?'
1180.
1180.
1180.
Taṃ guṇo paṭisammodi, vedehaṃ vinaye rataṃ;
‘‘Yāpanīyaṃ mahārāja, sabbametaṃ tadūbhayaṃ.
Guṇa responded in kind to him, to Videha, who delighted in discipline: 'It is tolerable, great king; all of it, in both respects.'
Guṇa đã đáp lại lời thăm hỏi của vua Videha, người ưa thích sự kỷ luật: 'Tâu Đại vương, tôi vẫn được an khang, tất cả những điều ấy đều được như vậy.'
1181.
1181.
1181.
‘‘Kacci tuyhampi vedeha, paccantā na balīyare;
Kacci arogaṃ yoggaṃ te, kacci vahati vāhanaṃ;
Kacci te byādhayo natthi, sarīrassupatāpiyā’’ †.
O Videha, I hope your border regions are not becoming powerful? I hope your forces are healthy and fit? I hope your vehicle runs well? I hope you have no illnesses that afflict the body?
'Còn ngài, tâu vua Videha, các vùng biên địa của ngài không bị nhiễu loạn chứ? Các con vật kéo xe của ngài có được khỏe mạnh không? Cỗ xe của ngài có chạy tốt không? Ngài không có bệnh tật nào làm khổ thân xác chứ?'
1182.
1182.
1182.
Paṭisammodito rājā, tato pucchi anantarā;
Atthaṃ dhammañca ñāyañca, dhammakāmo rathesabho.
Having exchanged greetings, the king, the bull of chariots, fond of Dhamma, then immediately asked about meaning, Dhamma, and justice.
Sau khi trao đổi lời thăm hỏi, nhà vua, bậc chúa tể của các cỗ xe, người khao khát Chánh pháp, liền hỏi ngay sau đó về ý nghĩa, về Chánh pháp, và về đạo lý.
1183.
1183.
1183.
‘‘Kathaṃ dhammaṃ care macco, mātāpitūsu kassapa;
Kathaṃ care ācariye, puttadāre kathaṃ care.
Kassapa, how should a mortal conduct themselves according to the Dhamma towards mother and father? How should they conduct themselves towards teachers, and how towards children and wife?
'Thưa ngài Kassapa, một người phải thực hành Chánh pháp như thế nào đối với cha mẹ? Phải hành xử như thế nào đối với thầy tổ, phải hành xử như thế nào đối với vợ con?'
1184.
1184.
1184.
‘‘Kathaṃ careyya vuḍḍhesu, kathaṃ samaṇabrāhmaṇe;
Kathañca balakāyasmiṃ, kathaṃ janapade care.
How should one behave towards the elders, how towards ascetics and brahmins; how towards the army, how should one conduct oneself in the country?
'Phải hành xử như thế nào đối với những người lớn tuổi, như thế nào đối với các vị Sa-môn và Bà-la-môn? Và phải hành xử như thế nào đối với quân đội, như thế nào đối với dân chúng trong xứ?'
1185.
1185.
1185.
‘‘Kathaṃ dhammaṃ caritvāna, maccā gacchanti † suggatiṃ;
Kathañceke adhammaṭṭhā, patanti nirayaṃ atho’’.
How, having lived according to the Dhamma, do mortals go to a good destination? And how do some, being unrighteous, fall into hell?
'Sau khi thực hành Chánh pháp như thế nào mà con người đi đến thiện thú? Và làm thế nào mà một số người, do sống trong phi pháp, lại bị rơi vào địa ngục?'
1186.
1186.
1186.
‘‘Vedehassa vaco sutvā, kassapo etadabravi;
‘‘‘Suṇohi me mahārāja, saccaṃ avitathaṃ padaṃ.
Having heard Videha's words, Kassapa said this: 'Listen to me, great king, to the true and unfailing word.'
Nghe lời của vua Videha, Kassapa nói rằng: 'Tâu Đại vương, xin hãy nghe lời của tôi, lời chân thật và không sai lạc.'
1187.
1187.
1187.
‘‘‘Natthi dhammacaritassa †, phalaṃ kalyāṇapāpakaṃ;
Natthi deva paro loko, ko tato hi idhāgato.
'There is no fruit, good or bad, for one who practices Dhamma. There is no other world, O king; for who has come here from there?'
'Không có kết quả của việc thực hành Chánh pháp, không có quả báo của việc thiện và ác. Tâu thiên tử, không có thế giới bên kia, vì có ai từ nơi đó đã đến đây đâu?'
1188.
1188.
1188.
‘‘‘Natthi deva pitaro vā, kuto mātā kuto pitā;
Natthi ācariyo nāma, adantaṃ ko damessati.
'There are no ancestors, O king. Whence mother, whence father? There is no such thing as a teacher; who will tame the untamed?'
'Tâu thiên tử, không có tổ tiên, làm gì có mẹ, làm gì có cha? Không có cái gọi là thầy tổ, ai có thể điều phục người không được điều phục?'
1189.
1189.
1189.
‘‘‘Samatulyāni bhūtāni, natthi jeṭṭhāpacāyikā;
Natthi balaṃ vīriyaṃ vā, kuto uṭṭhānaporisaṃ;
Niyatāni hi bhūtāni, yathā goṭaviso tathā.
'Beings are of equal measure; there is no reverence for elders. There is no strength or energy; whence exertion or manly power? For beings are fixed by destiny, just like a goṭa-plant.'
“‘Các chúng sanh đều bình đẳng, không có sự kính trọng người lớn tuổi; Không có sức mạnh hay tinh tấn, làm sao có sự nỗ lực của con người; Vì các chúng sanh đã được định sẵn, cũng như con bò bị trói buộc.’”
1190.
1190.
1190.
‘‘‘Laddheyyaṃ labhate macco, tattha dānaphalaṃ kuto;
Natthi dānaphalaṃ deva, avaso devavīriyo.
'A mortal obtains what is to be obtained; then whence the fruit of giving? There is no fruit of giving, O king; effort is powerless.'
“‘Người ta nhận được những gì phải nhận, ở đó làm gì có quả của bố thí; Thưa đức vua, không có quả của bố thí, (chúng sanh) bất lực, không có năng lực của riêng mình.’”
1191.
1191.
1191.
‘‘‘Bālehi dānaṃ paññattaṃ, paṇḍitehi paṭicchitaṃ;
Avasā denti dhīrānaṃ, bālā paṇḍitamānino.
'Giving is prescribed by fools, accepted by the wise. Powerless fools, who consider themselves wise, give to the steadfast.'
“‘Sự bố thí do kẻ ngu đặt ra, được người trí tiếp nhận; Những kẻ ngu, tự cho mình là trí, bất lực mà cho đi đến những người khôn ngoan.’”
1192.
1192.
1192.
‘‘‘Sattime sassatā kāyā, acchejjā avikopino;
Tejo pathavī āpo ca, vāyo sukhaṃ dukhañcime;
Jīve ca sattime kāyā, yesaṃ chettā na vijjati.
'These seven are eternal bodies, unbreakable, unchangeable: fire, earth, water, and air, pleasure and pain, and the life-principle—these are the seven bodies whose destroyer is not found.'
“‘Có bảy thân thường hằng này, không thể bị cắt đứt, không thể bị biến đổi; Lửa, đất, và nước, gió, lạc, khổ này; Và mạng sống là bảy thân này, không có ai có thể hủy diệt chúng.’”
1193.
1193.
1193.
‘‘‘Natthi hantā va chettā vā, haññe yevāpi † koci naṃ;
Antareneva kāyānaṃ, satthāni vītivattare.
'There is no killer or cutter, nor is there anyone who is slain. Weapons pass through the space between bodies.'
“‘Không có người giết hay người cắt, cũng không có ai bị giết; Các binh khí chỉ đi xuyên qua, giữa các thân ấy mà thôi.’”
1194.
1194.
1194.
‘‘‘Yo cāpi † siramādāya, paresaṃ nisitāsinā;
Na so chindati te kāye, tattha pāpaphalaṃ kuto.
'Even if one were to take the head of others with a sharp sword, one does not cut those bodies; then whence the fruit of evil?'
“‘Và người nào dùng gươm bén, lấy đầu của người khác; Người ấy không cắt đứt các thân kia, ở đó làm gì có quả báo của tội ác.’”
1195.
1195.
1195.
‘‘‘Cullāsītimahākappe, sabbe sujjhanti saṃsaraṃ;
Anāgate tamhi kāle, saññatopi na sujjhati.
'All are purified by wandering on for eighty-four great aeons. Before that time has come, even the restrained are not purified.'
“‘Trong tám mươi bốn đại kiếp, tất cả đều được thanh tịnh qua vòng luân hồi; Trước khi đến thời điểm ấy, dù có tự chế cũng không thanh tịnh được.’”
1196.
1196.
1196.
‘‘‘Caritvāpi bahuṃ bhadraṃ, neva sujjhantināgate;
Pāpañcepi bahuṃ katvā, taṃ khaṇaṃ nātivattare.
'Even having practiced much good, they are not purified before the time comes; and even having done much evil, they do not overstep that fixed period.'
“‘Dù đã thực hành nhiều điều tốt lành, cũng không thanh tịnh được trong tương lai; Dù đã làm nhiều điều ác, cũng không vượt qua được khoảnh khắc ấy.’”
1197.
1197.
1197.
‘‘‘Anupubbena no suddhi, kappānaṃ cullasītiyā;
Niyatiṃ nātivattāma, velantamiva sāgaro’’’.
'Our purification is gradual, over eighty-four aeons. We do not overstep destiny, like the ocean its shore.'
“‘Sự thanh tịnh của chúng ta là tuần tự, qua tám mươi bốn kiếp; Chúng ta không thể vượt qua định mệnh, như biển cả không thể vượt qua bờ.’”
1198.
1198.
1198.
Kassapassa vaco sutvā, alāto etadabravi;
‘‘Yathā bhadanto bhaṇati, mayhampetaṃva ruccati.
Hearing Kassapa's words, Alāta said this: 'As the venerable sir says, so it pleases me as well.'
Nghe lời của Kassapa, Alāta nói lên điều này: “Như điều tôn giả nói, điều ấy cũng làm con hài lòng.”
1199.
1199.
1199.
‘‘Ahampi purimaṃ jātiṃ, sare saṃsaritattano;
Piṅgalo nāmahaṃ āsiṃ, luddo goghātako pure.
'I too remember a former life from my wandering in transmigration. I was named Piṅgala, a cruel cow-killer in the past.'
“Con cũng nhớ được tiền kiếp, sự luân hồi của chính mình; Trước kia con tên là Piṅgala, là một người tàn bạo, một người giết bò.”
1200.
1200.
1200.
‘‘Bārāṇasiyaṃ phītāyaṃ, bahuṃ pāpaṃ kataṃ mayā;
Bahū mayā hatā pāṇā, mahiṃsā sūkarā ajā.
In flourishing Bārāṇasī, much evil was done by me. Many living beings were killed by me—buffalo, pigs, and goats.
“Tại thành Bārāṇasī thịnh vượng, con đã làm nhiều điều ác; Con đã giết nhiều chúng sanh, trâu, heo, và dê.”
1201.
1201.
1201.
‘‘Tato cuto idha jāto, iddhe senāpatīkule;
Natthi nūna phalaṃ pāpaṃ, yohaṃ † na nirayaṃ gato.
Then, having passed away from there, I was born here, in a prosperous general's family. Surely there is no fruit of evil, since I have not gone to hell.
“Chết từ đó, con sinh ra ở đây, trong gia đình tướng quân giàu có; Chắc chắn không có quả báo của việc ác, vì con đã không đi đến địa ngục.”
1202.
1202.
1202.
Athettha bījako nāma, dāso āsi paṭaccarī †;
Uposathaṃ upavasanto, guṇasantikupāgami.
Now there was a slave here named Bījaka, a rag-wearer. Observing the Uposatha, he approached Guṇa.
Lúc ấy ở đó có người nô lệ tên là Bījaka, một người làm thuê; Đang thực hành ngày trai giới, ông đã đến gần Guṇa.
1203.
1203.
1203.
Kassapassa vaco sutvā, alātassa ca bhāsitaṃ;
Passasanto muhuṃ uṇhaṃ, rudaṃ assūni vattayi.
Hearing Kassapa’s words, and Alāta’s speech as well, sighing hotly again and again, weeping, he shed tears.
Nghe lời của Kassapa, và lời nói của Alāta; Thở ra hơi nóng liên tục, ông khóc và nước mắt tuôn rơi.
1204.
1204.
1204.
Tamanupucchi vedeho, ‘‘kimatthaṃ samma rodasi;
Kiṃ te sutaṃ vā diṭṭhaṃ vā, kiṃ maṃ vedesi vedanaṃ’’.
Videha then asked him: 'Why, dear friend, do you weep? What have you heard or seen? What suffering do you make known to me?'
Vua Videha hỏi người ấy: “Này bạn, vì sao bạn khóc; Bạn đã nghe hay thấy điều gì, bạn cho tôi biết nỗi khổ đau nào vậy?”
1205.
1205.
1205.
Vedehassa vaco sutvā, bījako etadabravi;
‘‘Natthi me vedanā dukkhā, mahārāja suṇohi me.
Hearing Videha's words, Bījaka said this: 'I have no painful feeling, great king, listen to me.'
Nghe lời của vua Videha, Bījaka nói lên điều này: “Tâu đại vương, con không có nỗi khổ đau nào, xin ngài hãy nghe con.”
1206.
1206.
1206.
‘‘Ahampi purimaṃ jātiṃ, sarāmi sukhamattano;
Sāketāhaṃ pure āsiṃ, bhāvaseṭṭhi guṇe rato.
'I too remember my own happiness in a past life. I was once in Sāketa, a wealthy merchant, delighting in virtues.'
“Con cũng nhớ được tiền kiếp, sự hạnh phúc của chính mình; Trước kia con ở Sāketa, là một thương gia giàu có, ưa thích đức hạnh.”
1207.
1207.
1207.
‘‘Sammato brāhmaṇibbhānaṃ, saṃvibhāgarato suci;
Na cāpi pāpakaṃ kammaṃ, sarāmi katamattano.
Honored by brahmins and wealthy men, delighting in sharing, pure; nor do I recall any evil deed done by myself.
“Được các Bà-la-môn và gia chủ kính trọng, ưa thích chia sẻ, trong sạch; Con cũng không nhớ mình đã làm, một hành động xấu ác nào.”
1208.
1208.
1208.
‘‘Tato cutāhaṃ vedeha, idha jāto duritthiyā;
Gabbhamhi kumbhadāsiyā, yato jāto suduggato.
Having passed away from there, Vedeha, I was born here in misfortune, in the womb of a potter's slave-girl, from whom I was born very wretched.
“Tâu vua Videha, chết từ đó, con sinh ra ở đây từ một người phụ nữ bất hạnh; Trong bụng của một nữ tỳ gánh nước, từ đó sinh ra rất khốn khổ.”
1209.
1209.
1209.
‘‘Evampi duggato santo, samacariyaṃ adhiṭṭhito;
Upaḍḍhabhāgaṃ bhattassa, dadāmi yo me icchati.
Even being so wretched, I was firm in right conduct. I gave half my meal to whoever desired it.
“Dù khốn khổ như vậy, con vẫn kiên trì thực hành đời sống ngay thẳng; Con cho đi một nửa phần cơm, cho người nào muốn có.”
1210.
1210.
1210.
‘‘Cātuddasiṃ pañcadasiṃ, sadā upavasāmahaṃ;
Na cāpi † bhūte hiṃsāmi, theyyañcāpi vivajjayiṃ.
On the fourteenth and fifteenth days, I always observed the fast. Nor did I harm living beings, and I avoided theft as well.
“Vào ngày mười bốn và mười lăm, con luôn thực hành trai giới; Con cũng không làm hại chúng sanh, và tránh xa sự trộm cắp.”
1211.
1211.
1211.
‘‘Sabbameva hi nūnetaṃ, suciṇṇaṃ bhavati nipphalaṃ;
Niratthaṃ maññidaṃ sīlaṃ, alāto bhāsatī yathā.
'Indeed, all this well-practiced conduct becomes fruitless. I consider this virtue pointless, just as Alāta speaks.'
“Chắc chắn tất cả những điều này, những việc thiện đã làm, đều trở nên vô quả; Con nghĩ rằng giới hạnh này là vô ích, như lời Alāta đã nói.”
1212.
1212.
1212.
‘‘Kalimeva nūna gaṇhāmi, asippo dhuttako yathā;
Kaṭaṃ alāto gaṇhāti, kitavosikkhito yathā.
‘Surely I seize the losing throw, like an unskilled rogue; Alāta seizes the winning throw, like a trained gambler.’
“Chắc chắn con đã nắm phải con súc sắc xấu, như một kẻ lừa đảo không nghề nghiệp; Alāta đã nắm được con súc sắc tốt, như một tay cờ bạc lành nghề.”
1213.
1213.
1213.
‘‘Dvāraṃ nappaṭipassāmi, yena gacchāmi suggatiṃ;
Tasmā rāja parodāmi, sutvā kassapabhāsitaṃ’’.
‘I see no door by which I might go to a good destination; therefore, O king, I weep, having heard what was spoken by Kassapa.’
“Con không thấy được cánh cửa, để qua đó con đi đến thiện thú; Vì vậy, tâu đức vua, con khóc than, khi nghe lời Kassapa nói.”
1214.
1214.
1214.
Bījakassa vaco sutvā, rājā aṅgati mabravi;
‘‘Natthi dvāraṃ sugatiyā, niyatiṃ † kaṅkha bījaka.
Hearing Bījaka’s words, King Aṅgati said: ‘There is no door to a good destination; Bījaka, doubt not about destiny.’
Nghe lời của Bījaka, vua Aṅgati đã nói: 'Này Bījaka, không có cửa nào đến cõi lành, hãy trông chờ vào định mệnh.'
1215.
1215.
1215.
‘‘Sukhaṃ vā yadi vā dukkhaṃ, niyatiyā kira labbhati;
Saṃsārasuddhi sabbesaṃ, mā turittho † anāgate.
‘Whether happiness or sorrow, it is said, is obtained by destiny. The purification of all is through transmigration; do not hasten for the future.’
'Dù là hạnh phúc hay đau khổ, quả thật đều do định mệnh mang lại. Sự thanh tịnh trong luân hồi là dành cho tất cả, đừng vội vàng về tương lai.'
1216.
1216.
1216.
‘‘Ahampi pubbe kalyāṇo, brāhmaṇibbhesu byāvaṭo †;
Vohāramanusāsanto, ratihīno tadantarā’’.
‘I too was virtuous in the past, engaged in the affairs of brahmins and wealthy men, instructing in legal matters, yet devoid of joy during that time.’
'Ta trước đây cũng là người đức hạnh, bận rộn với các Bà-la-môn và gia chủ, giảng dạy về các công việc, nhưng trong khoảng thời gian ấy lại không có niềm vui.'
1217.
1217.
1217.
‘‘Punapi bhante dakkhemu, saṅgati ce bhavissati’’;
Idaṃ vatvāna vedeho, paccagā sanivesanaṃ.
‘Again, venerable sir, we shall see you, if there is a meeting.’ Having said this, Vedeha returned to his residence.
'Thưa ngài, chúng ta sẽ gặp lại, nếu có cuộc hội ngộ.' Nói lời này xong, vị vua xứ Videha đã trở về nơi ở của mình.
1218.
1218.
1218.
Tato ratyā vivasāne, upaṭṭhānamhi aṅgati;
Amacce sannipātetvā, idaṃ vacanamabravi.
Then, at the end of the night, at the time of attendance, Aṅgati, having assembled his ministers, spoke these words:
Sau đó, khi đêm tàn, tại nơi triều kiến, vua Aṅgati cho triệu tập các vị quan đại thần và nói lời này.
1219.
1219.
1219.
‘‘Candake me vimānasmiṃ, sadā kāme vidhentu me;
Mā upagacchuṃ atthesu, guyhappakāsiyesu ca.
‘In my Candaka mansion, let them always provide pleasures for me. Let them not approach me concerning affairs, whether secret or public.’
‘Trong cung điện Candaka của ta, hãy luôn luôn sắp đặt các dục lạc cho ta; Chớ nên đến gần ta vì các công việc, cả bí mật lẫn công khai.
1220.
1220.
1220.
‘‘Vijayo ca sunāmo ca, senāpati alātako;
Ete atthe nisīdantu, vohārakusalā tayo’’.
‘Vijaya and Sunāma, and the general Alātaka—let these three, skilled in legal matters, attend to affairs.’
‘Vijaya, Sunāma, và vị tướng quân Alātaka; Ba người này, những người giỏi về việc xét xử, hãy đảm nhận các công việc’.
1221.
1221.
1221.
Idaṃ vatvāna vedeho, kāmeva bahumaññatha;
Na cāpi brāhmaṇibbhesu, atthe kismiñci byāvaṭo.
Having said this, Vedeha esteemed pleasures greatly, nor was he engaged in any affair concerning brahmins and wealthy men.
Sau khi nói điều này, vua xứ Videha chỉ xem trọng các dục lạc; và cũng không bận tâm đến bất cứ công việc nào với các vị Bà-la-môn và các gia chủ.
1222.
1222.
1222.
Tato dvesattarattassa, vedehassatrajā piyā;
Rājakaññā rucā † nāma, dhātimātaramabravi.
Then, after fourteen nights, Vedeha's beloved daughter, the princess named Rucā, addressed her nurse:
Sau đó, sau hai tuần lễ, người con gái thân yêu của vua Videha, công chúa tên là Rucā, đã nói với vú nuôi của mình.
1223.
1223.
1223.
‘Alaṅkarotha maṃ khippaṃ, sakhiyo cālaṅkarontu † me;
Suve pannaraso dibyo, gacchaṃ issarasantike’ †.
‘Adorn me quickly, and let my companions also be adorned. Tomorrow is the divine fifteenth day; I am going to my lord's presence.’
‘Hãy trang điểm cho con mau chóng, và các bạn của con cũng hãy trang điểm cho con; Ngày mai là ngày rằm thiêng liêng, con sẽ đi đến yết kiến đức vua’.
1224.
1224.
1224.
Tassā mālyaṃ abhihariṃsu, candanañca mahārahaṃ;
Maṇisaṅkhamuttāratanaṃ, nānāratte ca ambare.
They brought her garlands, precious sandalwood, gems, conch shells, pearls, and jewels, and garments of various colors.
Họ đã mang đến cho nàng những vòng hoa, và gỗ chiên-đàn quý giá; các loại ngọc, ốc xà cừ, trân châu, bảo vật, và y phục nhiều màu sắc.
1225.
1225.
1225.
Tañca sovaṇṇaye † pīṭhe, nisinnaṃ bahukitthiyo;
Parikiriya pasobhiṃsu †, rucaṃ ruciravaṇṇiniṃ.
Many women surrounded her, seated on a golden throne, and adorned Rucā of lovely complexion, making her beautiful.
Và nàng, đang ngồi trên chiếc ghế bằng vàng, được nhiều thị nữ vây quanh trang điểm, nàng Rucā có dung sắc xinh đẹp.
1226.
1226.
1226.
Sā ca sakhimajjhagatā, sabbābharaṇabhūsitā;
Sateratā abbhamiva, candakaṃ pāvisī rucā.
Amidst her friends, adorned with all ornaments, like the sky full of stars, Rucā entered the Candaka palace with radiance.
Và nàng, ở giữa các bạn, được trang hoàng với tất cả trang sức; giống như tia chớp giữa đám mây, nàng Rucā đã đi vào cung điện Candaka.
1227.
1227.
1227.
Upasaṅkamitvā vedehaṃ, vanditvā vinaye rataṃ;
Suvaṇṇakhacite † pīṭhe, ekamantaṃ upāvisi’’.
Having approached Vedeha and paid homage, she who delighted in discipline sat down to one side on a gold-inlaid seat.
Sau khi đến gần vua Videha, nàng đã đảnh lễ, người vui thích trong sự lễ độ; rồi ngồi xuống một bên trên chiếc ghế được khảm vàng’.
1228.
1228.
1228.
Tañca disvāna vedeho, accharānaṃva saṅgamaṃ;
Rucaṃ sakhimajjhagataṃ, idaṃ vacanamabravi.
And Vedeha, seeing her—Rucā amidst her friends, like a gathering of celestial nymphs—spoke these words:
Và vua Videha, sau khi nhìn thấy nàng Rucā ở giữa các bạn, giống như một hội chúng của các thiên nữ, đã nói lên những lời này.
1229.
1229.
1229.
‘‘Kacci ramasi pāsāde, antopokkharaṇiṃ pati;
Kacci bahuvidhaṃ khajjaṃ, sadā abhiharanti te.
‘I hope you are enjoying the palace, near the inner lotus pond? I hope they always bring you various kinds of food?’
‘Con có vui thích trong cung điện, bên cạnh hồ sen bên trong không? Có phải nhiều loại thực phẩm luôn được mang đến cho con không?
1230.
1230.
1230.
‘‘Kacci bahuvidhaṃ mālyaṃ, ocinitvā kumāriyo;
Gharake karotha paccekaṃ, khiḍḍāratiratā muhuṃ †.
‘I hope that you maidens, constantly delighting in play and pleasure, gather many kinds of garlands and arrange them, each in your own little rooms?’
‘Các thiếu nữ có hái nhiều loại hoa, rồi mỗi người làm những ngôi nhà nhỏ, thường xuyên vui thích trong các trò chơi và thú vui không?
1231.
1231.
1231.
‘‘Kena vā vikalaṃ tuyhaṃ, kiṃ khippaṃ āharantu te;
Manokarassu kuḍḍamukhī †, api candasamamhipi’’ †.
‘Or in what are you lacking? What shall they quickly bring for you? Wish for it, O fair-faced one, even if it were the moon itself!’
‘Con còn thiếu thốn điều gì, hay họ cần phải mau chóng mang đến cho con vật gì? Hãy chú ý, hỡi người có gương mặt như tranh vẽ, dù cho đó là vật giống như mặt trăng’.
1232.
1232.
1232.
Vedehassa vaco sutvā, rucā pitaramabravi;
‘‘Sabbametaṃ mahārāja, labbhatissarasantike.
Hearing Vedeha's words, Rucā said to her father: ‘All this, great king, is obtainable in the presence of a lord.’
Sau khi nghe lời của vua Videha, nàng Rucā thưa với phụ vương rằng: ‘Tâu đại vương, tất cả những điều này đều có thể có được ở nơi đức vua.
1233.
1233.
1233.
‘‘Suve pannaraso dibyo, sahassaṃ āharantu me;
Yathādinnañca dassāmi, dānaṃ sabbavanīsvahaṃ’’ †.
‘Tomorrow is the divine fifteenth day. Let them bring me a thousand, and I shall give a gift to all mendicants.’
‘Ngày mai là ngày rằm thiêng liêng, xin hãy cho người mang đến cho con một ngàn (đồng tiền); và như đã được ban cho, con sẽ bố thí cho tất cả những người ăn xin’.
1234.
1234.
1234.
Rucāya vacanaṃ sutvā, rājā aṅgati mabravi;
‘‘Bahuṃ vināsitaṃ vittaṃ, niratthaṃ aphalaṃ tayā.
Hearing Rucā's words, King Aṅgati said: ‘Much wealth has been wasted by you, uselessly and fruitlessly.’
Sau khi nghe lời của Rucā, vua Aṅgati nói rằng: ‘Con đã hủy hoại nhiều của cải một cách vô ích và không có kết quả.
1235.
1235.
1235.
‘‘Uposathe vasaṃ niccaṃ, annapānaṃ na bhuñjasi;
Niyatetaṃ abhuttabbaṃ, natthi puññaṃ abhuñjato’’.
‘Always observing the Uposatha day, you do not partake of food and drink. It is by destiny that this is not eaten; there is no merit for one who does not eat.’
‘Con luôn luôn giữ ngày Bố-tát, không ăn uống đồ ăn thức uống; điều này chắc chắn là không được ăn, không có phước báu gì cho người không ăn’.
1236.
1236.
1236.
‘‘Bījakopi hi sutvāna, tadā kassapabhāsitaṃ;
Passasanto muhuṃ uṇhaṃ, rudaṃ assūni vattayi.
‘For even Bījaka, having then heard what was spoken by Kassapa, sighing hotly again and again, shed tears as he wept.’
Thật vậy, khi ấy, sau khi nghe những lời của Kassapa, Bījaka cũng đã thường xuyên thở ra hơi nóng, khóc lóc và tuôn rơi nước mắt.
1237.
1237.
1237.
‘‘Yāva ruce jīvamānā †, mā bhattamapanāmayi;
Natthi bhadde paro loko, kiṃ niratthaṃ vihaññasi’’.
‘As long as you live, Rucā, do not refuse food. There is no other world, good lady; why do you torment yourself uselessly?’
‘Này Rucā, khi còn đang sống, con đừng từ chối thức ăn; Này con gái hiền, không có thế giới nào khác, tại sao con lại tự làm khổ mình một cách vô ích?’
1238.
1238.
1238.
Vedehassa vaco sutvā, rucā ruciravaṇṇinī;
Jānaṃ pubbāparaṃ dhammaṃ, pitaraṃ etadabravi.
Hearing Vedeha's words, Rucā of lovely complexion, knowing the law of cause and effect, spoke thus to her father:
Sau khi nghe lời của vua Videha, nàng Rucā có dung sắc xinh đẹp, người biết được giáo pháp về nhân quả, đã thưa với phụ vương điều này.
1239.
1239.
1239.
‘‘Sutameva pure āsi, sakkhi † diṭṭhamidaṃ mayā;
Bālūpasevī yo hoti, bālova samapajjatha.
‘This I have heard before, and now I have witnessed it myself: whoever associates with a fool, becomes a fool himself.’
‘Trước đây, con chỉ được nghe nói, nay điều này đã được con tận mắt chứng kiến; người nào thân cận với kẻ ngu, người ấy cũng trở thành kẻ ngu.
1240.
1240.
1240.
‘‘Mūḷho hi mūḷhamāgamma, bhiyyo mohaṃ nigacchati;
Patirūpaṃ alātena, bījakena ca muyhituṃ.
‘For a deluded person, by associating with another who is deluded, falls into even greater delusion. It is fitting that you are deluded by Alāta and Bījaka.’
‘Vì người si mê, sau khi gần gũi người si mê, sẽ càng đi vào si mê hơn; việc Alāta và Bījaka bị si mê là điều thích hợp.
1241.
1241.
1241.
‘‘Tvañca devāsi sappañño, dhīro atthassa kovido;
Kathaṃ bālehi sadisaṃ, hīnadiṭṭhiṃ upāgami.
‘But you, O deva, are wise, a sage skilled in what is beneficial. How is it that, like a fool, you have adopted such a base view?’
‘Còn ngài, tâu đức vua, là người có trí tuệ, bậc kiên định, bậc thông thạo về điều lợi ích; tại sao ngài lại đi theo tà kiến thấp kém, giống như những kẻ ngu?
1242.
1242.
1242.
‘‘Sacepi saṃsārapathena sujjhati, niratthiyā pabbajjā guṇassa;
Kīṭova aggiṃ jalitaṃ apāpataṃ, upapajjati mohamūḷho † naggabhāvaṃ.
‘If one is purified simply by the path of transmigration, then the asceticism of Guna is useless. Like an insect falling into a blazing fire, one deluded by folly takes up nakedness.’
‘Nếu như người ta được thanh tịnh qua con đường luân hồi, thì sự xuất gia của Guna là vô ích; giống như con thiêu thân lao vào ngọn lửa đang cháy, người bị si mê lầm lạc đi đến tình trạng lõa thể.
1243.
1243.
1243.
‘‘Saṃsārasuddhīti pure niviṭṭhā, kammaṃ vidūsenti bahū ajānaṃ †;
Pubbe kalī duggahitovaatthā †, dummo ca yā balisā ambujova.
‘Many who are ignorant, settled in the view of “purification through transmigration,” corrupt their own kamma. This view is like a poorly grasped snake, or like a fish caught on a hook.’
‘Những người trước đây đã chấp thủ vào quan điểm ‘thanh tịnh qua luân hồi’, nhiều người không biết đã làm hư hoại nghiệp; giống như ván cờ bị thua, ý nghĩa đã bị nắm bắt sai lầm, và giống như con cá bị mắc vào lưỡi câu tồi tệ.
1244.
1244.
1244.
‘‘Upamaṃ te karissāmi, mahārāja tavatthiyā;
Upamāya midhekacce, atthaṃ jānanti paṇḍitā.
‘I will make a comparison for you, great king, for your benefit. For by means of a comparison, some wise people here understand the meaning.’
‘Tâu đại vương, con sẽ đưa ra một ví dụ vì lợi ích của ngài; vì nhờ vào ví dụ, một số người hiền trí hiểu được ý nghĩa.
1245.
1245.
1245.
‘‘Vāṇijānaṃ yathā nāvā, appamāṇabharā † garu;
Atibhāraṃ samādāya, aṇṇave avasīdati.
‘Just as a merchants’ ship, taking on an excessive load, heavy and immeasurable, sinks in the ocean.’
‘Giống như con thuyền của các thương gia, nặng nề với hàng hóa không lường được; sau khi nhận lấy gánh nặng quá sức, nó bị chìm xuống biển cả.
1246.
1246.
1246.
‘‘Evameva naro pāpaṃ, thokaṃ thokampi ācinaṃ;
Atibhāraṃ samādāya, niraye avasīdati.
‘Even so, a person accumulating evil little by little, having taken on an excessive burden, sinks down into hell.’
‘Cũng tương tự như vậy, một người tích lũy điều ác, dù từng chút từng chút một; sau khi nhận lấy gánh nặng quá sức, người ấy bị chìm vào địa ngục.
1247.
1247.
1247.
‘‘Na tāva bhāro paripūro, alātassa mahīpati;
Ācināti ca taṃ pāpaṃ, yena gacchati duggatiṃ.
‘The burden is not yet full for Alāta, O lord of the earth. He is still accumulating that evil by which he will go to a woeful state.’
‘Tâu chúa đất, gánh nặng của Alāta vẫn chưa được đầy; và ông ta đang tích lũy điều ác ấy, điều mà qua đó ông ta sẽ đi đến khổ cảnh.
1248.
1248.
1248.
‘‘Pubbevassa kataṃ puññaṃ, alātassa mahīpati;
Tasseva deva nissando, yañceso labhate sukhaṃ.
‘Previously, O king, merit was made by Alāta. The happiness which he now obtains, O deva, is the result of that very merit.’
‘Tâu chúa đất, phước báu đã được Alāta thực hiện từ trước; tâu đức vua, chính là kết quả của việc ấy, mà ông ta có được sự an lạc này.
1249.
1249.
1249.
‘‘Khīyate cassa taṃ puññaṃ, tathā hi aguṇe rato;
Ujumaggaṃ avahāya †, kummaggamanudhāvati.
‘That merit of his dwindles away, for he delights in demerit. Abandoning the straight path, he pursues a crooked path.’
'Và phước báu của vị ấy bị tiêu mòn, vì vị ấy ưa thích điều xấu. Từ bỏ con đường ngay thẳng, vị ấy đi theo con đường sai lầm.'
1250.
1250.
1250.
‘‘Tulā yathā paggahitā, ohite tulamaṇḍale;
Unnameti tulāsīsaṃ, bhāre oropite sati.
‘Just as with a held-up balance, when a weight is placed in the pan, it is lowered, and the beam rises.’
'Giống như chiếc cân được giữ thăng bằng, khi vật nặng được đặt lên đĩa cân, đầu cân (phía đối diện) sẽ nâng lên.'
1251.
1251.
1251.
‘‘Evameva naro puññaṃ, thokaṃ thokampi ācinaṃ;
Saggātimāno dāsova, bījako sātave † rato.
‘Even so, a person accumulating merit little by little is destined for heaven, like the slave Bījaka who delights in what is pleasant.’
'Cũng vậy, người nào tích lũy phước báu, dù chỉ từng chút một, giống như người nô lệ Bījaka, người có lòng tôn kính cõi trời và ưa thích niềm vui (chân chánh).'
1252.
1252.
1252.
‘‘Yamajja bījako dāso, dukkhaṃ passati attani;
Pubbevassa † kataṃ pāpaṃ, tameso paṭisevati.
“Whatever suffering the slave Bījaka sees in himself today, it is the evil done by him previously that he now experiences.”
'Nỗi khổ mà người nô lệ Bījaka đang gánh chịu hôm nay, chính là quả báo của việc ác mà người ấy đã làm trong quá khứ.'
1253.
1253.
1253.
‘‘Khīyate cassa taṃ pāpaṃ, tathā hi vinaye rato;
Kassapañca samāpajja, mā hevuppathamāgamā.
“And his evil deed is exhausted, for he delights in discipline. Having associated with Kassapa, may he not go to a wrong path.”
'Và nghiệp ác của người ấy đang tiêu mòn, vì người ấy ưa thích sự rèn luyện. Hãy thân cận Kassapa, chớ đi vào con đường sai lầm.'
1254.
1254.
1254.
‘‘Yaṃ yañhi rāja bhajati, santaṃ vā yadi vā asaṃ;
Sīlavantaṃ visīlaṃ vā, vasaṃ tasseva gacchati.
“Whatever person a king associates with, whether good or bad, virtuous or immoral, he falls under that very one's influence.”
'Thưa đức vua, người ta giao du với bất cứ ai, dù là người thiện hay người ác, người có giới hạnh hay người không có giới hạnh, người ta sẽ bị ảnh hưởng bởi chính người đó.'
1255.
1255.
1255.
‘‘Yādisaṃ kurute mittaṃ, yādisaṃ cūpasevati;
Sopi tādisako hoti, sahavāso hi † tādiso.
“Whatever kind of friend one makes, and whatever kind one associates with, one also becomes of that same kind, for such is the nature of association.”
'Người ta kết bạn với người như thế nào, thân cận với người như thế nào, thì người ta cũng trở nên như thế ấy, vì sự chung sống là như vậy.'
1256.
1256.
1256.
‘‘Sevamāno sevamānaṃ, samphuṭṭho samphusaṃ paraṃ;
Saro diddho kalāpaṃva, alittamupalimpati;
Upalepabhayā † dhīro, neva pāpasakhā siyā.
“One who associates with another, one who is touched while touching another, like a poisoned arrow smearing a quiver, contaminates the uncontaminated. Fearing contamination, the wise one should not befriend the evil.”
'Người giao du với người khác, người được tiếp xúc lại tiếp xúc với người khác nữa; giống như mũi tên tẩm độc làm vấy bẩn ống tên chưa bị tẩm độc. Vì sợ sự vấy bẩn, người trí không nên làm bạn với kẻ ác.'
1257.
1257.
1257.
‘‘Pūtimacchaṃ kusaggena, yo naro upanayhati;
Kusāpi pūti vāyanti, evaṃ bālūpasevanā.
“The person who wraps a rotten fish with kusa grass—the kusa grass also smells rotten. Such is association with fools.”
'Người nào dùng ngọn cỏ kusa để gói con cá ươn, thì ngọn cỏ ấy cũng bốc mùi hôi thối. Thân cận với kẻ ngu cũng như vậy.'
1258.
1258.
1258.
‘‘Tagarañca palāsena, yo naro upanayhati;
Pattāpi surabhi vāyanti, evaṃ dhīrūpasevanā.
“The person who wraps tagara powder in a palāsa leaf—the leaves also become fragrant. Such is association with the wise.”
'Người nào dùng lá cây để gói bột hương tagara, thì lá cây ấy cũng tỏa mùi thơm. Thân cận với người trí cũng như vậy.'
1259.
1259.
1259.
‘‘Tasmā pattapuṭasseva †, ñatvā sampākamattano;
Asante nopaseveyya, sante seveyya paṇḍito;
Asanto nirayaṃ nenti, santo pāpenti suggatiṃ’’.
“Therefore, having known the ripening for oneself, just as with the leaf-container, a wise person should not associate with the wicked, but should associate with the virtuous. The wicked lead to hell, while the virtuous lead to a good destination.”
'Vì vậy, cũng như cái gói bằng lá, người trí sau khi biết được kết quả của mình, không nên thân cận người ác, nên thân cận người thiện. Người ác dẫn đến địa ngục, người thiện đưa đến cõi lành.'
1260.
1260.
1260.
Ahampi jātiyo satta, sare saṃsaritattano;
Anāgatāpi satteva, yā gamissaṃ ito cutā.
“I too remember my own seven births while wandering in saṃsāra; and there are seven more in the future, to which I shall go after passing away from here.”
Ta cũng nhớ được bảy kiếp quá khứ trong vòng luân hồi của chính mình, và cả bảy kiếp tương lai mà ta sẽ đi đến sau khi từ đây mệnh chung.
1261.
1261.
1261.
‘‘Yā me sā sattamī jāti, ahu pubbe janādhipa;
Kammāraputto magadhesu, ahuṃ rājagahe pure.
“That seventh birth of mine in the past, O lord of men, was in Magadha; I was the son of a blacksmith in the city of Rājagaha.”
'Thưa đức vua, kiếp thứ bảy trong quá khứ của ta, ta là con trai của một người thợ rèn ở xứ Magadha, tại thành Rājagaha.'
1262.
1262.
1262.
‘‘Pāpaṃ sahāyamāgamma, bahuṃ pāpaṃ kataṃ mayā;
Paradārassa heṭhento, carimhā amarā viya.
“Having associated with an evil companion, much evil was done by me; harassing the wives of others, we roamed about as if we were immortal.”
'Vì kết giao với bạn xấu, ta đã làm nhiều điều ác. Chúng ta đã đi phá hoại vợ của người khác, sống như thể những người bất tử.'
1263.
1263.
1263.
‘‘Taṃ kammaṃ nihitaṃ aṭṭhā, bhasmacchannova pāvako;
Atha aññehi kammehi, ajāyiṃ vaṃsabhūmiyaṃ.
“That kamma remained latent, like a fire covered with ashes. Then, through other deeds, I was born in the land of the Vaṃsas.”
'Nghiệp ấy đã nằm yên ở đó, giống như ngọn lửa bị tro che lấp. Rồi do các nghiệp khác, ta đã được sinh ra ở xứ Vaṃsa.'
1264.
1264.
1264.
‘‘Kosambiyaṃ seṭṭhikule, iddhe phīte mahaddhane;
Ekaputto mahārāja, niccaṃ sakkatapūjito.
“In Kosambī, in a merchant's family—successful, prosperous, and of great wealth—I was an only son, O great king, always honored and revered.”
'Tại Kosambī, trong một gia đình trưởng giả, thịnh vượng, phát đạt, và giàu có. Thưa đại vương, ta là con trai duy nhất, luôn được kính trọng và tôn vinh.'
1265.
1265.
1265.
‘‘Tattha mittaṃ asevissaṃ, sahāyaṃ sātave rataṃ;
Paṇḍitaṃ sutasampannaṃ, so maṃ atthe nivesayi.
“There I associated with a friend, a companion delighting in what is pleasant, wise and endowed with learning; he established me in what is beneficial.”
'Ở đó, ta đã kết giao với một người bạn, một người đồng hành ưa thích điều thiện, một người trí tuệ và có học thức. Người ấy đã hướng dẫn ta vào điều lợi ích.'
1266.
1266.
1266.
‘‘Cātuddasiṃ pañcadasiṃ, bahuṃ rattiṃ upāvasiṃ;
Taṃ kammaṃ nihitaṃ aṭṭhā, nidhīva udakantike.
“On the fourteenth and fifteenth days, I observed the precepts for much of the night. That kamma was laid aside, like a treasure by the water's edge.”
'Vào các ngày mười bốn, rằm, ta đã nhiều đêm thọ trì trai giới. Nghiệp thiện ấy đã được cất giữ, giống như kho báu ở gần bờ nước.'
1267.
1267.
1267.
‘‘Atha pāpāna kammānaṃ, yametaṃ magadhe kataṃ;
Phalaṃ pariyāga maṃ † pacchā, bhutvā duṭṭhavisaṃ yathā.
“Then the fruit of the evil deeds that were done in Magadha later came upon me, like the effect of consuming a deadly poison.”
'Rồi sau đó, quả báo của các nghiệp ác mà ta đã làm ở Magadha đã đến với ta, giống như đã uống phải thuốc độc.'
1268.
1268.
1268.
‘‘Tato cutāhaṃ vedeha, roruve niraye ciraṃ;
Sakammunā apaccissaṃ, taṃ saraṃ na sukhaṃ labhe.
“Having passed away from there, O Vedeha, for a long time in the Roruva hell I was tormented by my own kamma. Remembering that, I find no happiness.”
'Thưa vua Videha, sau khi chết ở đó, ta đã bị đày đọa lâu dài trong địa ngục Roruva bởi chính nghiệp của mình. Nhớ lại điều đó, ta không tìm thấy niềm vui.'
1269.
1269.
1269.
‘‘Bahuvassagaṇe tattha, khepayitvā bahuṃ dukhaṃ;
Bhinnāgate † ahuṃ rāja, chagalo uddhatapphalo †.
“Having exhausted much suffering there for many multitudes of years, I became a goat with a broken gait, O king, with swollen testicles.”
'Ở đó, sau khi trải qua nhiều khổ đau trong vô số năm, thưa đức vua, ta đã trở thành một con dê bị thiến ở Bhinnāgata.'
1270.
1270.
1270.
‘‘Sātaputtā mayā vūḷhā, piṭṭhiyā ca rathena ca;
Tassa kammassa nissando, paradāragamanassa me.
“The sons of the wealthy were carried by me, both on my back and by cart. This was the result of that kamma, of my going to another's wife.”
'Ta đã phải cõng trên lưng và kéo xe cho các con trai của những người giàu có. Đó là dư báo của nghiệp tà dâm với vợ người khác của ta.'
1271.
1271.
1271.
‘‘Tato cutāhaṃ vedeha, kapi āsiṃ brahāvane;
Niluñcitaphalo † yeva, yūthapena pagabbhinā;
Tassa kammassa nissando, paradāragamanassa me.
“Having passed away from there, O Vedeha, I was a monkey in the great forest. My testicles were torn out by a reckless troop-leader. This was the result of that kamma, of my going to another's wife.”
'Thưa vua Videha, sau khi chết ở đó, ta đã làm một con khỉ trong khu rừng lớn. Ta đã bị một con đầu đàn hung hãn cắn nát tinh hoàn. Đó là dư báo của nghiệp tà dâm với vợ người khác của ta.'
1272.
1272.
1272.
‘‘Tato cutāhaṃ vedeha, dassanesu † pasū ahuṃ;
Niluñcito javo bhadro, yoggaṃ vūḷhaṃ ciraṃ mayā;
Tassa kammassa nissando, paradāragamanassa me.
“Having passed away from there, O Vedeha, I was a beast in the land of the Dasaṇṇas. A swift and fine bull, I was castrated, and for a long time I pulled the yoke. This was the result of that kamma, of my going to another's wife.”
'Thưa vua Videha, sau khi chết ở đó, ta đã làm một con bò ở xứ Dasanna. Bị thiến, là một con vật khỏe mạnh, nhanh nhẹn, ta đã phải kéo cày trong một thời gian dài. Đó là dư báo của nghiệp tà dâm với vợ người khác của ta.'
1273.
1273.
1273.
‘‘Tato cutāhaṃ vedeha, vajjīsu kulamāgamā;
Nevitthī na pumā āsiṃ, manussatte sudullabhe;
Tassa kammassa nissando, paradāragamanassa me.
“Having passed away from there, O Vedeha, I came to a family among the Vajjis. In a human state so hard to obtain, I was neither female nor male. This was the result of that kamma, of my going to another's wife.”
'Thưa vua Videha, sau khi chết ở đó, ta đã sinh vào một gia đình ở xứ Vajjī. Trong kiếp người khó được ấy, ta không phải là nam cũng không phải là nữ. Đó là dư báo của nghiệp tà dâm với vợ người khác của ta.'
1274.
1274.
1274.
‘‘Tato cutāhaṃ vedeha, ajāyiṃ nandane vane;
Bhavane tāvatiṃsāhaṃ, accharā kāmavaṇṇinī †.
“Having passed away from there, O Vedeha, I was born in the Nandana Grove, in the abode of the Tāvatiṃsa gods, as a celestial nymph of desirable beauty.”
Thưa ngài Videha, từ nơi ấy mệnh chung, con được sanh trong rừng Nandana; con là thiên nữ Apsara có hình sắc xinh đẹp, ở tại cõi trời Ba Mươi Ba.
1275.
1275.
1275.
‘‘Vicittavatthābharaṇā, āmuttamaṇikuṇḍalā;
Kusalā naccagītassa, sakkassa paricārikā.
“Adorned with colorful garments and ornaments, wearing jeweled earrings, skilled in dance and song, I was an attendant of Sakka.”
Con được trang điểm với y phục và trang sức đa dạng, đeo bông tai bằng ngọc; con khéo léo trong ca múa và là thị nữ của đức vua Sakka.
1276.
1276.
1276.
‘‘Tattha ṭhitāhaṃ vedeha, sarāmi jātiyo imā;
Anāgatāpi satteva, yā gamissaṃ ito cutā.
“Standing here, O Vedeha, I remember these births, and also the seven future ones to which I shall go after passing away from here.”
Thưa ngài Videha, khi ở tại nơi ấy, con nhớ lại những kiếp sống này; và cả bảy kiếp sống trong tương lai, là những nơi con sẽ đi đến sau khi mệnh chung từ đây.
1277.
1277.
1277.
‘‘Pariyāgataṃ taṃ kusalaṃ, yaṃ me kosambiyaṃ kataṃ;
Deve ceva manusse ca, sandhāvissaṃ ito cutā.
“That wholesome deed which was done by me in Kosambī has now come to fruition. Having passed away from here, I will transmigrate among both gods and humans.”
Việc thiện lành ấy mà con đã làm ở Kosambi đã đến lúc chín muồi; sau khi mệnh chung từ đây, con sẽ luân hồi trong cõi trời và cõi người.
1278.
1278.
1278.
‘‘Satta jacco † mahārāja, niccaṃ sakkatapūjitā;
Thībhāvāpi na muccissaṃ, chaṭṭhā nigatiyo † imā.
“For seven births, O great king, I will be constantly honored and revered. For six of these destinations, I will not be freed from the female state.”
Thưa Đại vương, trong bảy lần sanh, con luôn được kính trọng và tôn thờ; con sẽ không thoát khỏi thân nữ, đây là sáu cảnh giới sắp tới.
1279.
1279.
1279.
‘‘Sattamī ca gati deva, devaputto mahiddhiko;
Pumā devo bhavissāmi †, devakāyasmimuttamo.
“And in the seventh destination, O deva, I will be a devaputta of great power; I shall be a male god, supreme among the host of devas.”
Và cảnh giới thứ bảy, thưa thiên tử, là một thiên tử có đại thần lực; tôi sẽ là một nam thiên tử, là vị tối thượng trong chúng chư thiên.
1280.
1280.
1280.
‘‘Ajjāpi santānamayaṃ, mālaṃ ganthenti nandane;
Devaputto javo nāma, yo me mālaṃ paṭicchati.
“Even today in the Nandana grove, they weave a garland of santāna flowers. There is a devaputta named Java, who will receive my garland.”
Ngay cả bây giờ, ở vườn Nandana, họ đang kết vòng hoa santāna; có một thiên tử tên là Java, người sẽ nhận vòng hoa của tôi.
1281.
1281.
1281.
‘‘Muhutto viya so dibyo, idha vassāni soḷasa;
Rattindivo ca so dibyo, mānusiṃ saradosataṃ.
“That divine moment is like sixteen years here; and that divine day and night is a hundred human years.”
Một khoảnh khắc ở cõi trời ấy, ở đây là mười sáu năm; và một ngày đêm ở cõi trời ấy, bằng một trăm năm của loài người.
1282.
1282.
1282.
‘‘Iti kammāni anventi, asaṅkheyyāpi jātiyo;
Kalyāṇaṃ yadi vā pāpaṃ, na hi kammaṃ vinassati †.
“Thus deeds follow, even through innumerable births; whether good or evil, a deed is never destroyed.”
Như vậy, các nghiệp đi theo, dù qua vô số kiếp; dù là thiện hay ác, nghiệp quả không bao giờ mất đi.
1283.
1283.
1283.
‘‘Yo icche puriso hotuṃ, jātiṃ jātiṃ † punappunaṃ;
Paradāraṃ vivajjeyya, dhotapādova kaddamaṃ.
“Whatever man wishes to be a man, again and again in birth after birth, should avoid another’s wife, as one with washed feet avoids mud.”
Người nào muốn được làm nam nhân, trong mỗi kiếp sống, hết lần này đến lần khác; nên tránh xa vợ người khác, như người chân sạch tránh bùn lầy.
1284.
1284.
1284.
‘‘Yā icche puriso hotuṃ, jātiṃ jātiṃ punappunaṃ;
Sāmikaṃ apacāyeyya, indaṃva paricārikā.
“Whatever woman wishes to become a man, again and again in birth after birth, should honor her husband, as an attendant honors Indra.”
Người nữ nào muốn được làm nam nhân, trong mỗi kiếp sống, hết lần này đến lần khác; nên tôn kính chồng mình, như người hầu gái đối với Indra.
1285.
1285.
1285.
‘‘Yo icche dibyabhogañca, dibbamāyuṃ yasaṃ sukhaṃ;
Pāpāni parivajjetvā †, tividhaṃ dhammamācare.
“Whoever desires divine enjoyments, a divine lifespan, fame, and happiness, should avoid evil deeds and practice the threefold Dhamma.”
Người nào mong muốn tài sản cõi trời, tuổi thọ, danh tiếng, và hạnh phúc cõi trời; nên tránh xa các điều ác, và thực hành ba loại pháp.
1286.
1286.
1286.
‘‘Kāyena vācā manasā, appamatto vicakkhaṇo;
Attano hoti atthāya, itthī vā yadi vā pumā.
“By body, speech, and mind, one who is heedful and discerning acts for their own welfare, whether a woman or a man.”
Bằng thân, khẩu, và ý, người không phóng dật và sáng suốt; hành động vì lợi ích của chính mình, dù là nữ hay là nam.
1287.
1287.
1287.
‘‘Ye kecime mānujā jīvaloke, yasassino sabbasamantabhogā;
Asaṃsayaṃ tehi pure suciṇṇaṃ, kammassakāse puthu sabbasattā.
“Whatever humans there are in this living world, glorious and enjoying all-round prosperity, without a doubt good conduct was practiced by them previously. All beings are individually owners of their kamma.”
Bất cứ người nào trong thế giới loài người này, có danh tiếng và tài sản đầy đủ khắp nơi; không nghi ngờ gì, họ đã làm điều tốt đẹp trong quá khứ, vì tất cả chúng sinh đều là chủ nhân của nghiệp.
1288.
1288.
1288.
‘‘Iṅghānucintesi sayampi deva, kutonidānā te imā janinda;
Yā te imā accharāsannikāsā, alaṅkatā kañcanajālachannā’’.
“Come now, reflect for yourself, O deva, from what source these women of yours have come, O lord of men; these who are like celestial nymphs, adorned and covered with golden nets.”
Này thiên tử, xin ngài hãy tự mình suy xét, thưa chúa tể của loài người, những vị này do đâu mà có; những vị này của ngài, giống như các tiên nữ Apsara, được trang điểm và phủ bằng lưới vàng.
1289.
1289.
1289.
Iccevaṃ pitaraṃ kaññā, rucā tosesi aṅgatiṃ;
Mūḷhassa maggamācikkhi, dhammamakkhāsi subbatā.
In this way, the maiden Rucā pleased her father Aṅgati. She pointed out the path to the deluded one; she of good vows proclaimed the Dhamma.
Như vậy, nàng công chúa Rucā đã làm cho vua cha Aṅgati hài lòng; nàng đã chỉ ra con đường cho người si mê, người giữ giới tốt đã thuyết giảng Chánh pháp.
1290.
1290.
1290.
Athāgamā brahmalokā, nārado mānusiṃ pajaṃ;
Jambudīpaṃ avekkhanto, addā rājānamaṅgatiṃ.
Then from the Brahmā world came Nārada to the human race. Surveying Jambudīpa, he saw King Aṅgati.
Khi ấy, từ cõi Phạm thiên, Nārada đến với loài người; trong khi quan sát cõi Diêm Phù Đề, ngài đã nhìn thấy vua Aṅgati.
1291.
1291.
1291.
‘‘Tato patiṭṭhā pāsāde, vedehassa puratthato †;
Tañca disvānānuppattaṃ, rucā isimavandatha.
Then he stood in the palace, to the east of the Videhan king. And seeing that he had arrived, Rucā paid homage to the sage.
Sau đó, ngài đứng trong cung điện, ở phía trước vua Videha; và khi thấy ngài đã đến, Rucā đã đảnh lễ vị ẩn sĩ.
1292.
1292.
1292.
‘‘Athāsanamhā oruyha, rājā byathitamānaso †;
Nāradaṃ paripucchanto, idaṃ vacanamabravi.
Then, distressed in mind, the king rose from his seat; questioning Nārada, he spoke these words:
Khi ấy, từ ngai vàng bước xuống, nhà vua với tâm trí bối rối; trong khi hỏi Nārada, đã nói lên lời này.
1293.
1293.
1293.
‘‘Kuto nu āgacchasi devavaṇṇi, obhāsayaṃ sabbadisā † candimāva;
Akkhāhi me pucchito nāmagottaṃ, kathaṃ taṃ jānanti manussaloke’’.
From where do you come, O divine-hued one, illuminating all directions like the moon? Tell me, when asked, your name and lineage; how do people know you in the world?
Ngài từ đâu đến, hỡi người có dung sắc như thiên thần, chiếu sáng khắp mọi phương như mặt trăng; khi được hỏi, xin hãy cho tôi biết tên và dòng họ của ngài, người ta biết đến ngài ở thế gian này như thế nào?
1294.
1294.
1294.
‘‘Ahañhi devato idāni emi, obhāsayaṃ sabbadisā † candimāva;
Akkhāmi te pucchito nāmagottaṃ, jānanti maṃ nārado kassapo ca’’.
Indeed, I now come from the world of the gods, illuminating all directions like the moon; I will tell you, when asked, my name and lineage. They know me as Nārada and Kassapa.
Ta quả thật bây giờ từ cõi trời đến đây, chiếu sáng khắp mọi phương như mặt trăng; khi được hỏi, ta sẽ cho ngài biết tên và dòng họ của ta, người ta biết đến ta là Nārada và Kassapa.
1295.
1295.
1295.
‘‘Accherarūpaṃ tava † yādisañca, vehāyasaṃ gacchasi tiṭṭhasī ca;
Pucchāmi taṃ nārada etamatthaṃ, atha kena vaṇṇena tavāyamiddhi’’.
Marvelous is your form, and that you go and stand in the sky. I ask you, Nārada, about this matter: by what quality is this your power?
Hình dáng của ngài thật kỳ diệu, ngài đi và đứng trong không trung; tôi hỏi ngài, Nārada, về điều này, do nguyên nhân nào mà ngài có được thần thông này?
1296.
1296.
1296.
‘‘Saccañca dhammo ca damo ca cāgo, guṇā mamete pakatā purāṇā;
Teheva dhammehi susevitehi, manojavo yena kāmaṃ gatosmi’’.
Truth, Dhamma, self-control, and generosity—these qualities of mine are ancient and innate; by these well-cultivated qualities, I go wherever I wish with the speed of mind.
Sự thật, Chánh pháp, sự tự chủ, và sự xả ly, những đức tính này của tôi đã được thực hành từ xưa; chính nhờ những pháp đó được khéo thực hành, tôi đi đến bất cứ nơi nào tôi muốn với tốc độ của ý.
1297.
1297.
1297.
‘‘Accheramācikkhasi puññasiddhiṃ, sace hi etehi † yathā vadesi;
Pucchāmi taṃ nārada etamatthaṃ, puṭṭho ca me sādhu viyākarohi’’.
You describe wonderfully the accomplishment of merit, if indeed it is by these as you say. I ask you, Nārada, about this matter; being asked, explain it well to me.
Ngài nói về sự thành tựu của phước báu thật kỳ diệu, nếu quả thật là như ngài nói; tôi hỏi ngài, Nārada, về điều này, và khi được hỏi, xin hãy giải thích rõ cho tôi.
1298.
1298.
1298.
‘‘Pucchassu maṃ rāja tavesa attho, yaṃ saṃsayaṃ kuruse bhūmipāla;
Ahaṃ taṃ nissaṃsayataṃ gamemi, nayehi ñāyehi ca hetubhī ca’’.
Ask me, O king, whatever your purpose is, whatever doubts you have, O ruler of the earth; I shall lead you to certainty, through methods, principles, and reasons.
Xin hãy hỏi tôi, thưa đức vua, đó là lợi ích của ngài, bất cứ điều gì ngài nghi ngờ, hỡi người bảo hộ trái đất; tôi sẽ làm cho ngài hết nghi ngờ, bằng các phương pháp, lý lẽ và nguyên nhân.
1299.
1299.
1299.
‘‘Pucchāmi taṃ nārada etamatthaṃ, puṭṭho ca me nārada mā musā bhaṇi;
Atthi nu devā pitaro nu atthi, loko paro atthi jano yamāhu’’.
I ask you, Nārada, about this matter; being asked, Nārada, do not speak falsely to me. Are there gods? Are there ancestors? Is there another world, as people say?
Tôi hỏi ngài, Nārada, về điều này, và khi được hỏi, Nārada, xin đừng nói dối; có chư thiên không, có tổ tiên không, có thế giới bên kia không, như người ta nói?
1300.
1300.
1300.
‘‘Attheva devā pitaro ca atthi, loko paro atthi jano yamāhu;
Kāmesu giddhā ca narā pamūḷhā, lokaṃ paraṃ na vidū mohayuttā’’.
Indeed, there are gods and ancestors; there is another world, as people say. But men, greedy for sensual pleasures and deluded, do not know the other world, being yoked to delusion.
Quả thật có chư thiên, có tổ tiên, có thế giới bên kia, như người ta nói; nhưng những người tham đắm dục lạc và si mê, bị vô minh bao phủ, không biết đến thế giới bên kia.
1301.
1301.
1301.
‘‘Atthīti ce nārada saddahāsi, nivesanaṃ paraloke matānaṃ;
Idheva me pañca satāni dehi, dassāmi te paraloke sahassaṃ’’.
If you believe, Nārada, that there is a dwelling place for the dead in the next world, then give me five hundred here, and I will give you a thousand in the next world.
Nếu ngài tin rằng có, Nārada, một nơi ở trong thế giới bên kia cho người chết; hãy cho tôi năm trăm ở đây, tôi sẽ cho ngài một ngàn ở thế giới bên kia.
1302.
1302.
1302.
‘‘Dajjemu kho pañca satāni bhoto, jaññāmu ce sīlavantaṃ vadaññuṃ †;
Luddaṃ taṃ bhontaṃ niraye vasantaṃ, ko codaye paraloke sahassaṃ.
Indeed, we would give five hundred to you, good sir, if we knew you to be virtuous and generous. But you, good sir, being cruel and dwelling in hell, who would demand a thousand from you in the next world?
Chúng tôi có thể cho ngài năm trăm, nếu chúng tôi biết ngài là người có giới hạnh và rộng lượng; nhưng ngài là người hung ác, sống trong địa ngục, ai sẽ đòi ngài một ngàn ở thế giới bên kia?
1303.
1303.
1303.
‘‘Idheva yo hoti adhammasīlo †, pāpācāro alaso luddakammo;
Na paṇḍitā tasmiṃ iṇaṃ dadanti, na hi āgamo hoti tathāvidhamhā.
Here, whoever is of unrighteous character, of evil conduct, lazy, and of cruel deeds—the wise do not give a loan to such a person, for indeed there is no return from one like that.
Người nào ở đây không có giới hạnh, có hành vi xấu ác, lười biếng, và hành động tàn nhẫn; người trí không cho người như vậy vay nợ, vì không có sự thu hồi từ người như thế.
1304.
1304.
1304.
‘‘Dakkhañca posaṃ manujā viditvā, uṭṭhānakaṃ † sīlavantaṃ vadaññuṃ;
Sayameva bhogehi nimantayanti, kammaṃ karitvā puna māharesi’’.
And knowing a person to be skillful, energetic, virtuous, and generous, people themselves invite him with their wealth, saying, ‘Having done your work, bring it back again.’
Khi biết một người là khéo léo, siêng năng, có giới hạnh, và rộng lượng; người ta tự mình mời mọc bằng tài sản, (nói rằng): 'Sau khi làm việc, hãy hoàn trả lại'.
1305.
1305.
1305.
‘‘Ito cuto † dakkhasi tattha rāja, kākolasaṅghehi vikassamānaṃ †;
Taṃ khajjamānaṃ niraye vasantaṃ, kākehi gijjhehi ca senakehi †;
Sañchinnagattaṃ ruhiraṃ savantaṃ, ko codaye paraloke sahassaṃ.
Fallen from here, O king, you will see yourself there, being torn apart by flocks of crows and owls. You, being devoured while dwelling in hell by crows, vultures, and hawks, with limbs severed and blood flowing—who would demand a thousand from you in the next world?
Sau khi chết từ đây, thưa đức vua, ngài sẽ thấy mình ở đó, bị bầy quạ mổ xé; ngài bị ăn thịt, sống trong địa ngục, bởi quạ, kền kền, và diều hâu; thân thể bị cắt nát, máu chảy ròng ròng, ai sẽ đòi ngài một ngàn ở thế giới bên kia?
1306.
1306.
1306.
‘‘Andhaṃtamaṃ tattha na candasūriyā, nirayo sadā tumulo ghorarūpo;
Sā neva rattī na divā paññāyati, tathāvidhe ko vicare dhanatthiko.
There is blinding darkness there, no sun or moon; hell is ever tumultuous and dreadful in form. Neither night nor day is discerned; who, seeking wealth, would wander in such a place?
Ở đó là bóng tối mịt mù, không có mặt trăng mặt trời, địa ngục luôn ồn ào và khủng khiếp; ở đó không phân biệt được đêm hay ngày, trong hoàn cảnh như vậy, ai là người tìm kiếm của cải sẽ đi lang thang?
1307.
1307.
1307.
‘‘Sabalo ca sāmo ca duve suvānā, pavaddhakāyā balino mahantā;
Khādanti dantehi ayomayehi, ito paṇunnaṃ paralokapattaṃ †.
Two dogs, Sabala and Sāma, with massive bodies, strong and large, devour with iron teeth those driven from here, who have gone to the next world.
Sabala và Sāma, hai con chó, với thân hình to lớn, mạnh mẽ và vĩ đại; chúng cắn xé bằng những chiếc răng sắt, người bị xua đuổi từ đây, đã đến thế giới bên kia.
1308.
1308.
1308.
‘‘Taṃ khajjamānaṃ niraye vasantaṃ, luddehi vāḷehi aghammigehi ca;
Sañchinnagattaṃ ruhiraṃ savantaṃ, ko codaye paraloke sahassaṃ.
You, dwelling in hell, being devoured by cruel beasts and carnivorous animals, with limbs severed and blood flowing—who would demand a thousand from you in the next world?
Ngài bị ăn thịt, sống trong địa ngục, bởi những con thú hung dữ, tàn bạo và không có lòng thương xót; thân thể bị cắt nát, máu chảy ròng ròng, ai sẽ đòi ngài một ngàn ở thế giới bên kia?
1309.
1309.
1309.
‘‘Usūhi sattīhi ca sunisitāhi, hananti vijjhanti ca paccamittā †;
Kāḷūpakāḷā nirayamhi ghore, pubbe naraṃ dukkaṭakammakāriṃ.
With well-sharpened arrows and spears, enemies strike and pierce in the dreadful, utterly black hell, the man who formerly did evil deeds.
‘Với các mũi tên và ngọn giáo được mài sắc bén, các kẻ đối nghịch đánh đập và đâm chém; các chúng sanh Kāḷa và Upakāḷa ở địa ngục ghê rợn (hành hạ) người đã làm điều ác ở đời trước.
1310.
1310.
1310.
‘‘Taṃ haññamānaṃ niraye vajantaṃ, kucchismiṃ passasmiṃ vipphālitūdaraṃ;
Sañchinnagattaṃ ruhiraṃ savantaṃ, ko codaye paraloke sahassaṃ.
You, being struck down while going about in hell, with your belly split open at the side, with limbs severed and blood flowing—who would demand a thousand from you in the next world?
‘Ta thấy người ấy đang bị đánh đập ở địa ngục, bụng bị mổ phanh; thân thể bị cắt nát, máu tuôn chảy. Ai lại có thể vì một ngàn (đồng tiền) mà khuyến khích (ta làm ác) cho đời sau?
1311.
1311.
1311.
‘‘Sattī usū tomarabhiṇḍivālā, vividhāvudhā vassanti tattha devā;
Patanti aṅgāramivaccimanto, silāsanī vassati luddakamme.
Spears, arrows, javelins, and various weapons the devas rain down there; they fall like flaming coals; a rain of stones pours on the one of cruel deeds.
‘Tâu Thiên tử, ở nơi ấy, các ngọn giáo, mũi tên, lao, phi tiêu, các loại vũ khí khác nhau rơi xuống như mưa; chúng rơi xuống như những hòn than rực lửa, mưa đá rơi xuống trên kẻ làm điều tàn ác.
1312.
1312.
1312.
‘‘Uṇho ca vāto nirayamhi dussaho, na tamhi sukhaṃ labbhati † ittarampi;
Taṃ taṃ vidhāvantamalenamāturaṃ, ko codaye paraloke sahassaṃ.
And a hot wind in hell is unbearable; no comfort is found there even for a moment. You, running about, filthy and afflicted—who would demand a thousand from you in the next world?
‘Và ngọn gió nóng ở địa ngục thật không thể chịu đựng nổi, ở nơi ấy không có được một chút hạnh phúc nào; người ấy đang chạy trốn, không nơi nương tựa, bị đau khổ. Ai lại có thể vì một ngàn (đồng tiền) mà khuyến khích (ta làm ác) cho đời sau?
1313.
1313.
1313.
‘‘Sandhāvamānampi † rathesu yuttaṃ, sajotibhūtaṃ pathaviṃ kamantaṃ;
Patodalaṭṭhīhi sucodayantaṃ †, ko codaye paraloke sahassaṃ.
You, running about yoked to chariots, becoming ablaze as you traverse the ground, being well-urged on with goads and whips—who would demand a thousand from you in the next world?
‘Người ấy đang chạy, bị thắng vào cỗ xe, bước đi trên mặt đất đã trở thành rực lửa; bị thúc giục bởi các ngọn roi và gậy gộc. Ai lại có thể vì một ngàn (đồng tiền) mà khuyến khích (ta làm ác) cho đời sau?
1314.
1314.
1314.
‘‘Tamāruhantaṃ khurasañcitaṃ giriṃ, vibhiṃsanaṃ pajjalitaṃ bhayānakaṃ;
Sañchinnagattaṃ ruhiraṃ savantaṃ, ko codaye paraloke sahassaṃ.
You, climbing a mountain piled with razors—terrifying, blazing, and dreadful—with limbs severed and blood flowing—who would demand a thousand from you in the next world?
‘Người ấy đang trèo lên ngọn núi đầy lưỡi dao cạo, kinh khiếp, rực cháy, đáng sợ; thân thể bị cắt nát, máu tuôn chảy. Ai lại có thể vì một ngàn (đồng tiền) mà khuyến khích (ta làm ác) cho đời sau?
1315.
1315.
1315.
‘‘Tamāruhantaṃ pabbatasannikāsaṃ, aṅgārarāsiṃ jalitaṃ bhayānakaṃ;
Sudaḍḍhagattaṃ kapaṇaṃ rudantaṃ, ko codaye paraloke sahassaṃ.
You, climbing a mountain-like heap of burning coals, blazing and dreadful, with your body completely scorched, wailing miserably—who would demand a thousand from you in the next world?
‘Người ấy đang trèo lên đống than hồng rực cháy, đáng sợ, giống như ngọn núi; thân thể bị cháy rụi, khốn khổ, khóc lóc. Ai lại có thể vì một ngàn (đồng tiền) mà khuyến khích (ta làm ác) cho đời sau?
1316.
1316.
1316.
‘‘Abbhakūṭasamā uccā, kaṇṭakanicitā † dumā;
Ayomayehi tikkhehi, naralohitapāyibhi.
High as a thundercloud peak are the trees covered with thorns, with sharp iron thorns that drink human blood.
‘Có những cây cao như đỉnh núi, được bao phủ bởi những chiếc gai bằng sắt, sắc bén, uống máu người.
1317.
1317.
1317.
‘‘Tamāruhanti nāriyo, narā ca paradāragū;
Coditā sattihatthehi, yamaniddesakāribhi.
Women and men who are adulterous climb them, urged on by the agents of Yama, with spears in their hands.
‘Những người đàn bà và những người đàn ông ngoại tình trèo lên chúng; bị thúc giục bởi những kẻ tay cầm giáo, những kẻ thừa hành mệnh lệnh của Diêm Vương.
1318.
1318.
1318.
‘‘Tamāruhantaṃ nirayaṃ, simbaliṃ ruharimakkhitaṃ;
Vidaḍḍhakāyaṃ † vitacaṃ, āturaṃ gāḷhavedanaṃ.
You, climbing that hellish silk-cotton tree, smeared with blood, with body torn and flayed, afflicted with intense, severe pain,
‘Người ấy đang trèo lên cây gòn địa ngục, vấy máu; thân bị cháy, không còn da, đau đớn, cảm thọ mãnh liệt.
1319.
1319.
1319.
‘‘Passasantaṃ muhuṃ uṇhaṃ, pubbakammāparādhikaṃ;
Dumagge vitacaṃ gattaṃ †, ko taṃ yāceyya taṃ dhanaṃ.
gasping repeatedly in the heat, suffering for past misdeeds, with body flayed on the treetop—who would beg for wealth from you there?
‘Người ấy thở ra hơi nóng liên tục, là kẻ phạm tội do nghiệp quá khứ; ở trên ngọn cây, thân thể không còn da. Ai lại có thể xin ngài của cải ấy?
1320.
1320.
1320.
‘‘Abbhakūṭasamā uccā, asipattācitā dumā;
Ayomayehi tikkhehi, naralohitapāyibhi.
High as a thundercloud peak are the trees covered with sword-leaves, with sharp iron leaves that drink human blood.
‘Có những cây cao như đỉnh núi, được bao phủ bởi những chiếc lá gươm bằng sắt, sắc bén, uống máu người.
1321.
1321.
1321.
‘‘Tamāruhantaṃ asipattapādapaṃ, asīhi tikkhehi ca chijjamānaṃ †;
Sañchinnagattaṃ ruhiraṃ savantaṃ, ko codaye paraloke sahassaṃ.
You, climbing that sword-leaf tree, being cut by sharp swords, with limbs severed and blood flowing—who would demand a thousand from you in the next world?
‘Người ấy đang trèo lên cây lá gươm, bị cắt bởi những lưỡi gươm sắc bén; thân thể bị cắt nát, máu tuôn chảy. Ai lại có thể vì một ngàn (đồng tiền) mà khuyến khích (ta làm ác) cho đời sau?
1322.
1322.
1322.
‘‘Tato nikkhantamattaṃ taṃ, asipattācitā dumā †;
Sampatitaṃ vetaraṇiṃ, ko taṃ yāceyya taṃ dhanaṃ.
Then, you, having just escaped from those trees covered with sword-leaves, falling into the Vetaraṇī—who would beg for wealth from you there?
‘Ngay khi vừa thoát ra khỏi đó, khỏi những cây lá gươm, người ấy lại rơi vào sông Vetaraṇī. Ai lại có thể xin ngài của cải ấy?
1323.
1323.
1323.
‘‘Kharā kharodakā † tattā, duggā vetaraṇī nadī;
Ayopokkharasañchannā, tikkhā pattehi sandati.
Rough, with caustic water, hot, and hard to cross is the Vetaraṇī River; covered with iron lotuses, it flows with sharp leaves.
‘Sông Vetaraṇī khó đi qua, (nước) khắc nghiệt, có tính ăn mòn, nóng bỏng; nó được bao phủ bởi những hoa sen bằng sắt, và chảy với những chiếc lá sắc bén.
1324.
1324.
1324.
‘‘Tattha sañchinnagattaṃ taṃ, vuyhantaṃ ruhiramakkhitaṃ;
Vetaraññe anālambe, ko taṃ yāceyya taṃ dhanaṃ’’.
There, you, with body lacerated, swept along, smeared with blood, helpless in the Vetaraṇī—who would ask for wealth from you there?
‘Ở nơi ấy, người đó có thân thể bị cắt nát, bị cuốn trôi đi, vấy máu; ở sông Vetaraṇī không nơi nương tựa. Ai lại có thể xin ngài của cải ấy’.
1325.
1325.
1325.
‘‘Vedhāmi rukkho viya chijjamāno, disaṃ na jānāmi pamūḷhasañño;
Bhayānutappāmi mahā ca me bhayā, sutvāna kathā † tava bhāsitā ise.
I tremble like a tree being felled; with bewildered perception, I know not the direction. I am tormented by fear, and great is my fear, having heard the words you have spoken, O sage.
‘Con run rẩy như cây đang bị đốn, con không biết phương hướng, nhận thức bị mê mờ; con bị giày vò bởi nỗi sợ hãi, và nỗi sợ của con thật lớn lao, sau khi đã nghe những lời ngài nói, hỡi vị ẩn sĩ.
1326.
1326.
1326.
‘‘Āditte vārimajjhaṃva, dīpaṃvoghe mahaṇṇave;
Andhakāreva pajjoto, tvaṃ nosi saraṇaṃ ise.
Like water in the midst of a fire, like an island in the flood of the great ocean, like a lamp in the darkness—you are our refuge, O sage.
‘Như (tìm thấy) nước ở giữa đám cháy, như hòn đảo giữa cơn lụt của đại dương; như ngọn đèn trong bóng tối, ngài là nơi nương tựa của chúng con, hỡi vị ẩn sĩ.
1327.
1327.
1327.
‘‘Atthañca dhammaṃ anusāsa maṃ ise, atītamaddhā aparādhitaṃ mayā;
Ācikkha me nārada suddhimaggaṃ, yathā ahaṃ no nirayaṃ pateyyaṃ’’.
Teach me the meaning and the Dhamma, O sage, for I have erred in the past. Show me the path to purity, Nārada, so that I may not fall into hell.
‘Xin hãy dạy cho con ý nghĩa và Chánh Pháp, hỡi vị ẩn sĩ, trong quá khứ con đã làm điều sai trái; xin hãy chỉ cho con, hỡi ngài Nārada, con đường thanh tịnh, để con không phải rơi vào địa ngục’.
1328.
1328.
1328.
‘‘Yathā ahu dhataraṭṭho ( ) †, vessāmitto aṭṭhako yāmataggi;
Usindaro cāpi sivī ca rājā, paricārakā samaṇabrāhmaṇānaṃ.
As were Dhataraṭṭha, Vessāmitta, Aṭṭhaka, Yāmataggi, Usindara, and King Sivi also, attendants to ascetics and brahmins.
‘Giống như đã có các vị vua Dhataraṭṭha, Vessāmitta, Aṭṭhaka, Yāmataggi; và cả Usindara và vua Sivi, là những người phục vụ các vị Sa-môn và Bà-la-môn.
1329.
1329.
1329.
‘‘Ete caññe ca rājāno, ye saggavisayaṃ † gatā;
Adhammaṃ parivajjetvā, dhammaṃ cara mahīpati.
These and other kings have gone to the heavenly realm; avoiding unrighteousness, you too, O lord of the earth, practice the Dhamma.
‘Những vị vua này và các vị vua khác, những người đã đi đến cõi trời; sau khi đã từ bỏ điều phi pháp, xin đại vương hãy thực hành Chánh Pháp.
1330.
1330.
1330.
‘‘Annahatthā ca te byamhe, ghosayantu pure tava;
Ko chāto ko ca tasito, ko mālaṃ ko vilepanaṃ;
Nānārattānaṃ vatthānaṃ, ko naggo paridahissati.
And let those with food in hand proclaim in your city: ‘Who is hungry? Who is thirsty? Who needs garlands? Who needs perfumes? Who is naked and will wear clothes of various colors?’
‘Và xin hãy để các vị quan của ngài, tay cầm thức ăn, loan báo trong thành phố của ngài: ‘Ai đói? Ai khát? Ai (muốn) vòng hoa? Ai (muốn) thuốc xức? Ai trần truồng sẽ mặc các loại y phục nhiều màu sắc?’
1331.
1331.
1331.
‘‘Ko panthe chattamāneti †, pādukā ca mudū subhā;
Iti sāyañca pāto ca, ghosayantu pure tava.
‘Who on the road needs an umbrella, and soft, lovely sandals?’ Thus, evening and morning, let them proclaim in your city.
‘Ai ở trên đường (muốn) một chiếc dù, và đôi dép mềm mại, xinh đẹp? Như vậy, vào buổi chiều và buổi sáng, xin hãy để họ loan báo trong thành phố của ngài.
1332.
1332.
1332.
‘‘Jiṇṇaṃ posaṃ gavassañca, māssu yuñja yathā pure;
Parihārañca dajjāsi, adhikārakato balī.
Do not yoke the aged person, ox, and horse as before; and give them relief, for the strong one performs the task.
‘Đừng bắt người già và bò già làm việc như trước đây; và ngài nên miễn thuế do các quan lại thu.
1333.
1333.
1333.
‘‘Kāyo te rathasaññāto, manosārathiko lahu;
Avihiṃsāsāritakkho, saṃvibhāgapaṭicchado.
Your body is known as the chariot, the mind its swift charioteer, with harmlessness as its axle, covered by sharing.
‘Thân của ngài được gọi là cỗ xe, tâm là người đánh xe nhanh nhẹn; bất hại là trục xe, sự chia sẻ là mui xe.
1334.
1334.
1334.
‘‘Pādasaññamanemiyo, hatthasaññamapakkharo;
Kucchisaññamanabbhanto, vācāsaññamakūjano.
Restraint of feet is its wheel-rims, restraint of hands its door-bolts, restraint of belly its inner chamber, restraint of speech its non-creaking.
‘Sự thu thúc đôi chân là vành bánh xe, sự thu thúc đôi tay là thành xe; sự thu thúc bụng là phần bên trong, sự thu thúc lời nói là sự không kêu cót két.
1335.
1335.
1335.
‘‘Saccavākyasamattaṅgo, apesuññasusaññato;
Girāsakhilanelaṅgo, mitabhāṇisilesito.
Truthful speech its every component, with non-slander it is well-yoked; gentle speech its faultless frame, measured speech its linchpin.
‘Lời nói chân thật là bộ phận được lắp ráp, không nói lời đâm thọc là sự khéo thu thúc; lời nói thân ái là chốt xe, lời nói chừng mực là dây cương.
1336.
1336.
1336.
‘‘Saddhālobhasusaṅkhāro, nivātañjalikubbaro;
Athaddhatānatīsāko †, sīlasaṃvaranandhano.
Faith and non-greed are its fine adornment, humility and reverence its pole; gentleness its shaft, moral restraint its bond.
‘Niềm tin và không tham lam là sự trang hoàng tốt đẹp, sự khiêm tốn và chắp tay là càng xe; sự không cứng ngắc là đầu càng xe, sự thu thúc giới hạnh là dây da buộc.
1337.
1337.
1337.
‘‘Akkodhanamanugghātī, dhammapaṇḍarachattako;
Bāhusaccamapālambo, ṭhitacittamupādhiyo †.
Non-anger and non-injury, the Dhamma its white parasol; great learning its back-rest, a steadfast mind its cushion.
‘Không sân hận là sự không đánh đập, Chánh Pháp là chiếc lọng trắng; sự đa văn là vật trang trí treo, tâm vững vàng là tấm nệm.
1338.
1338.
1338.
‘‘Kālaññutācittasāro, vesārajjatidaṇḍako;
Nivātavuttiyottako †, anatimānayugo lahu.
Knowing the right time is the essence of its mind, confidence its staff; humble conduct its yoke-strap, non-conceit its light yoke.
‘Sự biết thời là bộ khung vững chắc, sự tự tin là cây gậy ba khúc; cách sống khiêm tốn là dây buộc, sự không quá kiêu mạn là cái ách nhẹ nhàng.
1339.
1339.
1339.
‘‘Alīnacittasanthāro, vuddhisevī rajohato;
Sati patodo dhīrassa, dhiti yogo ca rasmiyo.
An energetic mind is its floor-covering, one devoted to growth, with defilements destroyed; mindfulness is the goad of the wise, resolve is the yoke and the reins.
“Tâm không uể oải là tấm lót, thân cận bậc trưởng thượng, đã loại trừ các phiền não; niệm là cây roi của người trí, nghị lực và sự gắn kết là dây cương.
1340.
1340.
1340.
‘‘Mano dantaṃ pathaṃ neti †, samadantehi vāhibhi;
Icchā lobho ca kummaggo, ujumaggo ca saṃyamo.
The tamed mind leads the way, like well-trained steeds; desire and greed are a crooked path, restraint is the straight path.
“Ý đã được điều phục dẫn dắt con đường, với các con vật kéo xe đã được điều phục đồng đều; dục và tham là con đường xấu, và sự thu thúc là con đường thẳng.
1341.
1341.
1341.
‘‘Rūpe sadde rase gandhe, vāhanassa padhāvato;
Paññā ākoṭanī rāja, tattha attāva sārathi.
For the vehicle rushing onward amidst forms, sounds, tastes, and smells—wisdom is the goad, O king, and the self is the charioteer.
“Ở sắc, thanh, vị, hương, khi cỗ xe đang chạy nhanh; tâu Đại vương, trí tuệ là cái móc điều khiển, ở đó tự ngã chính là người đánh xe.
1342.
1342.
1342.
‘‘Sace etena yānena, samacariyā daḷhā dhiti;
Sabbakāmaduho rāja, na jātu nirayaṃ vaje’’.
If, with this vehicle, one has balanced conduct and firm resolve, O king, being a fulfiller of all desires, one will never go to hell.
“Tâu Đại vương, nếu với cỗ xe này, với sự thực hành đúng đắn, sự kiên trì vững chắc, (cỗ xe) mang lại mọi điều mong muốn, chắc chắn sẽ không đi đến địa ngục.”
1343.
1343.
1343.
‘‘Alāto devadattosi, sunāmo āsi bhaddaji;
Vijayo sāriputtosi, moggallānosi bījako.
Alāta was Devadatta, Sunāma was Bhaddaji; Vijaya was Sāriputta, Bījaka was Moggallāna.
“Alāta đã là Devadatta, Sunāma đã là Bhaddaji; Vijaya đã là Sāriputta, Bījaka đã là Moggallāna.
1344.
1344.
1344.
‘‘Sunakkhatto licchaviputto, guṇo āsi acelako;
Ānando sā rucā āsi, yā rājānaṃ pasādayi.
Sunakkhatta the Licchavi’s son was Guṇa the naked ascetic; Ānanda was that Rucā who pleased the king.
“Sunakkhatta, con trai của dòng Licchavi, đã là vị lõa thể Guṇa; Rucā, người đã làm cho đức vua có tín tâm, đã là Ānanda.
1345.
1345.
1345.
‘‘Ūruveḷakassapo rājā, pāpadiṭṭhi tadā ahu;
Mahābrahmā bodhisatto, evaṃ dhāretha jātaka’’nti.
Ūruveḷakassapa was the king, holding wrong views at that time; the Bodhisatta was Mahābrahmā—thus remember this Jātaka.
“Vua (Angati) khi ấy là người có tà kiến đã là Uruvelakassapa; Bồ-tát đã là Đại Phạm Thiên. Hãy ghi nhớ câu chuyện tiền thân như vậy.”
Mahānāradakassapajātakaṃ aṭṭhamaṃ.
The Mahānāradakassapa Jātaka, the eighth.
Chuyện tiền thân Mahānāradakassapa là (chuyện) thứ tám.