Bản dịch
JA 544 — Chuyện Bậc Đại Trí Mah Ànàrada-Kassapa (Tiền thân Mahanàrada-Kassapa)
7 Candakumārajātaka
5283. Xưa, đức vua của xứ sở Videha là vị Sát-đế-lỵ tên Aṅgāti, có nhiều cỗ xe lớn, có tài sản, có lực lượng quân đội vô số kể.
5284 . Và vào đêm rằm Komudī thuộc tháng thứ tư của mùa mưa, khi canh đầu chưa tàn, đức vua đã triệu tập các quan đại thần (gồm có):
5285. Vijaya, Sunāma, và vị tướng lãnh quân đội Alāta, là các bậc sáng suốt, có nụ cười lúc gặp gỡ, khôn ngoan.
5286 . Đức vua xứ Videha đã hỏi các vị quan đại thần ấy rằng: “Các khanh, từng người một, hãy nói về ý thích của cá nhân. Hôm nay là đêm rằm Komudī thuộc tháng thứ tư của mùa mưa, trăng sáng, bóng tối bị xua tan, chúng ta có thể trải qua đêm ở tiết trời này với sự thích thú sanh lên từ cơ thể.”
5287 . Sau đó, Alāta, tướng quân của đức vua, đã nói điều này: “Chúng ta hãy vũ trang quân đội để tất cả trở nên hăng hái, thiện chiến, và mạnh mẽ.
5288 . Tâu bệ hạ, chúng ta hãy xuất phát lực lượng quân đội vô số kể vào chiến trường. Những kẻ nào không phục tòng quyền lực của bệ hạ, chúng ta hãy khép họ vào quyền lực, chúng ta hãy khuất phục xứ sở chưa được thu phục; điều ấy là quan điểm riêng của hạ thần.”
5289. Sau khi nghe lời nói của Alāta, vị Sunāma đã nói điều này: “Tâu đại vương, tất cả những kẻ thù đều đã phục tòng quyền lực của bệ hạ.
5290. Những kẻ chống lại đã bỏ gươm đao xuống chấp nhận việc đầu hàng. Hôm nay là ngày lễ quan trọng nhất, việc đánh nhau không được thích thú đối với hạ thần.
5291. Hãy cho mọi người cấp tốc mang lại cơm, nước, thức ăn. Tâu bệ hạ, xin bệ hạ hãy vui thích với các dục ở điệu vũ, lời ca, và tấu nhạc du dương.”
5292. Sau khi nghe lời nói của Sunāma, vị Vijaya đã nói điều này: “Tâu đại vương, tất cả các dục thường xuyên sẵn sàng đối với bệ hạ.
5293 . Tâu bệ hạ, bởi vì các dục ấy không khó đạt được đối với bệ hạ khi bệ hạ có ý muốn vui thích với các dục. Mặc dầu các dục luôn luôn được đạt đến, nhưng điều ấy không phải là suy nghĩ trong tâm của hạ thần.
5294. Chúng ta nên đi đến hầu cận vị Sa-môn hay là Bà-la-môn có kiến thức rộng, có sự hiểu biết về ý nghĩa và giáo lý, có sự suy xét, là vị có thể xua tan nỗi hoài nghi của chúng ta trong ngày hôm nay.”
5295. Sau khi nghe lời nói của Vijaya, đức vua Aṅgāti đã nói rằng: “Giống như Vijaya nói, chính điều này cũng được trẫm thích thú.
5296. Chúng ta nên đi đến hầu cận vị Sa-môn hay là Bà-la-môn có kiến thức rộng, có sự hiểu biết về ý nghĩa và giáo lý, có sự suy xét, là vị có thể xua tan nỗi hoài nghi của chúng ta trong ngày hôm nay.
5297 . Tất cả các khanh đang hiện diện hãy suy nghĩ xem chúng ta nên đi đến hầu cận bậc sáng suốt nào? Vị nào có sự hiểu biết về ý nghĩa và giáo lý, có sự suy xét, có thể xua tan nỗi hoài nghi của chúng ta trong ngày hôm nay?”
5298. Sau khi nghe lời nói của đức vua xứ Videha, vị Alāta đã nói điều này: “Ở Migadāya có vị đạo sĩ lõa thể được công nhận là sáng trí về ý nghĩa.
5299. Vị Guṇa này thuộc dòng họ Kassapa, có kiến thức, có sự thuyết giảng lưu loát, có đồ chúng. Tâu bệ hạ, sau khi đi đến hầu cận vị ấy, vị ấy sẽ xua tan nỗi hoài nghi của chúng ta.”
5300. Sau khi nghe lời nói của vị Alāta, đức vua đã ra lệnh cho người đánh xe: “Chúng ta sẽ đi đến Migadāya. Khanh hãy đưa cỗ xe đã thắng ngựa đến đây.”
5301. Bọn họ đã thắng ngựa vào cỗ xe của đức vua được làm bằng ngà voi, có đường viền quanh bằng bạc, có các đồ phụ tùng sạch sẽ bóng láng, có màu trắng tựa như ánh sáng mặt trăng.
5302. Tại nơi ấy, đã có bốn con ngựa dòng Sindhu màu hoa súng trắng, đã được nai nịt, có tốc độ tương tự như làn gió, đã khéo được huấn luyện, có đeo vòng hoa bằng vàng.
5303. Cỗ xe màu trắng, có chiếc lọng màu trắng, có ngựa màu trắng, có quạt màu trắng. Đức vua xứ Videha, trong khi khởi hành cùng với các quan đại thần, tỏa sáng tựa như mặt trăng.
5304. Nhiều người đã đi theo sau vị chúa tể cao quý của loài người, các dũng sĩ mang gươm giáo, các bậc sáng trí ngồi ở lưng ngựa.
5305. Sau khi đã ra đi chỉ trong chốc lát, vị Sát-đế-lỵ xứ Videha ấy đã bước xuống xe, cùng với các quan đại thần đi bộ đến gặp đạo sĩ lõa thể Guṇa.
5306. Tại nơi ấy, vào lúc ấy, các Bà-la-môn và các gia chủ cũng đã tụ hội lại. Đức vua đã không ra lệnh dời đi những người ấy, những người đã đi đến làm cho khu đất không còn chỗ trống.
5307. Sau đó, vị vua ấy đã ngồi xuống một bên, ở chiếc gối mềm, trên tấm nệm nhiều màu sắc mềm mại, ở nơi đã được trải ra bằng tấm thảm mềm.
5308. Đức vua đã ngồi xuống, sau đó đã vui vẻ trao đổi lời xã giao thân thiện: “Thưa ngài, phải chăng việc nuôi sống được thuận tiện, (tứ đại được điều hòa) không bị quấy rối bởi các cơn gió?
5309. Phải chăng cuộc sống không gặp khó khăn, việc chu cấp đồ ăn khất thực nhận được đầy đủ? Phải chăng ngài ít bị bệnh, mắt không bị yếu?”
5310. Vị đạo sĩ lõa thể Guṇa đã vui vẻ đáp lại đức vua xứ Videha ấy, người thích thú trong việc rèn luyện: “Tâu đại vương, việc nuôi sống được thuận tiện, mọi việc ấy, luôn cả hai việc kia (đồ ăn khất thực và thị lực), đều tốt đẹp.
5311. Tâu đức vua xứ Videha, phải chăng các xứ lân bang của bệ hạ không gia tăng binh lực? Phải chăng bầy thú kéo xe của bệ hạ không có bệnh? Và phải chăng cỗ xe hoạt động tốt? Phải chăng các bệnh của bệ hạ không gây sự khó chịu ở cơ thể?”
5312. Được vui vẻ đáp lại, đức vua, đấng thủ lãnh xa binh, có lòng mong mỏi giáo pháp, khi ấy, đã không ngừng hỏi về ý nghĩa, về giáo lý, và về cách thức ứng xử rằng:
5313. “Thưa ngài Kassapa, con người nên thực hành đúng pháp đối với mẹ cha như thế nào? Nên thực hành đối với thầy dạy học như thế nào? Nên thực hành đối với vợ con như thế nào?
5314. Nên thực hành đối với các bậc trưởng thượng như thế nào? Đối với các Sa-môn và Bà-la-môn như thế nào? Và đối với binh lính như thế nào? Nên thực hành đối với dân chúng như thế nào?
5315. Người thực hành đúng pháp sau khi chết đi đến cảnh giới an vui như thế nào? Và một số người duy trì sai pháp rơi xuống địa ngục như thế nào?”
5316. Sau khi nghe lời nói của đức vua xứ Videha, vị đạo sĩ lõa thể Kassapa đã nói điều này: “Tâu đại vương, xin ngài hãy lắng nghe lời nói chân thật, không sái quấy của ta.
5317. Không có quả báo thiện ác cho người đã thực hành pháp. Tâu bệ hạ, không có đời sau, bởi vì người nào từ nơi ấy đi đến nơi này?
5318. Tâu bệ hạ, không có ông bà; từ đâu có mẹ, từ đâu có cha? Không có người gọi là thầy; ai sẽ thuần hóa kẻ không được thuần hóa?
5319 . Các sinh linh đều bình đẳng và tương đương nhau, không có sự tôn kính người lớn hơn, không có sức mạnh hoặc sự tinh tấn, từ đâu có sự vươn lên của loài người? Bởi vì các sinh linh (có số phận) đã được định sẵn, giống như bánh lái của chiếc tàu (lèo lái chiếc tàu).
5320. Con người thọ nhận phần phải thọ nhận; trong trường hợp ấy, quả báo của bố thí từ đâu có? Tâu bệ hạ, không có quả báo của bố thí. Tâu bệ hạ, sự tinh tấn không có năng lực.
5321 . Vật bố thí được trao ra bởi các kẻ ngu và được tiếp nhận bởi các bậc trí. Những kẻ ngu, không có quyền thế, bố thí đến các bậc trí, có ý nghĩ mình là người sáng suốt.
5322. Bảy uẩn này là trường tồn, không thể bị phá vỡ, không có sự xáo trộn. Bảy uẩn này là: lửa, đất, nước, gió, lạc, khổ, và sự sống. Tác nhân phá vỡ chúng không hiện hữu.
5323. Không có tác nhân nào tiêu diệt hoặc phá vỡ được chúng, hoặc chúng tự bị tiêu diệt, dầu chỉ là một uẩn nào đó. Các gươm đao xuyên qua ngay ở khoảng giữa của các uẩn.
5324. Kẻ nào mặc dầu đã nắm lấy và chặt đứt cái đầu của những người khác bằng cây gươm bén, cũng không cắt đứt được các uẩn ấy; trong trường hợp ấy, quả báo của tội ác từ đâu có?
5325. Tất cả được trong sạch trong khi luân hồi tám mươi bốn đại kiếp. Khi thời gian ấy chưa được trải qua, kẻ đã tự kiềm chế cũng không được trong sạch.
5326. Dầu đã thực hành nhiều điều tốt đẹp, họ vẫn không được trong sạch khi thời hạn chưa đến. Dầu cho đã làm nhiều việc ác, họ cũng không vượt quá thời hạn ấy.
5327. Sự trong sạch của chúng ta sẽ theo tuần tự trải qua tám mươi bốn kiếp. Chúng ta không vượt qua được số phận (đã ấn định), tựa như biển cả không vượt qua giới hạn của bờ cát.”
5328. Sau khi nghe lời nói của đạo sĩ lõa thể Kassapa, Alāta đã nói điều này: “Giống như lời đại đức nói, chính điều này cũng được tôi thích thú.
5329. Tôi cũng nhớ lại việc đã bị luân hồi của bản thân ở kiếp sống trước đây. Tôi đã là gã thợ săn, kẻ giết trâu bò, tên Piṅgala ở tại thành phố.
5330. Ở trong thành Bārāṇasī phồn thịnh, tôi cũng đã làm nhiều tội ác. Tôi đã giết chết nhiều mạng sống: trâu, heo, dê.
5331. Từ nơi ấy chết đi, tôi đã được sanh ra ở nơi này, trong gia tộc giàu có của vị tướng lãnh quân đội. Đương nhiên không có quả báo ở tội ác, tôi đây đã không đi đến địa ngục.”
5332. Khi ấy, tại nơi này, có gã nô lệ tên Bījaka nghèo khó, khốn khổ. Trong khi hành trì ngày trai giới, gã đã đi đến nơi ở của đạo sĩ lõa thể Guṇa.
5333. Sau khi nghe lời nói của đạo sĩ lõa thể Kassapa và lời đáp lại của Alāta, trong khi liên tiếp thở dài bực bội, trong khi khóc lóc, gã đã để trào ra những giọt nước mắt.
5334. Đức vua xứ Videha đã hỏi gã ấy rằng: “Này khanh, vì lý do gì mà ngươi khóc lóc? Điều gì đã được ngươi nghe hoặc thấy? Ngươi hãy cho trẫm biết cảm thọ ra sao?”
5335. Sau khi nghe lời nói của đức vua xứ Videha, Bījaka đã nói điều này: “Không có cảm thọ khổ đau đối với thần. Tâu đại vương, xin ngài hãy lắng nghe thần.
5336. Thần cũng nhớ lại sự sung sướng của bản thân ở kiếp sống trước đây. Thần đã là triệu phú gia Bhāvaseṭṭhi ở thành Sāketa, thích thú trong việc công đức.
5337. Thần trong sạch, thích thú việc san sẻ, được các vị Bà-la-môn và các phú gia ca ngợi. Thần nhớ lại bản thân cũng đã không làm nghiệp ác.
5338 . Từ nơi ấy chết đi, tâu đức vua xứ Videha, thần đã bị sanh vào bào thai của một phụ nữ nghèo khổ là người nữ tỳ đội nước. Từ khi được sanh ra, thần đã lâm cảnh vô cùng khó khăn.
5339 . Mặc dầu bị lâm cảnh khó khăn như vậy, thần đã quyết tâm hạnh sống bình đẳng. Thần bố thí một nửa phần bữa ăn của thần đến người nào thích.
5340. Vào ngày mười bốn, ngày mười lăm, thần luôn luôn hành trì trai giới. Thần cũng không hãm hại các sanh linh và cũng đã lánh xa việc trộm cắp.
5341. Bởi vì, chắc chắn rằng toàn bộ tất cả việc thực hành tốt đẹp ấy là không có quả báo. Thần nghĩ rằng giới hạnh này không có lợi ích, giống như tướng quân Alāta nói.
5342. Có lẽ thần gặp phải vận xấu, giống như kẻ bịp bợm không rành nghề. Còn tướng quân Alāta nắm được sự may mắn, giống như kẻ chơi trò đổ xúc xắc đã được huấn luyện.
5343. Thần không nhìn thấy cánh cửa để thần đi đến cảnh giới an vui. Vì thế, tâu bệ hạ, thần bật khóc sau khi nghe lời nói của vị đạo sĩ lõa thể Kassapa.”
5344. Sau khi nghe lời nói của Bījaka, đức vua Aṅgāti đã nói rằng: “Không có cánh cửa vào cảnh giới an vui, này Bījaka, ngươi hãy trông chờ số phận.
5345. Thật vậy, con người được nhận lãnh hạnh phúc hay khổ đau là do số phận. Tất cả đều có sự thanh tịnh thông qua luân hồi. Các khanh chớ vội vã về tương lai.
5346. Trước đây, trẫm cũng đã bị bận rộn về việc thiện, về các vị Bà-la-môn và các phú gia. Trong khi chỉ bảo việc phán xử, trẫm đã bỏ bê khoái lạc trong khoảng thời gian ấy.
5347. Thưa ngài đạo sĩ, chúng ta cũng có thể gặp lại nếu có sự gặp gỡ.” Nói xong lời này, đức vua xứ Videha đã quay về lại chỗ trú ngụ của mình.
5348. Sau đó, vào cuối đêm, đức vua Aṅgāti đã triệu tập các quan đại thần ở phòng hội và đã nói lời nói này:
5349. “Tại cung điện Candaka của trẫm, hãy để bọn họ luôn luôn cung cấp các dục cho trẫm. Và chớ để bọn họ đi đến về các việc riêng hay việc công.
5350. Vijaya, Sunāma, và vị tướng lãnh quân đội Alāta, ba vị đều thiện xảo về việc phán xử. Hãy để các vị ngồi giải quyết các công việc này.”
5351. Sau khi nói điều ấy, đức vua xứ Videha đã suy nghĩ nhiều về các dục, và không bị bận rộn về bất cứ công việc nào, cũng như về các vị Bà-la-môn và các phú gia nữa.
5352 . Sau đó, vào đêm mười bốn, người con gái ruột yêu quý của đức vua xứ Videha, công chúa tên Rujā, đã nói với người nhũ mẫu rằng:
5353. “Hãy mau chóng trang điểm cho con. Và hãy bảo các nữ tỳ của con làm việc. Ngày mai là ngày mười lăm, ngày của chư Thiên, con có thể đi đến gặp vua cha.”
5354. Các nàng đã mang lại tràng hoa và trầm hương có giá trị cao, ngọc ma-ni, xà cừ, ngọc trai, ngọc quý, và các tấm vải có màu sắc khác nhau.
5355. Công chúa Rujā có sắc đẹp quyến rũ ấy đã ngồi xuống ở chiếc ghế làm bằng vàng. Nhiều người phụ nữ đã vây quanh và làm cho nàng chói sáng.
5356. Và nàng Rujā ấy, được tô điểm với mọi thứ trang sức, đi ở giữa các nữ tỳ, đã tiến vào cung điện Candaka, tựa như tia chớp ở bầu trời.
5357. Sau khi đi đến gần, công chúa Rujā, thích thú trong việc rèn luyện, đã đảnh lễ đức vua xứ Videha, rồi ngồi xuống một bên, ở chiếc ghế được khảm vàng.
5358. Và sau khi nhìn thấy công chúa Rujā ấy đứng ở giữa các nữ tỳ, tựa như cuộc hội họp của các tiên nữ, đức vua xứ Videha đã nói lời nói này:
5359 . “Phải chăng con ưa thích hồ nước ở bên trong tòa lâu đài? Phải chăng thức ăn nhiều loại luôn luôn được mang đến cho con?
5360. Phải chăng những thiếu nữ các nàng thường hay ưa thích vui chơi đùa giỡn, đã thu thập tràng hoa nhiều loại rồi làm các căn nhà nhỏ riêng biệt?
5361. Hay là con thiếu thốn thứ gì? Hãy bảo bọn họ cấp tốc mang lại. Này cô gái có khuôn mặt trong sáng, con hãy suy nghĩ đi, cho dầu là vật khó khăn giống như mặt trăng.”
5362. Sau khi nghe lời nói của đức vua xứ Videha, công chúa Rujā đã nói với vua cha rằng: “Tâu đại vương, ở cạnh vị chúa tể, tất cả mọi thứ ấy đều được chu cấp.
5363 . Ngày mai là ngày mười lăm, ngày của chư Thiên, hãy bảo bọn họ mang lại cho con một ngàn. Và với số tiền đã được cha cho, con sẽ ban bố vật thí đến những người hành khất.”
5364. Sau khi nghe lời nói của công chúa Rujā, đức vua Aṅgāti đã nói rằng: “Nhiều của cải bị tiêu tan không có lợi ích, không có quả báo do con.
5365. Trong khi hành trì ngày trai giới, con thường xuyên không thọ dụng cơm nước. Việc ấy là số phận, là không có thể thọ dụng. Không có phước báu cho người không thọ dụng.
5366 . Bởi vì, ngay cả Bījaka, vào lúc ấy, sau khi nghe lời nói của đạo sĩ lõa thể Kassapa, trong khi liên tiếp thở dài bực bội, trong khi khóc lóc, đã để trào ra những giọt nước mắt.
5367 . Này Rujā, cho đến khi nào con còn sống giữa chúng ta, chớ từ chối bữa ăn. Này con gái ngoan, không có đời sau, tại sao con lại khổ nhọc với việc không có lợi ích?”
5368. Sau khi nghe lời nói của đức vua xứ Videha, công chúa Rujā, có sắc đẹp quyến rũ, biết được sự việc quá khứ và vị lai, đã nói với vua cha điều này:
5369. “Điều này trước đây con đã được nghe và con đã được nhìn thấy tận mắt rằng: Người nào có sự thân cận với trẻ con thì trở nên giống như trẻ con.
5370. Thật vậy, kẻ ngu muội đi đến với kẻ ngu muội càng trở nên ngu si nhiều hơn. Alāta và Bījaka là thích đáng để bị trở thành ngu muội.
5371 . Nhưng tâu bệ hạ, phụ vương là người có trí tuệ, thông minh, rành rẽ về điều lợi ích, tại sao phụ vương lại đi theo tà kiến thấp kém, như là những đứa trẻ con?
5372. Bởi vì, nếu một người được trong sạch thông qua con đường luân hồi, thì việc xuất gia của đạo sĩ lõa thể Guṇa là không có lợi ích. Kẻ ngu muội tìm đến trạng thái lõa thể, tựa như con thiêu thân đang lao vào ngọn lửa cháy sáng.
5373. Có nhiều kẻ trước đây tin vào tà kiến ‘có sự thanh tịnh thông qua luân hồi,’ rồi trở nên tồi bại ở hành động không có ý thức. Vận xấu trong quá khứ đã bị chúng bám víu một cách sai trái, khó thoát ra được, tựa như con cá nuốt phải mồi câu khó thoát khỏi lưỡi câu.
5374. Tâu đại vương, vì lợi ích của phụ thân, con sẽ nêu ví dụ cho phụ thân rõ. Trong trường hợp này, một số bậc sáng suốt hiểu được ý nghĩa thông qua ví dụ.
5375. Giống như chiếc thuyền của các thương buôn chuyên chở không hạn lượng, trở nên nặng nề; mang theo quá tải, con thuyền chìm xuống biển.
5376. Tương tự y như vậy, con người tích lũy việc ác từng chút từng chút một; sau khi mang theo quá nhiều tội ác, người ấy đọa vào địa ngục.
5377. Tâu vị chúa của trái đất, gánh nặng về tội ác của Alāta còn chưa đầy đủ. Và tùy theo tội ác mà ông ta tích lũy, ông ta sẽ đi đến cảnh giới khổ đau.
5378. Tâu vị chúa của trái đất, phước thiện của Alāta có thể đã được làm trong thời quá khứ, cái ấy có được kết quả cho ông ta, tâu bệ hạ, chính là việc ông ta đạt được sự sung sướng (trong thời hiện tại).
5379. Và phước báu ấy của ông ta đang bị cạn kiệt, bởi vì ông ta thích thú trong việc phi công đức như thế ấy. Sau khi bỏ rơi đạo lộ chân chánh, ông ta chạy theo đạo lộ sai trái.
5380. Giống như cái cân được giữ yên khi đĩa cân không có vật gì. Đầu cân ngóc lên khi có vật nặng được đặt vào đĩa cân.
5381. Tương tự y như vậy, con người tích lũy phước thiện từng chút từng chút một. Tựa như gã nô lệ Bījaka có sự chú tâm đến cõi Trời và thích thú về quả báo tốt lành (của thiện nghiệp).
5382. Và việc hôm nay gã nô lệ Bījaka nhìn thấy sự khổ sở ở bản thân là việc ác của gã đã làm trong thời quá khứ, và giờ đây gã nhận lãnh quả báo ấy.
5383 . Và việc ác ấy của gã đang được cạn kiệt, bởi vì gã thích thú trong việc rèn luyện như thế ấy. Và sau khi đến với đạo sĩ lõa thể Kassapa, phụ vương chớ có bao giờ đi theo con đường sai trái.
5384. Bởi vì, tâu bệ hạ, khi hợp tác với người nào, là người tốt hay người xấu, có giới hạnh hay không có giới hạnh, ta sẽ chịu sự ảnh hưởng của chính người ấy.
5385. Khi kết bạn với người như thế nào, và thân cận với người như thế nào, ta đây cũng trở thành người như thế ấy; bởi vì sự cộng trú là như thế.
5386 . Người được phục vụ làm ô nhiễm người đang phục vụ mình, người được tiếp xúc làm ô nhiễm người khác đang tiếp xúc với mình, ví như mũi tên tẩm độc làm ô nhiễm túi tên còn chưa bị nhiễm độc. Do nỗi sợ hãi sự ô nhiễm, bậc sáng trí không bao giờ có bạn bè xấu xa.
5387. Người nào bao bọc con cá thối bằng ngọn cỏ, các ngọn cỏ cũng toát ra mùi hôi thối; tương tự như vậy, do việc thân cận với những kẻ ngu dốt (sẽ bị tổn hại danh tiếng).
5388. Người nào bao bọc gỗ thơm bằng lá cây, các chiếc lá cũng tỏa ra mùi thơm; tương tự như vậy, do việc thân cận với các bậc sáng trí (sẽ đạt được tiếng tốt).
5389. Vì thế, sau khi biết được hậu quả dành cho bản thân tương tự như kết quả của chiếc lá và vật chứa đựng, người sáng suốt không nên hầu cận những kẻ ác nhân, nên thân cận các bậc thiện nhân. Những kẻ ác nhân dẫn lối vào địa ngục, các bậc thiện nhân giúp cho đạt được cảnh giới an vui.
5390. Con cũng nhớ lại việc đã bị luân hồi của bản thân trong bảy kiếp sống. Lìa đời từ nơi này, con đây sẽ đi đến bảy kiếp sống nữa ở thời vị lai.
5391. Tâu quân vương, vào kiếp sống thứ bảy của con trong thời quá khứ, con đã là con trai người thợ rèn ở thành phố Rājagaha thuộc xứ Magadha.
5392. Sau khi đi đến với người bạn xấu xa, con đã làm nhiều việc ác. Trong khi xâm phạm vợ của người khác, chúng con đã sống như là những người bất tử.
5393. Nghiệp ấy đã được tàng trữ và tồn tại, tựa như ngọn lửa bị vùi lấp bởi lớp tro. Rồi do những nghiệp khác, con đã sanh ra tại đất nước Vaṃsa,–
5394. –trong thành Kosambī, ở gia tộc triệu phú, giàu có, phồn thịnh, có tài sản lớn. Tâu đại vương, con là con trai độc nhất, thường xuyên được tôn vinh trân trọng.
5395. Tại nơi ấy, con đã thân cận người bạn, người cộng sự thích thú về quả báo tốt lành (của thiện nghiệp), là bậc sáng suốt, thành tựu về kiến thức. Vị ấy đã giúp con an trú vào việc lợi ích.
5396. Vào ngày mười bốn, ngày mười lăm, con đã hành trì trai giới nhiều đêm. Nghiệp ấy đã được tàng trữ và tồn tại, tựa như của cải chôn giấu ở trong nước.
5397. Rồi quả báu của những nghiệp ác mà con đã làm ở xứ Magadha sau đó đã xoay vần đến với con, giống như đã ăn vào chất độc dữ dội.
5398. Lìa đời từ nơi ấy, tâu đức vua xứ Videha, bởi nghiệp của chính mình, con đã bị nung nấu lâu dài ở địa ngục Roruva. Trong khi nhớ lại việc ấy, con không đạt được sự an lạc (ở tâm).
5399. Sau khi trải qua nhiều khổ đau ở nơi ấy một thời gian gồm nhiều năm, tâu bệ hạ, con đã là con dê đực bị thiến ở thành Bheṇṇākaṭa.
5400. Con đã chuyên chở những người con trai gia tộc quyền quý bằng lưng và bằng cỗ xe kéo. Kết quả của việc làm ấy là do việc con đã qua lại với vợ của người khác.
5401. Lìa đời từ nơi ấy, tâu đức vua xứ Videha, con đã là con khi ở khu rừng rộng lớn, có tinh hoàn đã bị con khỉ đầu đàn tàn bạo cắn đứt. Kết quả của việc làm ấy là do việc con đã qua lại với vợ của người khác.
5402. Lìa đời từ nơi ấy, tâu đức vua xứ Videha, con đã là con bò đực ở xứ sở Dasaṇṇa. Bị thiến, nhanh nhẹn, hiền thiện, con đã kéo cỗ xe thời gian dài. Kết quả của việc làm ấy là do việc con đã qua lại với vợ của người khác.
5403. Lìa đời từ nơi ấy, tâu đức vua xứ Videha, con đã đi đến một gia đình danh giá ở xứ Vajjī. Con không phải là người nữ cũng không phải là người nam, khi bản thể con người là việc đạt được vô cùng khó khăn. Kết quả của việc làm ấy là do việc con đã qua lại với vợ của người khác.
5404. Lìa đời từ nơi ấy, tâu đức vua xứ Videha, con đã sanh vào khu rừng Nandana ở cung trời Đạo Lợi. Con là tiên nữ có sắc đẹp theo như ước muốn.
5405. Con có vải vóc và đồ trang sức đủ màu sắc rực rỡ, có các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni, thiện xảo về việc múa hát, là thị nữ của Thiên Vương Sakka.
5406. Trong khi tồn tại ở nơi ấy, tâu đức vua xứ Videha, con nhớ lại các kiếp sống này, luôn cả bảy kiếp sống ở thời vị lai mà con sẽ đi đến, sau khi lìa đời từ cõi Trời này.
5407. Thiện pháp mà con đã làm ở xứ Kosambī đã xoay vần đến với con. Lìa đời từ nơi này, con sẽ sanh về cõi Trời và cõi người.
5408. Trong bảy kiếp sống, tâu đại vương, con sẽ thường xuyên được tôn vinh trân trọng. Nhưng con cũng sẽ không thoát ra khỏi bản thể người nữ ở kiếp sống thứ sáu này.
5409. Và ở cảnh giới tái sanh thứ bảy, tâu bệ hạ, con sẽ là vị Thiên tử có đại thần lực, là vị Thiên nam tối thượng ở tập thể chư Thiên.
5410. Thậm chí hôm nay, sự nối tiếp đã được thực hiện; các tiên nữ ở khu rừng Nandana đang kết tràng hoa, và vị Thiên tử tên Java là người đang tiếp nhận tràng hoa cho con.
5411. Một phút chốc ấy ở cõi Trời như là mười sáu năm ở nơi này. Và một ngày đêm ấy ở cõi Trời là một trăm mùa thu ở cõi người.
5412. Các nghiệp theo đuổi (chúng ta) như thế dầu cho trải qua các kiếp sống vô số kể, bởi vì nghiệp thiện hay ác không bị tiêu hoại.
5413 . Kẻ nào muốn trở thành người (nhân loại) liên tiếp từ kiếp sống này sang kiếp sống khác nên tránh xa vợ của người khác, tựa như kẻ có bàn chân đã được rửa sạch tránh xa vũng lầy.
5414. Nàng nào muốn trở thành người (nhân loại) liên tiếp từ kiếp sống này sang kiếp sống khác nên tôn kính chồng, tựa như các người hầu gái tôn kính Thiên Vương Inda.
5415. Kẻ nào muốn của cải Thiên đình, tuổi thọ thuộc cõi Trời, danh tiếng và hạnh phúc, nên tránh xa hẳn các việc ác và nên thực hành ba loại pháp:
5416. Là người không xao lãng về thân, về khẩu, về ý, là người khôn ngoan vì lợi ích của bản thân, dầu là người nữ hay là người nam.
5417. Bất cứ những người nào ở thế gian của cuộc sống, có danh tiếng, có đầy đủ mọi thứ của cải, chắc chắn trước đây đã thực hành tốt đẹp ba pháp ấy. Tất cả chúng sanh đều có nghiệp riêng của mình.
5418. Nào, tâu bệ hạ, xin phụ thân cũng hãy tự mình suy gẫm. Tâu vị chúa của loài người, duyên cớ nào phụ thân có những nữ nhân này? Những nữ nhân này của phụ thân trông giống như các tiên nữ, đã được trang điểm, đã được choàng lên những tấm lưới bằng vàng.”
5419. Công chúa Rujā, người con gái có sự hành trì tốt đẹp, đã làm vui lòng vua cha Aṅgāti, đã giải thích về đạo lộ, đã nói về thiện pháp cho người cha mê muội như vậy.
5420. Rồi Bồ Tát Nārada đã từ thế giới Phạm Thiên đi đến dòng giống loài người. Trong lúc xem xét xứ sở Jambudīpa, ngài đã nhìn thấy đức vua Aṅgāti.
5421 . Sau đó, ngài đã ngự xuống tòa lâu đài, ở phía trước đức vua xứ Videha. Và sau khi nhìn thấy vị ấy đã đi đến, nàng Rujā đã đảnh lễ vị ẩn sĩ.
5422. Khi ấy, đức vua đã bước xuống từ chỗ ngồi, tâm trí bị kinh sợ. Trong lúc hỏi han vị Nārada, đức vua đã nói lời nói này:
5423. “Hỡi vị có sắc đẹp của Thiên nhân, từ đâu ngài đi đến, tựa như mặt trăng, đang chiếu sáng ban đêm? Được hỏi, xin ngài hãy nói cho trẫm biết tên họ. Ở thế giới nhân loại, mọi người nhận biết ngài như thế nào?”
5424. “Ta đi đến nơi này từ chư Thiên tựa như mặt trăng, đang chiếu sáng ban đêm. Được hỏi, ta nói cho bệ hạ biết tên họ. Mọi người nhận biết ta là Nārada và Kassapa.”
5425. “Điều như thế này có vẻ kỳ diệu thật đấy! Là việc ngài đi và đứng ở không trung. Thưa ngài Nārada, trẫm hỏi ngài về sự việc này, vậy bằng cách nào ngài có được thần thông này?”
5426. “Chân thật, thiện pháp, sự chế ngự (các giác quan), và thí xả, các đức tính này của ta đã được thực hành trong thời quá khứ. Với chính những pháp ấy đã khéo được rèn luyện, ta di chuyển theo như ước muốn với tốc độ của ý.”
5427. “Ngài nói việc kỳ diệu là sự thành tựu của phước báu. Nếu thật sự những pháp này là đúng như ngài nói, thưa ngài Nārada, trẫm hỏi ngài về sự việc này. Và được trẫm hỏi, xin ngài hãy trả lời cặn kẽ.”
5428. “Tâu đấng hộ quốc, ngài có sự hoài nghi về bất cứ điều nào, tâu bệ hạ, xin ngài hãy hỏi bần đạo; việc ấy có lợi ích cho bệ hạ. Bần đạo sẽ giúp bệ hạ hết nỗi hoài nghi bằng những lý luận, bằng những lập luận, và bằng những chứng cớ.”
5429. “Thưa ngài Nārada, trẫm hỏi ngài về sự việc này. Và được trẫm hỏi, thưa ngài Nārada, ngài chớ nói lời dối trá. Có thật là có chư Thiên, có thật là có tổ tiên, có thật là có đời sau, mà người đời đã nói?”
5430. “Thật sự có chư Thiên, có tổ tiên, và có đời sau, mà người đời đã nói. Bị thèm khát các dục, loài người trở nên mê muội, bị gắn liền với sự si mê, chúng không biết về đời sau.”
5431. “Thưa ngài Nārada, nếu ngài tin rằng ‘có,’ về chỗ nương náu ở đời sau cho những người đã chết, thì ngay ở tại nơi này, ngài hãy trao cho trẫm năm trăm tiền, trẫm sẽ trao lại cho ngài một ngàn ở đời sống sau.”
5432. “Quả thật chúng tôi có thể trao cho bệ hạ năm trăm tiền, nếu chúng tôi có thể biết được bệ hạ là có giới hạnh, rộng lượng. (Nếu như) bệ hạ là kẻ hung bạo đang sống ở địa ngục, thì người nào có thể nhắc nhở kẻ ấy về một ngàn ở đời sống khác?
5433. Ngay ở tại nơi này, người nào có bản chất không đàng hoàng, có nết hạnh xấu xa, lười biếng, có hành động tàn bạo, những người sáng suốt không cho kẻ ấy vay nợ, bởi vì không có sự hoàn lại (nợ đã vay) từ hạng người như thế ấy.
5434. Và mọi người, sau khi biết được người tài giỏi, năng động, có giới hạnh, rộng lượng, đích thân họ mời mọc bằng của cải, (bởi vì) người ấy sẽ mang trả lại sau khi làm xong công việc.
5435. Tâu bệ hạ, từ nơi này ra đi, ngài sẽ nhìn thấy ở nơi ấy, bản thân kẻ ấy trong khi sống ở địa ngục, bị lôi kéo bởi bầy quạ đen, bị xâu xé bởi những con quạ, bởi những con chim kên kên, và bởi những con diều hâu, có cơ thể bị hoàn toàn tơi tả, và máu đang tuôn chảy, thì người nào có thể nhắc nhở kẻ ấy về một ngàn ở đời sống khác?
5436. Tại nơi ấy, tối tăm mù mịt, không có mặt trăng và mặt trời, địa ngục luôn luôn tối đen, có dáng vẻ ghê rợn, ban đêm và ban ngày hoàn toàn không được nhận biết, người nào có thể lai vãng ở nơi như thế ấy vì mục đích tài sản?
5437. (Tại nơi ấy,) hai con chó Sabala và Sāma có thân thể đã được phát triển, có sức mạnh, to lớn. Bằng những chiếc răng bằng sắt, chúng nghiến ngấu kẻ đã bị lìa trần từ nơi (cõi người) này đi đến thế giới khác (địa ngục).
5438. Kẻ ấy, trong khi sống ở địa ngục, bị ngấu nghiến bởi những con thú hung bạo, dữ tợn, và nguy hiểm, có cơ thể bị hoàn toàn tơi tả, và máu đang tuôn chảy, thì người nào có thể nhắc nhở kẻ ấy về một ngàn ở đời sống khác?
5439. Bằng những mũi tên, bằng những cây giáo vô cùng bén nhọn, những kẻ đối địch, các Kāḷūpakāḷa (quan canh giữ địa ngục Kāḷūpakāḷa) ở địa ngục ghê rợn, đánh đập và đâm xuyên người đã làm hành động tồi tệ trong thời quá khứ.
5440. Kẻ ấy, trong khi bị đánh đập, trong khi di chuyển ở địa ngục, có bao tử bị mở toang ở bụng, ở bên hông, có cơ thể bị hoàn toàn tơi tả, và máu đang tuôn chảy, thì người nào có thể nhắc nhở kẻ ấy về một ngàn ở đời sống khác?
5441. Tại nơi ấy, trời đổ mưa nhiều loại vũ khí: các cây giáo, các mũi tên, các gậy mũi nhọn, các cây chĩa ba. Các loại vũ khí rơi xuống có ngọn lửa tựa như than hừng. Trời đổ mưa các khối đá cháy rực xuống những kẻ đã tạo nghiệp hung bạo.
5442. Và có ngọn gió nóng khó chịu ở địa ngục. Thậm chí chút ít sung sướng cũng không được thọ nhận ở nơi ấy. Chính kẻ ấy, trong khi đang chạy tứ tung, không nơi trú ẩn, bị tật bệnh, thì người nào có thể nhắc nhở kẻ ấy về một ngàn ở đời sống khác?
5443. Trong khi kẻ ấy, bị máng vào những cỗ xe, đang phóng chạy, đang bước đi ở mặt đất có trạng thái bốc lửa, đang bị thúc giục bởi những cây gậy nhọn, thì người nào có thể nhắc nhở kẻ ấy về một ngàn ở đời sống khác?
5444. Trong khi kẻ ấy đang trèo lên ngọn núi khủng khiếp được cắm đầy những lưỡi dao cạo, đã bị bốc cháy, tạo ra sự sợ hãi, có cơ thể bị hoàn toàn tơi tả, và máu đang tuôn chảy, thì người nào có thể nhắc nhở kẻ ấy về một ngàn ở đời sống khác?
5445. Trong khi kẻ ấy đang trèo lên đống than hừng tương tự như ngọn núi, bị cháy rực, tạo ra sự sợ hãi, có cơ thể bị thiêu đốt hoàn toàn, khốn khổ, đang khóc lóc, thì người nào có thể nhắc nhở kẻ ấy về một ngàn ở đời sống khác?
5446. Có những thân cây cao bằng chóp đỉnh của đám mây, được chồng chất những gai nhọn sắc bén làm bằng sắt, chuyên hút máu người.
5447. Bị thúc giục bởi những quỷ sứ thi hành lệnh của Diêm Vương có cây giáo cầm ở tay, những người đàn bà và những người đàn ông đi lại với vợ của người khác trèo lên thân cây ấy.
5448. Trong khi trèo lên cây bông vải ở địa ngục, kẻ ấy bị lấm lem bởi máu, có thân thể bị đốt cháy, da bị lột, bị tật bệnh, có cảm thọ khủng khiếp.
5449 . Trong khi kẻ có tội lỗi ở nghiệp quá khứ liên tiếp thở dài bực bội, có trạng thái bám víu ở chạng ba trên đỉnh ngọn cây, thì người nào có thể đòi hỏi phần tài sản ấy?
5450. Có những thân cây cao bằng chóp đỉnh của đám mây, được che phủ với tàng lá cây là những thanh gươm sắc bén làm bằng sắt, chuyên hút máu người.
5451. Khi kẻ ấy đến được thân cây có tàng lá là những thanh giươm, trong khi đang bị cắt đứt bởi những thanh gươm sắc bén, có cơ thể bị hoàn toàn tơi tả, và máu đang tuôn chảy, thì người nào có thể nhắc nhở kẻ ấy về một ngàn ở đời sống khác?
5452. Sau đó, khi vừa thoát ra khỏi nỗi khổ đau từ địa ngục lá gươm, kẻ ấy bị rơi vào dòng sông Vetaraṇī, thì người nào có thể đòi hỏi phần tài sản ấy?
5453 . Dòng sông Vetaraṇī thô tháo trôi chảy, với nước có chất kiềm, nóng bỏng, khó vượt qua, được bao phủ bởi những đóa hoa sen bằng sắt có các cánh sen sắc bén.
5454 . Tại đó, trong khi kẻ ấy, có cơ thể bị hoàn toàn tơi tả, bị lấm lem bởi máu, đang bị cuốn trôi ở dòng sông Vetaraṇī không chỗ bám víu, thì người nào có thể đòi hỏi phần tài sản ấy?”
5455. “Trẫm run rẩy tựa như thân cây bị chặt đứt. Trẫm không còn biết được phương hướng, sự nhận biết đã bị mê muội. Trẫm ăn năn vì sợ hãi, và trẫm có nỗi sợ hãi lớn lao sau khi lắng nghe những câu kệ đã được ngài nói ra, thưa vị ẩn sĩ.
5456 . Tựa như (nơi trú ẩn) ở giữa dòng nước vào thời điểm bị đốt nóng, tựa như hòn đảo trong cơn lũ ở biển khơi, tựa như ngọn đèn ở trong đêm tối, ngài là nơi nương nhờ của chúng tôi, thưa vị ẩn sĩ.
5457. Thưa vị ẩn sĩ, ngài hãy chỉ dạy điều lợi ích và thiện pháp cho trẫm. Chắc chắn rằng trong quá khứ, trẫm đã phạm tội lỗi. Thưa ngài Nārada, xin ngài hãy nói với trẫm về đạo lộ trong sạch để cho trẫm có thế không còn rơi vào địa ngục.”
5458. “Giống như các vị vua Dhataraṭṭha, Vessāmitta, Aṭṭhaka, Yāmataggi, luôn cả Usinnara, và đức vua Sivi đã là những người hầu cận của các Sa-môn và Bà-la-môn.
5459. Các vị này và những vị vua khác đã đi đến Thiên giới của Chúa Trời Sakka. Tâu vị chúa của trái đất, bệ hạ hãy tránh xa tà pháp và hãy thực hành thiện pháp.
5460 . Hãy cho người cầm thức ăn ở tay tại cung điện của bệ hạ, và cho người thông báo ở trong thành phố của bệ hạ rằng: ‘Ai đói, ai khát, ai cần tràng hoa, ai cần dầu thoa, trong số các tấm vải vóc nhiều màu sắc khác nhau, ai lõa lồ sẽ (nhận lấy chúng để) mặc vào?’
5461. Ai nhận lấy ô dù và giày dép mềm mại, thanh lịch cho việc đi đường?’ Hãy cho người thông báo như vậy vào buổi sáng và buổi tối ở trong thành phố của bệ hạ.
5462. Chớ giao phó cho người già, cho trâu bò và ngựa đã già yếu công việc giống như trước đây. Bệ hạ nên ban bố sự chăm sóc, bởi vì việc phục vụ (của người ấy, của con thú ấy) đã được hoàn tất khi còn có sức mạnh.
5463 . Thân thể của bệ hạ được xem như là cỗ xe, tâm ý nhẹ nhàng là người đánh xe, sự không hãm hại là trục xe được xoay chuyển, sự san sẻ bố thí là trần xe.
5464 . Sự kiềm chế bước chân là vành bánh xe, sự kiềm chế bàn tay là khung xe, sự kiềm chế cái bụng (ăn uống có tiết độ) là bên trong ổ trục (có dầu nhớt), sự kiềm chế lời nói là sự không ầm ĩ (của cỗ xe).
5465 . Lời nói chân thật là các bộ phận của cỗ xe được đầy đủ, việc không nói đâm thọc là cỗ xe được điều khiển tốt đẹp, lời nói tử tế là các bộ phận của cỗ xe được hoàn hảo, sự nói lời thân thiện là cỗ xe được kết nối chắc chắn.
5466 . Khéo được kiến tạo với đức tin và đức tánh vô tham, sự khiêm tốn và hành động chắp tay là gọng xe, không ương ngạnh và không luồn cúi là càng xe, sự gìn giữ giới hạnh là sự ràng buộc (cỗ xe được chặt chẽ).
5467 . Sự không giận dữ là cỗ xe không có sự rung rinh, mười thiện pháp là chiếc lọng che màu trắng, kiến thức rộng là tấm ván tựa lưng, tâm kiên cố là tấm khăn phủ ở chỗ ngồi.
5468 . Trạng thái biết được thời điểm là điều cốt yếu của tâm, sự tự tin là cây chống ba chân, thái độ khiêm tốn là sợi dây buộc, sự không ngã mạn thái quá là cái ách được nhẹ bỗng.
5469 . Tâm không bị lui sụt là tấm thảm trải, sự tập luyện được tiến bộ (về tuệ) là đã được quét sạch bụi, bậc sáng suốt có niệm là cây gậy thúc, sự kiên trì và gắn bó (vào pháp tu tập) là các sợi dây cương.
5470 . Tâm đã được thuần phục đi theo đúng đường lối như là cỗ xe được kéo bởi những con ngựa đã được thuần phục ổn định. Mong muốn và tham lam là con đường sái quấy, sự tự kiềm chế là con đường ngay thẳng.
5471. Khi cỗ xe đang lao theo các sắc, các thinh, các vị, các hương, trí tuệ là sự trừng trị răn đe. Tâu bệ hạ, trong trường hợp ấy, chính bản thân là người đánh xe.
5472 . Nếu có sự thực hành ổn định, vững chắc, kiên quyết với cỗ xe này, tâu bệ hạ, cỗ xe (thân thể) này đem lại mọi điều ước muốn, chắc chắn không thể đi đến địa ngục.”
5473. “Devadatta đã là Alāta, vị Bhaddaji đã là Sunāma, vị Sāriputta đã là Vijaya, vị Moggallāna đã là Bījaka.
5474. Sunakkhatta, người con trai xứ Licchavi, đã là đạo sĩ lõa thể Guṇa, vị Ānanda đã là công chúa Rujā, cô con gái đã cải hóa vua cha.
5475. Uruvelakassapa khi ấy đã là vị vua có tà kiến xấu xa, và đức Bồ Tát là vị Đại Phạm Thiên. Các ngươi hãy ghi nhớ câu chuyện Bổn Sanh này như vậy.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
544. Candakumārajātakaṃ (7)
544. The Candakumāra Jātaka (7)
544. Chuyện Bổn Sanh Hoàng Tử Canda (7)
982.
982.
982.
‘‘Rājāsi luddakammo, ekarājā pupphavatīyā;
So pucchi brahmabandhuṃ, khaṇḍahālaṃ purohitaṃ mūḷhaṃ.
There was a king of cruel deeds, Ekarāja in Pupphavatī. He asked the degenerate brahmin, Khaṇḍahāla, his deluded chaplain.
Tại thành Pupphavatī, có vua Ekarājā, người có hành vi tàn bạo; Vị ấy đã hỏi Khaṇḍahāla, vị tế sư ngu si, một kẻ tự xưng là Bà-la-môn.
983.
983.
983.
‘Saggāna maggamācikkha †, tvaṃsi brāhmaṇa dhammavinayakusalo;
Yathā ito vajanti sugatiṃ, narā puññāni katvāna’.
‘Declare the path to heaven, O brahmin; you are skilled in the doctrine and discipline. Tell me how people, having done meritorious deeds, go from here to a happy state.’
‘Xin hãy chỉ cho con đường lên cõi trời, hỡi vị Bà-la-môn, ngài là người thông thạo giáo pháp và giới luật; Làm thế nào để những người đã làm các công đức, từ nơi đây đi đến cõi lành’.
984.
984.
984.
‘Atidānaṃ daditvāna, avajjhe deva ghātetvā;
Evaṃ vajanti sugatiṃ, narā puññāni katvāna’.
‘Having given an extraordinary gift, and having had those who should not be killed slain, O king, thus do people, having done meritorious deeds, go to a happy state.’
‘Sau khi đã thực hiện đại thí, và sau khi đã giết hại những người không đáng bị giết, tâu Đại vương; Như vậy, những người làm các công đức sẽ đi đến cõi lành’.
985.
985.
985.
‘Kiṃ pana taṃ atidānaṃ, ke ca avajjhā imasmi lokasmiṃ;
Etañca kho no akkhāhi, yajissāmi dadāmi † dānāni’.
‘What, then, is that extraordinary gift, and who in this world are those who should not be killed? Declare this to me, and I shall perform a sacrifice and give gifts.’
‘Vậy thế nào là đại thí, và ai là những người không đáng bị giết ở trên đời này; Xin hãy nói rõ điều ấy cho ta, ta sẽ làm lễ tế tự, ta sẽ thực hiện các sự bố thí’.
986.
986.
986.
‘Puttehi deva yajitabbaṃ, mahesīhi negamehi ca;
Usabhehi ājāniyehi catūhi, sabbacatukkena deva yajitabbaṃ’’’.
‘One should sacrifice with sons, O king, and with chief queens and merchants; with four bulls and four thoroughbreds—with a set of four of everything, O king, should one sacrifice.’
‘Tâu Đại vương, cần phải tế lễ bằng các hoàng tử, các hoàng hậu, và các thương gia; Bằng bốn con bò đực tơ, bốn con ngựa nòi, tâu Đại vương, cần phải tế lễ bằng tất cả các bộ bốn’.
987.
987.
987.
‘‘Taṃ sutvā antepure, kumārā mahesiyo ca haññantu;
Eko ahosi nigghoso, bhismā accuggato saddo’’.
Upon hearing that in the inner palace—'Let the princes and chief queens be killed!'—there arose a single uproar, a terrible, very loud sound.
Nghe tin các hoàng tử và các hoàng hậu sẽ bị giết, trong nội cung đã có một tiếng la hét vang lên, một âm thanh khủng khiếp, vang dội.
988.
988.
988.
‘‘Gacchatha vadetha kumāre, candaṃ sūriyañca bhaddasenañca;
Sūrañca vāmagottañca, pacurā † kira hotha yaññatthāya.
‘Go and tell the princes—Canda, Sūriya, and Bhaddasena, Sūra and Vāmagotta—'Be prepared, it is said, for the sake of the sacrifice.’
‘Hãy đi, hãy nói với các hoàng tử, Canda, Sūriya, và Bhaddasena; và Sūra và Vāmagotta, rằng: ‘Các ngươi quả thật được cần đến cho lễ tế tự’.
989.
989.
989.
‘‘Kumāriyopi vadetha, upasenaṃ † kokilañca muditañca;
Nandañcāpi kumāriṃ, pacurā † kira hotha yaññatthāya.
‘Also tell the princesses—Upasenā, Kokilā, and Muditā, and also the princess Nandā—'Be prepared, it is said, for the sake of the sacrifice.’
‘Cũng hãy nói với các công chúa, Upasenā, Kokilā, và Muditā; và cả công chúa Nandā, rằng: ‘Các ngươi quả thật được cần đến cho lễ tế tự’.
990.
990.
990.
‘‘Vijayampi mayhaṃ mahesiṃ, erāvatiṃ † kesiniṃ sunandañca;
Lakkhaṇavarūpapannā, pacurā kira hotha yaññatthāya.
‘Also my chief queens, Vijayā, Erāvatī, Kesinī, and Sunandā, endowed with excellent marks and form—'Be prepared, it is said, for the sake of the sacrifice.’
‘Cả hoàng hậu Vijayā của ta, Erāvatī, Kesinī, và Sunandā; những người có tướng tốt và sắc đẹp tuyệt vời, (hãy nói rằng): ‘Các ngươi quả thật được cần đến cho lễ tế tự’.
991.
991.
991.
‘‘Gahapatayo ca vadetha, puṇṇamukhaṃ bhaddiyaṃ siṅgālañca;
Vaḍḍhañcāpi gahapatiṃ, pacurā kira hotha yaññatthāya’’.
‘And tell the householders—Puṇṇamukha, Bhaddiya, and Siṅgāla, and also the householder Vaḍḍha—'Be prepared, it is said, for the sake of the sacrifice.’
‘Và hãy nói với các gia chủ, Puṇṇamukha, Bhaddiya, và Siṅgāla; và cả gia chủ Vaḍḍha, rằng: ‘Các ngươi quả thật được cần đến cho lễ tế tự’.
992.
992.
992.
‘‘Te tattha gahapatayo, avocisuṃ samāgatā puttadāraparikiṇṇā;
Sabbeva sikhino deva karohi, atha vā no dāse sāvehi’’.
Those householders there, having assembled and surrounded by their sons and wives, said: ‘Make us all your bondsmen, O king, or else proclaim us as slaves.’
Những vị gia chủ ở đó, được con cái và vợ bao quanh, sau khi tụ họp lại đã nói rằng: ‘Tâu Đại vương, xin hãy làm cho tất cả chúng tôi thành những người có búi tóc, hoặc là hãy tuyên bố chúng tôi là những người nô lệ’.
993.
993.
993.
‘‘Abhayaṃkarampi me hatthiṃ, nāḷāgiriṃ accuggataṃ varuṇadantaṃ †;
Ānetha kho ne khippaṃ, yaññatthāya bhavissanti.
‘Also bring my elephants Abhayaṃkara, the exceedingly tall Nāḷāgiri, and Varuṇadanta; bring them quickly, for they shall be for the sake of the sacrifice.’
‘Cả con voi Abhayaṃkara của ta, voi Nāḷāgiri, con voi cao lớn với ngà tuyệt hảo; hãy mau chóng đem chúng đến, chúng sẽ được dùng cho lễ tế tự’.
994.
994.
994.
‘‘Assaratanampi † kesiṃ, surāmukhaṃ puṇṇakaṃ vinatakañca;
Ānetha kho ne khippaṃ, yaññatthāya bhavissanti.
‘Also the jewel of a horse, Kesi, and Surāmukha, Puṇṇaka, and Vinataka; bring them quickly, for they shall be for the sake of the sacrifice.’
‘Cả con ngựa quý Kesi, và Surāmukha, Puṇṇaka, và Vinataka; hãy mau chóng đem chúng đến, chúng sẽ được dùng cho lễ tế tự’.
995.
995.
995.
‘‘Usabhampi † yūthapatiṃ anojaṃ, nisabhaṃ gavampatiṃ tepi mayhaṃ ānetha;
Samūha † karontu sabbaṃ, yajissāmi dadāmi dānāni.
‘Also bring my herd-leader bull Anoja, and my bulls Nisabha and Gavampati; let them gather everything. I will perform a sacrifice and give gifts.’
‘Cả con bò đực đầu đàn Anoja, và Nisabha, Gavampati, cũng hãy đem chúng đến cho ta; Hãy để họ tập hợp tất cả mọi thứ, ta sẽ làm lễ tế tự, ta sẽ thực hiện các sự bố thí’.
996.
996.
996.
‘‘Sabbaṃ † paṭiyādetha, yaññaṃ pana uggatamhi sūriyamhi;
Āṇāpetha ca kumāre †, abhiramantu imaṃ rattiṃ.
‘Prepare everything for the sacrifice at sunrise. And command the princes to enjoy themselves this night.’
‘Hãy chuẩn bị tất cả mọi thứ, nhưng lễ tế tự sẽ diễn ra khi mặt trời mọc; Và hãy ra lệnh cho các hoàng tử, hãy để chúng vui hưởng trong đêm nay’.
997.
997.
997.
‘‘Sabbaṃ † upaṭṭhapetha, yaññaṃ pana uggatamhi sūriyamhi;
Vadetha dāni kumāre, ajja kho † pacchimā ratti’’.
‘Make everything ready for the sacrifice at sunrise. Now tell the princes: 'Indeed, this is your last night.’
‘Hãy sắp đặt tất cả mọi thứ, nhưng lễ tế tự sẽ diễn ra khi mặt trời mọc; Bây giờ hãy nói với các hoàng tử, hôm nay quả thật là đêm cuối cùng’.
998.
998.
998.
‘‘Taṃtaṃ mātā avaca, rodantī āgantvā vimānato;
Yañño kira te putta, bhavissati catūhi puttehi’’.
His mother, weeping, came from her celestial mansion and said to him: ‘Your sacrifice, O son, will be, it is said, with four sons.’
Người mẹ của vua, khóc lóc, từ thiên cung đến và nói với vua rằng: ‘Này con, nghe nói sẽ có một lễ tế tự, được thực hiện bằng bốn người con trai’.
999.
999.
999.
‘‘Sabbepi mayhaṃ puttā cattā, candasmiṃ haññamānasmiṃ;
Puttehi yaññaṃ yajitvāna, sugatiṃ saggaṃ gamissāmi’’.
‘All four are indeed my sons. When Canda is slain, having sacrificed with my sons, I will go to a happy state, to heaven.’
‘Tất cả bốn người con trai của ta sẽ bị giết, cùng với Canda. Sau khi đã làm lễ tế tự bằng các con trai, ta sẽ đi đến cõi lành, cõi trời’.
1000.
1000.
1000.
‘‘Mā taṃ † putta saddahesi, sugati kira hoti puttayaññena;
Nirayāneso maggo, neso maggo hi saggānaṃ.
‘Do not believe that, O son, that a happy state is won through a sacrifice of sons. This is the path to hell; this is not the path to heaven.’
‘Này con, chớ có tin rằng, nghe nói cõi lành có được là nhờ tế lễ bằng các con trai; Đây là con đường dẫn đến địa ngục, đây quả thật không phải là con đường lên cõi trời’.
1001.
1001.
1001.
‘‘Dānāni dehi koṇḍañña, ahiṃsā sabbabhūtabhabyānaṃ’’;
Esa maggo sugatiyā, na ca maggo puttayaññena’’.
‘Give gifts, O Koṇḍañña, and practice non-harming towards all beings. This is the path to a happy state, not the path through a sacrifice of sons.’
‘Hỡi Koṇḍañña, hãy thực hành bố thí, không làm hại tất cả các chúng sanh hiện hữu và sẽ sanh; Đây là con đường dẫn đến cõi lành, chứ không phải con đường tế lễ bằng các con trai’.
1002.
1002.
1002.
‘‘Ācariyānaṃ vacanā, ghātessaṃ candañca sūriyañca;
Puttehi yaññaṃ † yajitvāna duccajehi, sugatiṃ saggaṃ gamissāmi’’.
‘By the word of my teachers, I will slay Canda and Sūriya. Having performed a sacrifice with my sons, so hard to give up, I will go to a happy state, to heaven.’
‘Theo lời của vị đạo sư, ta sẽ giết Canda và Sūriya; sau khi đã làm lễ tế tự bằng các con trai, những người khó từ bỏ, ta sẽ đi đến cõi lành, cõi trời’.
1003.
1003.
1003.
‘‘Taṃtaṃ pitāpi avaca, vasavattī orasaṃ sakaṃ puttaṃ;
Yañño kira te putta, bhavissati catūhi puttehi’’.
His father also, the sovereign, said this to his own legitimate son: ‘Your sacrifice, O son, will be, it is said, with four sons.’
Người cha của vua, tên là Vasavattī, cũng đã nói với người con trai ruột của mình rằng: ‘Này con, nghe nói sẽ có một lễ tế tự, được thực hiện bằng bốn người con trai’.
1004.
1004.
1004.
‘‘Sabbepi mayhaṃ puttā cattā, candasmiṃ haññamānasmiṃ;
Puttehi yaññaṃ yajitvāna, sugatiṃ saggaṃ gamissāmi’’.
‘All four are indeed my sons. When Canda is slain, having sacrificed with my sons, I will go to a happy state, to heaven.’
‘Tất cả bốn người con trai của ta sẽ bị giết, cùng với Canda. Sau khi đã làm lễ tế tự bằng các con trai, ta sẽ đi đến cõi lành, cõi trời’.
1005.
1005.
1005.
‘‘Mā taṃ putta saddahesi, sugati kira hoti puttayaññena;
Nirayāneso maggo, neso maggo hi saggānaṃ.
‘Do not believe that, O son, that a happy state is won through a sacrifice of sons. This is the path to hell; this is not the path to heaven.’
‘Này con, chớ có tin rằng, nghe nói cõi lành có được là nhờ tế lễ bằng các con trai; Đây là con đường dẫn đến địa ngục, đây quả thật không phải là con đường lên cõi trời’.
1006.
1006.
1006.
‘‘Dānāni dehi koṇḍañña, ahiṃsā sabbabhūtabhabyānaṃ;
Esa maggo sugatiyā, na ca maggo puttayaññena’’.
‘Give gifts, O Koṇḍañña, and practice non-harming towards all beings. This is the path to a happy state, not the path through a sacrifice of sons.’
‘Hỡi Koṇḍañña, hãy thực hành bố thí, không làm hại tất cả các chúng sanh hiện hữu và sẽ sanh; Đây là con đường dẫn đến cõi lành, chứ không phải con đường tế lễ bằng các con trai’.
1007.
1007.
1007.
‘‘Ācariyānaṃ vacanā, ghātessaṃ candañca sūriyañca;
Puttehi yaññaṃ yajitvāna duccajehi, sugatiṃ saggaṃ gamissāmi’’.
‘By the word of my teachers, I will slay Canda and Sūriya. Having performed a sacrifice with my sons, so hard to give up, I will go to a happy state, to heaven.’
‘Theo lời của vị đạo sư, ta sẽ giết Canda và Sūriya; sau khi đã làm lễ tế tự bằng các con trai, những người khó từ bỏ, ta sẽ đi đến cõi lành, cõi trời’.
1008.
1008.
1008.
‘‘Dānāni dehi koṇḍañña, ahiṃsā sabbabhūtabhabyānaṃ;
Puttaparivuto tuvaṃ, raṭṭhaṃ janapadañca pālehi’’.
‘Give gifts, O Koṇḍañña, and practice non-harming towards all beings. Surrounded by your sons, you should rule the kingdom and the country.’
‘Hỡi Koṇḍañña, hãy thực hành bố thí, không làm hại tất cả các chúng sanh hiện hữu và sẽ sanh; Ngươi hãy cùng với các con trai của mình, bảo hộ vương quốc và xứ sở’.
1009.
1009.
1009.
‘‘Mā no deva avadhi, dāse no dehi khaṇḍahālassa;
Api nigaḷabandhakāpi, hatthī asse ca pālema.
‘Do not kill us, O king! Give us as slaves to Khaṇḍahāla. Even bound in chains, we will tend the elephants and horses.’
‘Tâu Đại vương, xin đừng giết chúng con, xin hãy cho chúng con làm nô lệ cho Khaṇḍahāla; Dù cho bị xiềng xích, chúng con sẽ chăm sóc voi và ngựa’.
1010.
1010.
1010.
‘‘Mā no deva avadhi, dāse no dehi khaṇḍahālassa;
Api nigaḷabandhakāpi, hatthichakaṇāni ujjhema.
‘Do not kill us, O king! Give us as slaves to Khaṇḍahāla. Even bound in chains, we will clear away elephant dung.’
‘Tâu Đại vương, xin đừng giết chúng con, xin hãy cho chúng con làm nô lệ cho Khaṇḍahāla; Dù cho bị xiềng xích, chúng con sẽ dọn phân voi’.
1011.
1011.
1011.
‘‘Mā no deva avadhi, dāse no dehi khaṇḍahālassa;
Api nigaḷabandhakāpi, assachakaṇāni ujjhema.
‘Do not kill us, O king! Give us as slaves to Khaṇḍahāla. Even bound in chains, we will clear away horse dung.’
Tâu Thiên tử, xin đừng giết chúng con, xin hãy trao chúng con làm nô lệ cho Khaṇḍahāla. Dù cho bị xiềng xích trói buộc, chúng con sẽ dọn phân ngựa.
1012.
1012.
1012.
‘‘Mā no deva avadhi, dāse no dehi khaṇḍahālassa †;
Yassa honti tava kāmā, api raṭṭhā pabbājitā;
Bhikkhācariyaṃ carissāma’’.
‘Do not kill us, O king! Give us as slaves to Khaṇḍahāla. Or, if it is your wish, banished from the kingdom, we will wander for alms.’
Tâu Thiên tử, xin đừng giết chúng con, xin hãy trao chúng con làm nô lệ cho Khaṇḍahāla. Nếu đó là điều ngài mong muốn, dù bị trục xuất khỏi vương quốc, chúng con sẽ sống đời khất thực.
1013.
1013.
1013.
‘‘Dukkhaṃ kho me janayatha, vilapantā jīvitassa kāmā hi;
Muñcetha † dāni kumāre, alampi me hotu puttayaññena’’.
‘Indeed, you cause me suffering, lamenting thus, desirous of life. Release the princes now! Enough of this sacrifice of sons for me!’
Các con thật sự đang làm ta đau khổ, khi than khóc vì ham sống. Bây giờ hãy thả các hoàng tử ra. Đối với ta, tế lễ bằng con trai đã đủ rồi.
1014.
1014.
1014.
‘‘Pubbeva khosi me vutto, dukkaraṃ durabhisambhavañcetaṃ;
Atha no upakkhaṭassa yaññassa, kasmā karosi vikkhepaṃ.
“Indeed, you were told by me before that this is difficult to do and hard to accomplish. Now, for the prepared sacrifice, why do you create an obstacle?
Trước đây, ngài đã được tôi nói rằng, việc này khó làm và khó thực hiện. Vậy thì, đối với cuộc tế lễ đã được chuẩn bị của chúng ta, tại sao ngài lại gây trở ngại?
1015.
1015.
1015.
‘‘Sabbe vajanti sugatiṃ, ye yajanti yepi yājenti;
Ye cāpi anumodanti, yajantānaṃ edisaṃ mahāyaññaṃ’’.
“All go to a good destination: those who sacrifice, those who have the sacrifice performed, and also those who rejoice in such a great sacrifice being performed.”
Tất cả đều đi đến cõi lành, những ai tế lễ và những ai cho người khác tế lễ. Và cả những ai tùy hỷ, với những người thực hiện cuộc đại tế lễ như vậy.
1016.
1016.
1016.
‘‘Atha kissa jano † pubbe, sotthānaṃ brāhmaṇe avācesi;
Atha no akāraṇasmā, yaññatthāya deva ghātesi.
“Then why did the people previously have the brahmins recite blessings for our welfare? Now, without reason, O lord, you have us slain for a sacrifice.
Vậy thì tại sao trước đây dân chúng, lại nói lời chúc phúc cho các Bà-la-môn? Vậy mà bây giờ, không vì lý do gì, tâu Thiên tử, ngài lại giết chúng con vì mục đích tế lễ.
1017.
1017.
1017.
‘‘Pubbeva no daharakāle †, na hanesi † na ghātesi;
Daharamhā yobbanaṃ pattā, adūsakā tāta haññāma.
“Previously, in our childhood, you did not strike us, you did not slay us. Having reached youth from childhood, innocent, O father, we are being slain.
Trước đây, khi chúng con còn thơ ấu, ngài đã không đánh đập, không giết hại. Từ tuổi thơ, chúng con đã đến tuổi thanh xuân, thưa cha, chúng con vô tội lại bị giết.
1018.
1018.
1018.
‘‘Hatthigate assagate, sannaddhe passa no mahārāja;
Yuddhe vā yujjhamāne vā, na hi mādisā sūrā honti yaññatthāya.
“Mounted on elephants, mounted on horses, see us in armor, O great king. Whether in battle or while fighting, indeed, heroes like us are not for a sacrifice.
Khi cưỡi voi, khi cưỡi ngựa, tâu Đại vương, hãy nhìn chúng con trong bộ áo giáp. Hoặc trong trận chiến, hoặc khi đang chiến đấu, những người dũng cảm như chúng con không phải để dành cho mục đích tế lễ.
1019.
1019.
1019.
‘‘Paccante vāpi kupite, aṭavīsu vā mādise niyojenti;
Atha no akāraṇasmā, abhūmiyaṃ tāta haññāma.
“When the borderlands are in revolt or in the forests, they employ those like us. Now, without reason, in an inappropriate place, O father, we are being slain.
Khi biên thùy nổi loạn, hoặc trong rừng rậm, họ giao phó cho những người như chúng con. Vậy mà bây giờ, không vì lý do gì, thưa cha, chúng con bị giết một cách không thích đáng.
1020.
1020.
1020.
‘‘Yāpi hi tā sakuṇiyo, vasanti tiṇagharāni katvāna;
Tāsampi piyā puttā, atha no tvaṃ deva ghātesi.
“Indeed, even those birds that live having made grass nests, their sons are dear to them. Yet you, O lord, have us slain.
Ngay cả những con chim kia, sống trong những cái tổ bằng cỏ mà chúng đã làm, chúng cũng thương yêu con của chúng. Vậy mà, tâu Thiên tử, ngài lại giết chúng con.
1021.
1021.
1021.
‘‘Mā tassa saddahesi, na maṃ khaṇḍahālo ghāteyya;
Mamañhi so ghātetvāna, anantarā tampi deva ghāteyya.
“Do not believe him. Let not Khaṇḍahāla slay me. For having slain me, he would immediately thereafter slay you too, O lord.
Xin ngài đừng tin ông ta. Ông ta sẽ không chỉ giết tôi đâu. Vì sau khi giết tôi, tâu Thiên tử, ông ta cũng sẽ giết ngài ngay sau đó.
1022.
1022.
1022.
‘‘Gāmavaraṃ nigamavaraṃ dadanti, bhogampissa mahārāja;
Athaggapiṇḍikāpi, kule kule hete bhuñjanti.
“They give the best villages and towns, and wealth to him, O great king. And these brahmins also enjoy the first portion of food in every family.
Họ được ban cho làng tốt nhất, thị trấn tốt nhất, và tài sản, tâu Đại vương. Và cả những vật thực cúng dường hàng đầu, những người này hưởng dụng từ gia đình này đến gia đình khác.
1023.
1023.
1023.
‘‘Tesampi tādisānaṃ, icchanti dubbhituṃ mahārāja;
Yebhuyyena ete, akataññuno brāhmaṇā deva.
“Even to such benefactors they wish to do harm, O great king. For the most part, these brahmins are ungrateful, O lord.
Ngay cả với những người như vậy, họ vẫn muốn làm hại, tâu Đại vương. Tâu Thiên tử, phần lớn những Bà-la-môn này là những kẻ vô ơn.
1024.
1024.
1024.
‘‘Mā no deva avadhi, dāse no dehi khaṇḍahālassa;
Api nigaḷabandhakāpi, hatthī asse ca pālema.
“O lord, do not slay us. Give us as slaves to Khaṇḍahāla. Even bound in fetters, we will tend the elephants and horses.
Tâu Thiên tử, xin đừng giết chúng con, xin hãy trao chúng con làm nô lệ cho Khaṇḍahāla. Dù cho bị xiềng xích trói buộc, chúng con sẽ chăm sóc voi và ngựa.
1025.
1025.
1025.
‘‘Mā no deva avadhi, dāse no dehi khaṇḍahālassa;
Api nigaḷabandhakāpi, hatthichakaṇāni ujjhema.
“O lord, do not slay us. Give us as slaves to Khaṇḍahāla. Even bound in fetters, we will clear away elephant dung.
Tâu Thiên tử, xin đừng giết chúng con, xin hãy trao chúng con làm nô lệ cho Khaṇḍahāla. Dù cho bị xiềng xích trói buộc, chúng con sẽ dọn phân voi.
1026.
1026.
1026.
‘‘Mā no deva avadhi, dāse no dehi khaṇḍahālassa;
Api nigaḷabandhakāpi, assachakaṇāni ujjhema.
“O lord, do not slay us. Give us as slaves to Khaṇḍahāla. Even bound in fetters, we will clear away horse dung.
Tâu Thiên tử, xin đừng giết chúng con, xin hãy trao chúng con làm nô lệ cho Khaṇḍahāla. Dù cho bị xiềng xích trói buộc, chúng con sẽ dọn phân ngựa.
1027.
1027.
1027.
‘‘Mā no deva avadhi, dāse no dehi khaṇḍahālassa;
Yassa honti tava kāmā, api raṭṭhā pabbājitā;
Bhikkhācariyaṃ carissāma’’.
“O lord, do not slay us. Give us as slaves to Khaṇḍahāla. If it is your wish, we will even go forth from the kingdom and live the life of a mendicant.”
Tâu Thiên tử, xin đừng giết chúng con, xin hãy trao chúng con làm nô lệ cho Khaṇḍahāla. Nếu đó là điều ngài mong muốn, dù bị trục xuất khỏi vương quốc, chúng con sẽ sống đời khất thực.
1028.
1028.
1028.
‘‘Dukkhaṃ kho me janayatha, vilapantā jīvitassa kāmā hi;
Muñcetha dāni kumāre, alampi me hotu puttayaññena’’.
“Indeed, you cause me suffering, lamenting, for you are desirous of life. Release the princes now! I have had enough of this sacrifice of my sons.”
Các con thật sự đang làm ta đau khổ, khi than khóc vì ham sống. Bây giờ hãy thả các hoàng tử ra. Đối với ta, tế lễ bằng con trai đã đủ rồi.
1029.
1029.
1029.
‘‘Pubbeva khosi me vutto, dukkaraṃ durabhisambhavañcetaṃ;
Atha no upakkhaṭassa yaññassa, kasmā karosi vikkhepaṃ.
“Indeed, you were told by me before that this is difficult to do and hard to accomplish. Now, for the prepared sacrifice, why do you create an obstacle?
Trước đây, ngài đã được tôi nói rằng, việc này khó làm và khó thực hiện. Vậy thì, đối với cuộc tế lễ đã được chuẩn bị của chúng ta, tại sao ngài lại gây trở ngại?
1030.
1030.
1030.
‘‘Sabbe vajanti sugatiṃ, ye yajanti yepi yājenti;
Ye cāpi anumodanti, yajantānaṃ edisaṃ mahāyaññaṃ’’.
“All go to a good destination: those who sacrifice, those who have the sacrifice performed, and also those who rejoice in such a great sacrifice being performed.”
Tất cả đều đi đến cõi lành, những ai tế lễ và những ai cho người khác tế lễ. Và cả những ai tùy hỷ, với những người thực hiện cuộc đại tế lễ như vậy.
1031.
1031.
1031.
‘‘Yadi kira yajitvā puttehi, devalokaṃ ito cutā yanti;
Brāhmaṇo tāva yajatu, pacchāpi yajasi tuvaṃ rājā.
“If, it seems, by sacrificing one's sons one goes to the world of the devas after passing from here, then let the brahmin sacrifice first. Afterwards, you may sacrifice, O king.
Nếu quả thật sau khi tế lễ bằng các con trai, người ta từ đây mệnh chung sẽ đi đến cõi trời, thì trước hết hãy để vị Bà-la-môn tế lễ. Sau đó, tâu đức vua, ngài hãy tế lễ.
1032.
1032.
1032.
‘‘Yadi kira yajitvā puttehi, devalokaṃ ito cutā yanti;
Esveva khaṇḍahālo, yajataṃ sakehi puttehi.
“If, it seems, by sacrificing one's sons one goes to the world of the devas after passing from here, then let this very Khaṇḍahāla sacrifice with his own sons.
Nếu quả thật sau khi tế lễ bằng các con trai, người ta từ đây mệnh chung sẽ đi đến cõi trời, thì chính Khaṇḍahāla này, hãy để ông ta tế lễ bằng chính các con trai của mình.
1033.
1033.
1033.
‘‘Evaṃ jānanto khaṇḍahālo, kiṃ puttake na ghātesi;
Sabbañca ñātijanaṃ, attānañca na ghātesi.
“Khaṇḍahāla, knowing this, why does he not have his own sons slain? And all his relatives, and why does he not have himself slain?
Biết như vậy, tại sao Khaṇḍahāla lại không giết các con trai của mình? Và tất cả bà con quyến thuộc, và tại sao không giết chính bản thân mình?
1034.
1034.
1034.
‘‘Sabbe vajanti nirayaṃ, ye yajanti yepi yājenti;
Ye cāpi anumodanti, yajantānaṃ edisaṃ mahāyaññaṃ.
“All go to hell: those who sacrifice, those who have the sacrifice performed, and also those who rejoice in such a great sacrifice being performed.
Tất cả đều đi đến địa ngục, những ai tế lễ và những ai cho người khác tế lễ. Và cả những ai tùy hỷ, với những người thực hiện cuộc đại tế lễ như vậy.
1035.
1035.
1035.
† ‘‘Sace hi so sujjhati yo hanāti, hatopi so saggamupeti ṭhānaṃ;
Bhovādi bhovādina mārayeyyuṃ, ye cāpi tesaṃ abhisaddaheyyuṃ’’ †.
“If indeed he who slays is purified, and he who is slain goes to a heavenly state, then brahmins should slay other brahmins, and also those who have faith in them.”
Nếu quả thật người giết được thanh tịnh, và người bị giết cũng đến được cảnh giới trên trời, thì các Bà-la-môn nên giết các Bà-la-môn khác, và cả những ai tin theo họ.
1036.
1036.
1036.
‘‘Kathañca kira puttakāmāyo, gahapatayo gharaṇiyo ca;
Nagaramhi na uparavanti rājānaṃ, mā ghātayi orasaṃ puttaṃ.
“And how is it that the householders and housewives who desire sons do not cry out to the king in the city: ‘Do not slay your own legitimate son!’?
Và tại sao những người mong có con, các gia chủ và các bà nội trợ, lại không la ó trong thành phố với đức vua rằng: 'Xin đừng giết người con trai ruột của ngài'?
1037.
1037.
1037.
‘‘Kathañca kira puttakāmāyo, gahapatayo gharaṇiyo ca;
Nagaramhi na uparavanti rājānaṃ, mā ghātayi atrajaṃ puttaṃ.
“And how is it that the householders and housewives who desire sons do not cry out to the king in the city: ‘Do not slay the son born of your own body!’?
Và tại sao những người mong có con, các gia chủ và các bà nội trợ, lại không la ó trong thành phố với đức vua rằng: 'Xin đừng giết người con trai do chính mình sanh ra'?
1038.
1038.
1038.
‘‘Rañño camhi atthakāmo, hito ca sabbajanapadassa †;
Na koci assa paṭighaṃ, mayā jānapado na pavedeti’’.
“I desire the welfare of the king and am a benefactor to the whole country. Let no one be resentful. The country-folk do not inform against me.”
Tôi là người mong muốn lợi ích cho đức vua, và là người mưu cầu hạnh phúc cho toàn thể quốc độ. Không có ai có ác ý, mà người dân trong nước không cho tôi biết.
1039.
1039.
1039.
‘‘Gacchatha vo gharaṇiyo, tātañca vadetha khaṇḍahālañca;
Mā ghātetha kumāre, adūsake sīhasaṅkāse.
“Go, you housewives, and speak to the father and to Khaṇḍahāla: ‘Do not slay the princes, who are innocent and like lions.’
Hỡi các bà nội trợ, các bà hãy đi, và hãy nói với đức vua và Khaṇḍahāla: 'Xin đừng giết các hoàng tử, những người vô tội, oai dũng như sư tử.'
1040.
1040.
1040.
‘‘Gacchatha vo gharaṇiyo, tātañca vadetha khaṇḍahālañca;
Mā ghātetha kumāre, apekkhite sabbalokassa’’.
“Go, you housewives, and speak to the father and to Khaṇḍahāla: ‘Do not slay the princes, who are cherished by the whole world.’”
Hỡi các bà nội trợ, các bà hãy đi, và hãy nói với đức vua và Khaṇḍahāla: 'Xin đừng giết các hoàng tử, những người được toàn thể thế gian trông đợi.'
1041.
1041.
1041.
‘‘Yaṃ nūnāhaṃ jāyeyyaṃ, rathakārakulesu vā;
Pukkusakulesu vā vessesu vā jāyeyyaṃ;
Na hajja maṃ rāja yaññe † ghāteyya’’.
“If only I had been born in the families of chariot-makers, or in Pukkusa families, or among the Vessas; then the king would not slay me today in the sacrifice.”
‘Giá như ta được sanh ra, hoặc trong gia tộc của người làm xe; hoặc trong gia tộc Pukkusa, hoặc được sanh trong giai cấp Vessa; thì hôm nay đức vua đã không giết ta trong lễ tế đàn’.
1042.
1042.
1042.
‘‘Sabbā sīmantiniyo gacchatha, ayyassa khaṇḍahālassa;
Pādesu nipatatha, aparādhāhaṃ na passāmi.
“All you ladies, go to the noble Khaṇḍahāla and fall at his feet. I do not see any offense on my part.
‘Tất cả các mệnh phụ phu nhân, hãy đi đến chỗ của tôn giả Khaṇḍahāla; hãy phủ phục dưới chân ngài, ta không thấy mình có lỗi lầm gì.’
1043.
1043.
1043.
‘‘Sabbā sīmantiniyo gacchatha, ayyassa khaṇḍahālassa;
Pādesu nipatatha, kinte bhante mayaṃ adūsema’’.
“All you ladies, go to the noble Khaṇḍahāla and fall at his feet, asking: ‘Venerable sir, what offense have we committed against you?’”
‘Tất cả các mệnh phụ phu nhân, hãy đi đến chỗ của tôn giả Khaṇḍahāla; hãy phủ phục dưới chân ngài, và hỏi rằng: ‘Thưa tôn giả, chúng con đã làm điều gì sai trái với ngài?’’
1044.
1044.
1044.
‘‘Kapaṇā † vilapati selā, disvāna bhātare † upanītatte;
Yañño kira me ukkhipito, tātena saggakāmena’’.
Pitifully wails Selā, seeing her brothers brought near: “It seems a sacrifice has been prepared by my father, who desires heaven.”
‘Nàng Selā khốn khổ than khóc, khi thấy các anh em được dẫn đến gần: ‘Lễ tế đàn của ta dường như đã được sắp đặt, bởi người cha đang mong cầu cõi trời’.’
1045.
1045.
1045.
‘‘Āvatti parivatti ca, vasulo sammukhā rañño;
Mā no pitaraṃ avadhi, daharamhā yobbanaṃ pattā’’.
Rolling back and forth, Vasula pleaded in the king’s presence: “O father, do not slay us, who have grown from boyhood to youth.”
‘Chàng Vasula lăn qua lộn lại, ở trước mặt đức vua, và nói: ‘Thưa cha, xin đừng giết chúng con! Chúng con còn nhỏ, vừa đến tuổi thanh xuân’.’
1046.
1046.
1046.
‘‘Eso te vasula pitā, samehi pitarā saha;
Dukkhaṃ kho me janayasi, vilapanto antepurasmiṃ;
Muñcetha dāni kumāre, alampi me hotu puttayaññena’’.
“Vasula, here is your father; be reconciled with your father. You cause me suffering by lamenting in the inner palace. Now release the princes! I have had enough of this sacrifice of my sons.”
‘Này Vasula, đây là cha của con, hãy hòa giải cùng với cha. Con đang làm cho ta đau khổ, khi than khóc ở trong nội cung. Bây giờ hãy thả các hoàng tử ra! Đối với ta, lễ tế con đã là quá đủ rồi!’
1047.
1047.
1047.
‘‘Pubbeva khosi me vutto, dukkaraṃ durabhisambhavañcetaṃ;
Atha no upakkhaṭassa yaññassa, kasmā karosi vikkhepaṃ.
“I told you before that this is difficult to do and hard to accomplish. Now that the sacrifice has been prepared, why do you create an obstacle?”
‘Trước đây, ngài đã được tôi nói rằng: ‘Việc này là khó làm và khó thực hiện.’ Vậy tại sao ngài lại gây ra sự xáo trộn, đối với lễ tế đàn đã được chuẩn bị cho chúng ta?’
1048.
1048.
1048.
‘‘Sabbe vajanti sugatiṃ, ye yajanti yepi yājenti;
Ye cāpi anumodanti, yajantānaṃ edisaṃ mahāyaññaṃ’’.
“All go to a good destination: those who sacrifice, those who have the sacrifice performed, and also those who rejoice in such a great sacrifice being performed.”
‘Tất cả đều đi đến cõi lành: những người thực hiện tế lễ, những người cho thực hiện tế lễ, và cả những người tùy hỷ với đại lễ tế đàn như vậy của những người tế lễ’.
1049.
1049.
1049.
‘‘Sabbaratanassa yañño upakkhaṭo, ekarāja tava paṭiyatto;
Abhinikkhamassu deva, saggaṃ gato tvaṃ pamodissasi’’.
“A sacrifice of all treasures has been prepared, O sole king, it is ready for you. Go forth, Your Majesty! Having gone to heaven, you will rejoice.”
‘Lễ tế đàn với tất cả vật báu đã được chuẩn bị, thưa Đại vương Ekarāja, đã sẵn sàng cho ngài. Xin thiên tử hãy đi ra, sau khi đã đến cõi trời, ngài sẽ hoan hỷ’.
1050.
1050.
1050.
‘‘Daharā sattasatā etā, candakumārassa bhariyāyo;
Kese pakiritvāna †, rodantiyo maggamanuyāyiṃsu †.
These seven hundred young women, the wives of Prince Canda, with their hair disheveled, followed along the path, weeping.
‘Bảy trăm người vợ trẻ này, là các phu nhân của hoàng tử Canda, với mái tóc buông xõa, vừa đi vừa khóc, họ đã đi theo dọc con đường.’
1051.
1051.
1051.
‘‘Aparā pana sokena, nikkhantā nandane viya devā;
Kese pakiritvāna †, rodantiyo maggamanuyāyiṃsu’’ †.
But others, overcome with sorrow, went forth like devas from the Nandana grove; with their hair disheveled, they followed along the path, weeping.
‘Lại nữa, những người khác vì sầu muộn, đã đi ra giống như chư thiên từ vườn Nandana; với mái tóc buông xõa, vừa đi vừa khóc, họ đã đi theo dọc con đường’.
1052.
1052.
1052.
‘‘Kāsikasucivatthadharā, kuṇḍalino agalucandanavilittā;
Niyyanti candasūriyā, yaññatthāya ekarājassa.
Wearing fine Kāsi cloth, adorned with earrings, smeared with aloe-wood and sandalwood, Canda and Sūriya are led forth for the sacrifice of the sole king.
‘Mặc y phục tinh sạch xứ Kāsī, đeo bông tai, thoa dầu trầm và chiên-đàn, hai hoàng tử Canda và Sūriya được dẫn đi vì lễ tế đàn của vua Ekarāja.’
1053.
1053.
1053.
‘‘Kāsikasucivatthadharā, kuṇḍalino agalucandanavilittā;
Niyyanti candasūriyā, mātu katvā hadayasokaṃ.
Wearing fine Kāsi cloth, adorned with earrings, smeared with aloe-wood and sandalwood, Canda and Sūriya are led forth, causing sorrow in their mother’s heart.
‘Mặc y phục tinh sạch xứ Kāsī, đeo bông tai, thoa dầu trầm và chiên-đàn, hai hoàng tử Canda và Sūriya được dẫn đi, gây ra nỗi sầu muộn trong tim cho người mẹ.’
1054.
1054.
1054.
‘‘Kāsikasucivatthadharā, kuṇḍalino agalucandanavilittā;
Niyyanti candasūriyā, janassa katvā hadayasokaṃ.
Wearing fine Kāsi cloth, adorned with earrings, smeared with aloe-wood and sandalwood, Canda and Sūriya are led forth, causing sorrow in the people’s hearts.
‘Mặc y phục tinh sạch xứ Kāsī, đeo bông tai, thoa dầu trầm và chiên-đàn, hai hoàng tử Canda và Sūriya được dẫn đi, gây ra nỗi sầu muộn trong tim cho dân chúng.’
1055.
1055.
1055.
‘‘Maṃsarasabhojanā nhāpakasunhāpitā †, kuṇḍalino agalucandanavilittā;
Niyyanti candasūriyā, yaññatthāya ekarājassa.
Fed on meat-broth, well-bathed by attendants, wearing earrings, smeared with aloe-wood and sandalwood, Canda and Sūriya are led forth for the sacrifice of the sole king.
‘Đã dùng bữa ăn có vị thịt, được người hầu tắm gội sạch sẽ, đeo bông tai, thoa dầu trầm và chiên-đàn, hai hoàng tử Canda và Sūriya được dẫn đi vì lễ tế đàn của vua Ekarāja.’
1056.
1056.
1056.
† ‘‘Maṃsarasabhojanā nhāpakasunhāpitā, kuṇḍalino agalucandanavilittā;
Niyyanti candasūriyā, mātu katvā hadayasokaṃ.
Fed on meat-broth, well-bathed by attendants, wearing earrings, smeared with aloe-wood and sandalwood, Canda and Sūriya are led forth, causing sorrow in their mother’s heart.
‘Đã dùng bữa ăn có vị thịt, được người hầu tắm gội sạch sẽ, đeo bông tai, thoa dầu trầm và chiên-đàn, hai hoàng tử Canda và Sūriya được dẫn đi, gây ra nỗi sầu muộn trong tim cho người mẹ.’
1057.
1057.
1057.
‘‘Maṃsarasabhojanā nhāpakasunhāpitā, kuṇḍalino agalucandanavilittā;
Niyyanti candasūriyā, janassa katvā hadayasokaṃ †.
Fed on meat-broth, well-bathed by attendants, wearing earrings, smeared with aloe-wood and sandalwood, Canda and Sūriya are led forth, causing sorrow in the people’s hearts.
‘Đã dùng bữa ăn có vị thịt, được người hầu tắm gội sạch sẽ, đeo bông tai, thoa dầu trầm và chiên-đàn, hai hoàng tử Canda và Sūriya được dẫn đi, gây ra nỗi sầu muộn trong tim cho dân chúng.’
1058.
1058.
1058.
‘‘Yassu pubbe hatthivaradhuragate, hatthīhi † anuvajanti;
Tyajja candasūriyā, ubhova pattikā yanti.
Those who formerly went at the head of excellent elephants, followed by elephants—today those two, Canda and Sūriya, both go on foot.
‘Những vị mà trước đây, khi voi báu được thắng vào phía trước, đã được các voi khác theo sau; hôm nay, hai vị Canda và Sūriya ấy, cả hai đều phải đi bộ.’
1059.
1059.
1059.
‘‘Yassu pubbe assavaradhuragate, assehi † anuvajanti;
Tyajja candasūriyā, ubhova pattikā yanti.
Those who formerly went at the head of excellent horses, followed by horses—today those two, Canda and Sūriya, both go on foot.
‘Những vị mà trước đây, khi ngựa báu được thắng vào phía trước, đã được các ngựa khác theo sau; hôm nay, hai vị Canda và Sūriya ấy, cả hai đều phải đi bộ.’
1060.
1060.
1060.
‘‘Yassu pubbe rathavaradhuragate, rathehi † anuvajanti;
Tyajja candasūriyā, ubhova pattikā yanti.
Those who formerly went in excellent chariots, followed by chariots—today those two, Canda and Sūriya, both go on foot.
‘Những vị mà trước đây, khi xe báu được thắng vào phía trước, đã được các xe khác theo sau; hôm nay, hai vị Canda và Sūriya ấy, cả hai đều phải đi bộ.’
1061.
1061.
1061.
‘‘Yehissu pubbe nīyiṃsu †, tapanīyakappanehi turaṅgehi;
Tyajja candasūriyā, ubhova pattikā yanti’’.
Those who formerly were conveyed by steeds with golden trappings—today those two, Canda and Sūriya, both go on foot.
‘Những vị mà trước đây đã được đưa đi bởi những con tuấn mã với bộ yên cương bằng vàng; hôm nay, hai vị Canda và Sūriya ấy, cả hai đều phải đi bộ.’
1062.
1062.
1062.
‘‘Yadi sakuṇi maṃsamicchasi, ḍayassu † pubbena pupphavatiyā;
Yajatettha ekarājā, sammūḷho catūhi puttehi.
“If you desire flesh, O bird, fly to the east of Pupphavatī. There a deluded sole king is sacrificing his four sons.”
‘Này chim, nếu ngươi muốn ăn thịt, hãy bay về phía đông của thành Pupphavatī. Ở đó, vua Ekarāja, hoàn toàn mê muội, đang tế lễ với bốn người con trai.’
1063.
1063.
1063.
‘‘Yadi sakuṇi maṃsamicchasi, ḍayassu pubbena pupphavatiyā;
Yajatettha ekarājā, sammūḷho catūhi kaññāhi.
“If you desire flesh, O bird, fly to the east of Pupphavatī. There a deluded sole king is sacrificing his four daughters.”
‘Này chim, nếu ngươi muốn ăn thịt, hãy bay về phía đông của thành Pupphavatī. Ở đó, vua Ekarāja, hoàn toàn mê muội, đang tế lễ với bốn người con gái.’
1064.
1064.
1064.
‘‘Yadi sakuṇi maṃsamicchasi, ḍayassu pubbena pupphavatiyā;
Yajatettha ekarājā, sammūḷho catūhi mahesīhi.
“If you desire flesh, O bird, fly to the east of Pupphavatī. There a deluded sole king is sacrificing his four chief queens.”
‘Này chim, nếu ngươi muốn ăn thịt, hãy bay về phía đông của thành Pupphavatī. Ở đó, vua Ekarāja, hoàn toàn mê muội, đang tế lễ với bốn vị hoàng hậu.’
1065.
1065.
1065.
‘‘Yadi sakuṇi maṃsamicchasi, ḍayassu pubbena pupphavatiyā;
Yajatettha ekarājā, sammūḷho catūhi gahapatīhi.
“If you desire flesh, O bird, fly to the east of Pupphavatī. There a deluded sole king is sacrificing four householders.”
‘Này chim, nếu ngươi muốn ăn thịt, hãy bay về phía đông của thành Pupphavatī. Ở đó, vua Ekarāja, hoàn toàn mê muội, đang tế lễ với bốn vị gia chủ.’
1066.
1066.
1066.
‘‘Yadi sakuṇi maṃsamicchasi, ḍayassu pubbe pupphavatiyā;
Yajatettha ekarājā, sammūḷho catūhi hatthīhi.
“If you desire flesh, O bird, fly to the east of Pupphavatī. There a deluded sole king is sacrificing four elephants.”
‘Này chim, nếu ngươi muốn ăn thịt, hãy bay về phía đông của thành Pupphavatī. Ở đó, vua Ekarāja, hoàn toàn mê muội, đang tế lễ với bốn con voi.’
1067.
1067.
1067.
‘‘Yadi sakuṇi maṃsamicchasi, ḍayassu pubbena pupphavatiyā;
Yajatettha ekarājā, sammūḷho catūhi assehi.
“If you desire flesh, O bird, fly to the east of Pupphavatī. There a deluded sole king is sacrificing four horses.”
‘Này chim, nếu ngươi muốn ăn thịt, hãy bay về phía đông của thành Pupphavatī. Ở đó, vua Ekarāja, hoàn toàn mê muội, đang tế lễ với bốn con ngựa.’
1068.
1068.
1068.
‘‘Yadi sakuṇi maṃsamicchasi, ḍayassu pubbena pupphavatiyā;
Yajatettha ekarājā, sammūḷho catūhi usabhehi.
“If you desire flesh, O bird, fly to the east of Pupphavatī. There a deluded sole king is sacrificing four bulls.”
‘Này chim, nếu ngươi muốn ăn thịt, hãy bay về phía đông của thành Pupphavatī. Ở đó, vua Ekarāja, hoàn toàn mê muội, đang tế lễ với bốn con bò đực.’
1069.
1069.
1069.
‘‘Yadi sakuṇi maṃsamicchasi, ḍayassu pubbena pupphavatiyā;
Yajatettha ekarājā, sammūḷho sabbacatukkena’’.
“If you desire flesh, O bird, fly to the east of Pupphavatī. There a deluded sole king is sacrificing with every set of four.”
‘Này chim, nếu ngươi muốn ăn thịt, hãy bay về phía đông của thành Pupphavatī. Ở đó, vua Ekarāja, hoàn toàn mê muội, đang tế lễ với tất cả các bộ bốn.’
1070.
1070.
1070.
‘‘Ayamassa pāsādo, idaṃ antepuraṃ suramaṇīyaṃ †;
Tedāni ayyaputtā, cattāro vadhāya ninnītā.
“This is his palace, this his very delightful inner palace; and now those four noble sons are led away to be slain.”
‘Đây là cung điện của vị ấy, đây là nội cung rất đáng vui thích. Bây giờ, bốn vị công tử ấy, đã bị dẫn đi để giết.’
1071.
1071.
1071.
‘‘Idamassa kūṭāgāraṃ, sovaṇṇaṃ pupphamalyavikiṇṇaṃ;
Tedāni ayyaputtā, cattāro vadhāya ninnītā.
“This is his gabled mansion, golden and strewn with flower garlands; and now those four noble sons are led away to be slain.”
“Đây là lầu các của ngài, bằng vàng, rải rác hoa và vòng hoa; Bây giờ bốn vị công tử ấy, đã bị dẫn đi để hành quyết.”
1072.
1072.
1072.
‘‘Idamassa uyyānaṃ, supupphitaṃ sabbakālikaṃ rammaṃ;
Tedāni ayyaputtā, cattāro vadhāya ninnītā.
“This is his park, delightful and always in full bloom; and now those four noble sons are led away to be slain.”
Đây là ngự uyển của chàng, hoa nở rộ, tươi đẹp quanh năm, thật khả ái; Giờ đây bốn vị công tử, con của ta, bị dẫn đi để hành quyết.
1073.
1073.
1073.
‘‘Idamassa asokavanaṃ, supupphitaṃ sabbakālikaṃ rammaṃ;
Tedāni ayyaputtā, cattāro vadhāya ninnītā.
“This is his Asoka grove, delightful and always in full bloom; and now those four noble sons are led away to be slain.”
Đây là rừng cây a-soka của chàng, hoa nở rộ, tươi đẹp quanh năm, thật khả ái; Giờ đây bốn vị công tử, con của ta, bị dẫn đi để hành quyết.
1074.
1074.
1074.
‘‘Idamassa kaṇikāravanaṃ, supupphitaṃ sabbakālikaṃ rammaṃ;
Tedāni ayyaputtā, cattāro vadhāya ninnītā.
“This is his Kaṇikāra grove, delightful and always in full bloom; and now those four noble sons are led away to be slain.”
Đây là rừng cây kaṇikāra của chàng, hoa nở rộ, tươi đẹp quanh năm, thật khả ái; Giờ đây bốn vị công tử, con của ta, bị dẫn đi để hành quyết.
1075.
1075.
1075.
‘‘Idamassa pāṭalivanaṃ, supupphitaṃ sabbakālikaṃ rammaṃ;
Tedāni ayyaputtā, cattāro vadhāya ninnītā.
“This is his Pāṭali grove, delightful and always in full bloom; and now those four noble sons are led away to be slain.”
Đây là rừng cây pāṭali của chàng, hoa nở rộ, tươi đẹp quanh năm, thật khả ái; Giờ đây bốn vị công tử, con của ta, bị dẫn đi để hành quyết.
1076.
1076.
1076.
‘‘Idamassa ambavanaṃ, supupphitaṃ sabbakālikaṃ rammaṃ;
Tedāni ayyaputtā, cattāro vadhāya ninnītā.
“This is his mango grove, delightful and always in full bloom; and now those four noble sons are led away to be slain.”
Đây là vườn xoài của chàng, hoa nở rộ, tươi đẹp quanh năm, thật khả ái; Giờ đây bốn vị công tử, con của ta, bị dẫn đi để hành quyết.
1077.
1077.
1077.
‘‘Ayamassa pokkharaṇī, sañchannā padumapuṇḍarīkehi;
Nāvā ca sovaṇṇavikatā, pupphavalliyā † cittā suramaṇīyā;
Tedāni ayyaputtā, cattāro vadhāya ninnītā’’.
“This is his lotus pond, covered with red and white lotuses, and a very delightful boat fashioned from gold, adorned with flowering creepers; and now those four noble sons are led away to be slain.”
Đây là hồ sen của chàng, được bao phủ bởi sen hồng và sen trắng; Và chiếc thuyền bằng vàng, được trang trí với dây hoa, thật vô cùng khả ái; Giờ đây bốn vị công tử, con của ta, bị dẫn đi để hành quyết.
1078.
1078.
1078.
‘‘Idamassa hatthiratanaṃ, erāvaṇo gajo balī dantī;
Tedāni ayyaputtā, cattāro vadhāya ninnītā.
“This is his elephant-treasure, the elephant Erāvaṇa, strong and tusked; and now those four noble sons are led away to be slain.”
Đây là voi báu của chàng, voi Erāvaṇa, mạnh mẽ, có ngà; Giờ đây bốn vị công tử, con của ta, bị dẫn đi để hành quyết.
1079.
1079.
1079.
‘‘Idamassa assaratanaṃ, ekakhūro † asso;
Tedāni ayyaputtā, cattāro vadhāya ninnītā.
“This is his horse-treasure, a horse with a single hoof; and now those four noble sons are led away to be slain.”
Đây là ngựa báu của chàng, con ngựa quý một móng; Giờ đây bốn vị công tử, con của ta, bị dẫn đi để hành quyết.
1080.
1080.
1080.
‘‘Ayamassa assaratho, sāḷiya † nigghoso subho ratanavicitto;
Yatthassu ayyaputtā, sobhiṃsu nandane viya devā;
Tedāni ayyaputtā, cattāro vadhāya ninnītā.
“This is his horse-chariot, beautiful and adorned with gems, with a sweet sound, wherein the noble sons once shone like devas in the Nandana grove; and now those four noble sons are led away to be slain.”
Đây là xe ngựa của chàng, làm bằng gỗ sāḷiya, tiếng vang rền, lộng lẫy, trang hoàng bảo vật; Nơi ấy các công tử, con của ta, đã tỏa sáng như chư Thiên ở vườn Nandana; Giờ đây bốn vị công tử, con của ta, bị dẫn đi để hành quyết.
1081.
1081.
1081.
‘‘Kathaṃ nāma sāmasamasundarehi, candanamudukagattehi †;
Rājā yajissate yaññaṃ, sammūḷho catūhi puttehi.
“How indeed can the deluded king perform the sacrifice with his four sons, who are dark, equally handsome, with limbs soft from sandalwood?”
Làm sao đức vua, kẻ mê muội, lại có thể thực hiện lễ tế tự với bốn người con trai, những người có làn da sẫm màu xinh đẹp, thân thể mềm mại như gỗ chiên-đàn?
1082.
1082.
1082.
‘‘Kathaṃ nāma sāmasamasundarāhi, candanamudukagattāhi;
Rājā yajissate yaññaṃ, sammūḷho catūhi kaññāhi.
“How indeed can the deluded king perform the sacrifice with his four daughters, who are dark, equally beautiful, with limbs soft from sandalwood?”
Làm sao đức vua, kẻ mê muội, lại có thể thực hiện lễ tế tự với bốn người con gái, những người có làn da sẫm màu xinh đẹp, thân thể mềm mại như gỗ chiên-đàn?
1083.
1083.
1083.
‘‘Kathaṃ nāma sāmasamasundarāhi, candanamudukagattāhi;
Rājā yajissate yaññaṃ, sammūḷho catūhi mahesīhi.
“How indeed can the deluded king perform the sacrifice with his four chief queens, who are dark, equally beautiful, with limbs soft from sandalwood?”
Làm sao đức vua, kẻ mê muội, lại có thể thực hiện lễ tế tự với bốn vị hoàng hậu, những người có làn da sẫm màu xinh đẹp, thân thể mềm mại như gỗ chiên-đàn?
1084.
1084.
1084.
‘‘Kathaṃ nāma sāmasamasundarehi, candanamudukagattehi;
Rājā yajissate yaññaṃ, sammūḷho catūhi gahapatīhi.
“How indeed can the deluded king perform the sacrifice with four householders, who are dark, equally handsome, with limbs soft from sandalwood?”
Làm sao đức vua, kẻ mê muội, lại có thể thực hiện lễ tế tự với bốn vị gia chủ, những người có làn da sẫm màu xinh đẹp, thân thể mềm mại như gỗ chiên-đàn?
1085.
1085.
1085.
‘‘Yathā honti gāmanigamā, suññā amanussakā brahāraññā;
Tathā hessati pupphavatiyā, yiṭṭhesu candasūriyesu’’.
“Just as villages and towns become empty, devoid of humans, a vast wilderness, so too will Pupphavatī become when Canda and Sūriya have been sacrificed.”
Giống như các làng mạc và thị trấn trở nên trống rỗng, không một bóng người, như những khu rừng lớn; Cũng vậy, thành Pupphavatī sẽ trở nên như thế, khi Canda và Sūriya bị tế lễ.
1086.
1086.
1086.
‘‘Ummattikā bhavissāmi, bhūnahatā paṃsunā ca † parikiṇṇā;
Sace candavaraṃ † hanti, pāṇā me deva rujjhanti †.
“I will become a madwoman, slain by a demon and strewn with dust. If he slays the excellent Canda, O Your Majesty, my life will cease.”
Thiếp sẽ trở nên điên loạn, đau đớn vì mất con, và mình mẩy lấm lem bụi đất; Tâu Thiên tử, nếu ngài giết Canda ưu tú, mạng sống của thiếp sẽ bị hủy diệt.
1087.
1087.
1087.
‘‘Ummattikā bhavissāmi, bhūnahatā paṃsunā ca parikiṇṇā;
Sace sūriyavaraṃ hanti, pāṇā me deva rujjhanti’’.
“I will become a madwoman, slain by a demon and strewn with dust. If he slays the excellent Sūriya, O Your Majesty, my life will cease.”
Thiếp sẽ trở nên điên loạn, đau đớn vì mất con, và mình mẩy lấm lem bụi đất; Tâu Thiên tử, nếu ngài giết Sūriya ưu tú, mạng sống của thiếp sẽ bị hủy diệt.
1088.
1088.
1088.
‘‘Kiṃ nu mā na ramāpeyyuṃ, aññamaññaṃ piyaṃvadā;
Ghaṭṭikā uparikkhī ca, pokkharaṇī ca bhārikā †;
Candasūriyesu naccantiyo, samā tāsaṃ na vijjati’’.
“Why indeed would they not delight me, speaking sweetly to one another? Ghaṭṭikā, Uparikkhī, Pokkharaṇī, and Bhārikā, dancing before Canda and Sūriya—there is no one equal to them.”
Tại sao các nàng, những người nói lời ái ngữ với nhau, lại không làm cho ta vui thích? Các nàng Ghaṭṭikā, Uparikkhī, Pokkharaṇī, và Bhārikā, đang múa cho Canda và Sūriya, không ai có thể sánh bằng các nàng.
1089.
1089.
1089.
‘‘Imaṃ mayhaṃ hadayasokaṃ, paṭimuñcatu † khaṇḍahāla tava mātā;
Yo mayhaṃ hadayasoko, candamhi vadhāya ninnīte.
“Khaṇḍahāla, may your mother release this heart-sorrow of mine, this sorrow I feel as Canda is led away to be slain.”
Này Khaṇḍahāla, mong rằng mẹ của ngươi hãy nhận lấy nỗi sầu trong tim của ta, nỗi sầu trong tim của ta khi Canda bị dẫn đi để hành quyết.
1090.
1090.
1090.
‘‘Imaṃ mayhaṃ hadayasokaṃ, paṭimuñcatu khaṇḍahāla tava mātā;
Yo mayhaṃ hadayasoko, sūriyamhi vadhāya ninnīte.
“Khaṇḍahāla, may your mother release this heart-sorrow of mine, this sorrow I feel as Sūriya is led away to be slain.”
Này Khaṇḍahāla, mong rằng mẹ của ngươi hãy nhận lấy nỗi sầu trong tim của ta, nỗi sầu trong tim của ta khi Sūriya bị dẫn đi để hành quyết.
1091.
1091.
1091.
‘‘Imaṃ mayhaṃ hadayasokaṃ, paṭimuñcatu khaṇḍahāla tava jāyā;
Yo mayhaṃ hadayasoko, candamhi vadhāya ninnīte.
“Khaṇḍahāla, may your wife release this heart-sorrow of mine, this sorrow I feel as Canda is led away to be slain.”
Này Khaṇḍahāla, mong rằng vợ của ngươi hãy nhận lấy nỗi sầu trong tim của ta, nỗi sầu trong tim của ta khi Canda bị dẫn đi để hành quyết.
1092.
1092.
1092.
‘‘Imaṃ mayhaṃ hadayasokaṃ, paṭimuñcatu khaṇḍahāla tava jāyā;
Yo mayhaṃ hadayasoko, sūriyamhi vadhāya ninnīte.
“Khaṇḍahāla, may your wife release this heart-sorrow of mine, this sorrow I feel as Sūriya is led away to be slain.”
Này Khaṇḍahāla, mong rằng vợ của ngươi hãy nhận lấy nỗi sầu trong tim của ta, nỗi sầu trong tim của ta khi Sūriya bị dẫn đi để hành quyết.
1093.
1093.
1093.
‘‘Mā ca putte mā ca patiṃ, addakkhi khaṇḍahāla tava mātā;
Yo ghātesi kumāre, adūsake sīhasaṅkāse.
“Khaṇḍahāla, you who slay the innocent, lion-like princes—may your mother never again see her sons or her husband!”
Này Khaṇḍahāla, mong rằng mẹ của ngươi đừng thấy con trai cũng đừng thấy chồng, hỡi kẻ giết các vương tử vô tội, oai dũng như sư tử.
1094.
1094.
1094.
‘‘Mā ca putte mā ca patiṃ, addakkhi khaṇḍahāla tava mātā;
Yo ghātesi kumāre, apekkhite sabbalokassa.
“O Khaṇḍahāla, you who slay the princes cherished by the whole world—may your mother never again see her sons or her husband!”
Này Khaṇḍahāla, mong rằng mẹ của ngươi đừng thấy con trai cũng đừng thấy chồng, hỡi kẻ giết các vương tử được toàn thể thế gian trông đợi.
1095.
1095.
1095.
‘‘Mā ca putte mā ca patiṃ, addakkhi khaṇḍahāla tava jāyā;
Yo ghātesi kumāre, adūsake sīhasaṅkāse.
“O Khaṇḍahāla, you who slay the innocent, lion-like princes—may your wife never again see her sons or her husband!”
Này Khaṇḍahāla, mong rằng vợ của ngươi đừng thấy con trai cũng đừng thấy chồng, hỡi kẻ giết các vương tử vô tội, oai dũng như sư tử.
1096.
1096.
1096.
‘‘Mā ca putte mā ca patiṃ, addakkhi khaṇḍahāla tava jāyā;
Yo ghātesi kumāre, apekkhite sabbalokassa’’.
“O Khaṇḍahāla, you who slay the princes cherished by the whole world—may your wife never again see her sons or her husband!”
Này Khaṇḍahāla, mong rằng vợ của ngươi đừng thấy con trai cũng đừng thấy chồng, hỡi kẻ giết các vương tử được toàn thể thế gian trông đợi.
1097.
1097.
1097.
‘‘Mā no deva avadhi, dāse no dehi khaṇḍahālassa;
Api nigaḷabandhakāpi, hatthī asse ca pālema.
“Do not slay us, O lord; give us as slaves to Khaṇḍahāla. Even bound in fetters, we will tend the elephants and horses.”
Tâu Thiên tử, xin đừng giết chúng con. Xin hãy cho chúng con làm nô lệ cho Khaṇḍahāla; Dù bị xiềng xích, chúng con cũng sẽ chăm sóc voi và ngựa.
1098.
1098.
1098.
‘‘Mā no deva avadhi, dāse no dehi khaṇḍahālassa;
Api nigaḷabandhakāpi, hatthichakaṇāni ujjhema.
“Do not slay us, O lord; give us as slaves to Khaṇḍahāla. Even bound in fetters, we will sweep up elephant dung.”
Tâu Thiên tử, xin đừng giết chúng con. Xin hãy cho chúng con làm nô lệ cho Khaṇḍahāla; Dù bị xiềng xích, chúng con cũng sẽ dọn phân voi.
1099.
1099.
1099.
‘‘Mā no deva avadhi, dāse no dehi khaṇḍahālassa;
Api nigaḷabandhakāpi, assachakaṇāni ujjhema.
“Do not slay us, O lord; give us as slaves to Khaṇḍahāla. Even bound in fetters, we will sweep away horse dung.”
Tâu Thiên tử, xin đừng giết chúng con. Xin hãy cho chúng con làm nô lệ cho Khaṇḍahāla; Dù bị xiềng xích, chúng con cũng sẽ dọn phân ngựa.
1100.
1100.
1100.
‘‘Mā no deva avadhi, dāse no dehi khaṇḍahālassa;
Yassa honti tava kāmā, api raṭṭhā pabbājitā;
Bhikkhācariyaṃ carissāma.
“Do not slay us, O lord; give us as slaves to Khaṇḍahāla. Whatever your wishes may be, even if banished from the kingdom, we will wander for alms.”
Tâu Thiên tử, xin đừng giết chúng con. Xin hãy cho chúng con làm nô lệ cho Khaṇḍahāla; Bất cứ điều gì ngài mong muốn, dù bị trục xuất khỏi vương quốc, chúng con cũng sẽ đi khất thực để sống.
1101.
1101.
1101.
‘‘Dibbaṃ deva upayācanti, puttatthikāpi daliddā;
Paṭibhānānipi hitvā, putte na labhanti ekaccā.
“Even the poor, desiring sons, beseech the gods, O lord; yet some, despite their cleverness, do not obtain sons.”
Thưa Thiên vương, những người nghèo khó mong muốn có con trai, họ cầu khẩn các vị trời. Dù đã từ bỏ cả tài sản, một số người vẫn không có được con.
1102.
1102.
1102.
‘‘Āsīsikāni † karonti, puttā no jāyantu tato paputtā †;
Atha no akāraṇasmā, yaññatthāya deva ghātesi.
“They make aspirations: ‘May sons be born to us, and then grandsons.’ Yet without reason, O lord, you slay us for the sake of a sacrifice.”
Họ thực hiện các lời cầu chúc: ‘Mong sao chúng tôi có được con trai, rồi từ đó có cháu nội.’ Vậy mà, thưa Thiên vương, không vì lý do gì, ngài lại giết chúng con vì mục đích tế lễ.
1103.
1103.
1103.
‘‘Upayācitakena puttaṃ labhanti, mā tāta no aghātesi;
Mā kicchāladdhakehi puttehi, yajittho imaṃ yaññaṃ.
“One obtains a son through supplication; do not, father, slay us. Do not perform this sacrifice with sons so hard-won.”
Họ có được con trai là nhờ lời cầu khẩn. Thưa cha, xin đừng giết chúng con. Xin đừng thực hiện cuộc tế lễ này với những người con đã được sinh ra một cách khó nhọc.
1104.
1104.
1104.
‘‘Upayācitakena puttaṃ labhanti, mā tāta no aghātesi;
Mā kapaṇaladdhakehi puttehi, ammāya no vippavāsesi’’.
“One obtains a son through supplication; do not, father, slay us. Do not, with sons obtained in misery, separate us from our mother.”
Họ có được con trai là nhờ lời cầu khẩn. Thưa cha, xin đừng giết chúng con. Xin đừng vì những người con đã được sinh ra trong cảnh khốn cùng mà khiến chúng con phải xa lìa mẹ.
1105.
1105.
1105.
‘‘Bahudukkhā † posiya candaṃ, amma tuvaṃ jīyase puttaṃ;
Vandāmi kho te pāde, labhataṃ tāto paralokaṃ.
“Having nourished Canda with much suffering, mother, you are now deprived of your son. I venerate your feet. May father obtain the next world!”
Thưa mẹ, mẹ đã nuôi nấng Canda với bao nỗi khổ cực, giờ đây mẹ lại bị tước đoạt đứa con trai. Con xin đảnh lễ dưới chân mẹ. Mong rằng phụ vương sẽ đạt được thế giới bên kia.
1106.
1106.
1106.
‘‘Handa ca maṃ upaguyha, pāde te amma vandituṃ dehi;
Gacchāmi dāni pavāsaṃ †, yaññatthāya ekarājassa.
“Come now, mother, embrace me and allow me to venerate your feet. I go now into exile for the sacrifice of the sole king.”
Thôi nào, thưa mẹ, xin hãy ôm lấy con và cho phép con được đảnh lễ dưới chân mẹ. Giờ đây con phải đi xa, vì mục đích tế lễ của vị độc vương.
1107.
1107.
1107.
‘‘Handa ca maṃ upaguyha †, pāde te amma vandituṃ dehi;
Gacchāmi dāni pavāsaṃ, mātu katvā hadayasokaṃ.
“Come now, mother, embrace me and allow me to venerate your feet. I go now into exile, having caused heart-sorrow for my mother.”
Thôi nào, thưa mẹ, xin hãy ôm lấy con và cho phép con được đảnh lễ dưới chân mẹ. Giờ đây con phải đi xa, sau khi đã gây ra nỗi sầu muộn trong tim mẹ.
1108.
1108.
1108.
Handa ca maṃ upaguyha †, pāde te amma vandituṃ dehi;
Gacchāmi dāni pavāsaṃ, janassa katvā hadayasokaṃ’’.
“Come now, mother, embrace me and allow me to venerate your feet. I go now into exile, having caused heart-sorrow for the people.”
Thôi nào, thưa mẹ, xin hãy ôm lấy con và cho phép con được đảnh lễ dưới chân mẹ. Giờ đây con phải đi xa, sau khi đã gây ra nỗi sầu muộn trong tim dân chúng.
1109.
1109.
1109.
‘‘Handa ca padumapattānaṃ, moḷiṃ bandhassu gotamiputta;
Campakadalamissāyo †, esā te porāṇikā pakati.
“Come now, son of Gotamī, bind a crest of lotus petals mixed with campaka blossoms; this was your former custom.”
Thôi nào, hỡi con trai của Gotamī, hãy kết vương miện bằng những cánh sen, xen lẫn với những cánh hoa Champa. Đây là tập tục xưa nay của con.
1110.
1110.
1110.
‘‘Handa ca vilepanaṃ te, pacchimakaṃ candanaṃ vilimpassu;
Yehi ca suvilitto, sobhasi rājaparisāyaṃ.
“Come now, anoint yourself with this final unguent, this sandalwood paste; well-anointed with it, you shine in the royal assembly.”
Thôi nào, con hãy xức lên mình hương liệu chiên-đàn lần cuối cùng. Với hương thơm ấy, khi được xức lên người, con sẽ tỏa sáng giữa triều hội.
1111.
1111.
1111.
‘‘Handa ca mudukāni vatthāni, pacchimakaṃ kāsikaṃ nivāsehi;
Yehi ca sunivattho, sobhasi rājaparisāyaṃ.
“Come now, put on these soft garments, this final Benares cloth; well-dressed in it, you shine in the royal assembly.”
Thôi nào, con hãy mặc vào y phục mềm mại, tấm vải Kāsī lần cuối cùng. Với y phục ấy, khi được mặc vào, con sẽ tỏa sáng giữa triều hội.
1112.
1112.
1112.
‘‘Muttāmaṇikanakavibhūsitāni, gaṇhassu hatthābharaṇāni;
Yehi ca hatthābharaṇehi, sobhasi rājaparisāyaṃ’’.
“Take these hand ornaments adorned with pearls, gems, and gold; with these hand ornaments you shine in the royal assembly.”
Con hãy đeo vào những trang sức tay được tô điểm bằng ngọc trai, châu báu, và vàng. Với những trang sức tay ấy, con sẽ tỏa sáng giữa triều hội.
1113.
1113.
1113.
‘‘Na hi nūnāyaṃ raṭṭhapālo, bhūmipati janapadassa dāyādo;
Lokissaro mahanto, putte snehaṃ janayati’’.
“Surely this protector of the realm, this lord of the land, this heir of the country, this great lord of the world, does not generate affection for his sons.”
Chắc chắn vị Hộ quốc vương này, vị chúa đất, người thừa kế của xứ sở, vị đại chúa tể của thế gian, lại không có tình thương yêu đối với con trai mình.
1114.
1114.
1114.
‘‘Mayhampi piyā puttā, attā ca piyo tumhe ca bhariyāyo;
Saggañca patthayāno †, tenāhaṃ ghātayissāmi’’.
“My sons are dear to me, and I myself am dear, and you, my wives, are dear. But aspiring for heaven, for that reason I will have them slain.”
Đối với ta, các con trai cũng là những người thân yêu, bản thân ta cũng thân yêu, và các nàng, những người vợ, cũng vậy. Nhưng vì mong cầu cõi trời, nên ta sẽ cho giết chúng.
1115.
1115.
1115.
‘‘Maṃ paṭhamaṃ ghātehi, mā me hadayaṃ dukkhaṃ phālesi;
Alaṅkato † sundarako, putto deva tava sukhumālo.
“Slay me first, O lord; do not let sorrow break my heart. Your son is adorned, handsome, and delicate.”
Xin hãy giết thiếp trước, đừng để nỗi đau khổ làm tan nát trái tim thiếp. Thưa Thiên vương, con trai của ngài là người tuấn tú, được trang điểm, và vô cùng thanh tú.
1116.
1116.
1116.
‘‘Handayya maṃ hanassu, paraloke † candakena † hessāmi;
Puññaṃ karassu vipulaṃ, vicarāma ubhopi paraloke’’.
“Come, my lord, slay me; in the next world I will be with Canda. Make abundant merit, and we both shall wander in the next world.”
Thôi nào, xin hãy giết thiếp đi. Ở thế giới bên kia, thiếp sẽ được ở cùng với Canda. Xin hãy tạo nhiều công đức, để cả hai chúng ta cùng đi lại trong thế giới bên kia.
1117.
1117.
1117.
‘‘Mā tvaṃ cande rucci maraṇaṃ †, bahukā tava devarā visālakkhi;
Te taṃ ramayissanti, yiṭṭhasmiṃ gotamiputte’’.
“Do not delight in death, Candā. You have many brothers-in-law, O wide-eyed one. They will delight you when the son of Gotamī has been sacrificed.”
Này nàng Candā, nàng chớ mong muốn cái chết. Hỡi người có đôi mắt to, nàng có nhiều em chồng. Họ sẽ làm cho nàng vui thích, sau khi con trai của Gotamī đã được tế lễ.
1118.
1118.
1118.
‘‘Evaṃ vutte candā attānaṃ, hanti hatthatalakehi’’;
‘‘Alamettha † jīvitena, pissāmi † visaṃ marissāmi.
When this was said, Candā struck herself with the palms of her hands, crying: “Enough of this life! I will drink poison and die.”
Khi được nói như vậy, nàng Candā tự dùng lòng bàn tay đánh vào mình và nói: ‘Thôi đủ rồi cuộc sống này! Ta sẽ uống thuốc độc và sẽ chết.’
1119.
1119.
1119.
‘‘Na hi nūnimassa rañño, mittāmaccā ca vijjare suhadā;
Ye na vadanti rājānaṃ, mā ghātayi orase putte.
“Surely this king has no good-hearted friends and ministers who would say to the king: ‘Do not slay your own legitimate sons.’”
Chắc chắn vị vua này không có bạn bè, cận thần, và người thân tín nào, những người mà không khuyên can nhà vua rằng: ‘Xin đừng giết những người con ruột của mình.’
1120.
1120.
1120.
‘‘Na hi nūnimassa rañño, ñātī mittā ca vijjare suhadā;
Ye na vadanti rājānaṃ, mā ghātayi atraje putte.
“Surely this king has no good-hearted kinsmen and friends who would say to the king: ‘Do not slay your own sons.’”
Chắc chắn vị vua này không có bà con, bạn bè, và người thân tín nào, những người mà không khuyên can nhà vua rằng: ‘Xin đừng giết những người con do chính mình sinh ra.’
1121.
1121.
1121.
‘‘Ime tepi mayhaṃ puttā, guṇino kāyūradhārino rāja;
Tehipi yajassu yaññaṃ, atha muñcatu † gotamiputte.
“These too are my sons, O king, virtuous and wearing armlets. Perform the sacrifice with them, and then release the sons of Gotamī.”
Thưa Đại vương, những người con này của thiếp cũng là những người có đức hạnh, đeo vòng trang sức. Xin hãy dùng họ để tế lễ, và hãy thả những người con của Gotamī ra.
1122.
1122.
1122.
‘‘Bilasataṃ maṃ katvāna, yajassu sattadhā mahārāja;
Mā jeṭṭhaputtamavadhi, adūsakaṃ sīhasaṅkāsaṃ.
“Having cut me into a hundred pieces, perform the sevenfold sacrifice, O great king. But do not slay the eldest son, who is blameless and like a lion.”
Thưa Đại vương, xin hãy chặt thiếp ra thành trăm mảnh, và hãy tế lễ theo bảy cách. Xin đừng giết người con trưởng, người vô tội, người giống như sư tử.
1123.
1123.
1123.
‘‘Bilasataṃ maṃ katvāna, yajassu sattadhā mahārāja;
Mā jeṭṭhaputtamavadhi, apekkhitaṃ sabbalokassa’’.
“Having cut me into a hundred pieces, perform the sevenfold sacrifice, O great king. But do not slay the eldest son, who is regarded by the whole world.”
Thưa Đại vương, xin hãy chặt thiếp ra thành trăm mảnh, và hãy tế lễ theo bảy cách. Xin đừng giết người con trưởng, người được cả thế gian trông đợi.
1124.
1124.
1124.
‘‘Bahukā tava dinnābharaṇā, uccāvacā subhaṇitamhi;
Muttāmaṇiveḷuriyā, etaṃ te pacchimakaṃ dānaṃ’’.
“Many and various are the ornaments I have given you—pearls, gems, and beryl—for your fine speeches. This is the final gift for you.”
Nhiều đồ trang sức khác nhau, gồm ngọc trai, châu báu, lưu ly, đã được ngài ban cho vì một lời nói hay. Đây là món quà cuối cùng của ngài.
1125.
1125.
1125.
‘‘Yesaṃ pubbe khandhesu, phullā mālāguṇā vivattiṃsu;
Tesajjapi sunisito †, nettiṃso vivattissati khandhesu.
“On whose shoulders blooming flower garlands formerly rested—on those same shoulders today the well-sharpened sword will fall.”
Trên những bờ vai mà trước đây, những vòng hoa nở rộ đã được quàng lên, thì hôm nay, cũng trên những bờ vai ấy, lưỡi gươm sắc bén sẽ chém xuống.
1126.
1126.
1126.
‘‘Yesaṃ pubbe khandhesu, cittā mālāguṇā vivattiṃsu;
Tesajjapi sunisito, nettiṃso vivattissati khandhesu.
“On whose shoulders colorful flower garlands formerly rested—on those same shoulders today the well-sharpened sword will fall.”
Trên những bờ vai mà trước đây, những vòng hoa sặc sỡ đã được quàng lên, thì hôm nay, cũng trên những bờ vai ấy, lưỡi gươm sắc bén sẽ chém xuống.
1127.
1127.
1127.
‘‘Aciraṃ † vata nettiṃso, vivattissati rājaputtānaṃ khandhesu;
Atha mama hadayaṃ na phalati, tāva daḷhabandhañca me āsi.
“Alas, soon the sword will fall upon the princes’ shoulders, and yet my heart does not break; so firm, it seems, was its substance.”
Than ôi, chẳng bao lâu nữa lưỡi gươm sẽ chém xuống trên vai của các vương tử. Vậy mà trái tim ta không tan vỡ, hẳn là nó đã được kết lại quá vững chắc.
1128.
1128.
1128.
‘‘Kāsikasucivatthadharā, kuṇḍalino agalucandanavilittā;
Niyyātha candasūriyā, yaññatthāya ekarājassa.
“Wearing fine Kāsi cloth, adorned with earrings, smeared with aloe and sandalwood, lead forth Canda and Sūriya for the sacrifice of the sole king.”
Hỡi Canda và Suriya, những người mặc y phục Kāsī thanh sạch, đeo hoa tai, xức hương trầm và chiên-đàn, hãy đi ra vì mục đích tế lễ của vị độc vương.
1129.
1129.
1129.
‘‘Kāsikasucivatthadharā, kuṇḍalino agalucandanavilittā;
Niyyātha candasūriyā, mātu katvā hadayasokaṃ.
Wearing fine Kāsi cloth, adorned with earrings, smeared with aloe and sandalwood, they lead forth Canda and Sūriya, having caused heart-sorrow for their mother.
Hỡi Canda và Suriya, những người mặc y phục Kāsī thanh sạch, đeo hoa tai, xức hương trầm và chiên-đàn, hãy đi ra, sau khi đã gây ra nỗi sầu muộn trong tim mẹ.
1130.
1130.
1130.
‘‘Kāsikasucivatthadharā, kuṇḍalino agalucandanavilittā;
Niyyātha candasūriyā, janassa katvā hadayasokaṃ.
Wearing fine Kāsi cloth, adorned with earrings, smeared with aloe and sandalwood, they lead forth Canda and Sūriya, having caused heart-sorrow for the people.
Hỡi Canda và Suriya, những người mặc y phục Kāsī thanh sạch, đeo hoa tai, xức hương trầm và chiên-đàn, hãy đi ra, sau khi đã gây ra nỗi sầu muộn trong tim dân chúng.
1131.
1131.
1131.
‘‘Maṃsarasabhojanā nhāpakasunhāpitā, kuṇḍalino agalucandanavilittā;
Niyyātha candasūriyā, yaññatthāya ekarājassa.
“Having eaten savory meat, having been well bathed by attendants, wearing earrings, smeared with agalloch and sandalwood, lead forth Canda and Sūriya for the sacrifice of the sole king.”
‘Sau khi dùng bữa ăn với thịt ngon, được người hầu tắm rửa sạch sẽ, đeo bông tai, thoa trầm hương và chiên đàn; hỡi Canda và Sūriya, hãy đi ra vì cuộc tế lễ của vị độc vương.’
1132.
1132.
1132.
‘‘Maṃsarasabhojanā nhāpakasunhāpitā, kuṇḍalino agalucandanavilittā;
Niyyātha candasūriyā, mātu katvā hadayasokaṃ.
Having eaten savory meat, having been well bathed by attendants, wearing earrings, smeared with agalloch and sandalwood, they lead forth Canda and Sūriya, having caused heart-sorrow for their mother.
‘Sau khi dùng bữa ăn với thịt ngon, được người hầu tắm rửa sạch sẽ, đeo bông tai, thoa trầm hương và chiên đàn; hỡi Canda và Sūriya, hãy đi ra, gây nên nỗi sầu muộn trong tim cho mẫu thân.’
1133.
1133.
1133.
‘‘Maṃsarasabhojanā nhāpakasunhāpitā, kuṇḍalino agalucandanavilittā;
Niyyātha candasūriyā, janassa katvā hadayasokaṃ’’.
Having eaten savory meat, having been well bathed by attendants, wearing earrings, smeared with agalloch and sandalwood, they lead forth Canda and Sūriya, having caused heart-sorrow for the people.
‘Sau khi dùng bữa ăn với thịt ngon, được người hầu tắm rửa sạch sẽ, đeo bông tai, thoa trầm hương và chiên đàn; hỡi Canda và Sūriya, hãy đi ra, gây nên nỗi sầu muộn trong tim cho dân chúng’.
1134.
1134.
1134.
‘‘Sabbasmiṃ upakkhaṭasmiṃ, nisīdite candasmiṃ † yaññatthāya;
Pañcālarājadhītā pañjalikā, sabbaparisāya samanupariyāyi †.
When everything was prepared and Prince Canda was seated for the sacrifice, the daughter of the Pañcāla king, with hands held in reverence, circumambulated the entire assembly.
‘Khi tất cả đã được chuẩn bị, khi Canda đã ngồi xuống vì cuộc tế lễ, công chúa của vương quốc Pañcāla, chắp tay cung kính, đã đi quanh khắp hội chúng.’
1135.
1135.
1135.
‘‘Yena saccena khaṇḍahālo, pāpakammaṃ karoti dummedho;
Etena saccavajjena, samaṅginī sāmikena homi.
‘By the truth that the witless Khaṇḍahāla is performing an evil deed, by this declaration of truth may I be united with my husband.’
‘Với sự thật rằng Khaṇḍahāla, kẻ ngu si, đang làm điều ác nghiệp; với lời chân thật này, nguyện cho tôi được đoàn tụ với phu quân.’
1136.
1136.
1136.
‘‘Ye idhatthi amanussā, yāni ca yakkhabhūtabhabyāni;
Karontu me veyyāvaṭikaṃ, samaṅginī sāmikena homi.
‘Whatever non-human beings are here, and whatever yakkhas and spirits there may be, let them perform this service for me: may I be united with my husband.’
‘Những vị phi nhân nào có ở đây, và những dạ xoa, các loài hữu tình, và các chúng sanh nào; xin hãy giúp đỡ cho tôi, nguyện cho tôi được đoàn tụ với phu quân.’
1137.
1137.
1137.
‘‘Yā devatā idhāgatā, yāni ca yakkhabhūtabhabyāni;
Saraṇesiniṃ anāthaṃ tāyatha maṃ, yācāmahaṃ patimāhaṃ ajeyaṃ’’ †.
‘Whatever deities have come here, and whatever yakkhas and spirits there may be, protect me, a helpless seeker of refuge. I beseech you, may I not be deprived of my husband.’
‘Chư vị thiên nhân nào đã đến đây, và những dạ xoa, các loài hữu tình, và các chúng sanh nào; xin hãy bảo vệ cho con, người đang tìm cầu nơi nương tựa, không nơi nương tựa. Con cầu xin cho người chồng bất khả chiến bại của con’.
1138.
1138.
1138.
‘‘Taṃ sutvā amanusso, ayokūṭaṃ paribbhametvāna;
Bhayamassa janayanto, rājānaṃ idamavoca.
Hearing this, a non-human being, whirling an iron hammer and generating fear in him, spoke this to the king:
‘Nghe thấy lời ấy, vị phi nhân, sau khi vung cây búa sắt, làm cho nhà vua kinh sợ, đã nói với vua lời này.’
1139.
1139.
1139.
‘‘Bujjhassu kho rājakali, mā tāhaṃ † matthakaṃ nitāḷesiṃ †;
Mā jeṭṭhaputtamavadhi, adūsakaṃ sīhasaṅkāsaṃ.
‘Wake up, you wicked king, lest I smash your head! Do not slay your eldest son, who is blameless and like a lion.’
‘Hãy tỉnh ngộ đi, hỡi vị vua xấu xa, kẻo ta sẽ đập nát đầu ngươi; chớ có giết trưởng tử, người vô tội, người oai dũng như sư tử.’
1140.
1140.
1140.
‘‘Ko te diṭṭho rājakali, puttabhariyāyo haññamānāyo †;
Seṭṭhi ca gahapatayo, adūsakā saggakāmā hi.
‘What vision have you seen, O wicked king, that your sons and wives are being slain, and blameless bankers and householders who desire heaven?’
‘Ngươi đã thấy điều gì, hỡi vị vua xấu xa, khi các con trai và vợ, các trưởng giả và gia chủ, những người vô tội và mong cầu cõi trời, đang bị giết hại?’
1141.
1141.
1141.
‘‘Taṃ sutvā khaṇḍahālo, rājā ca abbhutamidaṃ disvāna;
Sabbesaṃ bandhanāni mocesuṃ, yathā taṃ anupaghātaṃ †.
Hearing that, and seeing this marvel, Khaṇḍahāla and the king released everyone from their bonds, so that they were unharmed.
‘Nghe thấy lời ấy, Khaṇḍahāla và nhà vua, sau khi chứng kiến điều kỳ diệu này, đã cởi trói cho tất cả mọi người, để họ không bị tổn hại.’
1142.
1142.
1142.
‘‘Sabbesu vippamuttesu, ye tattha samāgatā tadā āsuṃ;
Sabbe ekekaleḍḍukamadaṃsu, esa vadho khaṇḍahālassa’’.
When all had been freed, everyone who was then gathered there gave a single clod of earth, saying: ‘This is the execution of Khaṇḍahāla!’
‘Khi tất cả mọi người được giải thoát, những ai có mặt ở đó lúc bấy giờ, tất cả mỗi người đã ném một cục đất, đó là sự giết hại Khaṇḍahāla’.
1143.
1143.
1143.
‘‘Sabbe paviṭṭhā † nirayaṃ, yathā taṃ pāpakaṃ karitvāna;
Na hi pāpakammaṃ katvā, labbhā sugatiṃ ito gantuṃ’’.
They all entered hell for having done that evil deed. For having done an evil deed, it is not possible to go from here to a good destination.
‘Tất cả đã đi vào địa ngục, vì họ đã làm điều ác nghiệp ấy; thật vậy, sau khi làm điều ác nghiệp, không thể từ đây đi đến thiện thú được’.
1144.
1144.
1144.
‘‘Sabbesu vippamuttesu, ye tattha samāgatā tadā āsuṃ;
Candaṃ abhisiñciṃsu, samāgatā rājaparisā † ca.
When all had been freed, the assembled royal court and all who were gathered there consecrated Canda.
‘Khi tất cả mọi người được giải thoát, những ai có mặt ở đó lúc bấy giờ, hội chúng hoàng gia đã tụ họp lại và làm lễ quán đảnh cho Canda.’
1145.
1145.
1145.
‘‘Sabbesu vippamuttesu, ye † tattha samāgatā tadā āsuṃ;
Candaṃ abhisiñciṃsu, samāgatā rājakaññāyo ca.
When all had been freed, the assembled royal maidens and all who were gathered there consecrated Canda.
‘Khi tất cả mọi người được giải thoát, những ai có mặt ở đó lúc bấy giờ, các công chúa hoàng gia đã tụ họp lại và làm lễ quán đảnh cho Canda.’
1146.
1146.
1146.
‘‘Sabbesu vippamuttesu, ye tattha samāgatā tadā āsuṃ;
Candaṃ abhisiñciṃsu, samāgatā devaparisā † ca.
When all had been freed, the assembled company of devas and all who were gathered there consecrated Canda.
‘Khi tất cả mọi người được giải thoát, những ai có mặt ở đó lúc bấy giờ, hội chúng chư thiên đã tụ họp lại và làm lễ quán đảnh cho Canda.’
1147.
1147.
1147.
‘‘Sabbesu vippamuttesu, ye † tattha samāgatā tadā āsuṃ;
Candaṃ abhisiñciṃsu, samāgatā devakaññāyo ca.
When all had been freed, the assembled deva maidens and all who were gathered there consecrated Canda.
‘Khi tất cả mọi người được giải thoát, những ai có mặt ở đó lúc bấy giờ, các thiên nữ đã tụ họp lại và làm lễ quán đảnh cho Canda.’
1148.
1148.
1148.
‘‘Sabbesu vippamuttesu, ye tattha samāgatā tadā āsuṃ;
Celukkhepamakaruṃ, samāgatā rājaparisā † ca.
When all had been freed, the assembled royal court and all who were gathered there waved their cloths in the air.
‘Khi tất cả mọi người được giải thoát, những ai có mặt ở đó lúc bấy giờ, hội chúng hoàng gia đã tụ họp lại và tung y phục lên trời.’
1149.
1149.
1149.
‘‘Sabbesu vippamuttesu, ye † tattha samāgatā tadā āsuṃ;
Celukkhepamakaruṃ, samāgatā rājakaññāyo ca.
When all had been freed, the assembled royal maidens and all who were gathered there waved their cloths in the air.
‘Khi tất cả mọi người được giải thoát, những ai có mặt ở đó lúc bấy giờ, các công chúa hoàng gia đã tụ họp lại và tung y phục lên trời.’
1150.
1150.
1150.
‘‘Sabbesu vippamuttesu, ye tattha samāgatā tadā āsuṃ;
Celukkhepamakaruṃ, samāgatā devaparisā † ca.
When all had been freed, the assembled company of devas and all who were gathered there waved their cloths in the air.
‘Khi tất cả mọi người được giải thoát, những ai có mặt ở đó lúc bấy giờ, hội chúng chư thiên đã tụ họp lại và tung y phục lên trời.’
1151.
1151.
1151.
‘‘Sabbesu vippamuttesu, ye † tattha samāgatā tadā āsuṃ;
Celukkhepamakaruṃ, samāgatā devakaññāyo ca.
When all had been freed, the assembled deva maidens and all who were gathered there waved their cloths in the air.
‘Khi tất cả mọi người được giải thoát, những ai có mặt ở đó lúc bấy giờ, các thiên nữ đã tụ họp lại và tung y phục lên trời.’
1152.
1152.
1152.
‘‘Sabbesu vippamuttesu, bahū ānanditā ahuṃ †;
Nandiṃ pavesi nagaraṃ †, bandhanā mokkho aghositthā’’ti.
When all were freed, many were delighted. Joy entered the city; release from bondage was proclaimed.
‘Khi tất cả mọi người được giải thoát, nhiều người đã hoan hỷ; niềm vui tràn vào thành phố, sự giải thoát khỏi xiềng xích đã được loan báo’.
Candakumārajātakaṃ † sattamaṃ.
The Candakumāra Jātaka, the Seventh.
Chuyện Bổn Sanh Hoàng Tử Canda, phần thứ bảy.