Bản dịch
JA 543 — Chuyện Bậc Đại Trí Bh Ùridatta (Tiền thân Bhùridatta)
6. Bhūridattajātaka
Bất kỳ mọi bảo ngọc kim ngân…,
Câu chuyện này bậc Đạo Sư kể trong khi Ng ài trú tại thành Xá Vệ, về việc các cư sĩ hành trì trai giới.
Vào ngày trai giới, họ thức dậy thật sớm, phát nguyện hành trì giới luật, bố thí và sau khi thọ trai, hộ đem hương hoa đến tinh xá Kỳ-Vi ên, gặp thời thuyết Pháp họ đều ngồi xuống một b ên nghe giảng.
Bậc Đạo Sư đến tại Chánh Pháp đường ngồi xuống s àng tọa được trang ho àng dành cho đức Phật xong, liền nh ìn xuống hội chúng Tỷ-kheo.
Lúc bấy giờ đức Như Lai thường muốn đ àm đạo với một v ài vị này hay vị kia trong hội chúng, khi bài thuyết giảng có liên quan đến họ, v ì thế vào dịp này, Ngài biết rằng bài Pháp thoại liên quan đến các bậc Đạo Sư ng ày xưa sắp được thuyết giảng cho các cư sĩ, n ên trong khi đ àm đạo với họ, Ng ài hỏi:
- Này các cư sĩ, các ông có hành trì trai giới ch ăng?
Khi các cư sĩ đồng thanh đáp có, Ng ài bảo:
- Tốt lành thay! Tốt lành thay! Này các cư sĩ, tuy nhiên ngày nay các ông có một vị Phật làm Đạo Sư như Ta v à hành trì trai giới thì không phải là chuyện lạ gì, vì các bậc hiền trí ngày xưa, chưa có bậc Đạo Sư n ào, cũng đ ã từ bỏ mọi vinh quang thế tục và giữ ngày trai giới.
Nói xong, theo lời thỉnh cầu của các cư sĩ, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
I .- THÁI TỬ BRAHMADATTA VÀ LONG NỮ
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì thành Ba-la-nại, ngài phong cho con làm phó vương. Nhưng khi ngài thấy thái tử đạt vinh quang lừng lẫy, ng ài lại đâm ra ho ài nghi một ngày kia thái tử sẽ chiếm trọn giang sơn. Vì thế ngài bảo con:
- Vương nhi hãy ra đi t ìm chỗ cư trú nào mà vương nhi thấy hợp ý trong lúc này, khi ta b ăng h à hãy về đây kế thừa vương nghiệp.
Thái tử vâng lệnh, giã từ vương phụ ra đi đến v ùng núi Yamunà dựng một túp chòi lá nằm giữa dòng sông giáp bờ biển và sống bằng rau quả qua ngày.
Lúc bấy giờ có một long nữ dòng giống Nàga ở dưới biển, mới mất chồng, lòng khao khát dục tình khi nhìn thấy các long nữ khác an vui cảnh chồng con, nên bỏ nơi địa giới, đi lang thang tr ên bờ biển, chợt thấy dấu chân của thái tử liền theo lối mòn đi đến ch òi lá. Lúc ấy thái tử đ ã đi ra ngo ài kiếm trái cây. Long nữ bước vào chòi, thấy chiếc giường gỗ và đồ đạc trong ch òi, nhủ thầm: " Đây l à nơi cư trú của một ẩn sĩ, để ta thử xem vị n ày có thật là một vị chân tu không. Nếu vị đó l à bậc chân tu, sống khắc kỷ, vị ấy sẽ không chịu nhận chiếc giường trang hoàng lộng lẫy của ta; còn nếu đó l à người với tâm tư mê đắm dục lạc, không phải l à bậc chân tu tịnh tín thì vị đó sẽ nằm tr ên chiếc giường của ta, rồi ta sẽ lấy vị đó l àm chồng và ở lại đây".
Vì thế long nữ vội trở về cõi mình góp nhặt hương hoa thần tiên trang hoàng một sàng tọa toàn bằng hoa và sau khi làm lễ cúng hương hoa, rắc phấn hương khắp chòi và trang hoàng cái chòi thật đẹp, n àng đi về c õi mình trú ngụ. Buổi chiều khi thái tử trở về, chàng vào chòi thấy mọi vật như thế liền nói:
- Ai đ ã sắm sửa tọa sàng này?
Khi chàng ăn đủ loại trái cây xong, ch àng lại kêu lên:
- Ôi, hoa thơm ngạt ngào, toạ sang này êm ái quá!
Lòng chàng đầy hân hoan, v ì thật tâm chàng không phải là bậc chân tu khổ hạnh, chàng liền nằm xuống giường hoa và ngủ thiếp đi.
Sáng hôm sau chàng thức dậy và cũng đi kiếm trái cây, chẳng nhớ quét dọn ch òi lá. Vào lúc ấy long nữ Nàga xuất hiện thấy hoa héo úa cả liền hiểu ngay: "Kẻ này còn tham dục lạc, không phải là bậc chân tu, ta có thể bắt lấy được rồi". Thế l à nàng lượm hết hoa cũ, đem hoa khác đến trải l ên tọa sàng thật đẹp, trang ho àng túp chòi lá, rải hương hoa như trước trên thềm nhà, rồi trở về cõi mình cư ngụ. Thái tử lại ngủ một đ êm nữa trên giường hoa và sáng hôm sau chàng tự nghĩ: "Ai đ ã trang hoàng chiếc chòi này?"
Vì thế chàng không đi hái trái nữa, ch àng đứng ẩn m ình không xa túp liều. Long nữ Nàga thu lượm hoa xong đi đến lều của ch àng. Vương tử chiêm ngưỡng dung nhan cực kỳ lộng lẫy của long nữ Nàga, liền say mê nàng ngay và chàng lẳng lặng đi v ào chòi trong khi nàng đang trang ho àng tọa sàng và hỏi nàng là ai.
- Tâu đức ông, tiện thiếp l à long nữ Nàga.
- Chẳng hay nàng đ ã có gia thất chưa?
- Tiện thiếp là sương phụ không có chồng, chẳng hay chàng ở đâu?
- Ta là thái tử Brahmadatta, con vua tại thành Ba-la-nại; nhưng còn nàng, tại sao lại đi phi êu bạt rời bỏ xứ sở của dòng giống Nàga?
- Tâu đức ông, chỉ v ì tiện thiếp trông thấy hạnh phúc của các nàng Nàga yên bề gia thất nên lòng chưa thỏa mãn về đường t ình duyên đứt gánh, phải lang bạt đó đây t ìm bóng tùng quân để nương tựa tấm thân bồ liễu.
- Ta cũng không phải là vị chân tu, mà ta đến trú ngụ nơi đây chỉ v ì cha ta đuổi ta đi; vậy nếu n àng không chê ta, ta xin nguyện cùng nàng làm đôi vợ chồng sống h òa hợp nơi đâ y.
Tức thì long nữ bằng lòng và từ đó họ chung sống rất ho à hợp trong rừng ấy. Nhờ thần lực của long nữ, nàng biến hóa ra một ngôi nhà sang trọng có sàng tọa quý giá trong khuê phòng lộng lẫy. Từ đó ch àng không còn phải ăn hoa quả nữa, nhưng được hưởng to àn cao lương mỹ vị của thần tiên. Sau một thời gian nàng thụ thai và sinh được một con trai, họ đặt t ên là Sàgara-Brahmadatta. Khi ấu nhi đ ã chập chững biết đi, n àng lại hạ sinh được một gái tr ên bờ biển nên được đặt t ên là Samuddajà.
Lúc bấy giờ một sơn nhân trú tại thành Ba-la-nại tình cờ đến nơi đây gặp vương tử, ch ào hỏi xong thì nhận ra chàng, nên sau khi ở lại đó v ài ngày, gã nói:
- Tâu vương tử, tiểu thần xin về thông báo với vương tộc biết ngài đang cư trú nơi đây.
Thế rồi gã ra về kinh thành. Lúc ấy vua vừa b ăng h à, các đại thần l àm lễ tang vua xong, liền hội họp nhau lại sau đó bảy ng ày, rồi họ quyết định:
- Đất nước không thể một ng ày không có vua, nay ta chẳng biết vương tử trú ngụ phương nào: còn sống hay ch ăng, để chúng ta bảo vương xa đến đón ng ài về làm vua.
Vừa khi ấy gã sơn nhân về thành, hay tin đó vội đến t ìm các đại thần báo cho họ biết: trước khi đến đây, g ã đ ã ở gần vương tử mấy ngày. Các đại thần rất trọng đ ãi gã, rồi cùng đi theo lời g ã chỉ dẫn đến gặp vương tử. Sau khi ch ào hỏi thân tình xong, họ báo cho vương tử biết vua vừa b ăng h à và mời chàng về kế vị, chàng nghĩ thầm: "Ta muốn biết long nữ Nàga tính sao đây?".Ch àng liền bảo vợ:
- Này hiền thê, vua cha ta vừa b ăng h à, các đại thần đ ã đến giương chiếc lộng ho àng gia lên cho ta, vậy đôi ta c ùng đi về trị v ì Ba-la-nại, rộng muời hai đặm, n àng sẽ thành chánh hậu trong đám mười sáu ng àn cung phi ấy.
- Phu quân ôi, thiếp không thể nào đi theo ch àng được.
- Tại sao vậy? Dòng giống thiếp có thứ độc dược giết người v à tánh khí lại dễ nóng giận vì chuyện không đâu, huống chi l à việc hờn ghen trong cung cấm là chuyện hệ trọng, nếu thiếp gặp việc gì bất bình và chỉ cần đưa mắt giận dữ nh ìn, tức thì tia mắt bắn ra như nắm trấu, vì thế thiếp không thể nào ra đi theo ch àng được.
Ngày hôm sau vương tử lại bảo nàng cùng đi, n àng đáp:
- Thiếp không thể nào đi được, nhưng các con của thiếp lại không phải thuộc n òi giống rồng Nàga, chúng là con của chàng, thuộc giống người; nếu chàng còn thương thiếp xin hãy ch ăm sóc lấy chúng. Nhưng v ì chúng quen thói ở nước, rất yếu đuối, chúng sẽ chết nếu đi đường chịu d ãi dầu nắng gió, vì vậy thiếp xin làm một con thuyền đổ nước v ào để chúng chơi đ ùa trong nước và khi đến kinh th ành, xin chàng cho lệnh đ ào một hồ nước cạnh hoàng cung cho chúng, như thế chúng mới khỏi khổ được.
Nói xong, nàng cung kính chào giã từ vương tử, đi vòng quanh chàng một cách kính cẩn, ôm các con vào lòng hôn đầu chúng và giao con cho chàng, khóc lóc một hồi và biến đi về cảnh giới của rồng Nàga. Vương tử cũng nặng trĩu u sầu, ràn rụa nước mắt, liền đến gặp các đại thần. Tức thì họ rảy nước thánh lên đầu ch àng làm lễ phong vương và thưa:
- Tâu Đại vương, xin Đại vương trở về th ành.
Chàng ra lệnh cho họ đóng thuyền xong đặt l ên xe và đổ nước v ào.
- Hãy rảy hương hoa đủ m àu sắc trên mặt nước vì các con ta tính ưa nước, thích vui đ ùa trong nước.
Các đại thần tuân lệnh. Khi tân vương đến th ành Ba-la-nại, ngài vào thấy thành trang hoàng rực rỡ, liền bước lên lầu an nghỉ, có mười sáu ngàn mỹ nữ ca múa vây quanh cùng các cận thần. Ngài cho mở đại yến trong bảy ng ày xong, ra lệnh đ ào hồ nước cho các vương tử để các vương tử chơi đ ùa suốt ngày.
Nhưng một ngày kia, khi nước được dẫn v ào hồ, một con rùa trôi vào theo, rồi không tìm thấy lối ra, nó lội trên mặt nước. Trong khi các vương tử nô đ ùa, rùa hiện ra, thò đầu nh ìn đám trẻ rồi lại lặn xuống nước. Đám trẻ thấy r ùa, sợ hãi chạy đi báo với vua cha:
- Phụ vương ôi, một con rùa trong hồ làm chúng con sợ quá.
Vua ra lệnh bắt con rùa và một người thả lưới xuống bắt được r ùa đem lại tr ình vua. Khi các vương tử trông thấy rùa liền la to:
- Phụ vương ôi, nó là con quỷ.
Vì vua thương yêu con nên nổi giận với con rùa, ra lệnh cho quân hầu trừng trị nó. Một người bảo:
- Nó là quân thù của Đại vương, vậy phải bảo nó v ào cối mà giã nát ra thành cám.
Kẻ khác nói:
- Đem nấu nhừ ra m à ăn.
Kẻ khác nữa lại bảo:
- Đem nó nướng than đi.
Hoặc:
- Bỏ nó vào nồi và đốt l ò.
Nhưng có một đại thần rất sợ nước bảo:
- Ném nó xuống vực xoáy của sông Yamunà, nó sẽ bị tiêu hủy hoàn toàn, không còn hình phạt nào nặng hơn nữa.
Rùa nghe thế liền rụt cổ lại bảo:
- Này hiền hữu, ta đ ã phạm tội gì khiến ông nói đến một h ình phạt nặng nề như vậy dành cho ta? Các hình phạt kia ta còn chịu được, chứ h ình phạt này thật vô cùng tàn bạo, xin ông đừng nhắc đến nữa.
Khi vua nghe được, ng ài bảo:
- Phải hành hình nó như thế.
Và ngài ra lệnh ném nó vào vực xoáy của sông Yamunà, nơi đây nó t ìm ra dòng nước đưa nó đến động rồng N àga. Lúc bấy giờ có vài tiểu long Nàga thuộc dòng vua rồng Dhatarattha đang nô đ ùa trên dòng nước, thấy rùa liền bảo nhau:
- Bắt lấy tên tiểu nô kia.
Rùa nghĩ thầm: "Ta vừa thoát khỏi tay vua Ba-la-nại, lại rơi vào tay bọn quỉ Nàga hung ác này, làm sao thoát được đây?" Nó liền nghĩ ra một kế, bịa ra một chuyện v à bảo chúng:
- Tai sao các long tử thuộc dòng dõi triều đ ình vua Dhatarattha lại nói n ăng như vậy? Ta l à linh quy tên Cittacùla, sứ giả của vua Ba-la-nại đến yết kiến vua Dhatarattha, đức vua của ta muốn gả công chúa của ng ài cho long vương Dhatarattha, vậy hãy cho ta được bái yết ng ài.
Chúng bằng lòng dẫn rùa đến, nhưng khi thấy r ùa, vua không đẹp ý, bảo:
- Những kẻ có hình thù tồi tàn như vậy không thể nào làm sứ giả được.
Rùa nghe vậy liền đáp lại, n êu rõ các đức tính của nó cho vua hay:
- Tại sao Đại vương lại cần sứ giả cao như cây dừa l àm gì? Hình dạng nhỏ bé hay cao lớn đâu có g ì quan trọng? Điều tối quan trọng l à tài đức để thi h ành sứ mạng được giao phó. Tâu Đại vương,vua của chúng thần có rất nhiều sứ giả. Con người th ì làm việc trên đất liền, chim chóc th ì làm việc trên không, tiểu thần thì ở dưới nước, vì tiểu thần là kẻ được đức vua sủng ái t ên gọi là Cittacùla, tiểu thần giữ một chức vụ đặc biệt, xin đừng nhạo báng tiểu thần.
Sau đó vua Dhatarattha hỏi r ùa tại sao được vua bảo đến đây, nó liền đáp:
- Đức vua của tiểu thần muốn b ày tỏ tình thân hữu với mọi đức vua tr ên cõi Diêm-phù- đề v à nay ngài muốn gả công chúa Samuddajà để tỏ t ình thân hữu với long vương Nàga, vậy xin Đại vương chớ chậm trễ, h ãy lập tức gửi sứ giả đi c ùng tiểu thần định ng ày hôn lễ và đón công chúa về.
Vua rồng vô cùng đẹp ý, tán tụng r ùa hết lời và ra lệnh cho bốn long tử Nagà cùng đi với r ùa định ng ày hôn lễ sau khi gặp vua kia rồi trở về xứ. Bốn chàng tiểu long cùng rùa từ giã động chúa rồng N àga. Rùa trông thấy một hồ sen giữa sông Yamunà và kinh thành Ba-la-nại, muốn trốn đi, liền b ày kế nói:
- Này các long tử, đức vua c ùng vương hậu, vương tử của ta đ ã thấy ta xuất hiện trên mặt nước khi ta đến cung vua, n ên các ngài bảo ta dâng lên vài hoa sen và củ sen, vậy ta phải đi hái đ ã, các long tử để ta đi một lát, hễ không thấy ta về th ì cứ đi thẳng v ào xin yết kiến đức vua, ta sẽ đến đó để gặp các ch àng sau.
Họ tin lời để r ùa ra đi, nó liền trốn biệt. Các ch àng tiểu long không thấy rùa trở lại tưởng rằng nó đ ã đến chầu vua, liền đi đến ho àng cung giả dạng các thanh niên. Đức vua tiếp đ ãi ân cần và hỏi họ từ đâu đến. Họ bảo:
- Tâu chúa thượng, từ Dhatarattha.
- Các công tử có việc gì ch ăng?
- Tâu chúa thượng chúng thần là sứ giả của Long vương Dhatarattha, xin kính chúc chúa thượng ngọc thể an khang và đức vua của chúng thần xin kính tặng chúa thượng bất cứ bảo vật n ào chúa thượng đẹp ý. Đức vua của chúng thần cũng cầu xin Chúa thượng gả công chúa Samuddaj à để l àm vương hậu của ngài.
Rồi họ ngâm vần kệ thứ nhất để giải thích việc n ày:
1. Bất kỳ mọi bảo ngọc kim ngân, Tích trữ trong cung điện chúng thần, Đều của Đại vương t ùy thánh ý, Xin trao công chúa đến long quân.
Vua nghe vậy, liền đáp vần kệ thứ hai:
2. Từ trước chẳng hề có thế nhân, Kết duyên con gái với long quân, Sánh đôi vậy thật không tương xứng, Sao trẫm nghĩ ra chuyện lạ l ùng?
Các chàng tiểu long bảo:
- Ví như việc thông gia với Đại vương không l àm đẹp ý thánh thượng,vậy tại sao thánh thượng lại sai sứ thần linh qui Cittac ùla đến yết kiến Đại vương của chúng thần v à ngõ lời muốn gả công chúa Samuddajà? Sau khi đ ã gửi sứ giả đi như vậy, Thánh thượng lại tỏ ra khinh mạn Đại vương của chúng thần. Nay chúng thần sẽ biết cách đối phó xứng đáng với thái độ khinh mạn ấy.
Nói xong họ ngâm hai vần kệ để hăm dọa:
3. Ngài sẽ bỏ thân, hỡi Đại vương, Ng ài và đất nước nghĩa g ì ch ăng? Trước cơn thịnh nộ từ long chúa, Vinh hiển thế nhân sẽ úa t àn. 4. Ngài kẻ yếu hèn, một thế nhân, Phải suy tàn bởi tính kiêu c ăng, Dám khinh thái tử Ya-mu ấy, Con của Va-ru-na Đại vương.
Vua liền đáp hai vần kệ:
5. Ta chẳng hề khinh bỉ Đại vương, Dha-ta-ra hiển hách danh lừng, Là vua bộ tộc Nà-ga ấy, Thừa hưởng vương quyền đúng lẽ chân. 6. Song dù ngài vĩ đại cao sang, Sát- đế- ly dòng dõi xuất thân, Chính thống Vi-đề-ha quý tộc, Ngài đừng mơ tưởng đến công nương.
Mặc dầu các chàng tiểu long Nàga muốn giết vua ngay lập tức bằng một luồng khí độc, họ kịp suy nghĩ lại rằng họ được phái đi đến đây định ng ày hôn lễ, cho nên giết vua rồi bỏ đi th ì thật không phải lẽ, vì thế họ bảo:
- Chúng thần xin từ tạ để về tâu lại Đại vương của chúng thần r õ.
Rồi họ biến mất. Khi về, vua hỏi xem họ đ ã rước công chúa được chưa, họ giận dữ đáp:
- Tâu Đại vương, tại sao Đại vương lại phái chúng thần đến đó m à chẳng có duyên cớ gì cả.Ví dụ Đại vương muốn giết chúng thần, xin giết ngay tại đây cho thỏa dạ. Vua nước ấy mạ lỵ, phỉ b àng Đại vương, tôn con gái m ình lên tột đỉnh v à kiêu mạn về dòng dõi vương gia.
Cứ thế họ thêu dệt thêm câu chuyện khiến vua nổi giận, ban lệnh họp quần thần binh lính lại, bảo:
7. Này As-sa với Kam-ba-la, Triệu tập mọi dân chúng mãng xà, Tiến đến Ba-la th ành tụ họp, Song đừng l àm hại trẻ hay già.
Các chúa Nàga hỏi:
- Nếu không cần phải hại ai cả thì chúng thần đến đó để l àm gì?
Vua liền ngâm kệ bảo họ phải làm như sau:
8. Ở trên hồ nước, các hoàng thành, Đường xá v à trên các ngọn ngành, Trên các cung môn, cần kết dải, Đong đưa theo gió nhẹ, treo m ình. 9. Mào trắng và thân trắng mãng xà, Bao quanh thành thị của nhà vua, Vòng vây ta xiết dần dần chặt, Dân xứ Kà-si sẽ sợ ta.
Binh lính Nàga tuân lệnh.
*
Bậc Đạo Sư tả quang cảnh xảy ra:
10. Nhìn đám m ãng xà ở khắp nơi, Đ àn bà run rẩy, đám đông người, Trong khi quái vật giương m ào dậy, Dân chúng thảy la hét rụng rời. 11. Dân xứ Ba-la-nại vội nằm, Trước đo àn dã thú đến xâm lăng, Giơ tay khẩn thiết đồng cầu nguyện: - Xin gả công nươn g với chúa rồng!
*
Trong lúc vua đang ngự tr ên long sàng, ngài nghe tiếng kêu khóc của các vương phi cùng nhiều thần dân khác và chính ngài cũng sợ chết vì những lời h ăm dọa của bốn tiểu long kia, n ên ngài kêu to ba lần:
- Ta sẽ gả công chúa Samuddajà cho vua Dhatarattha.
Khi các chúa rồng Nàga nghe được lời ấy liền rút quân l ùi lại cách một dặm đường, v à cắm trại tại đó, xây dựng l ên một kinh thành giống cảnh của chư Thiên, rồi cho người mang lễ vật cầu hôn đến nh à vua:
- Xin hoàng thượng gả công chúa như đ ã hứa.
Vua nhận lễ vật xong, ra lệnh cho các người đem lễ vật ấy lui về v à ngài bảo:
- Các ngươi hãy ra về, trẫm sẽ cho các đại thần đem công chúa đến.
Rồi ngài triệu công chúa lại, đem n àng lên thượng lầu,mở cửa sổ ra bảo nàng:
- Này công chúa, con hãy ngắm kinh thành tráng lệ kia, vua nọ cầu hôn con về làm chánh hậu tại đó; kinh th ành đó ấy không xa mấy, bao giờ con thấy nhớ nh à cứ về th ăm cha, nhưng bây giờ con phải vu qui.
Sau đó vua ra lệnh các cung nữ gội đầu, trang điểm cho công chúa đủ ngọc ng à trân bảo rồi đưa n àng lên loan xa che kín, có các đại thần hộ tống. Các vua chúa N àga ngự ra đón n àng theo lễ nghi rất trọng thể. Các đại thần v ào thành, tiễn biệt công chúa và ra về được tặng vô số ngọc v àng. Công chúa được đưa v ào hoàng cung đặt nằm tr ên tọa sàng tráng lệ như cảnh tiên, và các thiếu nữ Nàga có lưng gù cùng những dị tật khác hầu hạ quanh nàng như thể thị nữ ở cõi nhân gian vậy. Khi công chúa vừa đặt lưng xuống tọa s àng thần tiên này, nàng cảm thấy êm dịu lạ lùng và ngủ thiếp đi. Vua Dhatarattha sau khi đ ã tiếp đón n àng xong, liền biến đi c ùng với hội chúng của mình về cảnh giới của loài rồng Nàga.
Khi công chúa thức dậy và thấy tọa sàng thần tiên trong cung điện xây bằng ngọc v àng châu báu cùng các hoa viên và hồ nước trong cảnh giới Nàga chẳng khác nào kinh thành tráng lệ của thiên giới, nàng hỏi các thị nữ gù lưng quanh nàng:
- Kinh thành này thật tuyệt diệu, chẳng giống kinh thành của ta, vậy nó là của ai thế?
- Tâu lệnh bà, đó l à kinh thành thuộc quyền Chúa thượng của lệnh bà, những kẻ thiếu đức không thể n ào hưởng được cảnh vinh quang như thế n ày. Lệnh bà đ ã được vinh quang như vậy l à nhờ công đức cao trọng của lệnh b à.
- Sau đó vua Dhatarattha ra lệnh đánh chi êng trống khắp hoàng thành rộng n ăm trăm dặm bố cáo với thần dân rằng kẻ n ào để lộ tướng rồng tinh cho công chúa Samuddaj à thấy sẽ bị trừng trị ngay; Vì thế không ai dám xuất hiện nguyên hình trước mặt nàng. Cho nên nàng hưởng cuộc sống rất êm ấm hòa hợp với nhà vua vì tưởng rằng đấy l à cảnh giới nhân gian.
II.- BẬC ĐẠI TRÍ DATTA
Theo thời gian vương hậu Dhatarattha thụ thai và sinh hạ một vương tử có dung mạo khôi ngô nên được đặt t ên là Sudassana, sau đó b à lại sinh hạ vương tử thứ hai đặt t ên là Datta; đó chính l à Bồ-tát. Rồi bà lại sinh vương tử thứ ba đặt t ên là Subhaga và vương tử thứ tư tên Arittha. Dù đ ã sinh hạ bốn vương tử, bà vẫn chưa hề biết đây l à cảnh giới của rồng Nàga. Nhưng một ngày kia, có người bảo Arittha:
- Vương hậu là giống người chứ không phải giống Nàga.
Arittha tự nhủ: " Để ta thử mẹ xem sao". Một ng ày kia trong lúc đang bú sữa mẹ, vương tử xuất lộ nguy ên hình rắn rồng, lấy đuôi ve lưng b àn chân mẹ. Khi hoàng hậu thấy rồng, kinh hãi thét lên ném con xuống đất, lấy móng tay c ào vào mắt con đến chảy máu ra. Vua nghe tiếng thét hỏi lý do v à khi vua nghe chuyện Arittha làm ra, ngài bước đến hăm dọa:
- Đem t ên tiểu nô này giết đi.
Công chúa biết bản tính nóng nảy của vua, liền lên tiếng bênh vực con:
- Tâu chúa thượng, thần thiếp đ ã đánh v ào mắt vương nhi rồi, xin Chúa thượng tha tội cho nó.
Vua nghe vương hậu nói vậy liền tha:
- Thôi trẫm còn làm sao được nữa?
Rồi vua tha thứ cho con. Từ ngày đó ho àng hậu mới biết đây l à xứ rồng Nàga và cũng từ đó Arittha được gọi l à Độc nh ãn Arittha (Kànàrittha) .
Bấy giờ các vương tử đ ã đến tuổi trưởng th ành. Vua cha giao cho mỗi vị một vương quốc rộng chừng một tr ăm dặm vuông, vinh quang lừng lẫy v à mỗi vị có mười sáu ngàn long nữ Nàga hầu hạ trong cung đ ình. Vương quốc của vua cha cũng chỉ một tr ăm dặm vuông. Các vương tử hằng tháng đều đến vấn an đức vua c ùng hoàng hậu. Nhưng Bồ-tát cứ nửa tháng lại yết kiến cha mẹ một lần, ngài vẫn thường đưa ra một số vấn đề xảy ra cảnh giới N àga và vẫn thường cùng vua cha đến yết kiến Đại Thi ên vương Virùpakkha (Quảng Mục) đ àm đạo các vấn đề ấy.
Một ngày kia, Đại vương Vir ùpakkha cùng với hội chúng Nàga lên cảnh giới chư Thiên để chầu Thi ên chủ Sakka, một vấn đề được đưa ra đ àm dạo nhưng không có ai trong chư Thiên giải đáp được trừ bậc Đại Sĩ lúc ấy đang ngồi tr ên bảo tọa. Thế rồi Thiên Đế tỏ l òng hâm mộ ngài, đem tặng hoa quả của c õi trời và bảo ngài:
- Này Hiền giả Datta, ngài có đại trí lớn như quả địa cầu, từ nay ta xin gọi ng ài là Bhùridatta (bậc Đại trí Datta) .
Và Thiên chủ ban ngài danh hiệu ấy. Sau đó bậc Đại Sĩ bái yết Thi ên chủ Sakka để tỏ l òng sùng kính và khi ngài ngắm vẻ huy hoàng tột đỉnh của thi ên triều cùng các tiên nữ, ngài mơ ước được l ên thiên giới: "Ta còn làm gì được với tướng rồng rắn chuy ên ăn ếch nhái n ày nữa? Thôi ta nguyện trở về thế giới rồng rắn hành trì trai giới, tu tập công hạnh để được sinh l ên cõi chư Thiên".
Suy nghĩ như vậy xong, ngài liền xin cha mẹ khi trở về xứ rồng Nàga:
- Tâu phụ vương cùng mẫu hậu, con nguyện hành trì trai giới.
- Này vương nhi, con cứ hành trì cho thỏa nguyện, nhưng trong lúc trì giới con chớ ra ngoài, chỉ ở nội trong cung điện trống vắng của lo ài Nàga vì người trần thế rất kinh sợ rồng Nàga.
Nói xong ngài cuộn mình trên tổ kiến và nói to:
- Kẻ nào muốn cứ đến lấy máu thịt xương da ta đi.
Rồi ngài trì giới gồm bốn phép, nằm đó với thân tướng chỉ gồm có đầu đuôi m à thôi. Đến rạng ng ày hôm sau, các long nữ Nàga đến v à làm theo lệnh ngài đ ã ban, đưa ng ài về lại cảnh giới Nàga như cũ và cứ thế ngài trì giới trong suốt một thời gian dài.
III.- HAI CHA CON BÀ-LA-MÔN S ĂN THÚ
Lúc bấy giờ có một người Bà-la-môn sống ở một làng gần cổng thành Ba-la-nại thường cùng con trai tên gọi Somadatta vào rừng đặt bẫy chông bắt thú rừng rồi gánh thịt đi bán để sinh nhai. Một ng ày kia, gã chẳng bắt được con thú n ào dù chỉ một tắc kè nhỏ, gã bảo con:
- Nếu ta về nhà tay không, mẹ con sẽ giận dữ, vậy ta cứ bắt lấy con gì cũng được.
Thế là gã đi về phía tổ kiến nơi Bồ-tát đang tĩnh tọa v à quan sát dấu chân nai thường xuống dòng sông Yamunà để uống nước, g ã bảo :
- Này con, đây l à hang nai, con hãy về đợi trong lúc cha bắt nai đến uống nước.
Và gã giương cung đứng dưới gốc cây chờ nai đến. V ào buổi chiều, một con nai đến uống nước liền bị bắn trọng thương, tuy nhi ên nó chưa ngã xuống ngay mà vì mũi tên làm tuôn máu xối xả, nó liền chạy trốn. Hai cha con đuổi theo tận nơi nó ng ã xuống, bắt lấy rồi ra khỏi rừng đến gốc cây đa th ì mặt trời vừa lặn.
- Lúc này đi xa th ì bất tiện lắm, thôi ta ở lại đây.
Nói xong họ đặt con nai qua một b ên rồi trèo lên cây nằm trên cành. Gã Bà-la-môn thức giấc lúc rạng đông, cố nghe ngóng tiếng động của nai, vừa lúc đó các thị nữ N àga đến dâng tọa sáng hương hoa cho Bồ-tát. Ng ài đ ã bỏ xác rồng và hiện hình Thiên thần mang đủ bảo vật trang nghi êm ngồi trên tọa sàng sực nức hương hoa trong dáng điệu uy nghi của một Thi ên đế Sakka.
Các thị nữ Nàga thành kính cúng dường ngài vô số hương hoa rồi trỗi khúc nhạc thiên đường, đồng thanh ca múa. Khi g ã Bà-la-môn nghe tiếng nhạc gã tự hỏi: "Ai đây, ta phải xem sao mới được". G ã liền gọi con trai nhưng cậu bé vẫn cứ ngủ say. Gã tự nhủ: "Thôi để nó ngủ. Nó c òn mệt thì ta đi một m ình vậy". Gã leo xuống đất tiến đến gần ng ài . Các thị nữ Nàga thấy gã liền độn thổ ngay c ùng các nhạc khí, trở về cảnh giới Nàga, chỉ còn Bồ-tát ngồi lại một mình. Gã Bà-la-môn đứng gần ng ài ngâm hai vần kệ hỏi ngài:
12. Hồng nhãn thiếu sinh được thấy đây, L à ai, tỏa rộng đôi bờ vai, Mười n àng xuân nữ vây quanh nọ, Đeo xuyến v àng, xiêm áo đẹp thay. 13. Chàng là ai ở giữa rừng xanh, Như lửa thêm dầu mỡ mới tinh, Có phải Sak-ka, thần đại lực, Hay l à rồng chúa đại oai danh?
Bậc Đại Sĩ nghe vậy thầm nghĩ: "Nếu ta bảo l à một vị Sakka ( Đế Thích), g ã sẽ tin ngay vì gã là một Bà-la-môn, nhưng ta phải nói sự thật: Thế là ngài nói về nòi giống Nàga của ngài:
14. Ta chúa Nàga, lực đại h ùng, Với luồng khí độc mạnh vô song, Đất nước phồn vinh, dân lớn bé, Ta đây nổi giận giết ti êu vong. 15. Mẫu thân ta chính Sa-mud-da, Chúa tể Dha-ta, thân phụ ta, Em của Su-das-san thái tử, Tên ta là Đại trí Dat-ta.
Nhưng khi bậc Đại Sĩ nói xong, ng ài liền nghĩ: "Bà-la-môn này hung ác, gã có thể phản ta, và tiết lộ ta với người bắt rắn và thế là cản trở việc trì giới của ta.Vậy ta đưa g ã về vương quốc Nàga, tiếp đ ãi gã trọng thể tại đó, như thế ta vẫn không gián đoạn việc h ành trì giới luật". Thế là ngài bảo gã:
- Này Hiền hữu Bà-la-môn, ta muốn tiếp đ ãi ông thật trọng thể, vậy hãy theo ta đến xứ sở N àga đầy lạc thú bây giờ. Tâu chúa thượng, hạ thần c òn một con trai, nếu hạ thần có đi, xin cho con trẻ đi c ùng.
Bồ-tát đáp:
- Hiền hữu cứ đi t ìm hiền điệt lại đây.
Rồi ngài tả nơi cư ngụ của ngài cho gã biết:
16. Hồ kia u tối thật kinh hoàng, Sóng nước không ngừng bão tố dâng, Nhà của ta thần dân trú ngụ, Còn ai dám trái lệnh ta ban. 17. Hãy lặng chìm trong làn sóng xanh, Đ àn công, đ àn hạc gọi đồng thanh: - Xuống đây tận hưởng niềm hoan lạc D ành sẵn cho ai giữ giới hành.
Gã Bà-la-môn đi t ìm con kể chuyện cho con nghe rồi đem con trở lại v à bậc Đại Sĩ liền đưa họ đến b ên bờ sông Yamunà. Khi đứng đó, ng ài bảo:
18. Hiền hữu cùng con chớ ngại ngùng, Theo lời ta bảo, sống ung dung, Vinh quang hạnh phúc trong cung điện, Lạc thú ta ban đủ mọi phần.
Nói xong, bậc Đại Sĩ d ùng thần lực đưa hai cha con đến cảnh giới N àga, nơi đây họ hưởng cuộc sống thần ti ên. Ngài ban cho họ phúc lạc của tiên giới, mỗi người có đến bốn trăm thiếu nữ N àga hầu hạ, vinh hoa phú quý thật không sao kể xiết. Bồ-tát vẫn tinh tấn hành trì giới luật, cứ nửa tháng ngài đi bái yết phụ vương, mẫu hậu v à thuyết Pháp; còn khi đến thăm g ã Bà-la-môn, ngài thường vấn an gã và bảo:
- Hiền hữu cần gì cứ nói cho ta biết, xin cứ hưởng lạc thú, đừng để bất toại điều g ì.
Rồi sau khi chào hỏi Somadatta ân cần, ngài trở về tu thất của ngài.
Gã Bà-la-môn, sau khi sống trong cảnh giới Nàga được một năm, do thiếu tu tập công đức trước đây, dần dần cảm thấy không toại ý, chỉ muốn trở về nhân gian. Cảnh giới N àga đối với g ã chẳng khác nào địa ngục. Cung điện được trang ho àng lộng lẫy chỉ giống như nhà tù, các cung nữ Nàga được điểm trang v àng ngọc cũng tựa bầy quỉ cái. Gã nghĩ thầm: "Ta chán lắm rồi, để ta hỏi thử xem Somadatta nghĩ sao?".G ã tìm con trai và hỏi:
- Con có được toại nguyện chăng?
- Làm sao con lại bất mãn được? Cha con ta không n ên nghĩ như vậy.Còn thân phụ không toại nguyện ch ăng?
- Đúng vậy.
- Tại sao thế?
- Vì ta không gặp được mẹ con c ùng anh em con, thôi ta cùng đi về xứ.
Người con bảo không muốn đi về, nhưng v ì bị cha nài mãi, nên cuối cùng cũng thuận. Gã Bà-la-môn nghĩ thầm: "Con ta đ ã ưng thuận ra đi, nhưng nếu ta bảo với ho àng tử Bhùridatta rằng ta không toại nguyện, hoàng tử sẽ ban cho ta thật nhiều ân huệ khác nữa và thế là ta không thể đi về. Mục đích của ta chỉ đạt được bằng một cách n ày thôi: Ta sẽ tả cảnh huy hoàng của ngài rồi hỏi ngài: "Tại sao ngài rời bỏ mọi vinh quang để l ên nhân thế hành trì trai giới?". Khi ngài đáp: "Để được l ên thiên giới", ta sẽ bảo ngài: "Chúng thần lại càng phải nên tu tập như thế hơn nữa, vì chúng thần đ ã sống bằng nghề sát sinh hại mạng. Thần cũng muốn trở lại trần thế để thăm quyến thuộc xong rồi sẽ xuất gia sống đời khổ hạnh.Thế l à ngài sẽ phải để ta đi".
Sau khi quyết định xong, một ng ày kia Bồ-tát đến hỏi thăm g ã xem có gì chưa toại ý ch ăng, g ã liền vội trấn an ngài rằng không có điều g ì gã mơ ước mà ngài không ban cho gã, rồi không hề nói gì đến ý định ra đi, trước ti ên gã chỉ ngâm kệ tả cảnh phồn vinh thịnh vượng của xứ ngài:
19. Đất bằng trải rộng khắp nơi nơi, Hoa trắng Ta-ga nở rợp trời, Tổ bọ y ên chi màu đỏ thắm, Rừng xanh rực rỡ phủ nền tươi. 20. Đền đ ài linh hiển khắp trong rừng, Hồ lắm thiên nga đắm mắt trần, Tô điểm lá sen t àn rải rác, Khác nào các tấm thảm đang nằm. 21. Cung đ ình ngàn cột trụ nguy nga, Tiên nữ bao nàng rộn múa ca, Cột trụ dát toàn châu ngọc quý, Tứ bề phản chiếu ánh trời xa. 22. Ngài có cung đ ình thật hiển vinh, Chính nhờ công đức đ ã hoàn thành, Mọi niềm ước nguyện đều vi ên mãn, Ngay khi nguyện ước mới thành hình. 23. Ngài chẳng ước mơ điện Ngọc ho àng, Thiên triều tráng lệ sánh sao ngang? Cung ngài vinh hiển còn hơn thế, Với cảnh huy hoàng chiếu ánh quang.
Bậc Đại Sĩ đáp:
- Này hiền hữu Bà-la-môn, đừng nói thế, cảnh vinh quang của ta so với Thi ên chủ Sakka chỉ như hạt cải bên cạnh núi Tu-di (Meru). Chúng ta không bằng được quần thần của ng ài nữa.
Rồi ngài ngâm kệ:
24. Ý dẫu tối cao chẳng dám mơ. Vinh quang ngôi vị của Sakka, Bốn Thiên vương ở trong triều đại, Mỗi vị một miền được định ra.
Khi ngài nghe gã lập lại: "Cung điện của ng ài chẳng khác nào cung Sakka Thiên chủ, ngài đáp:
- Ta đ ã nghĩ đến chuyện n ày từ lâu, chính vì ta muốn lên điện Vejayanta (Tối thắng ở c õi thiên) mà ta thực hành sự tu tập trai giới.
Rồi ngài ngâm kệ tả rõ tâm nguyện mình:
25. Ta mong tha thiết cảnh cao đường, Của các bậc ti ên thánh vĩnh hằng, Vì thế ta ngồi trên tổ kiến, Hành trì giới hạnh mãi không ngừng.
Gã Bà-la-môn nghe vậy thầm nghĩ: "Nay ta đ ã có cơ hội rồi đây", v à với lòng hân hoan, gã ngâm kệ xin phép ngài ra đi:
26. Thần đ ã cùng con trẻ bắt hươu, Ngày xưa bôn tẩu chốn rừng sâu, Bạn bè để lại nh à không biết, Sống chết thần nay hiện ở đâu. 27. Đại-trí Dạt-ta, thần muốn đi, Hỡi ng ài Minh chúa tộc Kà-si, Chúng thần cất bước th ăm lần nữa, Quyến thuộc thân bằng ở chốn quê.
Bồ-tát đáp:
28. Ta muốn các ngài ở chốn đây, Cùng ta hưởng hạnh phúc bao ngày, Nơi nào trên chốn nhân gian ấy, Ngài thấy bình an giống cảnh này? 29. Nhưng nếu ngài mong ở chốn kia, Thì ngài hãy hưởng lạc tràn trề, Rồi sau sẽ giã từ đi nhé, Hạnh phúc ng ài mong gặp bạn bè.
Rồi ngài suy nghĩ: "Nếu gã nhờ ta mà có được hạnh phúc chắc g ã sẽ không tiếc lộ ta với ai đâu, ta sẽ cho g ã viên ngọc như ý (ban mọi điều ước). Ng ài liền tặng gã viên ngọc rồi bảo:
30. Kẻ được mang vi ên bảo ngọc thần, Ngắm đ àn con cháu với gia trang, La- môn, lấy ngọc và đi nhé, Chẳng có bao giờ gặp bất an.
Gã Bà-la-môn đáp:
31. Hạ thần hiểu rõ những lời ngài, Ngài thấy thần nay đ ã lão lai, Thần sẽ đi theo đời khổ hạnh, Nghĩa g ì lạc thú ở trên đời?
Bồ-tát nói:
32. Nếu ngài chẳng giữ trọn lời thề, Tìm thú thế nhân lần nữa kia, Thì hãy đến t ìm ta lại nhé, Ta ban ngài lạc thú tràn trề.
Gã Bà-la-môn đáp:
33. Dat-ta Đại-trí, tạ muôn vàn, Ân huệ mà ngài đ ã phát ban, Ví thử thần tìm cơ hội tốt, Sẽ về mong được h ưởng hồng ân.
Bậc Đại Sĩ thấy rằng g ã không còn muốn ở lại đây nữa, n ên ngài ra lệnh bốn đồng tử N àga dẫn gã trở lại cõi trần.
*
Bậc Đạo Sư tả mọi việc như sau:
34. Dat-ta Đại trí lệnh truyền ban, Bốn tiểu long thần: -H ãy bước chân, Đem vị La-môn ta uỷ thác, Dẫn người trở lại chốn người mong. 35. Nghe lời xong, các vị long thần, Lập tức lệnh ngài được phục tuân, Họ dẫn Bà-la-môn đến chốn, Rồi đi để lại g ã đơn thân.
Trên đường về l ão Bà-la-môn bảo con:
- Này Soma, ta sẽ giết được con nai chỗ n ày và con lợn chỗ kia.
Rồi thấy một hồ nước, gã kêu lên:
- Này Soma, xuống tắm đi.
Thế là cả hai cha con cởi hết áo quần thần tiên ra cuộn thành một bó đặt tr ên bờ, xuống hồ tắm. Lập tức áo quần biến mất về cảnh giới Nàga chỉ còn bộ áo quần nghèo khổ màu vàng xưa kia của họ mang lên người cùng với cung tên giáo hiện ra như ngày xưa ấy.
- Cha ơi, cơ nghiệp tiêu tan hết rồi. Somadatta kêu gào lên thế.
Nhưng cha cậu vội an ủi:
- Đừng lo g ì, hễ còn hươu nai trong rừng là ta còn có kế sinh nhai.
Mẹ Somadatta nghe họ về, vội chạy ra đón v ào nhà, thiết đ ãi cơm rượu thỏa thuê. Khi gã Bà-la-môn đ ã ăn xong v à đi ngủ, người mẹ hỏi con:
- Lâu nay hai cha con đi đâu thế?
- Thưa mẹ, cha con và con được vua N àga là Bhuridatta mang đến xứ N àga thần tiên, nhưng vẫn không toại nguyện nên nay lại trở về.
- Thế con có mang về được món châu báu n ào không?
- Thưa mẹ không.
- Thế vị vua đó không cho con món châu báu n ào sao?
- Thưa mẹ, vua Bhùridatta đ ã tặng cho cha con một viên ngọc ban mọi điều ước, nhưng cha con từ chối.
- Vì cớ sao?
- Cha con bảo là muốn làm ẩn sĩ tu hành.
- Sao lâu nay đ ã vứt lại cho ta cả một gánh nặng con cái và đi ở xứ N àga, bây giờ lão đ òi làm ẩn sĩ à?
Thế là bà nổi cơn thịnh nộ, đập v ào lưng gã bằng chiếc thìa lâu nay vẫn dùng nó chiên cơm rồi mắng gã xối xả:
- Ông thật là thứ Bà-la-môn ác độc, tại sao ông bảo l à sắp đi tu l àm ẩn sĩ và từ chối báu vật? Rồi tại sao ông còn vát mặt về nhà mà không thực hiện nguyện ước tu hành? Hãy cút ra khỏi nhà ta ngay.
Nhưng gã bảo vợ:
- Này hiền thê, xin nàng chớ vội thịnh nộ, hễ còn hươu nai trong rừng là ta còn cấp dưỡng mẹ con nàng.
Thế là ngày hôm sau, gã cùng con trai vào rừng tiếp tục sinh nhai bằng nghề cũ.
IV.- VIÊN NGỌC THẦN VÀ GÃ BẮT RẮN
Lúc bấy giờ có một con chim Kim sí điểu (chim thần cánh v àng) Garula sống trong cây bông vải trong vùng núi Himavat (Tuyết Sơn) gần đại dương miền Nam, bay lượn tr ên mặt nước rồi sà xuống vùng núi Himavat chụp lấy đầu của một chúa rồng N àga. Đây l à thời kỳ chim Garula chưa biết cách bắt rồng Nàga (chúng đ ã biết cách bắt rồng này trong chuyện Tiền thân Pandara, số 518). Vì thế, dù đ ã chụp được đầu rồng m à không làm bắn nước tung tóe, nó lại mang rồng tòn teng đến đỉnh núi Himavat.
Một Bà-la-môn trước đây l à dân xứ Kà-si, sống ẩn dật trên núi này trong một chòi lá, và cuối lối đi có mái che l à một cây đa lớn n ên ban ngày ông vẫn cư ngụ dưới gốc cây. Chim Garula mang rồng Nàga đến ngọn cây đa, v à rồng Nàga cố thoát ra, nên cuộn đuôi quanh một c ành.Chim Garula không biết việc này, lấy toàn lực bay vụt lên trời mang theo luôn cây đa bật khỏi gốc. Chim thần mang rồng N àga đến cây bông vải, d ùng mỏ phanh bụng rồng ra, ăn hết mỡ, rồi ném xác xuống biển.
Cây đa rớt xuống đánh ầm, chim thần không biết g ì vì sao có tiếng động lớn như vậy, liền nh ìn xuống, thấy cây đa, nó tự hỏi: "Cây n ày ta mang từ đâu lại?" Rồi nhận ra đó l à cây đa ở cuối lối đi có mái che của ẩn sĩ kia, nó suy nghĩ: "Cây đa rất ích lợi cho vị ấy, không biết có tai họa giáng xuống cho ta chăng? Ta thử đi hỏi ông xem sao".
Rồi nó giả dạng làm một tiểu sinh đến gặp ẩn sĩ trong lúc ông đang đập đất cho bằng phẳng lại. Thế l à vương điểu đảnh lễ ẩn sĩ xong, ngồi qua một b ên, hỏi th ăm sự t ình như thể nó không biết gì những việc đ ã xảy ra:
- Cây gì đ ã mọc chỗ ấy?
Vị ẩn sĩ đáp:
- Một con chim Garula mang một con rồng Nàga đi ăn thịt, con rồng quấn đuôi quanh một c ành cây để cố trốn thoát, nhưng con chim mạnh quá bay vút l ên không làm cây bật gốc theo và đây l à nơi cây đ ã bật ra.
- Thế con chim mắc phải tội gì?
-`Nếu nó không biết việc nó làm, thì đó chỉ l à vô ý thức, không phải tội lỗi.
- Thế còn trường hợp của rồng Nàga thì sao?
- Nó không cuộn vào cây với ý định l àm hư hại cây, cho nên nó cũng không có tội.
Chim chúa Garula hài lòng với lời giải thích của ẩn sĩ liền nói:
- Này hiền hữu, ta chính là vương điểu Garula, ta rất h ài lòng với lời giải thích vấn đề của ông. Nay ông sống trong rừng n ày và ta lại biết thần chú Àlambàyana quý vô giá. Ta sẽ tặng nó cho ông để đền đáp công ơn ông đ ã giải thích cho ta, mong ông nhận nó.
- Ta cũng đ ã biết nhiều thần chú lắm, hiền hữu cứ an tâm ra đi.
Nhưng chim chúa cứ nài ép mãi cuối cùng cũng n ăn nỉ được vị ẩn sĩ nhận lời, n ên nó trao bùa và chỉ những dược thảo cần thiết rồi tạ từ.
Lúc bấy giờ ở Ba-la-nại có một Bà-la-môn nghèo khổ nợ nần tứ tung và bị các chủ nợ giày vò mãi, gã tự nhủ: "Sao ta lại cứ sống mãi như thế này? Ta thà vào rừng mà chết còn hơn". Thế là gã bỏ nhà đi nhiều chuyến phi êu bạt vào rừng cho đến khi g ã thấy lều ẩn sĩ. Gã vào xin ở lại và được ẩn sĩ vui l òng nhận vì gã siêng n ăng l àm mọi phận sự. Vị ẩn sĩ tự nhủ: "Gã Bà-la-môn này giúp đỡ ta rất nhiều, vậy ta sẽ cho g ã chú thiêng mà chim chúa đ ã cho ta".
Vì thế ông bảo gã:
- Này hiền hữu Bà-la-môn, ta biết thần chú Àlambàyana, ta sẽ cho ông, mong ông nhận lấy.
Gã đáp:
- Hiền hữu hãy an tâm, ta chẳng cần bùa chú gì cả.
Nhưng vị ẩn sĩ nài ép mãi, cuối cùng cũng thuyết phục gã kia lấy bùa, rồi chỉ bảo cho gã những loại cây thuốc cần thiết và mọi cách sử dụng bùa.
Gã Bà-la-môn tự nhủ: "Ta đ ã có kế sinh nhai rồi". Thế là sau khi ở lại thêm vài ngày, gã lấy cớ bị chứng phong thấp và sau khi xin vị ẩn sĩ thứ lỗi, gã kính cẩn từ giã và đi khỏi khu rừng, qua nhiều chặn đường, g ã đến bờ sông Yamun à, đi dọc theo đường cái, miệng lầm thầm câu thần chú.
Ngay lúc bấy giờ cả ngàn tiểu đồng N àga, vốn là thị giả của Bhruridatta đang mang vi ên bảo châu như ý ấy. Họ đ ã ra khỏi cảnh giới Nàga, ngồi nghỉ chân và đặt bảo ngọc tr ên một đụn cát, rồi sau khi nô đ ùa suốt đ êm dưới làn nước nhờ ánh sáng tỏa ra từ viên bảo châu ấy, họ mang hết mọi món trang sức lên mình lúc trời mới tảng sáng, thâu hào quang của bảo châu lại và ngồi canh chừng.
Gã Bà-la-môn đến đó ngay lúc g ã đang lầm thầm câu thần chú, đám tiểu đồng nghe thần chú hoảng sợ v ì tưởng đó l à vương điểu Garula, liền độn thổ về cảnh giới N àga mà quên lấy viên bảo ngọc. Gã Bà-la-môn thấy bảo ngọc liền kêu to:
- Thần chú của ta đ ã linh nghiệm tức thì.
Gã vui mừng lượm bảo ngọc ra đi. Ngay lúc ấy g ã Bà-la-môn hạ đẳng đang c ùng con s ăn nai, chợt thấy vi ên bảo ngọc trong tay gã kia, liền bảo con:
- Đó phải chăng chính l à viên bảo ngọc mà Bhùridatta cho ta?
Người con đáp:
- Vâng, chính phải.
- Được thế th ì ta sẽ nói cho gã kia biết những tính tai hại của viên ngọc rồi đánh lừa g ã để d ành viên ngọc cho ta.
- Thưa cha, trước kia cha đ ã không lấy viên bảo ngọc khi vua Bhùridatta tặng cha, nay vị Bà-la-môn này chắc chắn sẽ dối gạt được cha cho m à xem. Cha nên yên lặng thì hơn.
- Cứ thế, con sẽ thấy ai dối gạt được ai hay nhất, g ã ấy hay cha.
Rồi gã tiến đến gần Àlambàyana và bảo gã kia:
36. Từ đâu ông có bảo châu n ày, Mang hạnh phúc nhiều, đẹp mắt thay, Song có bức tường chi triệu đấy, Là điều ta đ ã nhận ra ngay.
Àlambàyana đáp vần kệ sau:
37. Sáng nay ta rảo bước trên đưởng, Ta thấy ngọc ngay chỗ nó nằm, Vệ sĩ mắt hồng ng àn đứa chạy, Để cho ta được miếng mồi ngon.
Gã Bà-la-môn hạ đẳng muốn đánh lừa g ã kia, liền nói thêm ba vần kệ kể những tai hại của viên bảo ngọc, vì muốn dành phần cho mình:
38. Nếu được nâng niu, quý trọng nhiều, Để d ành cẩn thận, hoặc thường đeo, Ngọc l àm toại nguyện cho người chủ, Dù lớn bao nhiêu đủ mọi điều. 39. Nhưng nếu tỏ bất kính ngọc thần, Người đeo hoặc giữ chẳng quan tâm, Th ì người sẽ phải ăn năn m ãi, Ngọc chỉ mang cho nỗi khốn cùng. 40. Nay ông chẳng có việc cần dùng, Cũng chẳng có tài giữ bảo châu, Vậy hãy đưa ta v à đổi lấy, V àng ròng đây ch ẵn một tr ăm cân.
Àlambàyana liền đáp kệ:
41. Ta sẽ không đem bán bảo châu, D ù bò hay ngọc quý ông trao, Các điềm của nó ta tường tận, Nó chẳng bao giờ bán được đâu.
Gã Bà-la-môn nói:
42. Nếu ngọc hay bò chẳng thể mua, Ngọc kia ông có được bây giờ, Giá n ào ông bán ra viên ngọc, Hãy nói ta nghe rõ thật thà.
Àlambàyana đáp:
43. Ai bảo cho ta biết chốn nào, Tìm ra rồng chúa đại anh h ào, Ta cho người ấy ngay viên ngọc, Tỏa sáng bốn bề rực rỡ sao!
Gã Bà-la-môn hỏi :
44. Có lẽ nào đây chính Điểu vương, Hôm n ày giả dạng Bà-la-môn, Đi t ìm dấu vết s ăn mồi thịt, Để bắt L ong vương lấy món ngon?
Àlambàyana đáp:
45. Ta quả thật không phải Điểu vương, Mắt ta chẳng thấy bóng chim thần, Danh y, Đạo Sĩ l à ta đấy, Nọc rắn rồng l à việc sở trường.
Gã Bà-la-môn nói:
46. Phải ch ăng ô ng có lực thần nào, Hay đ ã học hành kỹ thuật cao, Việc ấy khiến ông không nhiễm độc, Khi cầm nọc rắn giết người sao?
Gã đáp, mi êu tả n ăng lực của m ình như sau:
47. Ko-sy ẩn sĩ chốn rừng hoang, Khổ hạnh dài lâu giữ vững vàng, Chim chúa sau cùng đem tiết lộ, Cho ng ài bùa chú bắt Long thần. 48. Bậc Thánh tối cao sống ẩn thân, Trên sườn núi nọ thật cô đơn, Nhiệt t ình hầu hạ ngài, ta đ ã, Phụng sự ngày đ êm chẳng nhọc nhằn. 49. Vì vậy, cuối cùng để thưởng công, Cho ta hầu hạ những năm r òng, Đạo Sư khả kính ta tôn quý, Tiết lộ cho ta mật chú thần. 50. Tin v ào chú thuật vạn quyền n ăng, Ta chẳng sợ rồng rắn cực hung, Những nọc giết người, ta giải hết, Ta l à bậc trí giả À-lam.
Trong khi nghe gã này nói, gã Bà-la-môn hạ đẳng kia nghĩ thầm: "G ã Àlambàyana này sẵn sàng trao bảo ngọc cho kẻ nào chỉ chỗ chúa rồng Nàga, vậy ta chỉ chỗ của Long vương Bhùridatta cho gã rồi lấy bảo ngọc". Thế là gã ngâm kệ hỏi ý kiến con trai:
51. Con hỡi, ta tranh lấy bảo châu, So-ma, ta hãy vội đi mau, Đừng làm lỡ vận như người dại, Đập dĩa cơm bằng gậy bấy lâu.
Somadatta đáp:
52. Mọi hiển vinh ngài đ ã phát ban, Khi cha đi đến ở tha phương, Nay cha trở mặt v à ăn cướp, Như vậy l à đền nghĩa đáp ân? 53. V ì dù cha muốn được gi àu sang, Đi t ìm như trước ở Long vương, Xin ngài, ngài sẽ vui lòng tặng, Mọi thứ cha mong ước thỏa lòng.
Gã Bà-la-môn đáp:
54. Những thứ được do bởi vận may, Chén cơm nằm sẵn ở trong tay, Ăn ngay đừng hỏi g ì thêm nữa, Con sẽ mất phần tặng thưởng này.
Somadatta nói:
55. Đất n ày đang há miệng chờ trông, Lửa địa ngục nung nấu cực nồng, Chờ đợi sau c ùng người phản bội, Hay cơn đói l ã xé tan lòng, Sống tàn, chết dở, con người ấy, Kẻ dối lừa ngay bạn chí thân. 56. Hãy cầu bậc Đại trí Dat-ta, Nếu muốn gi àu sang, ngài sẽ cho, Điều nguyện ước hằng mo ng thỏa mãn, Song cha gây tội lỗi này ra, Con e tội ấy không lâu sẽ, Phát lộ cha ngay, thật đấy m à.
Gã Bà-la-môn đáp:
57. Song nhờ tế lễ thật cao sang. Tội ác La-môn có thể mang, Tuy thế, về sau đều rửa sạch, Chúng ta dâng đại lễ đăng đ àn, Như vầy sẽ được l àm thanh tịnh, Giải thoát tội kia thật dễ dàng!
Somadatta nói:
58. Cha hãy ngưng lời nói xấu xa, Con không ở lại nữa bây giờ, Lúc này chính lúc con từ biệt, Con chẳng cùng cha bước nữa mà, Vì sự đ ê hèn này cấu xé, Đang l àm thối nát trái tim cha.
Nói xong chàng trai hiền đức kia bác bỏ lời cha dụ dỗ, thét vang l ên bằng giọng sang sảng làm chấn động cả chư thần quanh v ùng ấy:
- Ta không thể đồng h ành với một kẻ tội lỗi như thế được.
Rồi chàng bỏ đi ngay trong khi người cha đứng lặng nh ìn theo, sau đó ch àng đi sâu v ào rừng núi Himavat, trở thành một ẩn sĩ, tu tập rồi chứng đắc các Thắng trí c ùng các Thiền chứng, sau được sinh l ên Phạm thiên giới.
*
Gã hạ đẳng B à-la-môn nghĩ thầm: "Soma đi đâu nếu không phải l à về nhà?". Rồi khi thấy Àlambàyana hơi phật ý, gã vội bảo:
- Này Àlambàyana đừng ngại g ì, ta sẽ đưa ông đến chỗ Bh ùridatta Long vương.
Thế là gã đem Àlambàyana đến nơi chúa rồng đang tr ì giới và khi gã thấy ngài đang nằm cuộn tr òn trên tổ kiến đầu thu lại, g ã đứng tránh sang một b ên, đưa tay chỉ ng ài và đọc kệ sau:
60. Bắt chúa rồng nơi chốn nó nằm, Chụp ngay viên ngọc quý muôn vàn, Hào quang đỏ rực m àu tươi sáng, Như mão miệng trên chóp phượng hoàng. 61. Hãy nhìn tổ kiến ở đằng xa, Rồng chúa nằm kia, trải rộng ra, Không có ý g ì lo sợ cả, Gi ăng m ình như một đống bông tơ; Nơi kia bắt lấy ngay rồng ấy, Trước lúc nó hay bạn đến m à.
Bậc Đại Sĩ mở mắt ra nh ìn gã hạ đẳng kia, ng ài suy nghĩ: "Ta đ ã đem g ã ấy đến cung thất N àga rồi cho gã hưởng vinh hoa tột bực, nhưng gã không nhận viên bảo ngọc ta ban cho, thế mà giờ đây g ã trở lại với người bắt rắn. Tuy nhiên nếu ta phẫn nộ gã vì việc làm phản trắc này thì công đức của ta bị suy giảm. Giờ đây bổn phận tối cao của ta l à giữ ngày trai giới đủ bốn phép, không được vi phạm cho n ên ví dù gã Àlambàyana kia có phân thân ta ra từng mảnh hay đem ta nấu chín hoặc lấy xi êng đâm ta v à nướng đi ta cũng không được căm hận g ã về mọi việc ấy".
Thế rồi ngài nhắm mắt lại, quyết giữ nhất tâm cao độ, ng ài đặt đầu giữa đám m ào rồi nằm hoàn toàn bất động.
V.- BẬC ĐẠI TRÍ DATTA BỊ BẮT
Lúc ấy gã Bà-la-môn hạ đẳng kia k êu lên:
- Này Àlambàyana, ông hãy bắt rồng Nàga này ngay rồi trao viên ngọc cho ta.
Gã Àlambàyana quá sung sướng khi nhìn thấy rồng chúa Nàga, nên không chút lưu tâm đến vi ên bảo ngọc nữa, gã ném ngọc vào tay gã kia bảo:
- Này hiền hữu Bà-la-môn, lấy ngọc đi.
Nhưng viên ngọc tuột ra khỏi tay gã và khi vừa rớt xuống đất liền biến mất v ào cảnh giới Nàga. Gã Bà-la-môn thấy mình mất hết cả ba thứ: viên bảo châu, tình thân hữu của Bhùridatta và cả con trai nữa và gã vừa đi về nh à vừa lớn tiếng khóc than:
- Ta mất hết cả rồi, ta đ ã không nghe lời con ta.
Còn gã Àlambàyana trước hết bôi khắp thân mình gã các loại thuốc thần, ăn uống lấy sức rồi đọc thần chú v à đến cạnh Bồ-tát, nắm lấy đuôi thật chặt, mở miệng ng ài ra, phun vào một viên thuốc mà gã đ ã ngậm sẵn.
Rồng chúa Nàga bản tính thuần tịnh không để cho m ình nổi sân hận vì sợ vi phạm giới luật công hạnh, nên mặc dù ngài mở mắt, ngài không giương to mắt ra.
Sau khi gã nhét đầy thuốc thần v ào miệng chúa trồng, gã nắm đuôi rồng, đầu dốc ngược, lắt mạnh cho rồng phun những thức ăn đ ã nuốt vào, gã c ăng rồng nằm d ài trên mặt đất, rồi lấy tay đ è mạnh thân rồng như thể đ è chiếc gối, gã chà sát cả bộ xương ngài, nắm đuôi, nện ng ài như thể đập tấm vải. Bậc Đại Sĩ không phẫn nộ mặc d ù ngài đang chịu đau đớn như vậy.
*
Bậc Đạo Sư tả việc n ày qua kệ sau:
62. Nhờ các thuốc men đủ lực thần, Đọc thần chú có ác công năng, G ã cầm rồng chúa không kinh hãi, Và bắt buộc ngài phải phục tuân.
*
Sau khi làm bậc Đại Sĩ tơi tả như vậy, g ã sửa soạn một cái giỏ đựng cây leo bỏ ng ài vào, lúc đầu thân m ình đồ sộ của ng ài không vào lọt trong giỏ, nhưng sau khi đá v ài cái, gã cố nhét ngài vào. Rồi đến một l àng kia, gã đặt giỏ giữa l àng rao to:
- Ai muốn xem rồng chúa thì ra mà xem.
Cả làng đổ xô ra vây quanh. G ã liền gọi chúa Nàga ra. Bậc Đại Sĩ suy nghĩ: "Tốt hơn hết l à ta nên múa để làm hài lòng dân chúng hôm nay, có lẽ gã kiếm được nhiều tiền sẽ thả ta ra; thôi g ã bảo ta làm gì ta cũng làm cả". Thế là khi gã Àlambàyana đem ng ài ra khỏi giỏ, bảo ngài phình ra, ngài liền phình lớn thân, khi gã bảo ngài thu nhỏ hay cuộn tròn thành một đống như mô đất, hoặc hiện ra một m ào, hai mào, hay ba, bốn, n ăm, mười, hai mươi hoặc cả trăm m ào, hoặc hiện mình cao thấp, hữu hình, vô hình, hoặc biến thành xanh, vàng, đỏ, trắng, hồng, hoặc phun nước hay phun khói c ùng nước, ngài điều hiện đủ mọi h ình dáng như gã ra lệnh và biểu diễn đủ t ài nhảy múa.
Người đứng xem không ai cầm được nước mắt v à dân chúng đem tiền, v àng bạc, áo quần, đồ trang sức đủ loại như thế, n ên chỉ trong làng ấy gã đ ã kiếm được cả trăm ng àn đồng tiền.
Lúc bấy giờ, thoạt đầu mới bắt được bậc Đại Sĩ, g ã có ý định thả ng ài ra sau khi đ ã kiếm được một ng àn đồng tiền, nhưng khi đ ã kiếm được nhiều như thế, g ã lại nói:
- Chỉ trong một ngôi làng nhỏ mà ta đ ã kiếm được chừng n ày huống hồ đến một kinh th ành ta còn kiếm được bao nhi êu nữa.
Thế là sau khi để gia quyến ở lại đó, g ã trang hoàng một cái giỏ bằng ngọc vàng thật đẹp, ném bậc Đại Sĩ v ào trong, gã lên một chiếc xe ngựa sang trọng cùng một đo àn tuy tùng rầm rộ. Cứ đến mỗi l àng mạc, thị trấn, gã đều bắt ng ài nhảy múa, sau cùng họ đến th ành Ba-la-nại. Gã cho rồng chúa ăn mật v à hạt ngũ cốc rang, lại giết ếch nhái cho ngài ăn, nhưng ng ài không ăn, v ì sợ gã không chịu thả ngài ra. Nhưng dù ngài không ăn g ì, gã vẫn bắt ngài diễn trò, bắt đầu tại bốn l àng gần cổng thành, họ ở lại cả tháng ròng.
Rồi vào ngày rằm trai giới, gã tâu trình vua rằng gã sẽ cho biểu diễn tài múa rồng hầu vua ngự lãm. Vì thế vua ban lệnh bằng một hồi trống cho dân chúng tụ tập lại đông đủ v à những tầng ghế sân khấu được dựng l ên trước sân chầu.
VI.- BẬC ĐẠI TRÍ DATTA ĐƯỢC GIẢI CỨU
Nhưng vào ngày Bồ-tát bị Àlambàyana bắt, mẹ của Bồ-tát nằm mơ thấy một người da đen mắt đỏ vung kiếm cắt tay b à mang đi, máu chảy r òng ròng. Bà kinh hoàng tỉnh giấc, sờ tay phải mới biết mình nằm mơ. Rồi bà suy nghĩ: "Ta đ ã thấy một giấc mơ hãi hùng, nó báo trước một tai họa nào đó sắp xảy ra hoặc cho bốn con ta, hoặc Đại vương Dhur ì-datta, hoặc cho chính ta".
Nhưng lập tức bà liên tưởng ngay đến Bồ-tát: "Hiện nay tất cả các con đều ở cảnh giới N àga trừ Bhùridatta lên cõi nhân gian quyết tâm hành trì giới luật với lời nguyện giữ ngày trai giới, nên ta lo lắng không biết có kẻ bắt rắn hay chim Garula nào bắt con ta ch ăng".
Bà cứ b ăn khoăn m ãi về ngài như thế, cuối cùng sau nửa tháng bà hết sức u sầu, tự nhủ: "Con ta không thể nào sống xa ta trong nửa tháng được, chắc có tai nạn g ì xảy ra cho con ta rồi". Một tháng trôi qua không biết bao nhiêu lệ sầu đ ã tuôn ra từ mắt bà trong cơn đau buồn ấy, b à cứ ngồi nhìn con đường ng ài thường trở về nhà, nói không ngớt:
- Chắc chắn bây giờ con ta phải về nhà, chắc chắn bây giờ con ta phải về nhà. Lúc ấy thái tử Sudassana cùng một đám t ùy tùng đông đảo đến yết kiến phụ vương v à mẫu hậu sau một tháng xa cách. Sau khi để đám t ùy tùng đứng ngo ài điện, ch àng bước lên nội cung đảnh lễ mẹ xong, đứng sang một b ên nhưng vì đang lo buồn chuyện Bh ùridatta, bà không nói với chàng một lời nào cả. Chàng nghĩ thầm: "Bất cứ khi nào ta về th ăm mẹ trước kia, mẹ ta đều vui mừng tiếp đón ân cần niềm nở, thế sao hôm nay mẹ ta lại buồn thảm quá như vậy, v ì cớ gì?"
Thế là chàng hỏi mẹ:
63. Mẹ thấy con về, đủ chiến công, Mọi đều ước nguyện đ ã vuông tròn, Tuy nhiên chẳng tỏ bày vui vẻ, Khuôn mặt mẹ đầy vẻ tối sầm. 64. Như hoa sen được hái thô sơ, Rũ xuống trong tay, chóng héo khô, Có phải đây l à cách mẹ đón, Khi con trở lại tự phương xa?
Chàng ngâm kệ khác hỏi mẹ thêm:
65. Có kẻ nào la mắng mẹ không, Hay là mẹ khổ não trong lòng, Khiến cho mẹ mặt mày u ám, Khi mẹ thấy con trở lại ch ăng?
Bà mẹ đáp như sau:
66. Mẹ đ ã thấy cơn ác mộng vầy: Cách đây một tháng đúng hôm nay, Một người đến cắt l ìa tay phải, Khi mẹ nằm sàng tọa ngủ say, Rồi nó kéo đi tay vấy máu, Lệ ta chẳng cản được người n ày. 67. Tràn ngập lòng ta nỗi hãi hùng, Từ khi thấy cảnh tượng hung tàn, Đ êm ngày ta chẳng hề hay biết, Một phút mừng vui hoặc lạc an.
Nói xong bà lớn tiếng khóc than:
- Ta không biết con yêu quý của ta giờ đây ở đâu, chắc lại có tai họa g ì xảy ra cho em con rồi.
Và bà nói to lên:
68. Vương nhi, bao mỹ nữ thanh xuân, Ngày trước thường kiêu hãnh kế gần, Trang điểm lưới v àng, tóc óng ả, Dat-ta con hỡi, vắng Long quân! 69. Quanh chàng bao chiến sĩ oai hùng, Lẫm liệt tuốt gươm, đám hạ thần, Như khóm Ka-ni hoa chói sáng, Ôi! Ta t ìm kiếm đ ã hoài công! 70. Ta phải đi theo dấu vết chân, T ìm nơi chàng đ ã định nương thân, Ho àn thành nguyện ước đời tu sĩ, V à tự biết chàng có vạn an.
Nói xong bà cùng đám thị vệ của ch àng và các cung nữ của bà đi ra ngo ài.
Lúc bấy giờ các vương phi của Bồ-tát chưa biết lo âu khi họ không thấy ngài trên tổ kiến, vì họ bảo là ngài chắc chắn đ ã đi về cung thăm mẹ, nhưng khi được tin b à đang khóc lóc v ì không thấy con đâu, họ đều chạy ra đón b à và quỳ xuống chân bà đồng lớn tiếng k êu than:
- Ôi mẫu hậu, cả tháng này chúng thần thiếp chưa gặp đức phu quân.
*
Bậc Đạo Sư tả lại cảnh ấy như sau:
71. Các vương phi của vị Long vương, Nhìn mẫu hậu đang bước đến gần, Họ khóc than vô c ùng thảm thiết, Và dang tay trước mặt bà hoàng: 72. "Long quân, bậc Đại trí Dat-ta, Đi vắng nơi đâu một tháng qua, Sống thác, chúng thần không thể biết, Trong l òng tuyệt vọng, nói sao giờ?"
*
Mẫu hậu cùng các vương phi than khóc ở giữa đường, rồi c ùng nhau bước vào cung; nỗi sầu khổ của bà tuôn ra không nguôi được khi b à nhìn thấy tọa sàng của con.
73. Giống như chim mẹ quá đơn côi, Nh ìn tổ vắng, con bị giết rồi, Cũng vậy, sầu dâng tràn dạ mẹ, Khi tìm con trẻ đ ã hoài hơi. 74. Thẳm sâu trong dạ, nỗi sầu bi, Thiêu đốt bừng l ên ngọn lửa kia, Như thể lò rèn mà chú thợ, Mang theo nơi gã được mời đi.
Trong lúc bà than khóc như vậy,cung thất của Bhùridatta như vang dội một âm hưởng dài lê thê khác nào tiếng sóng gầm vi vu của biển cả. Không một ai khỏi xúc động v à cả cung thất như rừng cây Sàla bị rung chuyển trong cơn bão táp của ngày tận thế.
*
Bậc Đạo Sư tả quang cảnh như sau:
75. Như Sà-la ngã dưới cơn dông, Cành lá gãy lìa, rễ bật tung, Cũng vậy, vợ con và mẹ nữa, Nằm trong nhà vắng vẻ tang hoang.
*
Các hoàng huynh Aritha và Subhaga đến yết kiến mẹ, nghe tiếng ồn ào vội chạy vào cung hết sức trấn an mẫu thân:
*
Bậc Đạo Sư tả cảnh ấy như sau:
76. A-rit-tha với Su-bha-ga, Nôn nóng đến an ủi mẹ gi à, Nghe tiếng khóc than rền thảm thiết, Trong nhà bậc Đại trí Dat-ta: 77. - Xin mẹ an lòng, dứt khóc than, Đây l à số phận của trần gian, Mọi loài đều phải qua sinh tử, Quy luật vô thường vạn vật mang.
Samuddajà, mẫu hậu đáp:
78. Con ơi, mẹ biết luật rành rành, Đây số phận muôn loại chúng sinh, Nhưng mẹ mất con không hợp lý, Bơ vơ, mẹ chỉ biết buồn t ênh. 79. Quả thật, nếu không thấy được con, Bảo châu đem hỷ lạc tâm hồn, Dat-ta Đại trí, th ì ta sẽ, Kết liễu đ êm nay cuộc sống buồn!
Các vương tử vội bảo:
80. Đừng quá sầu bi, hỡi mẹ hiền, H ãy làm dịu bớt nỗi u phiền, Chúng con sẽ đón về vương đệ; Xuy ên suốt qua toàn cõi đất liền, Ở khắp mọi nơi v à mọi hướng, Chúng con theo dõi vết chân em. 81. B ăng qua đồi núi hoặc đồng bằng, Thị trấn, v à khắp các xóm làng, Cho đến khi t ìm ra tiểu đệ, Chỉ trong độ khoảng mươi ng ày đ àng, Chúng con xin hứa cùng hiền mẫu, Đem tiểu đệ về được vạn an.
Lúc đó Sudassana suy nghĩ: "Nếu cả ba anh em ta c ùng đi về một hướng e rằng chậm trễ mấ t, vậy chúng ta phải đi về ba xứ khác nhau: Một em lên cõi Thiên thần, một em đến núi Himavat, một em nữa l ên cõi nhân gian, em ta sẽ đốt hết l àng xóm, thị trấn nào mà em ta tìm ra được Bh ùridatta vì em ta là bản tính độc ác, không n ên để em ta l ên đó".
Thế là chàng bảo em:
- Vương đệ, h ãy lên cõi Thiên thần, xem có phải ch ăng Thi ên chủ triệu vương đệ Bh ùridatta để thuyết Pháp cho các ng ài, thì hãy đưa vương đệ trở về .
Chàng lại bảo Subhaga:
- Hãy lên núi Himavat tìm Bhùridatta trong cả n ăm con sông v à đem về đây.
Còn chàng quyết định phần m ình lên cõi nhân gian. Chàng suy nghĩ: "Nếu ta giả dạng kim đồng, dân chúng sẽ phỉ báng ta, thôi ta phải giả dạng một ẩn sĩ, v ì các vị khổ hạnh thường được người đời quý trọng niềm nở ch ào đón". Thế l à chàng cải trang làm một vị ẩn sĩ khổ hạnh, từ giã mẹ ra đi.
Lúc bấy giờ Bồ-tát có một cô em gái khác mẹ, tên gọi Accimukhì, rất yêu thương Bồ-tát. Khi nàng thấy Sudassana ra đi, n àng bảo:
- Vương huynh ôi, em rất lo ngại, cho em đi với.
Chàng đáp:
- Hiền muội, hiền muội không thể đi với ta được v ì ta đ ã cải trang làm ẩn sĩ rồi.
- Thế thì tiểu muội xin biến thành con ếch nhỏ đậu tr ên đám tóc bện lại của vương huynh.
Chàng ưng thuận, thế là nàng biến thành nhái con nằm trong đám tóc bện lại của ch àng. Sudassana quyết đi t ìm em ngay từ lúc bước khởi đầu, cho n ên chàng hỏi vương phi xem vương đệ h ành trì trai giới ở đâu để đi ngay đến đó. Khi ch àng thấy vết máu ở nơi Bồ-tát bị Àlambàna bắt và nơi Àlambàna đ ã làm giỏ cây leo để đựng ng ài, chàng chắc chắn rằng Bồ-tát đ ã bị người bắt rắn mang đi, n ên lòng chàng nặng trĩu u sầu, mắt đẫm lệ đi theo dấu chân Àlambàna.
Khi chàng đến ngôi l àng đầu ti ên Bồ-tát biểu diễn tài múa, chàng hỏi dân chúng xem có phải một người bắt rắn đ ã diễn trò với một con rồng như vầy ch ăng.
- Đúng vậy, cách đây một tháng, Àlambàna đ ã diễn trò như vậy.
- Thế gã có kiếm được g ì lợi ch ăng?
- Gã kiếm được một trăm ng àn đồng tiền chỉ nội nơi n ày.
- Thế bây giờ gã đi đâu?
- Gã đ ã đi đến l àng nọ rồi.
Chàng lại ra đi, vừa đi vừa hỏi đường, cuối c ùng chàng đến cung môn. Ngay lúc ấy Àlambàna đ ã đến nơi, tắm rửa, xức dầu thơm xong, mặc áo d ài sang trọng, rồi bảo tên hầu mang giỏ đựng rồng được trang ho àng vàng ngọc ấy ra, dân chúng tụ tập rất đông, một chiếc cẩm đôn đặt sẵn d ành cho vua và trong khi còn ở trong cung, vua đ ã truyền lệnh:
- Trẫm sắp ngự triều, hãy bảo Long vương diễn trò đi.
Lúc ấy gã Àlambàna đặt cái giỏ đính châu ngọc ấy tr ên một tấm thảm sặc sỡ đủ m àu, ra dấu hiệu bảo:
- Rồng chúa, ra đây.
Sudassana đang đứng ở cạnh đám đông trong lúc bậc Đại Sĩ ngẩng đầu l ên nhìn quanh dân chúng. Thời bấy giờ loài rồng Nàga nhìn đám người vây quanh v ì hai lý do: Một là để xem có chim Garula n ào, hay là có người diễn trò nào không. Nếu thấy chim Garula thì chúng sẽ không múa vì sợ hãi, còn nếu có người diễn trò nào thì chúng lại không múa vì hổ thẹn.
Trong lúc nhìn quanh như thế, bậc Đại Sĩ thấy anh m ình trong đám đông, liền cố ngăn d òng lệ đang tr àn ra mắt và bò ra khỏi giỏ, tiến đến anh m ình. Đám đông thấy ng ài đến gần, hoảng sợ bỏ chạy, chỉ c òn lại một mình Sudassana, vì thế ngài đến gần anh, đặt đầu l ên chân anh và khóc, Sudassana cũng khóc theo. Sau cùng bậc Đại Sĩ nín khóc v à bò vào giỏ như cũ.
Àlambàna nhủ thầm: "Chắc rồng Nàga này đ ã cắn ẩn sĩ kia, vậy ta phải an ủi vị đó mới được". G ã đến gần ch àng và bảo:
82. Rồng vừa tuột khỏi bàn tay, Chụp lấy chân ngài thật mạnh thay, Nó cắn ngài chưa?Xin chớ sợ, Không gì độc hại nọc rồng n ày.
Sudassana muốn nói chuyện với gã, vì vậy chàng đáp:
83. Rồng của ngài không thể hại ta, Ta đây xứng hợp với rồng m à, Hãy tìm khắp chốn, ngài không thấy, Một kẻ nhử rồng rắn giống ta.
Àlambàna không biết chàng là ai, vì vậy gã nổi giận nói:
84. Gã này giả dạng Bà-la-môn, Thử thách lão đ òi chuyện thiệt hơn, Tất cả đám đông nghe l ão nói, Xử cho hai phía thật công bằng.
Sudassana liền đáp kệ:
85. Vô địch của ta chính nhái con, Rồng kia vô địch của tôn ông, H ãy đem đánh cuộc năm ng àn chẵn, Để bọn chúng ta trợ lực h ùng.
Àlambàna bắt bẻ:
86. Ta giàu phương tiện thật cao sang, Mạt vận ông quê kệch xó làng, Ai người làm chứng phe ông đó, V à số tiền đâu đặt xuống b àn? 87. Có phần bảo đảm của ta đây, Tiền cuộc, nếu ta mất vận may, Năm ng àn đồng sẽ n êu uy lực, Việc thử thách kia, đáp ứng ngay.
Sudassana nghe vậy liền bảo:
- Nào ta thử trổ tài để được năm ng àn đồng tiền.
Và chàng không nao núng bước vào cung vua, yết kiến đức vua, tức l à cửu phụ của chàng, và ngâm kệ:
88. Muôn tâu chúa thương, nghe lời thần, Đừng bỏ dịp may, hưởng phước phần, Mong Chúa thượng v ì thần bảo chứng, Đem ra đánh cuộc giá năm ng àn!
Vua nghĩ thầm: "Ẩn sĩ này đ òi một số tiền quá lớn, thế là nghĩa gì?".Vì thế ngài liền đáp:
89. Thân phụ ngài trao lại nợ đời, Hay l à món nợ của riêng ngài, Khiến ngài phải đến đây đ òi trẫm, Một món nợ nghe thật lạ tai!
Sudassana ngâm hai vần kệ:
90. À-lam muốn cuộc với Long vương, Đánh bại hạ thần lập chiến công, Thần chỉ có đây con nhái bén, Phá tan ki êu mạn Bà-la-môn. 91. Chúa thượng, xin ngài hãy giáng lâm, Ngự du cùng với đám t ùy tùng, Và nhìn chiến cuộc nơi này nhé, Đang đợi g ã kia đấu với thần.
Vua ưng thuận ra đi c ùng với ẩn sĩ. Khi Àlambàna thấy vua, gã liền nghĩ: "Ẩn sĩ này kéo được nh à vua vào phe mình, chắc phải là thân hữu của vương gia rồi". Gã bỗng sinh ra sợ hãi, vội chạy theo chàng và nói:
92. Ta chẳng muốn đâu hạ nhục ng ài, Ta không một chút muốn khoe tài, Nhưng ngài khinh thị rồng này quá, Kiêu mạn sẽ làm thất bại thôi.
Sudassana đáp hai vần kệ:
93. Ta chẳng cầu mong hạ nhục ngươi, Cũng không khinh kẻ muốn khoe tài, Nhưng sao ngươi phỉnh phờ dân chúng, Bằng loại rắn không giết hại ai? 94. Ví thử người ta biết tướng chân, Như ta thấy nó rõ ràng ràng, Nói gì đến chuyện v àng hay bạc, Ngươi chỉ được ăn một bữa xo àng!
Àlambàna nổi giận đáp:
95. Nhà ngươi khất thực khoác da lừa, Dơ bẩn và trông vẻ xác xơ, Ngươi dám khinh khi rồng của lão, Nói rồng không biết cắn bao giờ! 96. Đến đây v à thử việc rồng làm, Học hỏi bằng kinh nghiệm nếu cần, Ta bảo đảm d ù không độc hại, Nọc rồng sẽ biến bạn th ành than!
Sudassana liền ngâm kệ chế nhạo gã:
97. Chuột hay rắn nước cắn người nào, Chọc giận nó phun nọc độc sao, Rồng đỏ đầu n ày không có hại, Nó không cắn, dẫu biết phun cao!
Àlambàna đáp hai vần kệ:
98. Ta đ ã được bao vị Thánh nhân, Thực h ành pháp khổ hạnh không ngừng, Bảo người bố thí trong đời sống, Sẽ đến c õi thiên lúc mạng chung. 99. Ta khuyên ngươi bố thí ngay liền, Nếu thực ngươi còn chút của tiền, Rồng sẽ biến ngươi thành cát bụi, Ngươi không có thể sống lâu bền!
Sudassana lại nói:
100. Ta cũng nghe từ các Thánh nhân, Người bố thí đến thi ên cung, Vậy mau bố thí khi còn sống, Nếu có vật gì để phát phân. 101. Nhái của ta không phải loại thường, Sẽ l àm ngươi hạ giọng kiêu c ăng, L à công chúa của Long vương đó, N àng ấy là bào muội chính tông, Mồm của Ac-ci phun ngọn lửa, Hơi nàng cực độc, tiếng vang lừng.
Rồi chàng đứng giữa đám đông gọi to:
- Này hiền muội Accimukhì, em hãy ra khỏi tóc ta và đứng tr ên tay ta.
Chàng đưa tay ra, v à khi nàng nghe chàng bảo, liền thốt lên tiếng kêu ba lần như loài ếch nhái lúc còn nằm trên tóc chàng, rồi nàng nhảy ra vai chàng, phun ra ba giọt nọc độc tr ên lòng bàn tay chàng rồi trở lại mái tóc chàng như cũ. Sudassana đứng cầm nọc rắn ấy thốt l ên ba lần:
- Xứ này sẽ bị thiêu rụi.
Âm vang rền khắp Ba-la-nại đến mười hai dặm đường. Vua hỏi vật g ì có thể hủy được nọc n ày.
- Tâu Đại vương, thần chẳng thấy chỗ n ào có thể thả nọc này xuống được.
- Đất n ày rộng lắm, cứ thả xuống đi.
- Không thể được.
Chàng đáp bằng vần kệ sau:
102. Nếu thần thả nó xuống đồng bằng, Tâu Đại vương, nghe kỹ hạ thần, Đám cỏ, cây leo v à dược thảo, Thảy đều ti êu diệt cháy khô cằn.
- Vậy thì hãy ném lên trời.
- Cũng không được.
Chàng đáp bằng vần kệ sau:
103. Nếu hạ thần nghe lệnh Đại vương, Ném tung độc ấy giữa không gian, Sẽ không mưa, tuyết trời rơi xuống, Cho đến bảy năm phải lụi t àn.
- Vậy thì hãy ném xuống nước.
- Cũng không được.
Chàng đáp bằng vần kệ sau:
104. Nếu vào trong nước, nọc này rơi, Tâu Đại vương, nghe kỹ mấy lời: Tất cả cá, r ùa đều phải chết, Muôn lo ài thủy tộc sống ngoài khơi.
Vua kêu lên:
- Trẫm cũng chẳng biết làm sao nữa. Ngài hãy chỉ cho trẫm cách nào để đất nước khỏi bị ti êu diệt.
- Tâu Đại vương, xin cho đ ào ba hố liền nhau.
Vua ra lệnh làm ngay. Sudassana đổ đầy thuốc độc v ào hố giữa, phân bò vào hố thứ hai, và thần dược vào hố thứ ba, rồi chàng thả nọc độc v ào hố giữa, một ngọn lửa đầy khói b ùng lên, lan qua hố phân bò, bùng lên lần nữa, rồi lan qua hố thuốc thần, thiêu rụi hết thuốc rồi mới tắt. Àlambàna đứng gần hố ấy, bị hơi nóng của nọc độc bắt phải, m àu da liền biến dạng và gã thành tên hủi trắng.
Gã kinh hoàng la lên ba lần:
- Ta sẽ thả rồng chúa ra.
Nghe thế, Bồ-tát liền bước ra khỏi giỏ dát ngọc vàng ấy, hiện hình sáng lòa mang đầy châu ngọc, sừng sững uy nghi trong dáng điệu của Thi ên chủ Indra (tức Sakka). Sudassana và Accmukhì đứng hai b ên.
Lúc đó Sudassana hỏi vua:
- Đại vương có biết đây l à dòng dõi nào ch ăng?
- Trẫm không được biết.
- Đại vương không biết chúng thần, nhưng Đại vương biết chuyện vua K àsi gả công chúa Samuddàja cho rồng chúa Dhàtarattha chứ?
- Trẫm biết rõ lắm, đó l à tiểu vương muội của trẫm.
- Chúng thần là con trai của công chúa ấy, Đại vương l à cửu phụ (cậu) của chúng thần.
Thế rồi vua ôm lấy các cháu, hôn lên đầu v à khóc, xong lại mang các cháu vào cung tiếp đãi rất trọng thể. Trong khi vua ân cần đón tiếp Bh ùridatta, vua hỏi Bồ-tát bằng cách nào Àlambàna đ ã bắt ngài trong khi ngài có nọc thần vô địch như vậy. Sudassana liền kể hết đầu đuôi câu chuyện rồi bảo:
- Tâu Đại vương, một vị vua phải trị v ì quốc độ như thế n ày.
Chàng liền thuyết Pháp cho vua, rồi chàng bảo:
- Tâu Cửu phụ, mẫu hậu đang héo m òn vì vắng bóng Bhùridatta, chúng tiểu điệt không dám ở lâu hơn nữa.
- Phải lắm, các hiền điệt cứ ra về, nhưng trẫm cũng muốn gặp vương muội, vậy l àm cách nào?
- Tâu Cửu phụ, thế tổ phụ, Đại vương K àsi, đâu rồi?
- Ngài không thể sống thiếu vương muội, nên ngài đ ã rời ngôi báu, đi l àm ẩn sĩ, hiện đang sống trong rừng kia.
- Tâu cửu phụ, mẫu hậu cũng đang ao ước được gặp tổ phụ c ùng cửu phụ, chúng tiểu điệt xin rước mẫu hậu đến lều ẩn sĩ của tổ phụ, lúc ấy cửu phụ sẽ gặp luôn mẫu hậu tại đó.
Thế là họ định ng ày xong, và rời cung. Sau khi từ giã các cháu trai, vua khóc lóc trở vào; còn họ liền độn thổ ra đi về cảnh giới N àga.
VII .- GÃ THỢ S ĂN BỊ TRỪNG PHẠT
Khi bậc Đại Sĩ trở về với dân chúng như vậy, cả kinh th ành đang rền vang những lời than khóc khắp nơi . Chính ng ài cũng mệt mỏi vì cả tháng trời ở trong giỏ, nên đi nằm dưỡng bệnh, v à thần dân Nàga tấp nập đến viếng thăm ng ài đông vô số, khiến ng ài lại mệt thêm vì phải chuyện trò cùng họ. Trong lúc ấy Kànàrittha lên thiên giới tìm không gặp bậc Đại Sĩ, l à kẻ trở về đầu ti ên, nên chàng được phân công l àm thần canh cửa của bậc Đại Sĩ v ì chàng được xem l à kẻ tính tình nóng nảy có thể xua tan hết đám đông N àga ấy.
Phần Subhàga, sau khi tìm khắp vùng núi Himavat (Tuyết Sơn), cả đại dương c ùng các sông ngòi không gặp, liền phiêu bạt đến v ùng sông Yamunà để t ìm kiếm.
Lúc bấy giờ gã Bà-la-môn hạ đẳng thấy Àlambàna đ ã hóa thành người hủi, gã nghĩ thầm: "Gã ấy hóa hủi, chỉ vì quấy phá Bhùridatta; nay ta cũng vậy, chỉ vì ham ngọc báu mà phản bội ngài dù ngài là ân nhân của ta, tội này ta sẽ phải mang. Vậy trước khi họa đến, ta phải xuống d òng sông Yamunà rửa sạch tội trong chỗ tẩy uế linh thiêng này".
Thế rồi gã xuống sông, tự cho là gã sẽ rửa sạch tội phản bội kia. Vừa lúc ấy Subhàga đến nơi, nghe g ã nói, liền nghĩ thầm: "Gã khốn nạn tồi tệ này chỉ vì tham bảo ngọc mà phản bội anh ta, ngài đ ã ban cho gã mọi phú quý vinh hoa, ta không thể nào tha mạng gã được". V ì vậy chàng cuộn đuôi quanh chân g ã, kéo gã dìm xuống nước, đến khi g ã ngạt thở, chàng để y ên gã một lát; gã ngẩng đầu l ên, chàng lại dìm xuống, nhiều lần như thế cho đến cuối c ùng gã Bà-la-môn hạ đẳng kia ngẩng đầu l ên bảo:
105. Ta đang tắm ở chốn thi êng này, Dòng thánh Pa- yà linh hiển thay, Chân cẳng ta trên đầy nước thánh, Quỷ n ào hút máu của ta đây?
Subhàga đáp lời g ã qua vần kệ sau:
106. Chuyện kể ngày xưa có vị thần, Đến K à-si đất nước ki êu c ăng, Long vương thật hiển vinh danh vọng, H ùng dũng cuộn tròn khắp núi sông, Ta chính con ngài đang chụp l ão, Tên Su-bha, hỡi Bà-la-môn.
Gã Bà-la-môn nghĩ thầm: "Anh của rồng chúa Bhùridatta không muốn tha chết cho ta, nhưng ta thử làm động từ tâm của vị n ày bằng cách tán tụng phụ mẫu của họ, rồi xin tha mạng xem sao". Thế là gã ngâm kệ sau:
107. Kà-si vương tử thật oai linh, Mẫu hậu sinh dòng giống hiển linh, Ngài chớ để nô t ài hạ đẳng, Chết ch ìm trong sóng nước vô tình.
Subhaga nghĩ thầm: "Gã Bà-la-môn độc ác n ày cố đánh lừa ta để ta xi êu lòng mà tha nó, nhưng ta chẳng tha nó đâu". Thế l à chàng đáp, nhắc lại các h ành động của g ã:
108. Một nai khát nước đến d òng sông, Từ bụi cây, ngươi núp bắn cung, Kinh hãi, đau thương nai chạy trốn, Bỗng dưng tai họa giáng v ào thân. 109. Người thấy trong rừng nai ngã ra, Ngươi đem đ òn gánh vác nai qua, Đến cây đa mọc đầy c ành lá, Chằng chịt bao quanh gốc rễ cha. 110. Sơn ca trỗi khúc nhạc du dương, Anh vũ trên cây nhảy rộn ràng, Đất trải cỏ xanh như thảm lót, Ho àng hôn mời nghỉ bước an nhàn. 111. Mắt ngươi độc ác thấy anh ta, Đang ẩn m ình trong đám lá đa, Mang sắc áo h è tươi rực rỡ, Vui đ ùa cùng với đám cung nga. 112. Hoan hỷ, anh ta chẳng hại ai, Sao ngươi độc ác giết oan ng ài, Nạn nhân vô tội, nhìn đây nhé! Tội ấy tr ên đầu ngươi tái lai. Ta chẳng tha ngươi d ù phút chốc, Ngươi đ ành trả hận tối cao này.
Gã Bà-la-môn nghĩ thầm: "Vị này quyết không tha mạng ta, song ta phải tìm mọi cách thoát đi mới được". Rồi g ã ngâm kệ sau:
113. Học hành, cầu nguyện để cúng dâng, L àm tế lễ trong ngọn lửa thần, Ba việc khiến La-môn được sống, Không ai xúc phạm dẫu hờn căm.
Subhaga nghe gã nói đâm ra do dự, ch àng nghĩ thầm: "Ta sẽ mang nó về cảnh giới Nàga hỏi các vương huynh ra sao". Và chàng ngâm hai vần kệ:
114. Dưới dòng sông thánh Ya-mu-nà, Trải tận chân đ èo núi Tuyết xa, Thủ phủ Nà-ga chìm đáy nước, L à nơi ngự trị chúa Dha-ta. 115. Cũng là cung thất các vương huynh, Ta sẽ đưa lời ngươi biện minh, T ùy các vương huynh quyền định đoạt, Xử ngươi tối hậu thật công b ình.
Chàng liền lôi cổ gã đi xềnh xệch c ùng lớn tiếng l ăng mạ phỉ báng g ã cho đến cung môn của bậc Đại Sĩ.
VIII.- BẬC ĐẠI TRÍ BÁC BỎ VỆ Đ À
Kànàrittha đ ã trở thành thần giữ cửa đang ngồi đó, thấy g ã kia bị kéo lôi đi một cách thô bạo như thế, liền ra gặp họ v à bảo:
- Này Subhàga, đừng l àm gã bị thương, tất cả Bà-la-môn đều l à con của đấng Đại Phạm thi ên; nếu ngài biết ta đang l àm con ngài bị thương, ngài sẽ nổi giận và tiêu diệt thế giới Nàga của ta. Trên thế gian này các Bà-la-môn có địa vị cao nhất v à thụ hưởng đại vinh danh, vương huynh chưa biết uy danh của họ, nhưng tiểu đệ đ ã biết rõ lắm.
Vì chuyện kể rằng Kànàrittha trong tiền kiếp ngay trước đời n ày đ ã sinh ra làm một Bà-la-môn tế tự, cho nên chàng mới nói quả quyết như vậy. Hơn nữa, nhờ kinh nghiệm của đời trước, ch àng rất thông thạo việc tế tự cho nên chàng bảo Subhaga cùng hội chúng Nàga:
- Đến đây ta sẽ tả cho các bạn biết đặc tính B à-la-môn tế lễ ra sao.
Rồi chàng tiếp tục nói như sau:
116. Vệ- đ à và các lễ tế đ àn, Những điều trọng vọng thật cao sang, Thuộc quyền các vị La-môn ấy, Cho dẫu họ h èn hạ tận cùng. 117. Đặc quyền họ hưởng đại quang vinh, Nếu kẻ n ào cười nhạo miệt khinh, Sẽ mất của tiền và phạm luật, Sống trong tội lỗi thật đi êu linh.
Rồi Kànàrittha hỏi Subhaga có biết ai tạo ra thế giới này không, khi Subhaga bảo không biết, chàng liền ngâm kệ bảo rằng thế giới được tạo dựng bởi đấng Phạm thi ên, là vị tổ của các Bà-la-môn:
118. Ngài tạo La-môn để học h ành, Tạo dòng Sát- đế-lị điều binh, C ày bừa, Vệ-xá, và ngài tạo, Nô lệ Thủ- đ à phụng mệnh trên. Như vậy chúa trời ban thượng lệnh, Từ thời nguyên thủy đ ã hình thành.
Kế đó ch àng bảo:
- Các Bà-la-môn này có rất nhiều uy lực, ai thân cận với họ và cúng dường họ nhiều lễ vật thì sẽ được ng ài định số phận cho khỏi tái sinh m à được ngay thi ên giới.
Rồi chàng đọc kệ sau:
119. Ku-ve-ra, So-ma, các thần, Dhà-tà, Vi-dha, cùng trời, tr ăng, Bao phen đ ã cử hành đ àn tế, Ban các La-môn mọi phước ân. 120. Aj-jun vĩ đại giáng tai ương, Chi chít ng àn tay mọc khắp thân; Mỗi cặp tay cầm cung dọa nạt, Dâng thần lửa lễ vật đầy tr àn !
Rồi chàng tiếp tục tả cảnh huy hoàng của các Bà-la-môn cùng các lễ vật tối cao sang phải được đem cúng dường cho họ như thế n ào:
121. Cổ tích kể vua nọ cúng dâng, Thật nhiều, sau hỏa một thiên thần; Vua Mu-ja mãi thờ thần lửa, Giải khát lửa bằng bơ tưới tràn, Thần lửa cuối cùng đem tưởng thưởng, Ng ài tìm ra lối đến thi ên cung.
Rồi chàng ngâm các vần kệ này để chứng minh b ài thuyết giáo của chàng:
122. Du-ji đ ã sống trọn ngàn n ăm, Xe ngựa, quân hầu, thảy phục tuân, Ng ài chọn cuối cùng đời ẩn sĩ, Từ am tranh đ ã đến thi ên cung. 123. Sà-ga chiến thắng khắp trần gian, Dựng trụ vàng dâng lễ tế đ àn, Không ai thờ lửa hơn ngài cả, Ngài cũng th ăng thi ên hóa vị thần. 124. Sữa, lạc, An-ga chúa Kà-si, Cúng dâng liên tục tưới tràn trề, Làm ngập sông Hằng thành biển cả, Cuối cùng triều Đế-Thích ng ài về. 125. Đại Đế Sak-ka có tướng quân, Dâng So-ma tửu, được vinh thăng, Nay ng ài nắm giữ bao thần lực, Từ số phận như mọi thế nhân. 126. Phạm thiên, đại tạo hóa, th ành hình, Ranh giới núi non tại tế đ ình, Tuân lệnh ngài, sông Hằng chảy xuống, Vinh quang ngài đạt bởi hy sinh.
Rồi chàng hỏi anh:
- Này vương huynh, anh có biết tại sao biển cả thành muối mặn không uống được chăng?
- Hiền đệ Arittha, ta không được biết.
- Vương huynh chỉ biết làm tổn hại các Bà-la-môn thôi, này hãy nghe đây.
Rồi chàng ngâm vần kệ:
127. Một ẩn sĩ, thông kệ, chú thần, Đứng tr ên bờ biển, đệ nghe rằng: Chạm v ào biển, nó liền ăn sống, Từ ấy, nước không uống được dần.
Tất cả các Bà-la-môn đều như thế đấy.
Rồi chàng đọc kệ khác:
128. Đế Thích xưa th ành đấng Ngọc ho àng, Đặc ân chiếu xuống B à-la-môn, Đông, tây, nam, bắc, đồng dâng lễ, N ên đượcVệ-đ à, họ hưởng phần.
Cứ thế Arittha miêu tả các Bà-la-môn cùng các tế lễ hy sinh và kinh Vệ- đ à cho hội chúng Nàga. Nghe vậy nhiều rồng Nàga tìm đến thăm Bồ -tát bên giường bệnh, và bảo nhau:
- Vương tử đang kể chuyện cổ tích.
Rồi dường như có nguy cơ là họ chấp nhận tà thuyết ấy.
Lúc bấy giờ Bồ-tát đang nằm tr ên sàng tọa nghe hết câu chuyện xong, hội chúng Nàga lại kể cho ngài nghe, ngài suy nghĩ: "Arittha đang kể một chuyện cổ sai lạc, ta phải ngắt lời thuyết giảng của em ta v à đem chánh kiến lại cho hội chúng n ày". Rồi ngài trở dậy, tắm rửa, trang hoàng châu báu xong liền ngồi trên bảo tọa, tụ tập hội chúng Nàga lại. Ngài cho gọi Arittha đến bảo:
- Này Arittha, hiền đệ đ ã nói lời sai lầm khi diễn tả các Bà-la-môn và kinh Vệ- đ à, vì các tế lễ hy sinh theo nghi thức của kinh Vệ- đ à không phải là điều đáng mơ tưởng v à nó không thể đưa lối đến thi ên giới, hãy nhìn kỹ đây những g ì hư vọng trong lời nói của hiền đệ.
Thế rồi ngài ngâm các vần kệ này miêu tả các loại tế lễ hy sinh khác nhau:
129. Vệ- đ à là bẫy kẻ khôn ngoan, Lôi cuốn làm hư hỏng nạn nhân, Ảo ảnh tạo mê lầm mắt tục, Song bao bậc trí vượt an toàn. 130. Kinh Vệ- đ à không bí lực thần, Cứu người hèn, phản bội, vô luân, Lửa kia dù thắp bao n ăm tháng, Vô vọng cuối c ùng tên chủ nhân. 131. Dù cây toàn cõi đất chồng cao, Để thỏa nguyện thần lửa khát khao, Nó vẫn th èm thuồng, khao khát mãi, Nà-ga mong đáp ứng l àm sao? 132. Sữa thường cứ thế biến dần lên, Bơ, sữa đông l à chuyện tự nhiên; Khao khát đổi thay vầy ngọn lửa, C àng khơi động, nó m ãi cao lên. 133. Lửa không cháy tự gỗ tươi, khô, Lửa cần nhen nhúm mới bùng to, Gỗ tươi, khô nếu đều bừng cháy, Ắt hẳn rừng xanh hóa hỏa l ò! 134. Kẻ chất củi, rơm đốt lửa cao, Đạt nhiều công đức, khác đâu n ào, Đầu bếp nhen l ò, hay thợ nguội, Hoặc người thiêu xác chết kia sao? 135. Chẳng ai cầu nguyện, dẫu thành tâm, Hoặc chất mồi lên đốt lửa hồng, Được phước đức g ì nhờ tế lễ, Lửa cao ngất khói cũng tàn dần! 136. Lửa mà bạn nghĩ đáng tôn vinh, Vậy phải ở c ùng rác thối tanh, Ăn xác chết hân hoan độc ác, Mọi người kinh tởm vội quay nhanh. 137. Có người tôn kính lửa như thần, Giống bọn man ri trọng nước sông, Bọn chúng lạc ra ngo ài chánh đạo, Đều không xứng được gọi thần nhân. 138. Thờ lửa, tôi đ òi của thế nhân, Vô tình, mù điếc trước lời than, Sống đời ích kỷ đầy lầm lỗi, Mơ tưởng thi ên đường có được chăng? 139. B à-la-môn ấy muốn làm ăn, N ên bảo Phạm thiên cúng lửa thần, Sao Tạo hóa làm ra vạn vật, Lại thờ tạo vật chính tay làm? 140. Pháp luật hão huyền, phi lý sao, Tổ tiên ta tưởng đạt sang gi àu: "Học hành ngài tạo La-môn ấy, Sát- ly cầm quyền lực quý cao. 141-142. - Vệ xá cày bừa mọi đất đai, Thủ -đ à phụng mệnh của bao người, Từ thời nguyên thủy là như vậy, Phát xuất tối cao lệnh của trời". Ta thấy lệnh này đều áp đặt, Mắt ta trông đ ã hiển nhiên rồi. 143. Chỉ các La-môn được tế thần, Không ai ngo ài Sát-ly cầm quân, Cày bừa Vệ-xá và nô lệ, Các Thủ- đ à kia phải phục tuân. 144. Vọng ngữ tham lam thuyết đảo đi ên, Kẻ ngu tin tưởng chuyện hư huyền, Ai người có mắt nhìn toàn cảnh, Sao chẳng công bình, hỡi Phạm thiên? 145. Nếu quyền vô hạn khắp nơi nơi, Sao chính tay ban phúc hiếm hoi, Sao vật ngài sinh đều chịu khổ, Sao không ban phúc đến muôn lo ài? 146. Lừa dối ngu si ở khắp nơi, Tràn đầy hư vọng, chánh chân vơi, Phạm thi ên là vị bất công quá, Đ ã tạo thế gian lắm trái sai. 147. Những kẻ được xem l à trắng trong, Tha hồ giết nhái, rắn, trùng, ong, Tục này man rợ, ta khinh ghét, Như thể Kam-bo, bộ lạc rừng. 148-149. Nếu kẻ giết kia được trắng trong, Nạn nhân cũng được đến thi ên đ àng, La-môn hãy giết La-môn sạch, Như vậy bọn này được lạc an, V à cả những ai nghe thật kỹ, Những lời chúng nói thật tà gian. 150. Chẳng thấy bò, dê muốn thiệt thân, Để mong có cuộc sống cao hơn, Chúng miễn cưỡng đi v ào chỗ chết, Vẫy vùng tuyệt vọng trút hơi tàn. 151. Bao phủ tế đ àn, chuyện sát sinh, Tuôn lời bóng bẩy tuyệt tài tình: "Tế đ àn như thể con bò mập, Bảo đảm bao tâm nguyện đạt th ành". 152-153. Nếu củi chất quanh vật tế thần, Chứa đầy kho báu, họ ca vang, Bạc, v àng, châu, ngọc cho ta hưởng, Cùng lạc thiên cung sẽ ngập tràn, Hẳn họ tế đ àn riêng họ hưởng, Giữ cho mình sản nghiệp giàu sang. 154. Bọn dối lừa, ngu xuẩn, ác gian, Chuyện dài thêu dệt phỉnh ngu dân: "Dâng tiền, cắt móng và râu tóc, Người sẽ được như nguyện thỏa l òng". 155-156. Thí chủ ngây ngô sẵn nhiệt tình, Với hầu bao đến, chúng vây nhanh, Như bầy quạ xúm quanh chim cú, Tâm hướng về bao chuyện ác h ành, Khiến nạn nhân kia thành sạt nghiệp, Cuối cùng bị lột sạch sành sanh, Đồng tiền chắc chắn người kia có, Đổi lấy hứa suông chẳng thực h ành. 157-158. Như bọn lạ tham được lệnh vua, Tịch thu t ài sản đám nông gia, Bọn n ày cướp chỗ nào rình rập, Tìm của với con mắt ác tà; Không luật lệ nào lên án chúng, Tuy nhiên chúng phải chết là vừa! 159-160. Tế sư phải nắm nhánh Bu-ta, Làm lễ tế đ àn tự trước kia, Nó được gọi thay Thi ên chủ đấy; Thế nhưng nếu thật vậy từ xưa, Phải chăng Thi ên chủ In-dra đ ã, Chiến thắng được y êu quỷ địch th ù? Tay của trời cho ngài ích lợi, Có đâu l àm quỷ sợ vu vơ? 161-162. Mỗi rặng núi trong quốc độ kia, Chính l à lễ vật tự ngàn xưa, Đặt l ên đ àn tế thành từng đống, Tín chủ đưa tay nhẫn nại ra Chất lễ vật l ên cao tựa núi, Tuân theo lệnh Đại Phạm thi ên mà! 163-164. "Núi được chất cao với lễ dâng", Nói như vậy đó các La-môn, Khoe khoang huyễn hoặc, ôi ô nhục! Đống gạch kia d ù kiếm hết lòng, Cũng chẳng chứa đâu nguồn mạch sắt, Để người thợ mỏ phải ho ài công. 165. Chuyện kể một hiền thánh thuở xưa, Đang khi cầu nguyện ở b ên bờ, Bị chìm xuống biển, từ thời đó, Nước biển không sao uống đến giờ! 166-167. Sông đ ã nhận chìm các Thánh hiền, Hằng tr ăm v à nước vẫn bình yên, Xuôi dòng chảy mãi không hề thối, Sao chỉ biển xanh giữ hận hiềm? Nước mặn tràn vào trên mặt đất, Do người đ ào, chẳng bởi lời nguyền. 168-169. Trước tiên chẳng có nữ, nam nhân, Trí óc làm nhân loại sáng dần, Dòng giống ban đầu b ình đẳng cả, Nhưng v ì thành bại đ ã bao lần, Làm con người đổi thay ngôi thứ, Chẳng phải v ì xưa thiếu phước ân, Những lỗi lầm ngày nay đ ã khiến, Họ thành ưu thắng hoặc cùng bần. 170. Kẻ hạ đẳng kia d ùng trí khôn, Đọc kinh n ày, trí chẳng cao hơn, La-môn tạo Vệ- đ à làm hại, Khi các tha nhân đạt trí thông. 171. Như vẹt, câu ca được thuộc l òng, Khó quên vì nhịp điệu du dương, Tối tăm ý nghĩa l àm mê mẩn, Ngu trí nuốt trôi thật bốc đồng. 172. B à-la-môn chẳng giống thú hoang, Sư tử, cọp beo của núi ngàn, Chúng với trâu bò đồng một loại, Khác ngo ài nhưng trí vẫn ngu đần. 173. Nếu vua thắng trận dứt đao binh, V à sống bình an với bạn mình, Chế ngự dục tham, theo chánh đạo, Muôn dân hạnh phúc sống phồn vinh. 174. Vệ-đ à, Sát- đế-ly cầm quyền, Độc đoán cả hai, lại h ão huyền, Mù quáng chúng lần mò tiến bước, Trên đường hồng thủy ngập li ên miên. 175. Vệ- đ à, Sát-ly nắm quyền n ăng, Thâm nghĩa, chúng ta thảy nhận chân: Rốt cuộc, nhục vinh hay được mất, C ùng chung số phận bốn giai tầng. 176. Như các chủ nhà muốn kiếm ăn, Tính bao nghề tốt đẹp, an to àn, La-môn nay gặp ngày tàn mạt, Tìm kế sinh nhai đủ mọi đ àng. 177. Chủ nhà lầm lạc bởi tham vàng, Mù quáng đi theo dục dẫn đ àng, Bày đủ mọi tr ò lừa đảo ấy, Kẻ ngu phải đọa! Thác người khôn.
Bậc Đại Sĩ, sau khi đánh tan mọi luận thuyết của họ như vậy, đ ã thành lập ra giáo phái của ngài và khi hội chúng Nàga nghe ngài thuyết giảng, tâm họ tràn đầy hoan hỷ. Bậc Đại Sĩ cho thả t ên Bà-la-môn hạ đẳng kia ra khỏi cảnh giới N àga mà không hề đá động g ì đến g ã, dù chỉ bằng một lời nói khinh miệt.
*
Vua Sàgara cũng không lỗi hẹn, vội ngự du cùng binh lính đến nơi trú ngụ của vua cha, sau khi đánh trống báo cho thần dân biết ng ài sẽ đi thăm ngoại tổ phụ v à quốc cửu, bậc Đại Sĩ du h ành qua sông Yamunà, trước tiên ngài ngự đến am ẩn sĩ của tổ phụ với mọi vẻ long trọng huy ho àng, theo sau ngài có đầy đủ các vương tử c ùng phụ vương, mẫu hậu ngài.
Lúc ấy vua Sàgara chưa nhận ra bậc Đại Sĩ khi ng ài tiến đến c ùng đám t ùy tùng, liền hỏi vua cha:
178. Chiêng trống nào đây, tiếng nói vang, Trầm h ùng hòa điệu giữa không gian, L àm tâm Thánh thượng đầy hoan hỷ, Đ àn sáo, tù và, tiếng trống con? 179. Ai là nam tử bước hiên ngang, Nai nịt cung tên được điểm trang, Vương miện quanh đầu đang chiếu sáng, Khác n ào ánh chớp tỏa hào quang? 180. Ai đó uy nghi bước đến gần, Sáng ngời tướng mạo dáng thanh xuân, Như c ành phượng vĩ đang hồng đỏ, L ò thợ rèn lia cháy sáng bừng? 181. Chiếc lọng của ai sáng sắc vàng, Làm mờ ngọ nhật vẻ kiêu c ăng, B ên sườn khéo léo treo lơ lửng, Chiếc quạt đập ruồi đợi sẵn s àng? 182. Gậy vàng vung vẫy các đuôi công, H òa đủ m àu bên cạnh mặt rồng, Rực rỡ vòng tai tô điểm tóc, Khác n ào tia chớp lóe không trung? 183. Hào kiệt nào đây mắt sáng trong, M ão long đội giữa đôi m ày cong, R ăng trắng như chồi hoa, vỏ ốc, Ho àn toàn đều đặn, thẳng ngay h àng. 184. Bàn tay hồng đỏ tựa sơn son, Môi, đóa bim-ba thắm nở tr òn, Chàng trẻ sáng ngời như mặt nhật, Như sà-la nở rộ đầu non, In-dra Thi ên chủ mang bào giáp, Chiến thắng quỷ thù thảy dẹp tan. 185. Ai vừa hiện trước nhãn quang ta, Mở ví bên sườn, tuốt kiếm ra, Chuôi nạm ngọc vàng đầy kỹ xảo, Huy ho àng chiếu sáng dưới tay ngà? 186. Ai cởi hài vàng khỏi gót chân, Hài thêu dệt gấm thật cao sang, Cuối đầu trịnh trọng trang nghi êm lễ, Bày tỏ lòng tôn kính Trí nhân?
Khi nghe con của ngài là quốc vương Sàgara Brahmadatta hỏi như vậy, vị ẩn sĩ xuất gia đ ã chứng đắc thắng trí c ùng các Thiên chứng, liền trả lời:
- Này vương nhi, đó l à các vương tử của vua Dhatarattha, các Long vương Nàga của bào muội của con đó.
Rồi ngài ngâm kệ sau:
187. Dha-ta vương tử các chàng đây, Uy lực, vinh quang vĩ đại thay, Tất cả đều tôn s ùng chấp nhận, Sa-mud-da mẫu hậu chung này.
Trong lúc các vị đang đ àm đạo, hội chúng N àga đến nơi, đảnh lễ dưới chân vị ẩn sĩ, rồi ngồi xuống một b ên. Công chúa Samuddajà cũng đảnh lễ cha xong, khóc lóc một hồi rồi từ tạ c ùng hội chúng Nàga trở lại cảnh giới của mình. Quốc vương Sàgara ở lại đó v ài hôm rồi trở về thành Ba-la-nại. Còn công chúa Samuddajà về sau qua đời tại cảnh giới N àga.
Phần Bồ-tát vẫn giữ giới suốt đời Ng ài và tu tập đủ mọi công hạnh trong ng ày trai giới, nên khi mạng chung, ngài cùng với hội chúng Nàga đi l ên thiên giới thật đông đảo.
*
Khi Pháp thoại chấm dứt, Bậc Đạo Sư dạy:
Như vậy các vị Thánh đệ tử, các bậc hiền nhân ng ày xưa, trước khi đức Phật ra đời, đ ã từ bỏ mọi vinh quang của quốc độ N àga và trang nghiêm hành trì các công hạnh trong ngày trai giới.
Rồi ngài nhận diện Tiền thân:
Vào thời ấy, gia tộc của Đại vương l à cha mẹ Ta, Devadatta ( Đề-b à- đạt-đa) l à gã Bà-la-môn hạ đẳng, Ànanda (A-nan) là Somadatta, Uppalavannà (Liên hoa Sắc) là Accimukhì, Sàriputta (Xá-lợi-phất) là Sudassana, Moggallàna (Mục-kiền-liên) là Subhaga, Sunakkhatta là Kànàrittha và Ta chính là bậc Đại trí Bh ùridatta.
-ooOoo- Đầu trang | Mục lục | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 Chân thành cám ơn đạo hữu HT đã giúp đánh máy bản vi tính, và đạo hữu PCC & NQ đã giúp dò soát (Bình Anson, 12-2005).
[ Mục lục Tiểu Bộ ][ Thư Mục Tổng Quát ]
last updated: 02-01-2006
BuddhaSasana Home Page This document is written in Vietnamese, with Unicode Times font
Tiểu Bộ Kinh - Tập IX
Chuyện Tiền Thân Đức Phật (VII)
Giáo sư Trần Phương Lan dịch Việt
Chương XXII Đại Phẩm (tiếp theo)
-ooOoo-
Bản dịch: Trần Phương Lan
Dịch bởi Trần Phương Lan. Trích từ Chuyện Tiền Thân Đức Phật (Jātaka), Tiểu Bộ Kinh. Nguồn: http://www.budsas.net/.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
543. Bhūridattajātakaṃ (6)
543. The Bhūridatta Jātaka (6)
543. Chuyện Bổn Sanh Về Bhūridatta (6)
784.
784.
784.
‘‘Yaṃ kiñci ratanaṃ atthi, dhataraṭṭhanivesane;
Sabbāni te upayantu, dhītaraṃ dehi rājino’’.
“Whatever treasures there are in Dhataraṭṭha’s dwelling, let them all be yours; give the daughter to the king.”
Bất cứ vật báu nào có ở trong cung điện của Dhataraṭṭha, tất cả những thứ ấy hãy đến với ngài, xin hãy gả con gái cho đức vua.
785.
785.
785.
‘‘Na no vivāho nāgehi, katapubbo kudācanaṃ;
Taṃ vivāhaṃ asaṃyuttaṃ, kathaṃ amhe karomase’’.
“Never before has a marriage with nāgas been performed by us. How can we arrange this unsuitable union?”
Việc hôn nhân của chúng tôi với loài rồng chưa từng được thực hiện bất cứ lúc nào. Cuộc hôn nhân không tương xứng ấy, làm sao chúng tôi có thể thực hiện được?
786.
786.
786.
‘‘Jīvitaṃ nūna te cattaṃ, raṭṭhaṃ vā manujādhipa;
Na hi nāge kupitamhi, ciraṃ jīvanti tādisā.
“Surely your life is forfeit, or your kingdom, O lord of men. For when a nāga is angered, such as you do not live long.”
Hỡi vị nhân chủ, chắc chắn mạng sống của ngài đã bị từ bỏ, hoặc là vương quốc. Vì rằng khi loài rồng nổi giận, những kẻ như thế không sống được lâu dài.
787.
787.
787.
‘‘Yo tvaṃ deva manussosi, iddhimantaṃ aniddhimā;
Varuṇassa niyaṃ puttaṃ, yāmunaṃ atimaññasi’’.
“You, who are a god or a human, being without power, scorn the powerful one, Varuṇa’s own son, the lord of the Yamunā.”
Ngài là vị trời hay là người, là người không có thần thông, mà lại khinh thường người có thần thông, là người con trai của Varuṇa, là vị thần sông Yamunā.
788.
788.
788.
‘‘Nātimaññāmi rājānaṃ, dhataraṭṭhaṃ yasassinaṃ;
Dhataraṭṭho hi nāgānaṃ, bahūnamapi issaro.
“I do not despise King Dhataraṭṭha, the glorious one, for Dhataraṭṭha is lord of many nāgas.”
Ta không khinh thường đức vua Dhataraṭṭha, bậc có danh tiếng. Vì rằng Dhataraṭṭha là chúa tể của nhiều loài rồng.
789.
789.
789.
‘‘Ahi mahānubhāvopi, na me dhītaramāraho;
Khattiyo ca videhānaṃ, abhijātā samuddajā’’.
“Though the serpent is of great power, he is not worthy of my daughter. I am a kshatriya of the Videhans, and she is the noble-born Samuddajā.”
Con rắn dầu có đại thần lực cũng không xứng đáng với con gái của ta. Ta là dòng Sát-đế-lỵ của xứ Videha, (con gái ta) là dòng dõi cao quý, được sinh từ biển cả.
790.
790.
790.
‘‘Kambalassatarā uṭṭhentu, sabbe nāge nivedaya;
Bārāṇasiṃ pavajjantu, mā ca kañci † viheṭhayuṃ’’.
“Let Kambala and Assatara arise! Announce to all the nāgas: ‘Let them proceed to Bārāṇasī, but let them harm no one.’”
Hỡi Kambala và Assatara, hãy đứng dậy, hãy thông báo cho tất cả các loài rồng. Hãy cho chúng tiến vào thành Bārāṇasī, và chớ có làm hại bất cứ ai.
791.
791.
791.
‘‘Nivesanesu sobbhesu, rathiyā caccaresu ca;
Rukkhaggesu ca lambantu, vitatā toraṇesu ca.
“In dwellings, in pools, in streets, and at crossroads, let them hang from treetops and be stretched across archways.”
Trong các tư gia, trong các hố nước, trên các đường phố và các ngã tư, và hãy cho chúng treo mình trên các ngọn cây, và giăng mắc trên các cổng chào.
792.
792.
792.
‘‘Ahampi sabbasetena, mahatā sumahaṃ puraṃ;
Parikkhipissaṃ bhogehi, kāsīnaṃ janayaṃ bhayaṃ’’.
“I too, with my great, all-white body, will encircle the great city with my coils, generating fear among the people of Kāsi.”
Ta cũng vậy, với thân hình to lớn toàn màu trắng, ta sẽ dùng các thân mình uốn khúc để bao vây thành phố rất lớn này, gây ra sự kinh sợ cho dân xứ Kāsī.
793.
793.
793.
Tassa taṃ vacanaṃ sutvā, uragānekavaṇṇino;
Bārāṇasiṃ pavajjiṃsu, na ca kañci viheṭhayuṃ.
Hearing his words, serpents of various colors went forth to Bārāṇasī, and they harmed no one.
Sau khi nghe lời nói ấy của vị ấy, các loài rắn có nhiều màu sắc đã tiến vào thành Bārāṇasī, và đã không làm hại bất cứ ai.
794.
794.
794.
Nivesanesu sobbhesu, rathiyā caccaresu ca;
Rukkhaggesu ca lambiṃsu, vitatā toraṇesu ca.
In dwellings, in pools, in streets, and at crossroads, they hung from treetops and were stretched across archways.
Trong các tư gia, trong các hố nước, trên các đường phố và các ngã tư, chúng đã treo mình trên các ngọn cây, và giăng mắc trên các cổng chào.
795.
795.
795.
Tesu disvāna lambante, puthū kandiṃsu nāriyo;
Nāge soṇḍikate disvā, passasante muhuṃ muhuṃ.
Seeing them hanging there, the women wailed loudly, seeing the nāgas with their trunk-like forms, hissing again and again.
Sau khi nhìn thấy chúng đang treo lơ lửng, sau khi nhìn thấy các con rồng đang phùng mang, đang thở phì phò liên tục, nhiều người phụ nữ đã la khóc.
796.
796.
796.
Bārāṇasī pabyadhitā, āturā samapajjatha;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, ‘‘dhītaraṃ dehi rājino’’.
Bārāṇasī was afflicted and became distressed. Raising their arms, they cried out, ‘Give the daughter to the king!’
Thành Bārāṇasī đã bị rúng động, đã trở nên hoảng loạn. Họ đã giơ tay lên và la hét: ‘Hãy gả con gái cho đức vua!’
797.
797.
797.
‘‘Pupphābhihārassa vanassa majjhe, ko lohitakkho vitatantaraṃso;
Kā kambukāyūradharā suvatthā, tiṭṭhanti nāriyo dasa vandamānā.
“In the midst of the forest where flowers are gathered, who is that red-eyed, broad-shouldered one? And who are these ten women, wearing conch-shell bracelets and armlets, finely dressed, who stand paying homage?”
Ở giữa khu rừng để hái hoa, ai là người có mắt đỏ, vai rộng kia? Ai là mười người phụ nữ đang đứng đảnh lễ, những người đeo vòng xuyến, vòng tay, mặc y phục đẹp kia?
798.
798.
798.
‘‘Ko tvaṃ brahābāhu vanassa majjhe, virocasi ghatasittova aggi;
Mahesakkho aññatarosi yakkho, udāhu nāgosi mahānubhāvo’’.
“Who are you, mighty-armed one, blazing in the midst of the forest like a fire fed with ghee? Are you a yakkha of great power, or a nāga of great majesty?”
Ngài là ai, hỡi người có cánh tay to lớn, ở giữa khu rừng? Ngài tỏa sáng như ngọn lửa được tưới bơ. Ngài là một vị dạ-xoa nào đó có đại thần lực, hay là một vị rồng có đại thần lực?
799.
799.
799.
‘‘Nāgohamasmi iddhimā, tejassī † duratikkamo;
Ḍaṃseyyaṃ tejasā kuddho, phītaṃ janapadaṃ api.
“I am a nāga, possessing psychic power, majestic, and hard to overcome. If angered, I could scorch even a flourishing country with my fiery energy.”
Ta là một vị rồng có thần thông, có uy lực, khó vượt qua. Khi nổi giận, ta có thể cắn đốt bằng uy lực của mình, ngay cả một xứ sở thịnh vượng.
800.
800.
800.
‘‘Samuddajā hi me mātā, dhataraṭṭho ca me pitā;
Sudassanakaniṭṭhosmi, bhūridattoti maṃ vidū’’.
“Samuddajā is my mother and Dhataraṭṭha is my father. I am Sudassana’s younger brother; I am known as Bhūridatta.”
Vì rằng mẹ của ta là Samuddajā, và cha của ta là Dhataraṭṭha. Ta là em trai của Sudassana, người ta biết ta là Bhūridatta.
801.
801.
801.
‘‘Yaṃ gambhīraṃ sadāvaṭṭaṃ, rahadaṃ bhismaṃ pekkhasi;
Esa dibyo mamāvāso, anekasataporiso.
“That deep, ever-whirling, frightful lake you see—that is my divine abode, many hundreds of fathoms deep.”
Cái hồ sâu thẳm, luôn có xoáy nước, cái hồ đáng sợ mà ngài nhìn thấy, đó là trú xứ thiêng liêng của ta, có chiều sâu nhiều trăm lần chiều cao một người đàn ông.
802.
802.
802.
‘‘Mayūrakoñcābhirudaṃ, nīlodaṃ vanamajjhato;
Yamunaṃ pavisa mā bhīto, khemaṃ vattavataṃ † sivaṃ’’.
“Resounding with peacocks and curlews, with blue water in the heart of the forest—enter the Yamunā without fear; it is safe and auspicious for the virtuous.”
Nơi có tiếng kêu của chim công và chim diệc, có dòng nước xanh biếc ở giữa khu rừng, hãy đi vào sông Yamunā, chớ có sợ hãi. Nơi ấy an ổn, an toàn cho những người giữ giới hạnh.
803.
803.
803.
‘‘Tattha patto sānucaro, saha puttena brāhmaṇa;
Pūjito mayhaṃ kāmehi, sukhaṃ brāhmaṇa vacchasi’’.
“Having arrived there with your retinue and with your son, O brahmin, honored by me with sensual pleasures, you will live happily, O brahmin.”
“Này Bà-la-môn, khi đã đến nơi ấy cùng với tùy tùng, cùng với con trai; được ta tôn kính bằng các dục lạc, này Bà-la-môn, ông sẽ sống được an lạc.”
804.
804.
804.
‘‘Samā samantaparito, pahūtatagarā † mahī;
Indagopakasañchannā, sobhati harituttamā.
“All around, the earth is level, abundant with fragrant tagara. Covered with cochineal insects, it shines with the finest green.”
“Mặt đất bằng phẳng ở khắp xung quanh, có nhiều cỏ tagara; được bao phủ bởi loài sâu đỏ, mặt đất tỏa sáng với màu xanh tuyệt hảo.
805.
805.
805.
‘‘Rammāni vanacetyāni, rammā haṃsūpakūjitā;
Opupphāpadmā tiṭṭhanti, pokkharañño † sunimmitā.
“Delightful are the forest shrines, delightful the ponds resounded with by swans. The well-fashioned ponds stand, covered with blooming lotuses.”
“Các đền thờ trong rừng thật là khả ái, tiếng kêu của loài ngỗng thật là khả ái; các hồ sen được khéo xây dựng đang hiện hữu với những đóa sen nở rộ.
806.
806.
806.
‘‘Aṭṭhaṃsā sukatā thambhā, sabbe veḷuriyāmayā;
Sahassathambhā pāsādā, pūrā kaññāhi jotare.
“The eight-sided pillars are finely made, all crafted of beryl. The thousand-pillared palace, filled with maidens, shines.”
“Các cột trụ được khéo làm có tám cạnh, tất cả đều bằng ngọc lưu ly; các lâu đài có một ngàn cột trụ, đầy những thiếu nữ, đang được rực rỡ.
807.
807.
807.
‘‘Vimānaṃ upapannosi, dibyaṃ puññehi attano;
Asambādhaṃ sivaṃ rammaṃ, accantasukhasaṃhitaṃ.
“You have attained a divine mansion through your own merit: uncrowded, auspicious, delightful, and endowed with ultimate happiness.”
“Do phước của chính mình, ông đã sanh về thiên cung; không chật chội, an lành, khả ái, và được hợp thành bởi sự an lạc tột cùng.
808.
808.
808.
‘‘Maññe sahassanettassa, vimānaṃ nābhikaṅkhasi;
Iddhī hi tyāyaṃ vipulā, sakkasseva jutīmato’’.
“I think you do not long for the mansion of the thousand-eyed one, for this vast power of yours is like that of Sakka, the radiant one.”
“Tôi nghĩ rằng ông không mong mỏi thiên cung của vị có một ngàn con mắt; vì rằng thần lực rộng lớn này của ông giống như của vị Sakka rực rỡ.”
809.
809.
809.
‘‘Manasāpi na pattabbo, ānubhāvo jutīmato;
Paricārayamānānaṃ, saindānaṃ † vasavattinaṃ’’.
“The power of the radiant one is not to be attained even in the mind by the powerful attendant deities, along with their lords.”
“Oai lực của vị rực rỡ là không thể đạt được, ngay cả bằng ý nghĩ, bởi những người hầu hạ, gồm cả vị trời Inda, là những người ở dưới quyền.”
810.
810.
810.
‘‘Taṃ vimānaṃ abhijjhāya, amarānaṃ sukhesinaṃ;
Uposathaṃ upavasanto, semi vammikamuddhani’’.
“Desiring that mansion of the immortals, seeking their bliss, I observe the Uposatha, lying on top of an anthill.”
“Do thèm muốn thiên cung ấy của các vị bất tử đang tìm cầu sự an lạc, trong khi đang thực hành ngày trai giới, tôi nằm ở trên đỉnh của gò mối.”
811.
811.
811.
‘‘Ahañca migamesāno, saputto pāvisiṃ vanaṃ;
Taṃ maṃ mataṃ vā jīvaṃ vā, nābhivedenti ñātakā.
“And I, seeking game, entered the forest with my son. My relatives do not know of me, whether I am dead or alive.”
“Và tôi, trong khi tìm kiếm con mồi, đã cùng với con trai đi vào khu rừng; các người thân của tôi không biết được tôi chết hay là còn sống.
812.
812.
812.
‘‘Āmantaye bhūridattaṃ, kāsiputtaṃ yasassinaṃ;
Tayā no samanuññātā, api passemu ñātake’’.
“I take my leave of you, Bhūridatta, glorious son of Kāsi. Permitted by you, may we see our relatives.”
“Tôi xin thưa với ngài Bhūridatta, người con trai lừng danh của xứ Kāsi; được ngài cho phép, mong rằng chúng tôi có thể gặp được các người thân.”
813.
813.
813.
‘‘Eso hi vata me chando, yaṃ vasesi mamantike;
Na hi etādisā kāmā, sulabhā honti mānuse.
“This indeed is my wish, that you should dwell near me, for such pleasures are not easily obtained in the human world.”
“Thật vậy, đây là ước muốn của tôi rằng ông nên sống ở gần tôi; vì rằng các dục lạc tương tự như thế này không phải là dễ dàng có được ở cõi người.
814.
814.
814.
‘‘Sace tvaṃ nicchase vatthuṃ, mama kāmehi pūjito;
Mayā tvaṃ samanuññāto, sotthiṃ passāhi ñātake’’.
“If you do not wish to stay, though honored with my pleasures, then, permitted by me, go in safety and see your relatives.”
“Nếu ông không muốn ở lại, được tôn kính bằng các dục lạc của tôi; ông được tôi cho phép, hãy đi gặp các người thân trong sự an toàn.”
815.
815.
815.
‘‘Dhārayimaṃ maṇiṃ dibyaṃ, pasuṃ putte ca vindati;
Arogo sukhito hoti †, gacchevādāya brāhmaṇa’’.
“Wear this divine jewel, brahmin. With it, one obtains cattle and sons, and becomes healthy and happy. Go, taking it with you.”
“Hãy mang viên ngọc thiêng liêng này, người ấy sẽ có được gia súc và các con trai; người ấy được không bệnh, được an lạc. Này Bà-la-môn, hãy đi và mang theo nó.”
816.
816.
816.
‘‘Kusalaṃ paṭinandāmi, bhūridatta vaco tava;
Pabbajissāmi jiṇṇosmi, na kāme abhipatthaye’’.
“I approve your words, Bhūridatta. I am old and shall go forth; I do not long for sensual pleasures.”
“Này Bhūridatta, tôi hoan hỷ lời nói tốt lành của ngài; tôi sẽ xuất gia, tôi đã già yếu, tôi không còn mong mỏi các dục lạc.”
817.
817.
817.
‘‘Brahmacariyassa ce bhaṅgo, hoti bhogehi kāriyaṃ;
Avikampamāno eyyāsi, bahuṃ dassāmi te dhanaṃ’’.
“If the holy life should break, and there is need of wealth, then unwavering, come to me; I will give you much treasure.”
“Nếu có sự gián đoạn đời sống Phạm hạnh, nếu có công việc cần đến của cải; ông hãy đến đây không do dự, tôi sẽ cho ông nhiều tài sản.”
818.
818.
818.
‘‘Kusalaṃ paṭinandāmi, bhūridatta vaco tava;
Punapi āgamissāmi, sace attho bhavissati’’.
“I approve your words, Bhūridatta. I shall come again, should there be a need.”
“Này Bhūridatta, tôi hoan hỷ lời nói tốt lành của ngài; tôi sẽ lại đến, nếu có sự cần dùng.”
819.
819.
819.
‘‘Idaṃ vatvā bhūridatto, pesesi caturo jane;
Etha gacchatha uṭṭhetha, khippaṃ pāpetha brāhmaṇaṃ.
Thus spoke Bhūridatta, and sent forth four men: “Come, go, arise, and quickly bring the brahmin here.”
“Sau khi nói điều này, Bhūridatta đã phái đi bốn người: ‘Hãy đến, hãy đi, hãy đứng dậy, hãy nhanh chóng đưa vị Bà-la-môn đi.’
820.
820.
820.
Tassa taṃ vacanaṃ sutvā, uṭṭhāya caturo janā;
Pesitā bhūridattena, khippaṃ pāpesu brāhmaṇaṃ.
Hearing his command, four men arose. Sent by Bhūridatta, they quickly brought the brahmin.
Sau khi nghe lời nói ấy của vị ấy, bốn người đã đứng dậy; được Bhūridatta phái đi, họ đã nhanh chóng đưa vị Bà-la-môn đi.
821.
821.
821.
‘‘Maṇiṃ paggayha maṅgalyaṃ, sādhuvittaṃ † manoramaṃ;
Selaṃ byañjanasampannaṃ, ko imaṃ maṇimajjhagā’’.
“Lifting high the auspicious gem, a treasure fair, delightful to the heart, a stone endowed with manifest qualities, who now has obtained this jewel?”
“Sau khi cầm lấy viên ngọc tốt lành, được tìm thấy một cách tốt đẹp, làm vui thích tâm ý, là viên đá được đầy đủ các đặc điểm, (vị ấy hỏi): ‘Ai đã tìm thấy viên ngọc này?’”
822.
822.
822.
‘‘Lohitakkhasahassāhi, samantā parivāritaṃ;
Ajja kālaṃ pathaṃ † gacchaṃ, ajjhagāhaṃ maṇiṃ imaṃ’’.
“Surrounded on all sides by a thousand red-eyed ones, today, while going on the path to death, I obtained this jewel.”
“Được bao quanh ở khắp nơi bởi một ngàn vị mắt đỏ; hôm nay, vào buổi sáng, trong khi đang đi trên đường, tôi đã tìm thấy viên ngọc này.”
823.
823.
823.
‘‘Supaciṇṇo ayaṃ selo, accito mahito † sadā;
Sudhārito sunikkhitto, sabbatthamabhisādhaye.
“This stone, when properly handled, is always revered and honored. Well-held and well-placed, it accomplishes every purpose.”
“Viên đá này được thực hành tốt đẹp, luôn được tôn kính, được cúng dường; được giữ gìn tốt đẹp, được đặt để tốt đẹp, nó thành tựu được tất cả các mục đích.
824.
824.
824.
‘‘Upacāravipannassa, nikkhepe dhāraṇāya vā;
Ayaṃ selo vināsāya, pariciṇṇo ayoniso.
“But for one who fails in its handling, whether in placing or in wearing, this stone, used without wise reflection, leads to destruction.”
“Đối với người có sự sai lầm trong cách hành xử, trong việc đặt để hoặc trong việc giữ gìn; viên đá này, được sử dụng không đúng phương pháp, sẽ dẫn đến sự hủy hoại.
825.
825.
825.
‘‘Na imaṃ akusalo † dibyaṃ, maṇiṃ dhāretumāraho;
Paṭipajja sataṃ nikkhaṃ, dehimaṃ ratanaṃ mama’’.
“An unskillful one is not fit to bear this divine jewel. Take one hundred pieces of gold, and give me this precious gem.”
“Người không khéo léo là không xứng đáng để mang viên ngọc thiêng liêng này; hãy nhận lấy một trăm đồng nikkha, hãy trao viên ngọc quý này cho tôi.”
826.
826.
826.
‘‘Na ca myāyaṃ maṇī keyyo, gohi † vā ratanehi vā;
Selo byañjanasampanno, neva keyyo maṇī mama’’.
“This gem of mine is not to be bought, not with cattle or with precious things; a stone endowed with auspicious marks, my jewel is not to be bought.”
“Viên ngọc này của tôi không phải để bán, đổi bằng bò hoặc bằng các vật quý; viên đá được đầy đủ các đặc điểm, viên ngọc của tôi không phải để bán.”
827.
827.
827.
‘‘No ce tayā maṇī keyyo, gohi † vā ratanehi vā;
Atha kena maṇī keyyo, taṃ me akkhāhi pucchito’’.
“If the gem is not to be bought with cattle or with precious things, then with what is the gem to be bought? Tell me that, being asked.”
“Nếu viên ngọc của ông không phải để bán, đổi bằng bò hoặc bằng các vật quý; vậy thì viên ngọc được bán để đổi lấy cái gì? Khi được hỏi, xin ông hãy nói điều ấy cho tôi.”
828.
828.
828.
‘‘Yo me saṃse mahānāgaṃ, tejassiṃ duratikkamaṃ;
Tassa dajjaṃ imaṃ selaṃ, jalantamiva tejasā’’.
“Whoever would show me a great Nāga, powerful and hard to overcome, to him I would give this stone, blazing as if with splendor.”
“Người nào chỉ cho tôi con rắn chúa to lớn, có uy lực, khó vượt qua; tôi sẽ trao cho người ấy viên đá này, đang cháy sáng dường như với oai lực.”
829.
829.
829.
‘‘Ko nu brāhmaṇavaṇṇena, supaṇṇo patataṃ varo;
Nāgaṃ jigīsamanvesi, anvesaṃ bhakkhamattano.
“Who are you in the guise of a brahmin? A Supaṇṇa, best of flyers, you seek to conquer a Nāga, searching for your own food.”
“Ai vậy, trong hình dáng của Bà-la-môn, giống như chim Supaṇṇa, là loài bay giỏi nhất; đang tìm cách chinh phục loài rắn chúa, trong khi tìm kiếm thức ăn cho chính mình?
830.
830.
830.
‘‘Nāhaṃ dijādhipo homi, na diṭṭho garuḷo mayā;
Āsīvisena vittoti †, vajjo brāhmaṇa maṃ vidū’’.
“I am not a lord of birds, nor have I seen a Garuḷa. O brahmin, know me as a physician, renowned for dealing with venomous snakes.”
“Tôi không phải là vua của loài chim, tôi cũng chưa từng thấy chim Garuḷa; này Bà-la-môn, các người hiểu biết gọi tôi là người giàu có về loài rắn độc.”
831.
831.
831.
‘‘Kiṃ nu tuyhaṃ balaṃ atthi, kiṃ sippaṃ vijjate tava;
Kismiṃ vā tvaṃ paratthaddho, uragaṃ nāpacāyasi’’.
“What strength do you have? What skill do you possess? On what are you so confident that you do not respect a snake?”
“Ông có sức mạnh gì? Ông có được nghề nghiệp gì? Hoặc là ông tựa nương vào điều gì mà không kính trọng loài rắn?”
832.
832.
832.
‘‘Āraññikassa isino, cirarattaṃ tapassino;
Supaṇṇo kosiyassakkhā, visavijjaṃ anuttaraṃ.
“A Supaṇṇa taught the supreme venom-lore to a forest-dwelling sage of the Kosiya clan, who had long practiced asceticism.”
“Đối với vị ẩn sĩ Kosiya sống trong rừng, người đã thực hành khổ hạnh trong thời gian dài; một con chim Supaṇṇa đã giảng dạy về môn học vô thượng về chất độc.
833.
833.
833.
‘‘Taṃ bhāvitattaññataraṃ, sammantaṃ pabbatantare;
Sakkaccaṃ taṃ upaṭṭhāsiṃ, rattindivamatandito.
“I diligently attended to that certain one whose self was developed, while he was dwelling in the mountain's heart, untiring day and night.”
Vị ấy, một người đã tu tập, đang an trú tại khe núi. Con đã siêng năng, không mệt mỏi, ngày đêm kính cẩn hầu hạ vị ấy.
834.
834.
834.
‘‘So tadā pariciṇṇo me, vattavā brahmacariyavā;
Dibbaṃ pātukarī mantaṃ, kāmasā bhagavā mama.
“Then that Blessed One, observing his vows and practicing the holy life, having been served by me, out of compassion made manifest to me a divine mantra.”
Khi ấy, được con hầu hạ, vị Phạm hạnh giữ gìn giới hạnh, vị Thế Tôn ấy vì lòng thương tưởng đã hiện bày cho con câu thần chú thiêng liêng.
835.
835.
835.
‘‘Tyāhaṃ mante paratthaddho, nāhaṃ bhāyāmi bhoginaṃ;
Ācariyo visaghātānaṃ, alampānoti † maṃ vidū’’.
“Relying on these mantras, I am confident; I do not fear serpents. Know me as Alampāna, the teacher of poison-destroyers.”
Con rất tự phụ về câu thần chú ấy, con không sợ hãi loài rắn. Người ta biết con là Alampāna, bậc thầy về trị độc.
836.
836.
836.
‘‘Gaṇhāmase maṇiṃ tāta, somadatta vijānahi;
Mā daṇḍena siriṃ pattaṃ, kāmasā pajahimhase’’.
“Let us seize the jewel, dear son! Somadatta, understand this! Let us not willingly abandon the fortune obtained by our efforts.”
Này con Somadatta, hãy hiểu cho, chúng ta hãy lấy viên ngọc. Chớ có dại dột từ bỏ vận may đã đến, do theo ý muốn của mình.
837.
837.
837.
‘‘Sakaṃ nivesanaṃ pattaṃ, yo taṃ brāhmaṇa pūjayi;
Evaṃ kalyāṇakārissa, kiṃ mohā dubbhimicchasi’’.
“He honored you, O brahmin, when you reached his own dwelling. Why, out of delusion, do you wish to harm such a doer of good?”
Này Bà-la-môn, vị ấy đã đến tận nhà của ngài, đã tỏ lòng tôn kính ngài. Đối với người đã làm điều tốt lành như vậy, tại sao vì si mê mà ngài lại muốn làm hại?
838.
838.
838.
‘‘Sace tvaṃ † dhanakāmosi, bhūridatto padassati †;
Tameva gantvā yācassu, bahuṃ dassati te dhanaṃ’’.
“If you desire wealth, Bhūridatta will give it. Go to him and ask; he will give you much wealth.”
Nếu ngài mong muốn tài sản, ngài Bhūridatta sẽ ban cho. Hãy đi đến xin chính vị ấy, vị ấy sẽ cho ngài nhiều của cải.
839.
839.
839.
‘‘Hatthagataṃ pattagataṃ, nikiṇṇaṃ khādituṃ varaṃ;
Mā no sandiṭṭhiko attho, somadatta upaccagā’’.
“It is better to eat what is in the hand, what is in the bowl, what has been purchased. O Somadatta, let not this present advantage pass us by.”
Thà ăn vật đã mua, đã vào trong tay, đã vào trong bát. Này Somadatta, chớ để lợi ích hiện tại của chúng ta bị vuột mất.
840.
840.
840.
‘‘Paccati niraye ghore, mahissamapi vivarati †;
Mittadubbhī hitaccāgī, jīvarevāpi sussati †.
“The betrayer of friends, abandoning what is beneficial, is tormented in a dreadful hell and is split asunder. Even while living, he wastes away.”
Kẻ phản bạn, người từ bỏ ân nhân, sẽ bị nấu trong địa ngục khủng khiếp, bị đất nứt nuốt trọn, và ngay khi còn sống cũng bị khô héo.
841.
841.
841.
‘‘Sace tvaṃ † dhanakāmosi, bhūridatto padassati;
Maññe attakataṃ veraṃ, naciraṃ vedayissasi’’.
“If you desire wealth, Bhūridatta will give it. I think you will soon experience the enmity you have made for yourself.”
Nếu ngài mong muốn tài sản, ngài Bhūridatta sẽ ban cho. Con nghĩ rằng ngài sẽ không bao lâu nữa phải gánh chịu oán thù do chính mình tạo ra.
842.
842.
842.
‘‘Mahāyaññaṃ yajitvāna, evaṃ sujjhanti brāhmaṇā;
Mahāyaññaṃ yajissāma, evaṃ mokkhāma pāpakā’’.
“Having performed a great sacrifice, thus brahmins are purified. We shall perform a great sacrifice; thus we will be freed from evil.”
Các vị Bà-la-môn được thanh tịnh sau khi thực hiện đại lễ tế đàn. Chúng ta sẽ thực hiện đại lễ tế đàn, như vậy chúng ta sẽ thoát khỏi điều ác.
843.
843.
843.
‘‘Handa dāni apāyāmi, nāhaṃ ajja tayā saha;
Padampekaṃ † na gaccheyyaṃ, evaṃ kibbisakārinā’’.
“Well now, I am going away; I will not be with you today. Not even a single step would I go with such an evildoer.”
Thôi, bây giờ con xin đi. Hôm nay, con sẽ không đi cùng với cha, dù chỉ một bước, với người làm điều tội lỗi như vậy.
844.
844.
844.
‘‘Idaṃ vatvāna pitaraṃ, somadatto bahussuto;
Ujjhāpetvāna bhūtāni, tamhā ṭhānā apakkami.
Having said this to his father, the learned Somadatta, having called the spirits to witness, departed from that place.
Sau khi nói điều này với cha, Somadatta, người học rộng, đã cáo với các chư vị ở nơi ấy rồi rời khỏi nơi đó.
845.
845.
845.
‘‘Gaṇhāhetaṃ mahānāgaṃ, āharetaṃ maṇiṃ mama;
Indagopakavaṇṇābho, yassa lohitako siro.
“Seize this great serpent! Bring me his jewel! His head is red, and his color is like an indagopaka beetle.”
Hãy bắt lấy con đại xà long này, hãy mang viên ngọc của nó về cho ta. Đầu của nó có màu đỏ, giống như màu của con bọ rùa.
846.
846.
846.
‘‘Kappāsapicurāsīva, eso kāyo padissati †;
Vammikaggagato seti, taṃ tvaṃ gaṇhāhi brāhmaṇa’’.
“This body appears like a heap of cotton; he lies on top of an anthill. Seize him, O brahmin!”
Thân hình này trông giống như một đống bông gòn. Nó đang nằm trên đỉnh gò mối. Này Bà-la-môn, ngài hãy bắt lấy nó.
847.
847.
847.
‘‘Athosadhehi dibbehi, jappaṃ mantapadāni ca;
Evaṃ taṃ asakkhi satthuṃ †, katvā parittamattano’’.
Then with divine herbs and by muttering mantra verses, he was unable to harm him, for he had made a protection for himself.
Rồi với các dược thảo thiêng liêng, và việc trì tụng các câu thần chú, ông ta đã có thể chế ngự được vị ấy, sau khi đã tự làm phép hộ thân.
848.
848.
848.
‘‘Mamaṃ disvāna āyantaṃ, sabbakāmasamiddhinaṃ;
Indriyāni ahaṭṭhāni, sāvaṃ † jātaṃ mukhaṃ tava.
“Seeing me approach, fulfilled in all desires, your faculties are displeased, and your face has become pale.”
Khi thấy mẹ đang đến, là người được thành tựu mọi mong muốn, các căn của con không vui vẻ, và mặt của con trở nên xanh xao.
849.
849.
849.
‘‘Padmaṃ yathā hatthagataṃ, pāṇinā parimadditaṃ;
Sāvaṃ jātaṃ † mukhaṃ tuyhaṃ, mamaṃ disvāna edisaṃ.
“Like a lotus held in the hand and crushed by the palm, so your face has become pale on seeing me in this state.”
Giống như hoa sen bị cầm trong tay, bị bàn tay vò nát, mặt của mẹ trở nên xanh xao khi thấy con trong tình trạng như thế này.
850.
850.
850.
‘‘Kacci nu te nābhisasi †, kacci te atthi vedanā;
Yena sāvaṃ mukhaṃ tuyhaṃ, mamaṃ disvāna āgataṃ’’.
“Are you not pleased to see me? Do you have some pain? Why has your face become pale upon seeing me arrive?”
Phải chăng mẹ không vui mừng? Phải chăng mẹ có điều đau khổ nào? Vì lý do gì mà mặt mẹ trở nên xanh xao khi thấy con đã trở về?
851.
851.
851.
‘‘Supinaṃ tāta addakkhiṃ, ito māsaṃ adhogataṃ;
Dakkhiṇaṃ viya me bāhuṃ, chetvā ruhiramakkhitaṃ;
Puriso ādāya pakkāmi, mama rodantiyā sati.
“Dear son, a month ago I saw a bad dream: as if my right arm were cut off and smeared with blood, and a man took it and departed while I was weeping.”
Này con, cách đây một tháng, mẹ đã thấy một giấc mộng. Giống như cánh tay phải của mẹ, bị chặt đứt và đẫm máu, đã bị một người đàn ông lấy đi, trong khi mẹ đang khóc lóc.
852.
852.
852.
‘‘Yatohaṃ † supinamaddakkhiṃ, sudassana vijānahi;
Tato divā vā rattiṃ vā, sukhaṃ me nopalabbhati’’.
“Since I saw that dream, Sudassana, understand this: from then on, day or night, I find no happiness.”
Này Sudassana, con hãy biết cho, kể từ khi mẹ thấy giấc mộng ấy, từ đó, dù ngày hay đêm, mẹ không tìm thấy được sự an lạc.
853.
853.
853.
‘‘Yaṃ pubbe parivāriṃsu †, kaññā ruciraviggahā;
Hemajālapaṭicchannā, bhūridatto na dissati.
He whom maidens of lovely form, veiled in golden nets, formerly surrounded—that Bhūridatta is not to be seen.
Người mà trước đây được các thiếu nữ thân hình xinh đẹp, mình khoác lưới vàng hầu hạ xung quanh, nay không thấy Bhūridatta đâu cả.
854.
854.
854.
‘‘Yaṃ pubbe parivāriṃsu †, nettiṃsavaradhārino;
Kaṇikārāva samphullā, bhūridatto na dissati.
He whom bearers of excellent swords, blooming like kaṇikāra trees, formerly surrounded—that Bhūridatta is not to be seen.
Người mà trước đây được các vị mang gươm báu, giống như những cây kaṇikāra nở rộ, hầu hạ xung quanh, nay không thấy Bhūridatta đâu cả.
855.
855.
855.
‘‘Handa dāni gamissāma, bhūridattanivesanaṃ;
Dhammaṭṭhaṃ sīlasampannaṃ, passāma tava bhātaraṃ’’.
“Come now, let us go to Bhūridatta's dwelling; let us see your brother, who is righteous and endowed with virtue.”
Thôi, bây giờ chúng ta hãy đi đến nơi ở của Bhūridatta. Chúng ta hãy đi thăm người anh của con, người an trú trong Chánh pháp, người có đầy đủ giới hạnh.
856.
856.
856.
‘‘Tañca disvāna āyantiṃ, bhūridattassa mātaraṃ;
Bāhā paggayha pakkanduṃ, bhūridattassa nāriyo.
Seeing Bhūridatta's mother approaching, Bhūridatta's wives wailed, raising up their arms.
Và khi nhìn thấy mẹ của Bhūridatta đang đi đến, các bà vợ của Bhūridatta đã giơ tay lên trời và kêu khóc.
857.
857.
857.
‘‘Puttaṃ teyye na jānāma, ito māsaṃ adhogataṃ;
Mataṃ vā yadi vā jīvaṃ, bhūridattaṃ yasassinaṃ’’.
O mother, we know not of your son, the glorious Bhūridatta, who has been gone from here for a month, whether he is dead or alive.
Thưa phu nhân, chúng con không biết tin tức gì về con trai của người, ngài Bhūridatta lừng danh, đã một tháng nay, không biết là đã chết hay còn sống.
858.
858.
858.
‘‘Sakuṇī hataputtāva, suññaṃ disvā kulāvakaṃ;
Ciraṃ dukkhena jhāyissaṃ, bhūridattaṃ apassatī †.
Like a bird bereaved of her young, seeing the empty nest, long shall I grieve with sorrow, not seeing Bhūridatta.
Giống như chim mẹ bị mất con, khi nhìn thấy tổ trống, con sẽ mãi mãi sầu muộn trong đau khổ, vì không nhìn thấy Bhūridatta.
859.
859.
859.
‘‘Kurarī hatachāpāva, suññaṃ disvā kulāvakaṃ;
Ciraṃ dukkhena jhāyissaṃ, bhūridattaṃ apassatī.
Like a curlew bereaved of her young, seeing the empty nest, long shall I grieve with sorrow, not seeing Bhūridatta.
Giống như chim ó biển bị mất con, khi nhìn thấy tổ trống, con sẽ mãi mãi sầu muộn trong đau khổ, vì không nhìn thấy Bhūridatta.
860.
860.
860.
‘‘Sā nūna cakkavākīva, pallalasmiṃ anodake;
Ciraṃ dukkhena jhāyissaṃ, bhūridattaṃ apassatī.
Surely, like a female ruddy shelduck in a waterless pond, long shall I grieve with sorrow, not seeing Bhūridatta.
Chắc chắn, giống như chim cakkavākī ở trong ao hồ không có nước, con sẽ mãi mãi sầu muộn trong đau khổ, vì không nhìn thấy Bhūridatta.
861.
861.
861.
‘‘Kammārānaṃ yathā ukkā, anto jhāyati no bahi;
Evaṃ jhāyāmi sokena, bhūridattaṃ apassatī’’.
Just as a blacksmith's firebrand burns within, not without, so do I burn with sorrow, not seeing Bhūridatta.
Giống như lò rèn của những người thợ, cháy âm ỉ ở bên trong chứ không phải bên ngoài. Con cũng đang cháy thiêu vì sầu muộn như vậy, vì không nhìn thấy Bhūridatta.
862.
862.
862.
‘‘Sālāva sampamathitā †, mālutena pamadditā;
Senti puttā ca dārā ca, bhūridattanivesane’’.
Like a sāla tree, violently shaken and crushed by the wind, so lie the sons and wives in Bhūridatta's dwelling.
Giống như những cây sāla bị gió quật ngã, bị nghiền nát, các con trai và các bà vợ đang nằm la liệt trong nhà của Bhūridatta.
863.
863.
863.
‘‘Idaṃ sutvāna nigghosaṃ, bhūridattanivesane;
Ariṭṭho ca subhogo † ca, padhāviṃsu anantarā †.
Hearing this uproar in Bhūridatta's dwelling, Ariṭṭha and Subhoga immediately ran forth.
Nghe thấy tiếng ồn ào này trong cung điện của Bhūridatta, cả Ariṭṭha và Subhoga liền lập tức chạy đến.
864.
864.
864.
‘‘Amma assāsa mā soci, evaṃdhammā hi pāṇino;
Cavanti upapajjanti, esassa pariṇāmitā’’.
Mother, take comfort, do not grieve; for such is the nature of beings. They pass away and are reborn; this is their transformation.
Thưa mẹ, xin hãy an lòng, đừng sầu muộn. Quả thật, bản chất của chúng sanh là như vậy; họ chết đi rồi lại sanh ra, đó là sự biến đổi của họ.
865.
865.
865.
‘‘Ahampi tāta jānāmi, evaṃdhammā hi pāṇino;
Sokena ca paretasmi, bhūridattaṃ apassatī.
I too know, dear one, that such is the nature of beings; but I am overcome with sorrow, not seeing Bhūridatta.
Này con, mẹ cũng biết rằng bản chất của chúng sanh là như vậy; nhưng mẹ bị sầu muộn xâm chiếm vì không nhìn thấy Bhūridatta.
866.
866.
866.
‘‘Ajja ce me imaṃ rattiṃ, sudassana vijānahi;
Bhūridattaṃ apassantī, maññe hissāmi jīvitaṃ’’.
Know this, Sudassana: if on this very night I do not see Bhūridatta, I think I shall give up my life.
Này Sudassana, con hãy biết rằng, nếu đêm nay mẹ không nhìn thấy Bhūridatta, mẹ nghĩ rằng mẹ sẽ từ bỏ mạng sống.
867.
867.
867.
‘‘Amma assāsa mā soci, ānayissāma bhātaraṃ;
Disodisaṃ gamissāma, bhātupariyesanaṃ caraṃ.
Mother, take comfort, do not grieve. We shall bring back our brother. We shall go in all directions, wandering in search of our brother.
Thưa mẹ, xin hãy an lòng, đừng sầu muộn. Chúng con sẽ đưa anh trai trở về. Chúng con sẽ đi khắp mọi phương hướng, lang thang để tìm kiếm anh trai.
868.
868.
868.
‘‘Pabbate giriduggesu, gāmesu nigamesu ca;
Orena sattarattassa †, bhātaraṃ passa āgataṃ’’.
In mountains and mountain strongholds, in villages and market towns—before seven nights have passed, you shall see your brother returned.
Trên núi non, trong các thành lũy hiểm trở, trong các làng mạc và thị trấn, trong vòng bảy đêm, mẹ sẽ thấy anh trai trở về.
869.
869.
869.
‘‘Hatthā pamutto urago, pāde te nipatī bhusaṃ;
Kacci nu taṃ ḍaṃsī tāta †, mā bhāyi sukhito bhava’’.
The serpent, released from your hand, fell fiercely upon your feet. Did it perhaps bite you, dear one? Do not fear, be well.
Con rắn được thả ra từ tay đã rơi mạnh xuống chân con. Này con, nó có cắn con không? Đừng sợ hãi, mong con được an lành.
870.
870.
870.
‘‘Neva mayhaṃ ayaṃ nāgo, alaṃ dukkhāya kāyaci;
Yāvatatthi ahiggāho, mayā bhiyyo na vijjati’’.
This Nāga is not capable of causing me any suffering whatsoever. For among all snake-catchers that exist, none is found greater than I.
Con rắn này không phải của tôi, nó không thể gây ra bất cứ sự đau khổ nào. Trong số những người bắt rắn, không có ai giỏi hơn tôi.
871.
871.
871.
‘‘Ko nu brāhmaṇavaṇṇena, ditto † parisamāgato;
Avhāyantu suyuddhena, suṇantu parisā mama’’.
Who is this in the guise of a brahmin, so arrogant, who has come to the assembly? Let him challenge me to a fine contest; let my assembly listen.
Ai kia, trong hình tướng Bà-la-môn, rực rỡ, đã đến giữa hội chúng? Hãy để người ấy thách đấu một trận ra trò, hãy để hội chúng của ta lắng nghe.
872.
872.
872.
‘‘Tvaṃ maṃ nāgena ālampa, ahaṃ maṇḍūkachāpiyā;
Hotu no abbhutaṃ tattha, āsahassehi pañcahi’’.
You, Alampa, challenge me with a Nāga, and I shall challenge you with a young frog. Let there be a contest between us for a stake of five thousand.
Này Ālampa, ngươi hãy dùng con rắn của ngươi, còn ta sẽ dùng con nhái con của ta. Hãy để chúng ta có một cuộc đấu kỳ diệu ở đó, với năm ngàn (tiền cược).
873.
873.
873.
‘‘Ahañhi vasumā aḍḍho, tvaṃ daliddosi māṇava;
Ko nu te pāṭibhogatthi, upajūtañca kiṃ siyā.
For I am rich and wealthy; you are a poor young man. Who then is your guarantor, and what would be the stake?
Ta đây giàu có và sung túc, còn ngươi, chàng trai trẻ, thì nghèo khó. Ai là người bảo lãnh cho ngươi, và tiền cược sẽ là gì?
874.
874.
874.
‘‘Upajūtañca me assa, pāṭibhogo ca tādiso;
Hotu no abbhutaṃ tattha, āsahassehi pañcahi’’.
I shall have a stake, and a suitable guarantor as well. Let there be a contest between us for a stake of five thousand.
Hãy để ta có tiền cược, và cũng có người bảo lãnh tương xứng. Hãy để chúng ta có một cuộc đấu kỳ diệu ở đó, với năm ngàn (tiền cược).
875.
875.
875.
‘‘Suṇohi me mahārāja, vacanaṃ bhaddamatthu te;
Pañcannaṃ me sahassānaṃ, pāṭibhogo hi kittima’’.
Hear my word, O great king, may it be well with you. Kittima is indeed my guarantor for the five thousand.
Thưa Đại vương, xin hãy lắng nghe lời của con, cầu mong điều tốt lành đến với ngài. Vị bảo lãnh cho năm ngàn của con chính là đức vua.
876.
876.
876.
‘‘Pettikaṃ vā iṇaṃ hoti, yaṃ vā hoti sayaṃkataṃ;
Kiṃ tvaṃ evaṃ bahuṃ mayhaṃ, dhanaṃ yācasi brāhmaṇa’’.
Is it a paternal debt, or one you have made yourself? Why, O brahmin, do you ask me for so much wealth?
Này Bà-la-môn, đây là món nợ của cha ông để lại, hay là món nợ do chính ngươi tạo ra? Tại sao ngươi lại xin ta nhiều của cải như vậy?
877.
877.
877.
‘‘Alampāno hi nāgena, mamaṃ abhijigīsati †;
Ahaṃ maṇḍūkachāpiyā, ḍaṃsayissāmi brāhmaṇaṃ.
For Alampāna seeks to conquer me with a Nāga; I, with a young frog, shall have that brahmin bitten.
Quả thật, Ālampāna với con rắn của ông ta muốn đánh bại con. Con sẽ dùng con nhái con của mình để cho nó cắn người Bà-la-môn ấy.
878.
878.
878.
‘‘Taṃ tvaṃ daṭṭhuṃ mahārāja, ajja raṭṭhābhivaḍḍhana;
Khattasaṅghaparibyūḷho, niyyāhi ahidassanaṃ’’ †.
To see that, O great king, O increaser of the kingdom, go forth today, surrounded by your assembly of warriors, to the serpent-show.
Thưa Đại vương, bậc làm cho vương quốc phồn thịnh, hôm nay để xem việc ấy, xin ngài hãy cùng hội chúng các chiến sĩ đi đến buổi trình diễn rắn.
879.
879.
879.
‘‘Neva taṃ atimaññāmi, sippavādena māṇava;
Atimattosi sippena, uragaṃ nāpacāyasi’’.
I do not despise you, young man, for your talk of skill; but you are excessive in your skill and do not respect the serpent.
Này chàng trai trẻ, ta không hề xem thường ngươi về mặt kỹ năng. Nhưng ngươi đã quá tự phụ vào kỹ năng của mình mà không tôn trọng con rắn.
880.
880.
880.
‘‘Ahampi nātimaññāmi, sippavādena brāhmaṇa;
Avisena ca nāgena, bhusaṃ vañcayase janaṃ.
I too do not despise you, brahmin, for your talk of skill; but with a non-venomous Nāga, you greatly deceive the people.
Thưa Bà-la-môn, tôi cũng không xem thường ông về mặt kỹ năng. Nhưng với một con rắn không có nọc độc, ông đã lừa dối dân chúng rất nhiều.
881.
881.
881.
‘‘Evaṃ cetaṃ jano jaññā, yathā jānāmi taṃ ahaṃ;
Na tvaṃ labhasi ālampa, bhusamuṭṭhiṃ † kuto dhanaṃ’’.
If the people knew this as I know it, Alampa, you would not get even a handful of chaff, let alone wealth.
Nếu dân chúng biết được điều này như tôi biết, thì này Ālampa, ông sẽ không nhận được một nắm trấu, huống chi là của cải.
882.
882.
882.
‘‘Kharājino jaṭī dummī †, ditto parisamāgato;
Yo tvaṃ evaṃ gataṃ nāgaṃ, aviso atimaññasi.
Wearing a rough hide, with matted hair, foolish and arrogant, you have come to the assembly, you who scorn such a Nāga as this, calling him non-venomous.
Mặc da nai thô, tóc bện, xấu xí, rực rỡ, ngươi đã đến giữa hội chúng. Ngươi là kẻ xem thường con rắn như thế này là không có nọc độc.
883.
883.
883.
‘‘Āsajja kho naṃ jaññāsi, puṇṇaṃ uggassa tejaso;
Maññe taṃ bhasmarāsiṃva, khippameso karissati’’.
Indeed, having encountered him, you would know him to be full of fierce splendor. I think he will quickly make you into a heap of ashes.
Khi khiêu khích nó, ngươi chắc chắn sẽ biết rằng nó đầy uy lực ghê gớm. Ta nghĩ rằng nó sẽ nhanh chóng biến ngươi thành một đống tro tàn.
884.
884.
884.
‘‘Siyā visaṃ siluttassa, deḍḍubhassa silābhuno;
Neva lohitasīsassa, visaṃ nāgassa vijjati’’.
There might be venom in a silutta, or in a deḍḍubha that eats stones; but venom is never found in a Nāga with a red head.
Có thể có nọc độc ở con thằn lằn, hay ở con rắn nước sanh từ đá; nhưng đối với con rắn đầu đỏ này, thì không hề có nọc độc.
885.
885.
885.
‘‘Sutametaṃ arahataṃ, saññatānaṃ tapassinaṃ;
Idha dānāni datvāna, saggaṃ gacchanti dāyakā;
Jīvanto dehi dānāni, yadi te atthi dātave.
This I have heard from the Arahants, the restrained ascetics: ‘Having given gifts here, the donors go to heaven.’ Give gifts while you are living, if you have anything to give.
Điều này đã được nghe từ các bậc A-la-hán, những vị tự chế, những nhà khổ hạnh: Sau khi bố thí ở đời này, những người thí chủ sẽ đi về cõi trời. Khi còn sống, hãy bố thí, nếu ngươi có thứ gì để cho đi.
886.
886.
886.
‘‘Ayaṃ nāgo mahiddhiko, tejassī duratikkamo;
Tena taṃ ḍaṃsayissāmi, so taṃ bhasmaṃ karissati’’.
This Nāga is of great psychic power, splendid, and difficult to overcome; with him I shall have you bitten, and he will reduce you to ash.
Con rắn này có đại thần lực, đầy uy mãnh, khó vượt qua. Ta sẽ cho nó cắn ngươi, và nó sẽ thiêu ngươi ra tro.
887.
887.
887.
‘‘Mayāpetaṃ sutaṃ samma, saññatānaṃ tapassinaṃ;
Idha dānāni datvāna, saggaṃ gacchanti dāyakā;
Tvameva dehi jīvanto, yadi te atthi dātave.
By me too, friend, this has been heard from the restrained ascetics: ‘Having given gifts here, the donors go to heaven.’ You yourself should give while living, if you have anything to give.
Này bạn, tôi cũng đã nghe điều này từ những vị tự chế, những nhà khổ hạnh: Sau khi bố thí ở đời này, những người thí chủ sẽ đi về cõi trời. Chính ông hãy bố thí khi còn sống, nếu ông có thứ gì để cho đi.
888.
888.
888.
‘‘Ayaṃ ajamukhī † nāma, puṇṇā uggassa tejaso;
Tāya taṃ ḍaṃsayissāmi, sā taṃ bhasmaṃ karissati’’.
This one is named Ajamukhī, full of fierce splendor; with her I shall have you bitten, and she will reduce you to ash.
Đây là con vật tên Ajamukhī, nó đầy uy lực ghê gớm. Ta sẽ cho nó cắn ngươi, và nó sẽ thiêu ngươi ra tro.
889.
889.
889.
‘‘Yā dhītā dhataraṭṭhassa, vemātā bhaginī mama;
Sā taṃ ḍaṃsatvajamukhī †, puṇṇā uggassa tejaso’’.
She who is the daughter of Dhataraṭṭha, my half-sister—may that Ajamukhī, full of fierce splendor, bite you.
Nàng là con gái của vua Dhataraṭṭha, là người chị em khác mẹ của ta. Hãy để nàng, Ajamukhī, người đầy uy lực ghê gớm, cắn ngươi.
890.
890.
890.
‘‘Chamāyaṃ ce nisiñcissaṃ, brahmadatta vijānahi;
Tiṇalatāni osadhyo, ussusseyyuṃ asaṃsayaṃ.
If I were to sprinkle this on the ground, O Brahmadatta, know that the grasses, creepers, and medicinal herbs would undoubtedly wither.
Này Brahmadatta, hãy biết rằng, nếu ta phun (nọc độc) xuống đất, thì cỏ, dây leo, và dược thảo chắc chắn sẽ khô héo.
891.
891.
891.
‘‘Uddhaṃ ce pātayissāmi, brahmadatta vijānahi;
Satta vassāniyaṃ devo, na vasse na himaṃ pate.
If I were to cast this upward, O Brahmadatta, know that for seven years the god would not send rain, nor would dew fall.
“Này Brahmadatta, hãy biết cho, nếu ta ném (viên ngọc) lên trên; Trời sẽ không mưa, sương sẽ không rơi trong bảy năm.”
892.
892.
892.
‘‘Udake ce nisiñcissaṃ, brahmadatta vijānahi;
Yāvantodakajā † pāṇā, mareyyuṃ macchakacchapā’’.
If I were to sprinkle this into the water, O Brahmadatta, know that all water-born creatures—fish and turtles—would die.
“Này Brahmadatta, hãy biết cho, nếu ta nhúng (viên ngọc) vào nước; Tất cả các loài thủy tộc, cá và rùa, sẽ phải chết.”
893.
893.
893.
‘‘Lokyaṃ sajantaṃ udakaṃ, payāgasmiṃ patiṭṭhitaṃ;
Komaṃ ajjhoharī bhūto, ogāḷhaṃ yamunaṃ nadiṃ’’.
A being, having plunged into the river Yamunā, devoured what was tender. The worldly, clinging water was established at the ford.
Nước, thứ dính mắc ở thế gian, được thiết lập ở bến tắm Payāga; một sinh linh đã nuốt chửng người hiền lành đang trầm mình trong dòng sông Yamunā.
894.
894.
894.
‘‘Yadesa lokādhipatī yasassī, bārāṇasiṃ pakriya † samantato;
Tassāha putto uragūsabhassa, subhogoti maṃ brāhmaṇa vedayanti’’.
He is that glorious lord of the world who has made Bārāṇasī his domain all around. I am the son of that bull among serpents; O brahmin, they know me as Subhoga.
Vị lừng danh là chúa tể của thế gian này, đã cai trị khắp xung quanh xứ Bārāṇasī; tôi là con trai của vị ấy, bậc rắn chúa oai hùng. Hỡi Bà-la-môn, họ biết tôi là Subhoga.
895.
895.
895.
‘‘Sace hi putto uragūsabhassa, kāsissa † rañño amarādhipassa;
Mahesakkho aññataro pitā te, maccesu mātā pana te atulyā;
Na tādiso arahati brāhmaṇassa, dāsampi ohārituṃ † mahānubhāvo’’.
If you are indeed the son of the bull among serpents, the king of Kāsi, lord of the immortals, then your father is one of great power and your mother is peerless among mortals. Such a one of great power does not deserve to be treated even as a slave by a brahmin.
Nếu ngài thật là con trai của bậc rắn chúa oai hùng, của vua xứ Kāsī, chúa tể của các vị bất tử; cha của ngài là một vị có đại quyền lực, còn mẹ của ngài ở giữa loài người thì không ai sánh bằng. Một vị có đại thần lực như thế không đáng để cướp đi dù chỉ là người nô lệ của một vị Bà-la-môn.
896.
896.
896.
‘‘Rukkhaṃ nissāya vijjhittho, eṇeyyaṃ pātumāgataṃ;
So viddho dūramacari †, saravegena sīghavā †.
Relying on a tree, you shot an antelope that had come to drink. Wounded, it fled far away, swift with the speed of the arrow.
Nấp sau một thân cây, ngươi đã bắn con nai đến để uống nước. Bị trúng tên, nó đã chạy đi xa, nhanh chóng do tốc độ của mũi tên.
897.
897.
897.
‘‘Taṃ tvaṃ patitamaddakkhi, araññasmiṃ brahāvane;
Samaṃ sakājamādāya, sāyaṃ nigrodhupāgami.
You saw it fallen in the great forest wilderness. Taking it on a carrying pole, in the evening you approached the banyan tree.
Ngươi đã thấy nó ngã xuống trong khu rừng hoang vĩ đại. Mang theo gánh thịt của mình, vào buổi chiều, ngươi đã đi đến một cây đa.
898.
898.
898.
‘‘Sukasāḷikasaṅghuṭṭhaṃ, piṅgalaṃ † santhatāyutaṃ;
Kokilābhirudaṃ rammaṃ, dhuvaṃ haritasaddalaṃ.
Resounding with the calls of parrots and mynahs, tawny and wide-spreading, delightful with the cries of cuckoos, with a constant carpet of green grass.
(Nơi ấy) vang dội tiếng vẹt và sáo, có màu vàng óng, trải rộng mênh mông; đáng vui thích với tiếng chim cu gáy, và luôn có thảm cỏ xanh tươi.
899.
899.
899.
‘‘Tattha te so pāturahu, iddhiyā yasasā jalaṃ;
Mahānubhāvo bhātā me, kaññāhi parivārito.
There he appeared to you, blazing with psychic power and glory: my brother of great power, surrounded by maidens.
Tại nơi ấy, vị ấy đã hiện ra trước ngươi, tỏa sáng với thần thông và danh tiếng. Người anh của ta, có đại oai lực, được các thiếu nữ vây quanh.
900.
900.
900.
‘‘So tena pariciṇṇo tvaṃ, sabbakāmehi tappito;
Aduṭṭhassa tuvaṃ dubbhi, taṃ te veraṃ idhāgataṃ.
You were attended to by him, gratified with all pleasures; yet you betrayed one who was without malice. Therefore that enmity has come upon you here.
Ngươi đã được vị ấy phục vụ, được thỏa mãn với tất cả các dục lạc. Ngươi đã phản bội người không có ác ý; mối thù nghịch ấy của ngươi đã đến đây.
901.
901.
901.
‘‘Khippaṃ gīvaṃ pasārehi, na te dassāmi jīvitaṃ;
Bhātu parisaraṃ veraṃ, chedayissāmi te siraṃ’’.
Quickly, stretch out your neck! I will not grant you your life. To avenge the injury to my brother, I will cut off your head.
Hãy mau đưa cổ ra, ta sẽ không cho ngươi mạng sống. (Để trả) mối thù đã hãm hại anh ta, ta sẽ chặt đầu ngươi.
902.
902.
902.
‘‘Ajjhāyako yācayogī, āhutaggi ca brāhmaṇo;
Etehi tīhi ṭhānehi, avajjho hoti † brāhmaṇo’’.
A reciter of the Vedas, one who subsists on begging, and a brahmin who tends the sacrificial fire: on these three grounds a brahmin is inviolable.
Là người học tập (Vệ-đà), là người hành nghề khất thực, và là vị Bà-la-môn tế lửa; vì ba lý do này, một vị Bà-la-môn là người không thể bị giết.
903.
903.
903.
‘‘Yaṃ pūraṃ dhataraṭṭhassa, ogāḷhaṃ yamunaṃ nadiṃ;
Jotate sabbasovaṇṇaṃ, girimāhacca yāmunaṃ.
That city of Dhataraṭṭha, submerged in the river Yamunā, shines all of gold, reaching to the Yamunā mountain.
Thành phố của Dhataraṭṭha, nằm sâu trong dòng sông Yamunā, toàn bằng vàng ròng, tỏa sáng, tựa vào ngọn núi Yamuna.
904.
904.
904.
‘‘Tattha te purisabyagghā, sodariyā mama bhātaro;
Yathā te tattha vakkhanti, tathā hessasi brāhmaṇa’’.
There are my brothers, tigers among men, born of the same womb. O brahmin, as they will direct there, so it shall be for you.
Ở nơi ấy có các vị anh hùng, là những người anh em cùng mẹ của ta. Hỡi Bà-la-môn, ở đó họ sẽ phán quyết thế nào, ngươi sẽ bị như thế ấy.
905.
905.
905.
‘‘Anittarā ittarasampayuttā, yaññā ca vedā ca subhogaloke;
Tadaggarayhañhi vinindamāno, jahāti vittañca satañca dhammaṃ.
In this world of pleasure, through sacrifices and the Vedas, some are ordinary, some unsurpassed. But by censuring what should be held as supreme, one abandons wealth, goodness, and the true law.
Hỡi Subhoga, ở thế gian này, các lễ tế và kinh Vệ-đà là tối thượng, không liên quan đến những điều tầm thường. Người nào chỉ trích điều được xem là cao quý nhất ấy, người ấy từ bỏ cả tài sản và chánh pháp của người tốt.
906.
906.
906.
‘‘Ajjhenamariyā pathaviṃ janindā, vessā kasiṃ pāricariyañca suddā;
Upāgu paccekaṃ yathāpadesaṃ, katāhu ete vasināti āhu’’.
The nobles are for study, kings for ruling the earth, Vessas for farming, and Suddas for service. They say that each keeps to their own sphere, for they were so created by the Controller.
Các bậc quý tộc, những vị vua, cai trị trái đất; các vị Vessa làm nông nghiệp, và các vị Sudda thì phục dịch. Họ nói rằng mỗi hạng người đã đảm nhận vai trò tương ứng, và họ đã trở thành những người chủ (trong lĩnh vực của mình).
907.
907.
907.
‘‘Dhātā vidhātā varuṇo kuvero, somo yamo candimā vāyu sūriyo;
Etepi yaññaṃ puthuso yajitvā, ajjhāyakānaṃ atho sabbakāme.
Dhātā, Vidhātā, Varuṇa, Kuvera, Soma, Yama, the Moon, the Wind, and the Sun—these too, having performed sacrifices in various ways, fulfilled all the desires of the reciters.
Dhātā, Vidhātā, Varuṇa, Kuvera, Soma, Yama, Candimā, Vāyu, Sūriya; các vị này cũng đã thực hiện nhiều lễ tế khác nhau, và đã ban cho những người học tập (Vệ-đà) tất cả những gì họ mong muốn.
908.
908.
908.
‘‘Vikāsitā cāpasatāni pañca, yo ajjuno balavā bhīmaseno;
Sahassabāhu asamo pathabyā, sopi tadā mādahi jātavedaṃ’’.
Powerful Arjuna of the mighty army, thousand-armed and unequalled on earth, who could draw five hundred bows—even he then tended the sacrificial fire.
Vị Ajjuna, người có thể giương năm trăm cây cung, là người hùng mạnh với đạo quân đáng sợ, có ngàn cánh tay, không ai sánh bằng trên trái đất; vị ấy khi xưa cũng đã cúng dường ngọn lửa thiêng.
909.
909.
909.
‘‘Yo brāhmaṇe bhojayi dīgharattaṃ, annena pānena yathānubhāvaṃ;
Pasannacitto anumodamāno, subhoga devaññataro ahosi’’.
Whoever for a long time feeds brahmins with food and drink according to his means, with a confident mind and rejoicing, becomes one or another of the blissful gods.
Người nào đã cúng dường các vị Bà-la-môn trong một thời gian dài, với thức ăn và thức uống tùy theo khả năng của mình, với tâm ý trong sạch và hoan hỷ; hỡi Subhoga, người ấy đã trở thành một vị trời.
910.
910.
910.
‘‘Mahāsanaṃ devamanomavaṇṇaṃ, yo sappinā asakkhi bhojetumaggiṃ †;
Sa yaññatantaṃ varato yajitvā, dibbaṃ gatiṃ mucalindajjhagacchi’’.
He who was able to feed the fire—of great seat, divine, and of mind-pleasing hue—with ghee, having performed the best sacrificial rite, attained the divine destination of Mucalinda.
Người nào đã có thể cúng dường ngọn lửa, vị trời ăn nhiều có hình sắc đẹp ý, bằng bơ lỏng; vị vua Mucalinda ấy, sau khi thực hiện lễ tế cao quý, đã đạt đến cảnh giới chư thiên.
911.
911.
911.
‘‘Mahānubhāvo vassasahassajīvī, yo pabbajī dassaneyyo uḷāro;
Hitvā apariyantaraṭṭhaṃ † sasenaṃ, rājā dudīpopi jagāma † saggaṃ’’.
Of great power, living for a thousand years, handsome and magnificent was he who went forth. Having abandoned his boundless kingdom with its army, even King Dudīpa went to heaven.
Vị vua Dudīpa, có đại oai lực, sống một ngàn năm, là người xuất gia, ưa nhìn và cao quý; sau khi từ bỏ vương quốc bao la cùng với quân đội, vị ấy cũng đã đi về cõi trời.
912.
912.
912.
‘‘Yo sāgarantaṃ sāgaro vijitvā, yūpaṃ subhaṃ soṇṇamayaṃ † uḷāraṃ;
Ussesi vessānaramādahāno, subhoga devaññataro ahosi.
King Sāgara, having conquered the ocean-bounded earth, raised up a beautiful, magnificent, golden sacrificial post. Kindling the fire for Vessānara, he became one or another of the blissful gods.
Vua Sāgara, sau khi chinh phục (trái đất) đến tận bờ đại dương, đã dựng lên một trụ tế lễ đẹp đẽ, cao quý, làm bằng vàng, trong khi cúng dường ngọn lửa Vessānara; hỡi Subhoga, vị ấy đã trở thành một vị trời.
913.
913.
913.
‘‘Yassānubhāvena subhoga gaṅgā, pavattatha † dadhisannisinnaṃ † samuddaṃ;
Salomapādo paricariyamaggiṃ, aṅgo sahassakkhapurajjhagacchi’’.
By whose power the bountiful Ganges flows to the sea that resembles curdled milk; he with the hairy feet, having attended to the fire, King Aṅga, went to the city of the Thousand-Eyed One.
Hỡi Subhoga, nhờ oai lực của vị ấy mà sông Hằng đã chảy ra đại dương trông giống như sữa đông. Vua Aṅga, người có lông ở chân, sau khi phụng sự ngọn lửa, đã đi đến thành phố của vị có ngàn mắt.
914.
914.
914.
‘‘Mahiddhiko devavaro yasassī, senāpati tidive vāsavassa;
So somayāgena malaṃ vihantvā, subhoga devaññataro ahosi’’.
Of great psychic power, glorious, a chief among gods, the commander of Vāsava's host in the triple heaven—having dispelled impurity through the Soma sacrifice, he became one or another of the blissful gods.
Vị trời ưu tú, lừng danh, có đại thần thông, là vị tướng của Vāsava ở trên cõi trời; vị ấy, sau khi diệt trừ cấu uế bằng lễ tế Soma, hỡi Subhoga, đã trở thành một vị trời.
915.
915.
915.
‘‘Akārayi lokamimaṃ parañca, bhāgīrathiṃ himavantañca gijjhaṃ †;
Yo iddhimā devavaro yasassī, sopi tadā ādahi jātavedaṃ.
He who caused this world and the next to be made, and the Bhāgīrathī, the Himālaya, and the Vulture's Peak—that powerful, glorious, best of gods, even he then tended the sacrificial fire.
Vị trời ưu tú, lừng danh, có thần thông, người đã tạo ra thế gian này và thế gian bên kia, sông Bhāgīrathī, núi Himavanta và núi Gijjha; vị ấy khi xưa cũng đã cúng dường ngọn lửa thiêng.
916.
916.
916.
‘‘Mālāgirī himavā yo ca gijjho †, sudassano nisabho kuveru †;
Ete ca aññe ca nagā mahantā, cityā katā yaññakarehi māhu’’.
Mālāgiri, Himavā, and Gijjhakūṭa, Sudassana, Nisabha, and Kuveru—these and other great mountains, they say, were made as fire-altars by the performers of sacrifice.
Mālāgirī, Himavā, và Gijjha, Sudassana, Nisabha, Kuveru; họ nói rằng những ngọn núi lớn này và các ngọn núi khác là những đàn tế được tạo ra bởi những người thực hiện lễ tế.
917.
917.
917.
‘‘Ajjhāyakaṃ mantaguṇūpapannaṃ, tapassinaṃ yācayogotidhāhu †;
Tīre samuddassudakaṃ sajantaṃ †, sāgarojjhohari tenapeyyo.
They say of a reciter endowed with the power of mantras, an ascetic who subsists on begging: if he stood on the ocean shore wanting water, the ocean would be drinkable for him.
Họ nói rằng có một người học tập (Vệ-đà), người sở hữu đức hạnh của các câu thần chú, một vị khổ hạnh hành nghề khất thực. Khi đang dính liền với nước ở bờ biển, một sinh vật biển đã nuốt chửng vị ấy; do đó (nước biển) không thể uống được.
918.
918.
918.
‘‘Āyāgavatthūni puthū pathabyā, saṃvijjanti brāhmaṇā vāsavassa;
Purimaṃ disaṃ pacchimaṃ dakkhiṇuttaraṃ, saṃvijjamānā janayanti vedaṃ’’.
Many grounds for sacrifice are found on the earth, and there are brahmins of Vāsava. Existing in the east, west, south, and north, they generate the Veda.
Có nhiều nền tảng cho lễ tế tồn tại trên trái đất. Các vị Bà-la-môn của Vāsava, hiện hữu ở phương đông, phương tây, phương nam, và phương bắc, tạo ra kinh Vệ-đà.
919.
919.
919.
‘‘Kalī hi dhīrāna kaṭaṃ magānaṃ, bhavanti vedajjhagatānariṭṭha;
Marīcidhammaṃ asamekkhitattā, māyāguṇā nātivahanti paññaṃ.
O Ariṭṭha, the path of the Vedas is a losing game for the wise. Because they do not properly see the mirage-like nature of things, the snares of illusion overcome their wisdom.
Quả thật, những người thông thạo Vệ-đà, (tự cho là) không có tai họa, là một vết nhơ trên con đường của bậc trí. Do không quán xét bản chất như ảo ảnh, những đặc tính của ảo thuật không thể dẫn dắt trí tuệ đi xa hơn.
920.
920.
920.
‘‘Vedā na tāṇāya bhavanti dassa, mittadduno bhūnahuno narassa;
Na tāyate pariciṇṇo ca aggi, dosantaraṃ maccamanariyakammaṃ.
The Vedas are no protection for a man who harms a friend or destroys life. Nor does a well-tended fire protect a mortal with a heart full of hate, one of ignoble deeds.
Kinh Vệ-đà không phải là nơi nương tựa cho người phản bạn, cho kẻ sát sinh. Và ngọn lửa được phụng sự cũng không bảo vệ được người có lòng sân hận, kẻ phàm phu có hành vi không cao thượng.
921.
921.
921.
‘‘Sabbañca maccā sadhanaṃ sabhogaṃ †, ādīpitaṃ dāru tiṇena missaṃ;
Dahaṃ na tappe † asamatthatejo, ko taṃ subhikkhaṃ dvirasaññu kayirā †.
Just as fire, fed with all the wealth and enjoyments of mortals, with wood and with grass, burns with unequalled power and is never satisfied, so who could ever sate that insatiable one who knows two tastes?
Ngay cả khi đốt cháy tất cả chúng sinh cùng với tài sản và của cải, được trộn lẫn với củi và cỏ, ngọn lửa vẫn không được thỏa mãn, năng lực của nó là không đủ. Người nào biết được hai vị của nó, ai sẽ làm cho nó được no đủ?
922.
922.
922.
‘‘Yathāpi khīraṃ vipariṇāmadhammaṃ, dadhi bhavitvā navanītampi hoti;
Evampi aggi vipariṇāmadhammo, tejo samorohatī yogayutto.
Just as milk, which is subject to change, becomes curds and then fresh butter, so too is fire subject to change: when the right conditions are absent, its heat subsides.
Cũng như sữa, có bản chất biến đổi, sau khi trở thành sữa đông, cũng trở thành bơ tươi. Cũng vậy, lửa có bản chất biến đổi; khi các điều kiện thích hợp không còn, sức nóng của nó sẽ lắng xuống.
923.
923.
923.
‘‘Na dissatī aggimanuppaviṭṭho, sukkhesu kaṭṭhesu navesu cāpi;
Nāmatthamāno † araṇīnarena, nākammunā jāyati jātavedo.
Fire is not seen to have entered into dry wood or into fresh. Not by a man merely wishing for it with his fire-sticks, nor without the proper action, is the fire-god born.
“Lửa không được thấy đã đi vào, trong các khúc củi khô hay cả củi tươi; Nếu không được người dùng cây cọ xát, lửa sẽ không sinh ra do không có hành động.”
924.
924.
924.
‘‘Sace hi aggi antarato vaseyya, sukkhesu kaṭṭhesu navesu cāpi;
Sabbāni susseyyu vanāni loke, sukkhāni kaṭṭhāni ca pajjaleyyuṃ.
If fire were to dwell within, even in dry and fresh wood, all the forests in the world would dry up, and dry wood would blaze up.
“Vì nếu lửa trú ngụ bên trong, trong các khúc củi khô hay cả củi tươi; Tất cả các khu rừng trên thế gian sẽ khô héo, và các khúc củi khô sẽ bốc cháy.”
925.
925.
925.
‘‘Karoti ce dārutiṇena puññaṃ, bhojaṃ naro dhūmasikhiṃ patāpavaṃ;
Aṅgārikā loṇakarā ca sūdā, sarīradāhāpi kareyyu puññaṃ.
If a man makes merit with wood and grass by feeding the powerful, smoke-crested fire, then charcoal-makers, salt-makers, cooks, and even corpse-burners would also be making merit.
Nếu người dâng cúng cho ngọn lửa có khói, có uy lực, làm được phước bằng củi và cỏ; thì những người đốt than, những người làm muối, và những người đầu bếp, cả những người thiêu xác cũng sẽ làm được phước.
926.
926.
926.
‘‘Atha ce hi ete na karonti puññaṃ, ajjhenamaggiṃ idha tappayitvā;
Na koci lokasmiṃ karoti puññaṃ, bhojaṃ naro dhūmasikhiṃ patāpavaṃ.
But if these people do not make merit by satisfying the fire here, then no one in the world makes merit by feeding the powerful, smoke-crested fire.
Và nếu quả thật những người này không làm được phước, sau khi đã làm cho lửa thỏa mãn ở đây bằng vật cúng dường; thì không một ai ở thế gian làm được phước, là người dâng cúng cho ngọn lửa có khói, có uy lực.
927.
927.
927.
‘‘Kathañhi lokāpacito samāno, amanuññagandhaṃ bahūnaṃ akantaṃ;
Yadeva maccā parivajjayanti, tadappasatthaṃ dvirasaññu bhuñje.
Being one who is honored by the world, how could the knower of two tastes eat that unpraised thing which mortals avoid, that which has a disagreeable smell and is unloved by many?
Làm sao vị được thế gian tôn kính, lại có thể ăn vật không được tán dương, có mùi không vừa ý, không được nhiều người ưa thích, là vật mà các người trần thế tránh xa, vị ấy là người biết cả hai?
928.
928.
928.
‘‘Sikhimpi devesu vadanti heke, āpaṃ milakkhū † pana devamāhu;
Sabbeva ete vitathaṃ bhaṇanti †, aggī na devaññataro na cāpo.
Some say that fire is a god among gods, while barbarians say that water is a god. All of them speak falsely: fire is not any kind of god, nor is water.
Một số người nói rằng lửa ở trong hàng chư Thiên, còn những người man di lại nói rằng nước là vị trời; tất cả những người ấy đều nói lời sai lạc, lửa không phải là vị trời nào và nước cũng không phải.
929.
929.
929.
‘‘Anindriyabaddhamasaññakāyaṃ †, vessānaraṃ kammakaraṃ pajānaṃ;
Paricariya maggiṃ sugatiṃ kathaṃ vaje, pāpāni kammāni pakubbamāno †.
Vessānara is without faculties, bound, with a non-percipient body, a mere servant of people. How can one who performs evil deeds go to a good destination by serving this fire?
Lửa Vessānara có thân không bị trói buộc bởi các căn, không có tưởng, là kẻ phục vụ cho dân chúng; làm sao người ta có thể đi đến cõi lành bằng cách phụng sự lửa, trong khi đang làm các nghiệp ác?
930.
930.
930.
‘‘Sabbābhibhū tāhudha jīvikatthā, aggissa brahmā paricārakoti;
Sabbānubhāvī ca vasī kimatthaṃ, animmito nimmitaṃ vanditassa.
They say here that for the sake of livelihood the all-conquering Brahmā is an attendant of the fire. But for what reason would the all-powerful and controlling one, the uncreated, worship the created?
Họ nói rằng ở đây, vì mục đích sinh kế, vị Toàn Thắng, Phạm Thiên, là người phục vụ cho lửa; và vì lý do gì vị Toàn Năng, bậc Tự Tại, đấng không được tạo tác, lại đi đảnh lễ vật được tạo tác?
931.
931.
931.
‘‘Hassaṃ anijjhānakhamaṃ atacchaṃ, sakkārahetu pakiriṃsu pubbe;
Te lābhasakkāre apātubhonte, sandhāpitā † jantubhi santidhammaṃ.
For the sake of honor, in the past they uttered what is laughable, untrue, and inimical to meditation. When gain and honor are not forthcoming, they are made to reconcile with the peaceful teaching by other people.
Điều đáng chê cười, không đáng để suy xét, không thật, đã được họ phổ biến trong quá khứ vì lý do được tôn kính; khi không có được lợi lộc và sự tôn kính, họ đã được chúng sanh hòa giải với chánh pháp an tịnh.
932.
932.
932.
‘‘Ajjhenamariyā pathaviṃ janindā, vessā kasiṃ pāricariyañca suddā;
Upāgu paccekaṃ yathāpadesaṃ, katāhu ete vasināti āhu.
The nobles are for study, kings for ruling the earth, Vessas for farming, and Suddas for service. They say that each keeps to their own sphere, for they were so created by the Controller.
Các vị Bà-la-môn học tập, các vị vua chúa cai trị trái đất, các vị Vệ-xá làm nghề nông, và các vị Thủ-đà-la làm việc phục vụ; họ nói rằng mỗi người đã đến theo như sự phân định, họ nói rằng những người này đã được tạo ra bởi đấng Tự Tại.
933.
933.
933.
‘‘Etañca saccaṃ vacanaṃ bhaveyya, yathā idaṃ bhāsitaṃ brāhmaṇehi;
Nākhattiyo jātu labhetha rajjaṃ, nābrāhmaṇo mantapadāni sikkhe;
Nāññatra vessehi kasiṃ kareyya, suddo na mucce parapesanāya †.
If this statement spoken by the brahmins were true, then a non-Khattiya would never obtain a kingdom, a non-Brahmin would not learn the sacred verses, no one other than a Vessa would engage in farming, and a Sudda would never be freed from serving others.
Và nếu lời nói này là sự thật, như điều này đã được các vị Bà-la-môn nói ra; thì người không phải Sát-đế-lợi sẽ không bao giờ có được vương quốc, người không phải Bà-la-môn sẽ không học được các câu thần chú; không ai khác ngoài các vị Vệ-xá có thể làm nghề nông, vị Thủ-đà-la sẽ không được giải thoát khỏi việc hầu hạ người khác.
934.
934.
934.
‘‘Yasmā ca etaṃ vacanaṃ abhūtaṃ, musāvime odariyā bhaṇanti;
Tadappapaññā abhisaddahanti, passanti taṃ paṇḍitā attanāva.
Because this statement is untrue, these belly-slaves speak falsely; the witless believe it, but the wise see it for themselves.
Và bởi vì lời nói này là không thật, những kẻ tham ăn này nói lời dối trá; những người ít trí tuệ tin tưởng vào điều ấy, các bậc hiền trí tự mình thấy rõ điều ấy.
935.
935.
935.
‘‘Khatyā hi vessānaṃ † baliṃ haranti, ādāya satthāni caranti brāhmaṇā;
Taṃ tādisaṃ saṅkhubhitaṃ pabhinnaṃ, kasmā brahmā nujju karoti lokaṃ.
For Khattiyas take tribute from Vessas, and brahmins wander about having taken up weapons. Since the world is so agitated and divided, why does Brahmā not set it straight?
Quả thật, các vị Sát-đế-lợi thu thuế của các vị Vệ-xá, các vị Bà-la-môn mang theo vũ khí và đi lang thang; thế gian như thế, bị khuấy động, bị chia rẽ, tại sao Phạm Thiên không làm cho thế gian được ngay thẳng?
936.
936.
936.
‘‘Sace hi so issaro sabbaloke, brahmā bahūbhūtapatī † pajānaṃ;
Kiṃ sabbalokaṃ vidahī alakkhiṃ, kiṃ sabbalokaṃ na sukhiṃ akāsi.
If Brahmā is indeed the lord of the whole world, the master of many beings and creatures, why did he ordain misfortune for the whole world? Why did he not make the whole world happy?
Nếu quả thật vị ấy là chúa tể của toàn thế gian, Phạm Thiên là chủ của nhiều chúng sanh, của các loài; tại sao vị ấy đã sắp đặt sự bất hạnh cho toàn thế gian, tại sao vị ấy đã không làm cho toàn thế gian được hạnh phúc?
937.
937.
937.
‘‘Sace hi so issaro sabbaloke, brahmā bahūbhūtapatī pajānaṃ;
Māyā musāvajjamadena † cāpi, lokaṃ adhammena kimatthamakāri †.
If Brahmā is indeed the lord of the whole world, the master of many beings and creatures, for what reason did he make the world with unrighteousness, along with illusion, falsehood, blame, and conceit?
Nếu quả thật vị ấy là chúa tể của toàn thế gian, Phạm Thiên là chủ của nhiều chúng sanh, của các loài; và cũng với ảo thuật, lời dối trá, điều đáng chê trách, và sự kiêu mạn, vì lý do gì thế gian đã được tạo ra một cách phi pháp?
938.
938.
938.
‘‘Sace hi so issaro sabbaloke, brahmā bahūbhūtapatī pajānaṃ;
Adhammiko bhūtapatī ariṭṭha, dhamme sati yo vidahī adhammaṃ.
If Brahmā is indeed the lord of the whole world, the master of many beings and creatures, then, O Ariṭṭha, that lord of beings is unrighteous, for when righteousness exists, he has ordained unrighteousness.
Nếu quả thật vị ấy là chúa tể của toàn thế gian, Phạm Thiên là chủ của nhiều chúng sanh, của các loài; này Ariṭṭha, vị chủ của chúng sanh là phi pháp, người đã sắp đặt điều phi pháp trong khi có sự hiện hữu của chánh pháp.
939.
939.
939.
‘‘Kīṭā paṭaṅgā uragā ca bhekā †, hantvā kimī sujjhati makkhikā ca;
Etepi dhammā anariyarūpā, kambojakānaṃ vitathā bahūnaṃ.
One is purified by killing insects, moths, snakes, and frogs, worms and flies—these teachings are of an ignoble nature, the false beliefs of many among the Kambojans.
Giết các loài côn trùng, bươm bướm, rắn, và ếch, các loài giun và ruồi, làm sao người ta được thanh tịnh? Các pháp này cũng có bản chất không cao thượng, là điều sai lạc của nhiều người ở xứ Kamboja.
940.
940.
940.
‘‘Sace hi so sujjhati yo hanāti, hatopi so saggamupeti ṭhānaṃ;
Bhovādi bhovādina mārayeyyuṃ †, ye cāpi tesaṃ abhisaddaheyyuṃ.
If he who kills is purified, and the one who is killed also goes to a heavenly state, then let a Brahmin kill a Brahmin, and also those who place faith in them.
Nếu quả thật người giết được thanh tịnh, và người bị giết cũng đi đến cảnh trời; thì người nói ‘bho’ nên giết người nói ‘bho,’ và cả những người tin tưởng vào họ.
941.
941.
941.
‘‘Neva migā na pasū nopi gāvo, āyācanti attavadhāya keci;
Vipphandamāne idha jīvikatthā, yaññesu pāṇe pasumārabhanti †.
Neither wild animals, nor domestic animals, nor cattle plead for their own slaughter; yet while they struggle here for their lives, people slaughter these living beings in sacrifices.
Không có loài thú rừng, không có gia súc, cũng không có bò, không có loài nào cầu xin sự giết hại chính mình; trong khi chúng đang giãy giụa ở đây vì mục đích mạng sống, người ta bắt các sinh vật, các con vật trong các buổi tế lễ.
942.
942.
942.
‘‘Yūpussane † pasubandhe ca bālā, cittehi vaṇṇehi mukhaṃ nayanti;
Ayaṃ te yūpo kāmaduho parattha, bhavissati sassato samparāye.
Fools, at the erection of the sacrificial post and the binding of animals, persuade with colorful words, saying: ‘This sacrificial post of yours will be a milker of desires hereafter; it will be eternal for you in the future life.’
Những kẻ ngu dại, ở nơi dựng cột tế lễ và trói buộc con vật, dùng những lời lẽ hoa mỹ để dẫn dụ: ‘Cột tế lễ này của ông sẽ ban cho mọi ước muốn ở thế giới bên kia, sẽ là vĩnh cửu trong đời sau.’
943.
943.
943.
‘‘Sace ca yūpe maṇisaṅkhamuttaṃ, dhaññaṃ dhanaṃ rajataṃ jātarūpaṃ;
Sukkhesu kaṭṭhesu navesu cāpi, sace duhe tidive sabbakāme;
Tevijjasaṅghāva puthū yajeyyuṃ, abrāhmaṇaṃ † kañci na yājayeyyuṃ.
If from the sacrificial post one could milk gems, conches, and pearls, grain, wealth, silver, and gold; and if from dry or new wood one could milk all desires in heaven, then communities of those versed in the three Vedas would sacrifice extensively and would never have any non-brahmin perform a sacrifice.
Và nếu các cột tế lễ, trong các thanh củi khô và cả trong các thanh củi tươi, nếu chúng ban cho ngọc báu, ốc xà cừ, ngọc trai, ngũ cốc, tài sản, bạc, vàng, và tất cả các dục lạc ở cõi trời; thì các hội chúng Bà-la-môn Tam Veda đã tự mình tế lễ rất nhiều, và đã không để cho bất cứ người nào không phải Bà-la-môn thực hiện tế lễ.
944.
944.
944.
‘‘Kuto ca yūpe maṇisaṅkhamuttaṃ, dhaññaṃ dhanaṃ rajataṃ jātarūpaṃ;
Sukkhesu kaṭṭhesu navesu cāpi, kuto duhe tidive sabbakāme.
From where could one milk from the sacrificial post gems, conches, and pearls, grain, wealth, silver, and gold? And from dry or new wood, from where could one milk all desires in heaven?
Từ đâu mà các cột tế lễ, trong các thanh củi khô và cả trong các thanh củi tươi, lại có thể ban cho ngọc báu, ốc xà cừ, ngọc trai, ngũ cốc, tài sản, bạc, vàng? Từ đâu chúng có thể ban cho tất cả các dục lạc ở cõi trời?
945.
945.
945.
‘‘Saṭhā ca luddā ca paluddhabālā †, cittehi vaṇṇehi mukhaṃ nayanti;
Ādāya aggiṃ mama dehi vittaṃ, tato sukhī hohisi sabbakāme.
Deceitful, greedy, and deluded fools persuade with colorful words, saying: ‘Tend the fire, give me wealth, and then you will be happy with all desires.’
Những kẻ xảo quyệt, tham lam, và những kẻ ngu si bị mê hoặc, dùng những lời lẽ hoa mỹ để dẫn dụ: ‘Hãy nhận lấy ngọn lửa, hãy cho ta của cải, rồi ông sẽ được hạnh phúc với tất cả các dục lạc.’
946.
946.
946.
‘‘Tamaggihuttaṃ saraṇaṃ pavissa, cittehi vaṇṇehi mukhaṃ nayanti;
Oropayitvā kesamassuṃ nakhañca, vedehi vittaṃ atigāḷhayanti †.
Having entered that fire sacrifice for refuge, they persuade with colorful words. Having caused the patron's hair, beard, and nails to be shaved off, they grasp wealth tightly by means of the Vedas.
Sau khi đã đi vào sự nương tựa nơi việc cúng dường lửa ấy, họ dùng những lời lẽ hoa mỹ để dẫn dụ; sau khi đã cạo bỏ râu, tóc, và móng tay, họ dùng các kinh Veda để bòn rút của cải một cách quá đáng.
947.
947.
947.
‘‘Kākā ulūkaṃva raho labhitvā, ekaṃ samānaṃ bahukā samecca;
Annāni bhutvā kuhakā kuhitvā, muṇḍaṃ karitvā yaññapathossajanti.
Like many crows, having come together against an owl found alone in a solitary place, these deceivers, having eaten the food and practiced deception, make the patron shaven-headed and cast him out from the path of sacrifice.
Giống như những con quạ, sau khi tìm thấy con cú một mình ở nơi vắng vẻ, nhiều con cùng nhau tụ tập lại chống một con; những kẻ lừa đảo, sau khi đã ăn các món ăn và đã lừa gạt, sau khi đã làm cho người ấy cạo trọc đầu, họ đuổi người ấy ra khỏi con đường tế lễ.
948.
948.
948.
‘‘Evañhi so vañcito brāhmaṇehi, eko samāno bahukā † samecca;
Te yogayogena vilumpamānā, diṭṭhaṃ adiṭṭhena dhanaṃ haranti.
Thus indeed is he deceived by the brahmins, being one alone while many have gathered. Plundering him by various schemes, they take away his visible wealth for the sake of the unseen.
Quả thật, người ấy đã bị các vị Bà-la-môn lừa dối như vậy, một người đơn độc trong khi nhiều người cùng nhau tụ tập; họ, trong khi đang cướp đoạt bằng các phương kế, lấy đi của cải, vật được thấy, vì vật không được thấy.
949.
949.
949.
‘‘Akāsiyā rājūhivānusiṭṭhā, tadassa ādāya dhanaṃ haranti;
Te tādisā corasamā asantā, vajjhā na haññanti ariṭṭha loke.
Those who are idle, though instructed by kings, take and carry away his wealth. Such men are like thieves, unrighteous; though deserving to be executed, O Ariṭṭha, they are not struck down in the world.
Không phải là người làm ruộng, được các vị vua chỉ dạy, họ lấy và mang đi của cải của người ấy; này Ariṭṭha, những người như thế, giống như kẻ trộm, là những người xấu, đáng bị trừng phạt nhưng không bị giết hại ở thế gian.
950.
950.
950.
‘‘Indassa bāhārasi dakkhiṇāti, yaññesu chindanti palāsayaṭṭhiṃ;
Taṃ cepi saccaṃ maghavā chinnabāhu, kenassa indo asure jināti.
‘You are Indra’s right arm,’ they say, as they cut a palāsa stick in the sacrifices. If this is true and Maghavā has his arm cut off, by what means then does Indra conquer the asuras?
‘Ngươi là cánh tay phải của trời Đế Thích,’ họ nói như vậy, và ở trong các buổi tế lễ, họ chặt cây gậy palāsa; và nếu điều ấy là sự thật, thì trời Maghavā bị chặt tay, trời Đế Thích sẽ chinh phục các vị A-tu-la bằng cái gì?
951.
951.
951.
‘‘Tañceva tucchaṃ maghavā samaṅgī, hantā avajjho paramo sa devo †;
Mantā ime brāhmaṇā tuccharūpā, sandiṭṭhikā vañcanā esa loke.
That is indeed false, for Maghavā is whole. He is a slayer, inviolable, the supreme deva. These mantras of the brahmins are hollow; this is a visible deception in the world.
Và điều ấy quả là trống rỗng, trời Maghavā vẫn toàn vẹn, vị trời tối cao ấy là đấng sát hại, không thể bị tổn thương; các câu thần chú này của các vị Bà-la-môn có bản chất trống rỗng, đây là sự lừa dối có thể thấy được ở thế gian.
952.
952.
952.
‘‘Mālāgiri himavā yo ca gijjho, sudassano nisabho kuveru;
Ete ca aññe ca nagā mahantā, cityā katā yaññakarehi māhu.
They say that Mālāgiri, Himavā, and Gijjhakūṭa, Sudassana, Nisabha, and Kuveru—these and other great mountains were made as sacrificial mounds by the performers of sacrifices.
Núi Mālāgiri, Himavā, và Gijjha, Sudassana, Nisabha, Kuveru; họ nói rằng những ngọn núi lớn này và các ngọn núi khác đã được những người thực hiện tế lễ tạo ra như là các đàn lửa.
953.
953.
953.
‘‘Yathāpakārāni hi iṭṭhakāni, cityā katā yaññakarehi māhu;
Na pabbatā honti tathāpakārā, aññā disā acalā tiṭṭhaselā.
For they say that sacrificial mounds are made by sacrificers with bricks of a certain kind. But mountains are not of such a kind; they are of a different sort, immovable, standing rocks.
“Quả thật, những viên gạch là vật được làm ra, được những người tế tự xây thành đàn; chúng không phải là những ngọn núi được làm ra theo cách như vậy, (núi) là những tảng đá đứng yên, bất động, ở một phương khác.”
954.
954.
954.
‘‘Na iṭṭhakā honti silā cirena †, na tattha sañjāyati ayo na lohaṃ;
Yaññañca etaṃ parivaṇṇayantā, cityā katā yaññakarehi māhu.
Bricks do not become stone over a long time, nor does iron or bronze arise there. Yet, praising this sacrifice, they say that sacrificial mounds are made by the performers of sacrifices.
“Gạch không thể trở thành đá qua thời gian lâu dài, ở nơi ấy không sinh ra sắt cũng không sinh ra kim loại. Và trong khi tán dương lễ tế tự này, họ nói rằng: ‘Đây là đàn tế lễ được những người tế tự làm ra’.”
955.
955.
955.
‘‘Ajjhāyakaṃ mantaguṇūpapannaṃ, tapassinaṃ yācayogotidhāhu;
Tīre samuddassudakaṃ sajantaṃ, taṃ sāgarojjhohari tenapeyyo.
They say here that a student endowed with the power of mantras, an ascetic devoted to begging, while releasing water on the shore of the ocean, swallowed that ocean, and for that reason it is undrinkable.
“Họ nói ở đây rằng người học tập, người sở hữu năng lực của thần chú, người khổ hạnh, là người thích hợp để cầu xin. (Họ nói rằng) người ấy đã đổ nước ở bờ biển, biển cả đã nuốt lấy nước ấy, do đó nước biển trở nên không thể uống được.”
956.
956.
956.
‘‘Parosahassampi samantavede, mantūpapanne nadiyo vahanti;
Na tena byāpannarasūdakā na, kasmā samuddo atulo apeyyo.
More than a thousand rivers, said to be endowed with mantras, flow from all around. Their water does not thereby become corrupted in taste. Why then is the measureless ocean undrinkable?
“Hơn một ngàn người thông hiểu Vệ-đà, sở hữu thần chú, (sống dọc theo) các dòng sông đang chảy; nước của chúng không bị hư vị bởi những người ấy. Tại sao biển cả không gì sánh bằng lại không thể uống được?”
957.
957.
957.
‘‘Ye keci kūpā idha jīvaloke, loṇūdakā kūpakhaṇehi khātā;
Na brāhmaṇajjhoharaṇena † tesu, āpo apeyyo dvirasaññu māhu.
Whatever wells here in the world of the living are dug by well-diggers have salty water. It is not because of a brahmin's swallowing that the water in them is undrinkable; they say it has a second taste.
“Bất cứ giếng nào ở đây trong thế giới chúng sanh, có nước mặn, được những người đào giếng đào lên; họ nói rằng nước trong các giếng ấy không thể uống được không phải là do Bà-la-môn đã nuốt (nước), hỡi người thông hiểu hai loại!”
958.
958.
958.
‘‘Pure puratthā kā kassa bhariyā, mano manussaṃ ajanesi pubbe;
Tenāpi dhammena na koci hīno, evampi vossaggavibhaṅgamāhu †.
Formerly, in the past, who was whose wife? Mind first gave birth to man. By that principle, too, no one is inferior. Even so, they speak of an analysis of social divisions.
“Trong quá khứ, vào thời xưa, ai là vợ của ai? Trước kia, tâm đã sanh ra con người. Theo nguyên lý ấy, không có ai là thấp kém. Họ cũng nói như vậy về sự phân tích của việc sáng tạo.”
959.
959.
959.
‘‘Caṇḍālaputtopi adhicca vede, bhāseyya mante kusalo matīmā †;
Na tassa muddhāpi phaleyya sattadhā, mantā ime attavadhāya katā †.
Even the son of an outcaste, having studied the Vedas, might, if skillful and wise, recite the mantras. His head would not split into seven pieces. These mantras are made for self-destruction.
“Ngay cả con trai của người Chiên-đà-la, sau khi học Vệ-đà, là người khéo léo, có trí tuệ, cũng có thể đọc các thần chú. Đầu của người ấy cũng sẽ không bị vỡ ra thành bảy mảnh. Các thần chú này được tạo ra để tự hủy hoại.”
960.
960.
960.
‘‘Vācākatā giddhikatā † gahītā, dummocayā kabyapathānupannā;
Bālāna cittaṃ visame niviṭṭhaṃ, tadappapaññā abhisaddahanti.
Composed of words, greedily grasped, hard to be freed from, following the path of poetry; the minds of fools are settled on what is crooked, and those of little wisdom place their faith in it.
“Được tạo ra bằng lời nói, do tham lam, được chấp giữ, khó có thể giải thoát, đi theo con đường của thi ca. Tâm của kẻ ngu si được an lập ở nơi sai lầm, những người ít trí tuệ đặt niềm tin vào điều ấy.”
961.
961.
961.
‘‘Sīhassa byagghassa ca dīpino ca, na vijjatī porisiyaṃbalena;
Manussabhāvo ca gavaṃva pekkho, jātī hi tesaṃ asamā samānā †.
The strength of a lion, a tiger, or a leopard is not found in a man. And the human state is regarded like that of cattle. For their species are unequal, though they may seem equal.
“Sức mạnh của sư tử, cọp, và báo không phải là sức mạnh của con người. Và hãy xem, bản chất con người cũng như loài bò. Quả thật, dòng dõi của chúng không đồng đẳng, dù có những điểm tương đồng.”
962.
962.
962.
‘‘Sace ca rājā pathaviṃ vijitvā, sajīvavā assavapārisajjo;
Sayameva so sattusaṅghaṃ vijeyya, tassappajā niccasukhī † bhaveyya.
And if a king, having conquered the earth with its living beings, were to conquer the host of enemies by himself alone, then his people would be ever happy.
“Và nếu vị vua, sau khi chinh phục trái đất, có được đoàn tùy tùng vâng lời và sống lâu; vị ấy sẽ tự mình chinh phục được đoàn quân kẻ thù, và dân chúng của vị ấy sẽ được an lạc mãi mãi.”
963.
963.
963.
‘‘Khattiyamantā ca tayo ca vedā, atthena ete samakā bhavanti;
Tesañca atthaṃ avinicchinitvā, na bujjhatī oghapathaṃva channaṃ.
The counsel of the khattiyas and the three Vedas are equal in meaning. And without discerning their meaning, one does not understand, like a blind person on a flooded path.
“Thần chú của Sát-đế-lỵ và ba tập Vệ-đà, về mặt ý nghĩa, chúng là tương đương. Và không xác định được ý nghĩa của chúng, người ta không thể hiểu được, giống như con đường bị dòng nước lũ che lấp.”
964.
964.
964.
‘‘Khattiyamantā ca tayo ca vedā, atthena ete samakā bhavanti;
Lābho alābho ayaso yaso ca, sabbeva tesaṃ catunnañca † dhammā.
The counsel of the khattiyas and the three Vedas are equal in meaning. Gain and loss, dishonor and fame—all these are conditions for all four of them.
“Thần chú của Sát-đế-lỵ và ba tập Vệ-đà, về mặt ý nghĩa, chúng là tương đương. Được và mất, mất danh và có danh, tất cả đều là bốn pháp của chúng.”
965.
965.
965.
‘‘Yathāpi ibbhā dhanadhaññahetu, kammāni karonti † puthū pathabyā;
Tevijjasaṅghā ca tatheva ajja, kammāni karonti † puthū pathabyā.
Just as householders, for the sake of wealth and grain, perform various works upon the earth, so too today do the communities of those with the three Vedas perform various works upon the earth.
“Cũng như những người gia chủ, vì lợi ích của tài sản và ngũ cốc, đã làm nhiều công việc khác nhau trên trái đất; cũng vậy, ngày nay, cộng đồng những người thông hiểu ba tập Vệ-đà cũng làm nhiều công việc khác nhau trên trái đất.”
966.
966.
966.
‘‘Ibbhehi ye te † samakā bhavanti, niccussukā kāmaguṇesu yuttā;
Kammāni karonti † puthū pathabyā, tadappapaññā dvirasaññurā te’’.
Those who are equal to householders, always striving and attached to the strands of sensual pleasure, perform various works upon the earth. They are of little wisdom, those who perceive a second distinction.
“Những người ấy, họ tương đương với những người gia chủ, luôn luôn nhiệt tình, bị ràng buộc vào các dục lạc. Họ làm nhiều công việc khác nhau trên trái đất, họ là những người ít trí tuệ, có nhận thức kép.”
967.
967.
967.
‘‘Kassa bherī mudiṅgā ca, saṅkhāpaṇavadindimā;
Purato paṭipannāni, hāsayantā rathesabhaṃ.
Whose are these drums and kettledrums, these conches, cymbals, and tambourines, that advance in front, delighting the lord of the chariot?
“Trống bheri và trống mudinga, tù và, trống panava và trống dindima của ai kia, đang đi ở phía trước, làm vui lòng bậc tối thắng trên chiến xa?”
968.
968.
968.
‘‘Kassa kañcanapaṭṭena, puthunā vijjuvaṇṇinā;
Yuvā kalāpasannaddho, ko eti siriyā jalaṃ.
Who is this youth, girded with a quiver, with a broad golden band the color of lightning, who comes blazing with splendor?
“Ai kia là chàng thanh niên, được trang bị bao tên, với dải băng bằng vàng rộng lớn, có màu sắc như tia chớp, đang đi đến, rực rỡ với vẻ huy hoàng?”
969.
969.
969.
‘‘Ukkāmukhapahaṭṭhaṃva, khadiraṅgārasannibhaṃ;
Mukhañca rucirā bhāti, ko eti siriyā jalaṃ.
Like something burnished at a furnace-mouth, resembling an ember of khadira wood, his beautiful face shines. Who is this who comes blazing with splendor?
“Giống như than hồng của cây khadira, được nung trong miệng lò, và khuôn mặt tỏa sáng rực rỡ, ai kia đang đi đến, rực rỡ với vẻ huy hoàng?”
970.
970.
970.
‘‘Kassa jambonadaṃ chattaṃ, sasalākaṃ manoramaṃ;
Ādiccaraṃsāvaraṇaṃ, ko eti siriyā jalaṃ.
Whose is this delightful golden parasol with its ribs, a protection from the sun’s rays? Who is this who comes blazing with splendor?
“Lọng che bằng vàng Jambu của ai kia, có gọng đẹp đẽ, che chở khỏi tia nắng mặt trời, ai kia đang đi đến, rực rỡ với vẻ huy hoàng?”
971.
971.
971.
‘‘Kassa aṅgaṃ † pariggayha, vāḷabījanimuttamaṃ;
Ubhato varapuññassa †, muddhani uparūpari.
Whose is this excellent chowrie fan, held high above the head, on both sides of this one of excellent merit?
“Phất trần tuyệt hảo làm bằng lông đuôi của ai kia, được cầm lấy, (phất) ở hai bên, ở trên, trên đầu của người có phước đức tối thắng?”
972.
972.
972.
‘‘Kassa pekhuṇahatthāni, citrāni ca mudūni ca;
Kañcanamaṇidaṇḍāni †, caranti dubhato mukhaṃ.
Whose are these colorful and soft peacock-feather fans with handles of gold and jewels, that move on both sides of his face?
“Những chiếc quạt bằng lông công của ai kia, vừa sặc sỡ vừa mềm mại, có cán bằng vàng và ngọc, đang di chuyển ở hai bên khuôn mặt?”
973.
973.
973.
‘‘Khadiraṅgāravaṇṇābhā, ukkāmukhapahaṃsitā;
Kassete kuṇḍalā vaggū, sobhanti dubhato mukhaṃ.
With the luster of khadira embers, burnished like the mouth of a furnace, whose are these lovely earrings that adorn both sides of his face?
“Có màu sắc và ánh sáng như than hồng cây khadira, được làm cho sáng bóng trong miệng lò, những đôi bông tai xinh đẹp này của ai kia, đang tô điểm cho hai bên khuôn mặt?”
974.
974.
974.
‘‘Kassa vātena chupitā, niddhantā mudukāḷakā †;
Sobhayanti nalāṭantaṃ, nabhā vijjurivuggatā.
Whose are these soft black locks, touched and blown about by the wind, that adorn the edge of his forehead like lightning arisen in the sky?
“Những lọn tóc mềm mại, đen nhánh của ai kia, được gió chạm vào, bay phất phới, tô điểm cho vầng trán, giống như tia chớp lóe lên trên bầu trời?”
975.
975.
975.
‘‘Kassa etāni akkhīni, āyatāni puthūni ca;
Ko sobhati visālakkho, kassetaṃ uṇṇajaṃ mukhaṃ.
Whose are these eyes, so long and wide? Who is this large-eyed one who shines so? Whose is this face with the tuft of hair between the eyebrows?
“Đôi mắt này của ai, vừa dài vừa rộng? Ai là người có đôi mắt to đang tỏa sáng? Khuôn mặt này của ai, có bạch hào tướng (uṇṇā)?”
976.
976.
976.
‘‘Kassete lapanajātā †, suddhā saṅkhavarūpamā;
Bhāsamānassa sobhanti, dantā kuppilasādisā.
Whose are these teeth, born of speech, pure and like the best of conches? When he speaks, his teeth shine, resembling kuppila buds.
“Hàm răng này của ai, được sinh ra để nói, trong sạch, giống như hình dáng của vỏ ốc xà cừ hảo hạng, tỏa sáng khi đang nói, giống như nụ hoa lài?”
977.
977.
977.
‘‘Kassa lākhārasasamā, hatthapādā sukhedhitā;
Ko so bimboṭṭhasampanno, divā sūriyova bhāsati.
Whose are these well-formed hands and feet, the color of lac? Who is this one, endowed with bimba-red lips, who shines like the sun by day?
“Tay và chân của ai kia, được nuôi dưỡng tốt đẹp, có màu như nhựa cánh kiến; ai là người có đôi môi như trái bimba, đang tỏa sáng như mặt trời ban ngày?”
978.
978.
978.
‘‘Himaccaye himavati †, mahāsālova pupphito;
Ko so odātapāvāro, jayaṃ indova sobhati.
Like a great sāl tree in the Himalayas in full bloom at the end of the cold season, who is this one in a white cloak who shines like victorious Indra?
“Vào cuối mùa đông, ở Hy-mã-lạp sơn, giống như cây sala lớn đang nở hoa; ai là người mặc áo choàng trắng, đang tỏa sáng như trời Đế-thích chiến thắng?”
979.
979.
979.
‘‘Suvaṇṇapīḷakākiṇṇaṃ, maṇidaṇḍavicittakaṃ;
Ko so parisamogayha, īsaṃ khaggaṃ pamuñcati †.
Who is this who, having entered the assembly, slightly draws his sword, its hilt inlaid with gold and variegated with jewels?
“Ai là người, sau khi đi vào hội chúng, đã khẽ rút ra thanh gươm, được nạm những vòng vàng, được trang trí với chuôi gươm bằng ngọc?”
980.
980.
980.
‘‘Suvaṇṇavikatā cittā, sukatā cittasibbanā †;
Ko so omuñcate pādā, namo katvā mahesino’’.
Who is he that takes off his well-made, decorated slippers, worked with gold and with decorative stitching, having paid homage to the great seer?
“Ai là người, sau khi đảnh lễ bậc Đại sĩ, đã cởi đôi giày ra khỏi chân, đôi giày sặc sỡ được làm bằng vàng, được chế tác tốt đẹp với những đường khâu sặc sỡ?”
981.
981.
981.
‘‘Dhataraṭṭhā hi te nāgā, iddhimanto yasassino;
Samuddajāya uppannā, nāgā ete mahiddhikā’’ti.
For these are the Dhataraṭṭha nāgas, possessed of psychic power and glorious. Born of Samuddajā, these nāgas are of great psychic power.
“Quả thật, họ là các vị rồng của vua Dhataraṭṭha, có thần thông, có danh tiếng; được sanh ra từ bà Samuddajā, những vị rồng này có đại thần lực.”
Bhūridattajātakaṃ chaṭṭhaṃ.
The Bhūridatta Jātaka, the Sixth.
Kinh Bổn Sanh Bhūridatta là (phẩm) thứ sáu.