Bản dịch
JA 542 — Chuyện Tế Sư Khandahàla (Tiền thân Khandahàla)
5 Umaṅgajātaka
4914 . Xưa, ở thành Pupphavatī có vị vua hung bạo tên là Ekarāja. Vị vua ấy đã hỏi viên quan tế tự mê muội dòng Bà-la-môn tên là Khaṇḍahāla (rằng):
4915 . “Này Bà-la-môn, khanh thiện xảo về giáo lý và nghi thức, khanh hãy chỉ dạy con đường đi đến các cõi Trời mà những người, sau khi làm các phước thiện, từ nơi này đi đến nhàn cảnh.”
4916 . “Tâu bệ hạ, những người, sau khi làm các phước thiện, từ nơi này đi đến nhàn cảnh là những người đã bố thí vật thí tối thắng, đã giết chết những kẻ không đáng giết.”
4917 . “Thế vật thí tối thắng ấy là gì? Và những ai là những kẻ không đáng giết ở thế gian này? Khanh hãy giải thích về điều này cho chúng tôi, rồi chúng tôi sẽ hiến dâng, hãy để chúng tôi bố thí các vật thí.”
4918 . “Tâu bệ hạ, cần phải hiến dâng với bốn người con, với bốn vương phi, với bốn thị dân (giàu có), với bốn con bò mộng, với bốn con ngựa. Tâu bệ hạ, cần phải hiến dâng với nhóm bốn của tất cả các thứ.”
4919. Nghe được tin ấy: “Các hoàng tử, các quý phi ở nội cung hãy bị giết chết,” đã có một tiếng gào thét do sự kinh hoàng; âm thanh đã vươn lên rất cao.
4920 . “Các khanh hãy đi và hãy báo cho các vị hoàng tử Canda, Suriya, Bhaddasena, Sūra, và Vāmagotta rằng: ‘Nghe nói các vị hãy tập trung lại vì mục đích của lễ hiến dâng.’
4921 . Các khanh hãy báo cho cả các công chúa Upasenī, Kokilā, Muditā, và luôn cả Nandā rằng: ‘Nghe nói các vị hãy tập trung lại vì mục đích của lễ hiến dâng.’
4922 . (Các khanh hãy báo cho cả) hoàng hậu Vijayā của trẫm, các phi tần Erāvatī, Kesinī, và Sunandā rằng: ‘Các vị có được những tướng mạo cao quý. Nghe nói các vị hãy tập trung lại vì mục đích của lễ hiến dâng.’
4923 . Các khanh hãy nói luôn cả các gia chủ Puṇṇamukha, Bhaddiya, Sigāla, và gia chủ Vaḍḍha rằng: ‘Nghe nói các vị hãy tập trung lại vì mục đích của lễ hiến dâng.’”
4924 . Các gia chủ ấy, được vợ con vây quanh, đã tụ hội lại tại nơi ấy và đã nói rằng: “Tâu bệ hạ, xin bệ hạ hãy cho tất cả chúng tôi làm người hầu hạ, hoặc bệ hạ hãy tuyên bố chúng tôi là những kẻ nô lệ.”
4925 . “Luôn cả con voi Abhayaṅkara của trẫm, con voi Nālāgiri, con voi Accuta, và con voi Varuṇadanta, các khanh hãy tức tốc đem chúng lại; chúng sẽ được sử dụng vì mục đích của lễ hiến dâng.
4926 . Luôn cả con ngựa báu Kesi, con ngựa Surāmukha, con ngựa Puṇṇaka, và con ngựa Vinataka, các khanh hãy tức tốc đem chúng lại; chúng sẽ được sử dụng vì mục đích của lễ hiến dâng.
4927 . Luôn cả con bò đực Yūthapati, Anoja, Nisabha, và Gavampati, các khanh cũng hãy đem chúng lại cho trẫm. Hãy gom tất cả lại thành từng nhóm. Chúng ta sẽ hiến dâng. Chúng ta hãy bố thí các vật thí.
4928 . Các khanh hãy sẵn sàng mọi thứ cho lễ hiến dâng vào (ngày mai) lúc mặt trời mọc lên. Và các khanh hãy báo tin cho các hoàng tử, hãy để cho các hoàng tử vui sướng đêm nay.
4929 . Các khanh hãy sắp đặt mọi thứ cho lễ hiến dâng vào (ngày mai) lúc mặt trời mọc lên. Giờ đây, các khanh hãy báo cho các hoàng tử rằng: ‘Hôm nay là đêm cuối cùng của các vị.’”
4930 . Mẫu hậu từ hoàng cung đi đến, trong khi khóc lóc, đã nói với vị vua ấy về việc này rằng: “Này con, nghe nói lễ hiến dâng của con sẽ được thực hiện với bốn hoàng tử?”
4931. “Trong khi hoàng tử Canda bị giết chết, tất cả những người con trai của trẫm cũng bị từ bỏ. Sau khi cúng tế cuộc lễ hiến dâng với bốn người con trai, trẫm sẽ đi đến nhàn cảnh, cõi Trời.”
4932. “Này con, con chớ tin rằng: ‘Nghe nói có được nhàn cảnh là do việc hiến dâng những người con trai.’ Đạo lộ ấy đưa đến các địa ngục, đạo lộ ấy thật sự không đưa đến các cõi Trời.
4933. Này Koṇḍañña, con hãy ban phát các vật thí và sự không hãm hại đến tất cả sinh linh và các loài đang hiện hữu. Đạo lộ ấy đưa đến nhàn cảnh, không phải đạo lộ với việc hiến dâng những người con trai”
4934. “Theo lời nói của các vị giáo thọ, trẫm sẽ giết chết (hai hoàng tử) Canda và Suriya. Sau khi hiến dâng những người con trai khó có thể từ bỏ, trẫm sẽ đi đến nhàn cảnh, cõi Trời.”
4935. Phụ hoàng Vasavatti cũng đã nói với vị vua ấy, đứa con trai ruột của mình, về việc này rằng: “Này con, nghe nói lễ hiến dâng của con sẽ được thực hiện với bốn hoàng tử?”
4936 . “Trong khi hoàng tử Canda bị giết chết, tất cả những người con trai của trẫm cũng bị từ bỏ. Sau khi cúng tế cuộc lễ hiến dâng với bốn người con trai, trẫm sẽ đi đến nhàn cảnh, cõi Trời.”
4937 . “Này con, con chớ tin rằng: ‘Nghe nói có được nhàn cảnh là do việc hiến dâng những người con trai.’ Đạo lộ ấy đưa đến các địa ngục, đạo lộ ấy thật sự không đưa đến các cõi Trời.
4938 . Này Koṇḍañña, con hãy ban phát các vật thí và sự không hãm hại đến tất cả sinh linh và các loài đang hiện hữu. Đạo lộ ấy đưa đến nhàn cảnh, không phải đạo lộ với việc hiến dâng những người con trai.”
4939 . “Theo lời nói của các vị giáo thọ, trẫm sẽ giết chết (hai hoàng tử) Canda và Suriya. Sau khi hiến dâng những người con trai khó có thể từ bỏ, trẫm sẽ đi đến nhàn cảnh, cõi Trời.”
4940 . “Này Koṇḍañña, con hãy ban phát các vật thí và sự không hãm hại đến tất cả sinh linh và các loài đang hiện hữu. Được tùy tùng bởi các hoàng tử, con hãy hộ trì đất nước và dân chúng.”
(Lời hoàng tử Canda)
4941. “Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con. Bệ hãy hãy ban chúng con làm những nô lệ cho quan tế tự Khaṇḍahāla, thậm chí là bị trói buộc bằng xích ở chân. Hãy để chúng con trông nom các con voi và các con ngựa.
4942. Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con. Bệ hãy hãy ban chúng con làm nô lệ cho quan tế tự Khaṇḍahāla, thậm chí là bị trói buộc bằng xích ở chân. Hãy để chúng con hốt dọn các bãi phân voi.
4943 . Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con. Bệ hãy hãy ban chúng con làm nô lệ cho quan tế tự Khaṇḍahāla, thậm chí là bị trói buộc bằng xích ở chân. Hãy để chúng con hốt dọn các bãi phân ngựa.
4944. Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con. Bệ hãy hãy ban chúng con làm nô lệ cho quan tế tự Khaṇḍahāla, là người mà bệ hạ có nhiều yêu thích. Thậm chí, nếu bị trục xuất khỏi đất nước, chúng con sẽ đi xin ăn.”
(Lời đức vua Ekarāja)
4945. “Sự khổ đau quả thật đã sanh lên ở trẫm, trong khi chúng than van bởi vì mong muốn sự sống. Giờ đây, các khanh hãy phóng thích các hoàng tử. Cũng đã đủ cho trẫm với việc hiến dâng các người con.”
(Lời quan tế tự Khaṇḍahāla)
4946 . “Thật sự trước đây, thần đã nói với bệ hạ rằng: Cuộc lễ này khó thực hiện và khó hoàn thành. Giờ tại sao bệ hạ lại làm xáo trộn lễ hiến dâng đã được chuẩn bị của chúng ta?
4947 . Những người nào hiến dâng, và ngay cả những người nào bảo hiến dâng, rồi luôn cả những người nào tùy hỷ cuộc đại lễ hiến dâng như thế này của những người đang hiến dâng, tất cả đều đi đến nhàn cảnh.”
(Lời hoàng tử Canda)
4948 . “Tâu bệ hạ, tại sao trước đây vị Bà-la-môn đã đọc tụng sự an lành cho chúng con, giờ không có nguyên do, bệ hạ lại ra lệnh giết chúng con vì mục đích của lễ hiến dâng?
4949 . Cũng vào trước đây, bệ hạ đã không giết chết, đã không ra lệnh giết chết chúng con trong khi chúng con còn nhỏ tuổi. Giờ chúng con là thanh niên, đã đạt đến tuổi trưởng thành, thưa cha, chúng con không phải là những kẻ tồi bại, tại sao chúng con lại bị giết chết?
4950 . Tâu đại vương, xin cha hãy nhìn chúng con đã được vũ trang, cỡi voi, cỡi ngựa, đang chiến đấu ngay ở trận tiền, những dũng sĩ như chúng con không phải thật sự đang vì mục đích của sự hiến dâng hay sao?
4951. Những dũng sĩ như chúng con xông pha ở biên giới khi có nổi loạn hoặc ở những cánh rừng, để rồi, thưa cha, chúng con bị giết chết không đúng nơi chốn, không có nguyên do.
4952 . Ngay cả những con chim mái cũng đã thực hiện những tổ ấm bằng cỏ rồi sinh sống; những chú chim con được chúng yêu quý. Còn chúng con, tâu bệ hạ, ngài lại bảo giết chết chúng con.
4953 . Cha chớ tin tưởng gã ấy; lão Khaṇḍahāla không thể giết chết con. Bởi vì, tâu bệ hạ, sau khi giết chết con, không lâu sau, gã ấy cũng có thể giết chết cha.
4954 . Tâu đại vương, các vua chúa ban thưởng ân huệ là ngôi làng, ân huệ là thị trấn, thậm chí của cải cho gã này. Sau đó, thậm chí chúng trở thành những kẻ có thức ăn cao quý, bởi vì những gã này thọ hưởng ở gia tộc này gia tộc khác.
4955 . Tâu đại vương, chúng còn muốn phản bội thậm chí đối với những gia tộc như thế ấy. Tâu bệ hạ, còn hơn thế nữa, những gã Bà-la-môn này là những kẻ vô ơn.
4956 . Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con. Bệ hãy hãy ban chúng con làm những nô lệ cho quan tế tự Khaṇḍahāla, thậm chí là bị trói buộc bằng xích ở chân. Hãy để chúng con trông nom các con voi và các con ngựa.
4957 . Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con. Bệ hãy hãy ban chúng con làm nô lệ cho quan tế tự Khaṇḍahāla, thậm chí là bị trói buộc bằng xích ở chân. Hãy để chúng con hốt dọn các bãi phân voi.
4958 . Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con. Bệ hãy hãy ban chúng con làm nô lệ cho quan tế tự Khaṇḍahāla, thậm chí là bị trói buộc bằng xích ở chân. Hãy để chúng con hốt dọn các bãi phân ngựa.
4959 . Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con. Bệ hãy hãy ban chúng con làm nô lệ cho quan tế tự Khaṇḍahāla, là người mà bệ hạ có nhiều yêu thích. Thậm chí, nếu bị trục xuất khỏi đất nước, chúng con sẽ đi xin ăn.”
(Lời đức vua Ekarāja)
4960. “Sự khổ đau quả thật đã sanh lên ở trẫm, trong khi chúng than van bởi vì mong muốn sự sống. Giờ đây, các khanh hãy phóng thích các hoàng tử. Cũng đã đủ cho trẫm với việc hiến dâng các người con.”
(Lời quan tế tự Khaṇḍahāla)
4961 . “Thật sự trước đây, thần đã nói với bệ hạ rằng: Cuộc lễ này khó thực hiện và khó hoàn thành. Giờ tại sao bệ hạ lại làm xáo trộn lễ hiến dâng đã được chuẩn bị của chúng ta?
4962 . Những người nào hiến dâng, và ngay cả những người nào bảo hiến dâng, rồi luôn cả những người nào tùy hỷ cuộc đại lễ hiến dâng như thế này của những người đang hiến dâng, tất cả đều đi đến nhàn cảnh.”
(Lời hoàng tử Canda)
4963. “Nếu thật sự những người, sau khi hiến dâng những đứa con trai, lìa đời từ nơi này rồi đi đến Thiên giới, vậy thì gã Bà-la-môn hãy hiến dâng trước, rồi ngài hiến dâng sau, tâu bệ hạ.
4964 . Nếu thật sự những người, sau khi hiến dâng những đứa con trai, lìa đời từ nơi này rồi đi đến Thiên giới, vậy thì gã Khaṇḍahāla này hãy hiến dâng những đứa con trai của mình đi.
4965 . Trong khi biết như vậy, tại sao gã Khaṇḍahāla của bệ hạ không giết chết những đứa con trai, không giết chết toàn bộ thân quyến và bản thân?”
4966 . Những kẻ nào hiến dâng, và ngay cả những kẻ nào bảo hiến dâng, rồi luôn cả những kẻ nào tùy hỷ cuộc đại lễ hiến dâng như thế này của những kẻ đang hiến dâng, tất cả đều đi đến địa ngục.”
(Lời hoàng tử Canda nói với dân chúng)
4967 . “Nghe nói các gia chủ và các nữ gia chủ ở kinh thành là những người có lòng yêu thương con cái, tại sao các người không quở trách đức vua rằng: ‘Xin bệ hạ chớ giết chết đứa con trai ruột thịt.’
4968 . Và nghe nói các gia chủ và các nữ gia chủ ở kinh thành là những người có lòng yêu thương con cái, tại sao các người không quở trách đức vua rằng: ‘Xin bệ hạ chớ giết chết đứa con trai của mình.’
4969. Ta luôn luôn là người có lòng mong mỏi sự tấn hóa và lợi ích cho đức vua, cho xứ sở. Không có bất cứ người dân nào cùng với ta nói lên sự bất bình về việc này.”
(Lời hoàng tử Canda nói với các vương phi)
4970 . “Này các nương nương, các nàng hãy đi đến nói với phụ vương và quan tế tự Khaṇḍahāla rằng: ‘Các ngài chớ giết chết các hoàng tử là những người không tồi bại, giống như loài sư tử.’
4971 . Này các nương nương, các nàng hãy đi đến nói với phụ vương và quan tế tự Khaṇḍahāla rằng: ‘Các ngài chớ giết chết các hoàng tử là những người được toàn bộ thế gian mong mỏi.’
4972 . Nếu ta được sanh ra ở gia đình người thợ làm xe, hoặc ở gia đình người hốt rác, nếu ta được sanh ra giữa những người đan tre, thì quả thật hôm nay, đức vua không thể nào giết chết ta vì mục đích của lễ hiến dâng.
4973 . Hỡi tất cả các người phụ nữ, các nàng hãy đi đến quỳ mọp xuống ở hai bàn chân của ngài Khaṇḍahāla. Ta không nhìn thấy lỗi lầm (nào của ta đối với ông ấy).
4974. Hỡi tất cả các người phụ nữ, các nàng hãy đi đến quỳ xuống ở hai bàn chân của ngài Khaṇḍahāla (nói rằng): ‘Thưa ngài, chúng tôi đã đối đãi xấu xa điều gì với ngài?’”
4975. Sau khi nhìn thấy các anh trai bị dẫn đi hành quyết, (công chúa út) Selā đã than van một cách thảm thương rằng: “Nghe nói lễ hiến dâng đã được cha của con lập ra vì lòng ham muốn cõi Trời.”
4976 . Vāsula (con trai hoàng tử Canda) đi tới, đi lui, và đi vòng quanh, rồi đối diện với đức vua (nói rằng): “Chớ giết chết cha của chúng con. Chúng con còn trẻ thơ, chưa đạt đến tuổi trưởng thành.”
(Lời đức vua Ekarāja)
4977. “Này Vāsula, người cha này thuộc về cháu. Cháu hãy đi đến gặp cha cháu đi. Sự khổ đau quả thật đã sanh lên ở trẫm, trong khi cháu nó than van ở nội cung. Giờ đây, các khanh hãy phóng thích các hoàng tử. Cũng đã đủ cho trẫm với việc hiến dâng các người con.”
(Lời quan tế tự Khaṇḍahāla)
4978 . “Thật sự trước đây, thần đã nói với bệ hạ rằng: Cuộc lễ này khó thực hiện và khó hoàn thành. Giờ tại sao bệ hạ lại làm xáo trộn lễ hiến dâng đã được chuẩn bị của chúng ta?
4979 . Những người nào hiến dâng, và ngay cả những người nào bảo hiến dâng, rồi luôn cả những người nào tùy hỷ cuộc đại lễ hiến dâng như thế này của những người đang hiến dâng, tất cả đều đi đến nhàn cảnh.
4980. Tâu đức vua Ekarāja, lễ hiến dâng đã được chuẩn bị với mọi thứ bảo vật, đã được sẵn sàng cho ngài. Tâu bệ hạ, xin bệ hạ hãy tiến hành. Khi đi đến cõi Trời, bệ hạ sẽ vui vướng.”
4981 . Bảy trăm nàng trẻ tuổi này, chính là những người vợ của hoàng tử Candaka, buông xõa mái tóc, khóc lóc, đi dọc theo con đường.
4982. Lại còn một số nàng khác, tựa như chư Thiên ở vườn Nandana vừa giáng trần, vì sầu muộn, buông xõa mái tóc, khóc lóc, đi dọc theo con đường.
4983. Hai hoàng tử Canda và Suriya, mặc vải lụa sạch sẽ của xứ Kāsi, có đeo bông tai, được thoa kỳ nam và trầm hương, bị dẫn đi vì mục đích hiến dâng của đức vua Ekarāja.
4984. Hai hoàng tử Canda và Suriya, mặc vải lụa sạch sẽ của xứ Kāsi, có đeo bông tai, được thoa kỳ nam và trầm hương, bị dẫn đi, đã gây ra cho mẫu hậu nỗi sầu muộn trong trái tim.
4985. Hai hoàng tử Canda và Suriya, mặc vải lụa sạch sẽ của xứ Kāsi, có đeo bông tai, được thoa kỳ nam và trầm hương, bị dẫn đi, đã gây ra cho mọi người nỗi sầu muộn trong trái tim.
4986 . Hai hoàng tử Canda và Suriya, đã thọ dụng hương vị của món thịt, đã được tắm rửa kỹ lưỡng bởi người hầu tắm, có đeo bông tai, được thoa kỳ nam và trầm hương, bị dẫn đi vì mục đích hiến dâng của đức vua Ekarāja.
4987 . Hai hoàng tử Canda và Suriya, đã thọ dụng hương vị của món thịt, đã được tắm rửa kỹ lưỡng bởi người hầu tắm, có đeo bông tai, được thoa kỳ nam và trầm hương, bị dẫn đi, đã gây ra cho mẫu hậu nỗi sầu muộn trong trái tim.
4988 . Hai hoàng tử Canda và Suriya, đã thọ dụng hương vị của món thịt, đã được tắm rửa kỹ lưỡng bởi người hầu tắm, có đeo bông tai, được thoa kỳ nam và trầm hương, bị dẫn đi, đã gây ra cho mọi người nỗi sầu muộn trong trái tim.
4989 . Trước đây, hai vị hoàng tử Canda và Suriya cỡi trên những con voi cao quý di chuyển cùng với bầy voi; hôm nay, chính cả hai vị ấy phải đi bộ.
4990 . Trước đây, hai vị hoàng tử Canda và Suriya cỡi trên những con ngựa cao quý di chuyển cùng với bầy ngựa; hôm nay, chính cả hai vị ấy phải đi bộ.
4991 . Trước đây, hai vị hoàng tử Canda và Suriya cỡi trên những cỗ xe cao quý di chuyển cùng với đoàn xe; hôm nay, chính cả hai vị ấy phải đi bộ.
4992 . Trước đây, quả thật hai vị hoàng tử Canda và Suriya xuất hành với những con ngựa nai nịt bằng vàng; hôm nay, chính cả hai vị ấy phải đi bộ.
(Lời dân chúng ta thán)
4993. “Nếu chim muốn có thịt, chim hãy bay về hướng đông của thành Pupphavatī. Tại đây, đức vua Ekarāja, bị mê muội, cúng tế cuộc lễ hiến dâng với bốn hoàng tử.
4994. Nếu chim muốn có thịt, chim hãy bay về hướng đông của thành Pupphavatī. Tại đây, đức vua Ekarāja, bị mê muội, cúng tế cuộc lễ hiến dâng với bốn công chúa.
4995 . Nếu chim muốn có thịt, chim hãy bay về hướng đông của thành Pupphavatī. Tại đây, đức vua Ekarāja, bị mê muội, cúng tế cuộc lễ hiến dâng với bốn hoàng hậu
4996 . Nếu chim muốn có thịt, chim hãy bay về hướng đông của thành Pupphavatī. Tại đây, đức vua Ekarāja, bị mê muội, cúng tế cuộc lễ hiến dâng với bốn gia chủ.
4997 . Nếu chim muốn có thịt, chim hãy bay về hướng đông của thành Pupphavatī. Tại đây, đức vua Ekarāja, bị mê muội, cúng tế cuộc lễ hiến dâng với bốn con voi.
4998 . Nếu chim muốn có thịt, chim hãy bay về hướng đông của thành Pupphavatī. Tại đây, đức vua Ekarāja, bị mê muội, cúng tế cuộc lễ hiến dâng với bốn con ngựa.
4999 . Nếu chim muốn có thịt, chim hãy bay về hướng đông của thành Pupphavatī. Tại đây, đức vua Ekarāja, bị mê muội, cúng tế cuộc lễ hiến dâng với bốn con bò đực.
5000 . Nếu chim muốn có thịt, chim hãy bay về hướng đông của thành Pupphavatī. Tại đây, đức vua Ekarāja, bị mê muội, cúng tế cuộc lễ hiến dâng với nhóm bốn của tất cả các thứ.
5001 . Tòa lâu đài này, nội cung này của hoàng tử là vô cùng đáng yêu. Bốn vị hoàng tử ấy, giờ đây, bị đưa đi hành quyết.
5002 . Ngôi nhà mái nhọn này của hoàng tử làm bằng vàng, được chưng bày với những bông hoa và tràng hoa. Bốn vị hoàng tử ấy, giờ đây, bị đưa đi hành quyết.
5003 . Vườn thượng uyển này của hoàng tử là đáng yêu, khéo được nở rộ hoa vào mọi thời điểm. Bốn vị hoàng tử ấy, giờ đây, bị đưa đi hành quyết.
5004 . Khu rừng cây asoka này của hoàng tử là đáng yêu, khéo được nở rộ hoa vào mọi thời điểm. Bốn vị hoàng tử ấy, giờ đây, bị đưa đi hành quyết.
5005 . Khu rừng cây kaṇikāra này của hoàng tử là đáng yêu, khéo được nở rộ hoa vào mọi thời điểm. Bốn vị hoàng tử ấy, giờ đây, bị đưa đi hành quyết.
5006 . Khu rừng cây pāṭali này của hoàng tử là đáng yêu, khéo được nở rộ hoa vào mọi thời điểm. Bốn vị hoàng tử ấy, giờ đây, bị đưa đi hành quyết.
5007 . Khu rừng xoài này của hoàng tử là đáng yêu, khéo được nở rộ hoa vào mọi thời điểm. Bốn vị hoàng tử ấy, giờ đây, bị đưa đi hành quyết.
5008 . Hồ nước này của hoàng tử được bao phủ bởi các đóa sen hồng, sen trắng. Và những chiếc thuyền được khảm vàng, được tô điểm với những chuỗi bông hoa, là vô cùng đáng yêu. Bốn vị hoàng tử ấy, giờ đây, bị đưa đi hành quyết.
5009 . Con voi báu này của hoàng tử là con voi Erāvaṇa có cặp ngà lực lưỡng. Bốn vị hoàng tử ấy, giờ đây, bị đưa đi hành quyết.
5010 . Con ngựa báu này của hoàng tử là con ngựa có móng liền lặn (không bị nứt nẻ). Bốn vị hoàng tử ấy, giờ đây, bị đưa đi hành quyết.
5011 . Cỗ xe ngựa này của hoàng tử là xinh xắn, được tô điểm với châu ngọc, có âm thanh như tiếng kêu của loài chim thần sāliya khi di chuyển; các vị hoàng tử, ngự ở nơi ấy, đã chói sáng tựa như chư Thiên ở khu vườn Nandana. Bốn vị hoàng tử ấy, giờ đây, bị đưa đi hành quyết.
5012 . Vì sao đức vua lại bị mê muội rồi sẽ cúng tế cuộc lễ hiến dâng với bốn hoàng tử xinh đẹp tựa như vàng, có thân thể đã được bôi trầm hương?
5013 . Vì sao đức vua lại bị mê muội rồi sẽ cúng tế cuộc lễ hiến dâng với bốn công chúa xinh đẹp tựa như vàng, có thân thể đã được bôi trầm hương?
5014 . Vì sao đức vua lại bị mê muội rồi sẽ cúng tế cuộc lễ hiến dâng với bốn hoàng hậu xinh đẹp tựa như vàng, có thân thể đã được bôi trầm hương?
5015 . Vì sao đức vua lại bị mê muội rồi sẽ cúng tế cuộc lễ hiến dâng với bốn gia chủ xinh đẹp tựa như vàng, có thân thể đã được bôi trầm hương?
5016. Giống như thôn làng và thị trấn trở thành khu rừng rộng lớn, vắng vẻ, không bóng người, kinh thành Pupphavatī sẽ là tương tự như thế, khi hai vị hoàng tử Canda và Suriya bị hiến dâng.”
(Lời mẫu hậu Gotamī)
5017 . “Thiếp sẽ trở nên điên cuồng, bị tiêu hoại sức sống, và bị phủ đầy bụi đất, nếu các người giết chết Canda cao quý, tâu bệ hạ, các hơi thở của thiếp bị tắc nghẹn.
5018 . Thiếp sẽ trở nên điên cuồng, bị tiêu hoại sức sống, và bị phủ đầy bụi đất, nếu các người giết chết Canda cao quý, tâu bệ hạ, các hơi thở của thiếp bị tắc nghẹn.
5019 . Tại sao các nàng dâu có lời nói trìu mến với nhau này, Ghaṭṭiyā, Oparakkhī, Pokkharakkhī, Nāyikā, trong khi nhảy múa trước Canda và Suriya, không có thể làm cho các con trai của ta vui thích? Người sánh bằng các nàng ấy không tìm thấy.
5020 . Này Khaṇḍahāla, cầu cho mẹ của ngươi phải gánh chịu nỗi sầu muộn trong trái tim này của ta, là nỗi sầu muộn trong trái tim của ta khi hoàng tử Canda bị đưa đi hành quyết.
5021 . Này Khaṇḍahāla, cầu cho mẹ của ngươi phải gánh chịu nỗi sầu muộn trong trái tim này của ta, là nỗi sầu muộn trong trái tim của ta khi hoàng tử Suriya bị đưa đi hành quyết.
5022 . Này Khaṇḍahāla, cầu cho vợ của ngươi phải gánh chịu nỗi sầu muộn trong trái tim này của ta, là nỗi sầu muộn trong trái tim của ta khi hoàng tử Canda bị đưa đi hành quyết.
5023 . Này Khaṇḍahāla, cầu cho vợ của ngươi phải gánh chịu nỗi sầu muộn trong trái tim này của ta, là nỗi sầu muộn trong trái tim của ta khi hoàng tử Suriya bị đưa đi hành quyết.
5024 . Này Khaṇḍahāla, (cầu cho) mẹ của ngươi không thể gặp lại những đứa con trai và không thể gặp lại người chồng, là kẻ đã giết chết các hoàng tử, những người không tồi bại, giống như loài sư tử.
5025 . Này Khaṇḍahāla, (cầu cho) mẹ của ngươi không thể gặp lại những đứa con trai và không thể gặp lại người chồng, là kẻ đã giết chết các hoàng tử, những người được toàn bộ thế gian mong mỏi.
5026 . Này Khaṇḍahāla, (cầu cho) vợ của ngươi không thể gặp lại những đứa con trai và không thể gặp lại người chồng, là kẻ đã giết chết các hoàng tử, những người không tồi bại, giống như loài sư tử.
5027 . Này Khaṇḍahāla, (cầu cho) vợ của ngươi không thể gặp lại những đứa con trai và không thể gặp lại người chồng, là kẻ đã giết chết các hoàng tử, những người được toàn bộ thế gian mong mỏi.”
(Lời hoàng tử Canda nói với phụ vương)
5028 . “Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con. Bệ hãy hãy ban chúng con làm những nô lệ cho quan tế tự Khaṇḍahāla, thậm chí là bị trói buộc bằng xích ở chân. Hãy để chúng con trông nom các con voi và các con ngựa.
5029 . Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con. Bệ hãy hãy ban chúng con làm nô lệ cho quan tế tự Khaṇḍahāla, thậm chí là bị trói buộc bằng xích ở chân. Hãy để chúng con hốt dọn các bãi phân voi.
5030 . Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con. Bệ hãy hãy ban chúng con làm nô lệ cho quan tế tự Khaṇḍahāla, thậm chí là bị trói buộc bằng xích ở chân. Hãy để chúng con hốt dọn các bãi phân ngựa.
5031 . Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con. Bệ hãy hãy ban chúng con làm nô lệ cho người mà bệ hạ có nhiều yêu thích. Thậm chí, nếu bị trục xuất khỏi đất nước, chúng con sẽ đi xin ăn.
5032 . Những người phụ nữ đi đến cầu xin ơn trên, mỏi mong có được con trai, mặc dầu nghèo khó. Một số từ bỏ các niềm khao khát bởi vì họ không đạt được những người con trai.
5033 . Các phụ nữ tạo ra các niềm an ủi rằng: ‘Mong rằng những đứa con trai được sanh ra cho chúng tôi, từ đó tạo ra những đứa cháu trai.’ Giờ không có nguyên do, bệ hạ lại ra lệnh giết chúng con vì mục đích của lễ hiến dâng.
5034 . Các phụ nữ đạt được đứa con trai do sự cầu xin. Xin cha chớ giết chết chúng con. Xin cha chớ cúng tế cuộc lễ hiến dâng này với những người con trai đã đạt được một cách khó khăn.
5035. Các phụ nữ đạt được đứa con trai do sự cầu xin. Xin cha chớ giết chết chúng con. Xin cha chớ cách ly mẹ của chúng con với những người con trai đã đạt được một cách khốn khổ.”
(Lời hoàng tử Canda nói với mẫu hậu)
5036. “Thưa mẹ, mẹ đã nuôi dưỡng Canda với nhiều khó khăn, giờ mẹ bị mất đứa con trai. Con xin đảnh lễ hai bàn chân của mẹ. Mong rằng cha con đạt được đời sau.
5037 . Thưa mẹ, giờ xin mẹ hãy ôm lấy con. Xin mẹ hãy cho con đảnh lễ hai bàn chân của mẹ. Giờ đây, con ra đi đến nơi vô cùng xa xăm vì mục đích hiến dâng của đức vua Ekarāja.
5038. Thưa mẹ, giờ xin mẹ hãy ôm lấy con. Xin mẹ hãy cho con đảnh lễ hai bàn chân của mẹ. Giờ đây, con ra đi đến nơi vô cùng xa xăm sau khi đã gây ra cho mẹ nỗi sầu muộn trong trái tim.
5039 . Thưa mẹ, giờ xin mẹ hãy ôm lấy con. Xin mẹ hãy cho con đảnh lễ hai bàn chân của mẹ. Giờ đây, con ra đi đến nơi vô cùng xa xăm sau khi đã gây ra cho mọi người nỗi sầu muộn trong trái tim.”
(Lời mẫu hậu Gotamī)
5040 . “Này người con trai của Gotamī (hoàng tử Canda), giờ con hãy buộc vòng đội đầu gồm các lá sen, có sự trộn lẫn với các đài hoa campaka ; việc này là tập quán cổ truyền của con.
5041 . Nào, con hãy thoa dầu thoa trầm hương của con lần cuối cùng; khéo được thoa với chúng, con sẽ chói sáng ở tập thể các vị vua.
5042 . Nào, con hãy mặc vào các tấm vải mềm mại xứ Kāsi lần cuối cùng; khéo được trang phục với chúng, con sẽ chói sáng ở tập thể các vị vua.
5043. Con hãy mang các vật trang sức ở cánh tay đã được tô điểm với ngọc trai, ngọc ma-ni, và vàng; với các vật trang sức ở cánh tay, con sẽ chói sáng ở tập thể các vị vua.”
(Lời của nàng Candā, chánh phi của hoàng tử Canda)
5044. “Có lẽ bậc hộ quốc này, vị chúa tể trái đất, người thừa kế xứ sở, vị chúa tể vĩ đại của thế gian, không khởi lên lòng yêu mến đối với những người con trai.”
(Lời của đức vua Ekarāja)
5045. “Những người con trai là đáng yêu đối với trẫm, bản thân trẫm cũng đáng yêu, và các nàng là những cô con dâu (cũng đáng yêu). Và trong khi ước nguyện cõi Trời, vì lý do ấy, trẫm sẽ giết chết (những người ấy).”
(Lời của nàng Candā, chánh phi của hoàng tử Canda)
5046 . “Xin bệ hạ hãy giết con trước. Xin bệ hạ chớ làm vỡ tan trái tim đau khổ của con. Tâu bệ hạ, người con trai của ngài đã được trang điểm, xinh đẹp, thanh nhã.
5047 . Giờ xin bệ hạ hãy giết chết con. Con sẽ có chung thế giới cùng với Canda. Xin bệ hạ hãy tạo phước báu lớn lao. Hãy để cả hai chúng con tiêu dao ở thế giới bên kia.”
(Lời của đức vua Ekarāja)
5048. “Này Candā, con chớ có ưa thích (cái chết). Này cô gái có cặp mắt to, các em chồng của con có nhiều; họ sẽ khiến con vui thích khi người con trai của Gotamī (hoàng tử Canda) đã được hiến dâng.”
5049 . Khi được nói như vậy, nàng Candā đã hành hạ bản thân bằng các lòng bàn tay nhỏ nhắn (nói rằng): “Đã quá đủ với cuộc sống! Con sẽ uống thuốc độc, con sẽ tự vẫn.
5050 . Có lẽ các bạn bè, các quan cố vấn, và các thân hữu của đức vua này không có mặt nên họ không tâu với ngài rằng: ‘Xin bệ hạ chớ giết chết đứa con trai ruột thịt.’
5051 . Có lẽ các bạn bè, các bà con, và các thân hữu của đức vua này không có mặt nên họ không tâu với ngài rằng: ‘Xin bệ hạ chớ giết chết đứa con trai của mình.’
5052 . Tâu bệ hạ, những người con trai này của con cũng có những đức tính tốt, có mang vòng ở bắp tay. Bệ hạ hãy cúng tế cuộc lễ hiến dâng với chúng rồi hãy phóng thích người con trai của Gotamī (hoàng tử Canda).
5053 . Tâu đại vương, ngài hãy băm con thành trăm mảnh và hãy dâng hiến theo bảy cách (ở bảy nơi). Chớ giết chết người con trai cả, là người không tồi bại, giống như loài sư tử.
5054. Tâu đại vương, ngài hãy băm con thành trăm mảnh và hãy dâng hiến theo bảy cách (ở bảy nơi). Chớ giết chết người con trai cả, là người được toàn bộ thế gian mong mỏi.”
(Lời hoàng tử Canda)
5055 . “Có nhiều đồ trang sức bằng ngọc trai, ngọc ma-ni, và ngọc bích giá trị cao thấp khác nhau đã được ban tặng cho nàng vào lúc chuyện trò vui vẻ; vật này là quà tặng cuối cùng cho nàng.”
(Lời của nàng Candā, chánh phi của hoàng tử Canda)
5056. “Các chuỗi bông hoa nở rộ đã quàng vào ở vai của những vị nào, hôm nay thanh gươm sắc bén màu vàng sẽ rơi xuống ở vai của những vị ấy.
5057 . Các chuỗi bông hoa sặc sỡ đã quàng vào ở vai của những vị nào, hôm nay thanh gươm sắc bén màu vàng sẽ rơi xuống ở vai của những vị ấy.
5058 . Thật vậy, chẳng bao lâu nữa thanh gươm sẽ rơi xuống ở vai của các vị hoàng tử, và trái tim của thiếp không vỡ tan chừng nào còn có sự trói buộc vững bền của thiếp.
5059 . Thưa Canda và Suriya, hai chàng mặc vải lụa sạch sẽ của xứ Kāsi, có đeo bông tai, được thoa kỳ nam và trầm hương, hai chàng hãy ra đi vì mục đích hiến dâng của đức vua Ekarāja.
5060 . Thưa Canda và Suriya, hai chàng mặc vải lụa sạch sẽ của xứ Kāsi, có đeo bông tai, được thoa kỳ nam và trầm hương, hai chàng hãy ra đi, sau khi đã gây ra cho mẫu hậu nỗi sầu muộn trong trái tim.
5061 . Thưa Canda và Suriya, hai chàng mặc vải lụa sạch sẽ của xứ Kāsi, có đeo bông tai, được thoa kỳ nam và trầm hương, hai chàng hãy ra đi, sau khi đã gây ra cho mọi người nỗi sầu muộn trong trái tim.
5062 . Thưa Canda và Suriya, hai chàng đã thọ dụng hương vị của món thịt, đã được tắm rửa kỹ lưỡng bởi người hầu tắm, có đeo bông tai, được thoa kỳ nam và trầm hương, hai chàng hãy ra đi vì mục đích hiến dâng của đức vua Ekarāja.
5063 . Thưa Canda và Suriya, hai chàng đã thọ dụng hương vị của món thịt, đã được tắm rửa kỹ lưỡng bởi người hầu tắm, có đeo bông tai, được thoa kỳ nam và trầm hương, hai chàng hãy ra đi, sau khi đã gây ra cho mẫu hậu nỗi sầu muộn trong trái tim.
5064 . Thưa Canda và Suriya, hai chàng đã thọ dụng hương vị của món thịt, đã được tắm rửa kỹ lưỡng bởi người hầu tắm, có đeo bông tai, được thoa kỳ nam và trầm hương, hai chàng hãy ra đi, sau khi đã gây ra cho mọi người nỗi sầu muộn trong trái tim.”
5065. Khi tất cả đã được chuẩn bị, khi hoàng tử Canda đã ngồi xuống vì mục đích của lễ hiến dâng, người con gái của đức vua Pañcāla đã đi vòng quanh tất cả hội chúng, tay chắp lại (khấn nguyện rằng):
5066 . “Kẻ ngu muội Khaṇḍahāla làm hành động độc ác là sự thật. Do lời nói chân thật này, hãy cho thiếp được chung sống với chồng.
5067 . Các hàng phi nhân nào, cùng chư Dạ-xoa, chư sinh linh, và các loài đang hiện hữu nào có mặt ở nơi này, xin các ngài hãy thực hiện bổn phận đối với thiếp, hãy cho thiếp được chung sống với chồng.
5068 . Chư Thiên nào, cùng chư Dạ-xoa, chư sinh linh, và các loài đang hiện hữu nào đã đi đến nơi này, xin các ngài hãy hộ trì thiếp, là kẻ tầm cầu sự nương nhờ, kẻ không có người bảo hộ,. Thiếp cầu xin các ngài, xin chớ để thiếp phải bị mất chồng.”
5069. Nghe được điều ấy, Thiên Vương Sakka đã vung cây búa sắt lên làm cho đức vua sợ hãi, rồi đã nói với đức vua điều này:
5070 . “Này nhà vua tội lỗi, ngươi hãy thức tỉnh. Chớ để ta giáng xuống đầu ngươi. Chớ giết chết người con trai cả, là người không tồi bại, giống như loài sư tử.
5071 . Này nhà vua tội lỗi, ngươi đã nhìn thấy những kẻ nào có sự mong muốn cõi Trời để rồi các con trai và các người vợ, cùng các gia chủ triệu phú lại bị giết chết?”
5072 . Nghe được điều ấy, quan tế tự Khaṇḍahāla và đức vua, sau khi nhìn thấy việc này là không có thật, đã giải thoát các sự trói buộc cho tất cả, giống như việc ấy được dành cho những kẻ không có tội ác.
5073 . Khi tất cả đã được thả ra, những người nào đã tụ họp tại nơi ấy vào lúc ấy, tất cả bọn họ, mỗi người một cục đá đã ném vào lão Khaṇḍahāla; việc ấy là cái chết dành cho lão.
5074 . Tất cả những kẻ sau khi đã làm việc độc ác ấy như thế đã rơi vào địa ngục; bởi vì sau khi đã làm nghiệp ác, không thể nào từ nơi này đi đến nhàn cảnh.
5075 . Khi tất cả đã được thả ra, những người đã tụ họp tại nơi ấy vào lúc ấy và tập thể các vị vua đã tụ họp lại, họ đã phong vương cho Canda.
5076 . Khi tất cả đã được thả ra, những người đã tụ họp tại nơi ấy vào lúc ấy và các công chúa đã tụ họp lại, họ đã phong vương cho Canda.
5077 . Khi tất cả đã được thả ra, những người đã tụ họp tại nơi ấy vào lúc ấy và tập thể chư Thiên đã tụ họp lại, họ đã phong vương cho Canda.
5078 . Khi tất cả đã được thả ra, những người đã tụ họp tại nơi ấy vào lúc ấy và các Thiên nữ đã tụ họp lại, họ đã phong vương cho Canda.
5079 . Khi tất cả đã được thả ra, những người đã tụ họp tại nơi ấy vào lúc ấy và tập thể các vị vua đã tụ họp lại, họ đã vẫy khăn chúc mừng.
5080 . Khi tất cả đã được thả ra, những người đã tụ họp tại nơi ấy vào lúc ấy và các công chúa đã tụ họp lại, họ đã vẫy khăn chúc mừng.
5081 . Khi tất cả đã được thả ra, những người đã tụ họp tại nơi ấy vào lúc ấy và tập thể chư Thiên đã tụ họp lại, họ đã vẫy khăn chúc mừng.
5082 . Khi tất cả đã được thả ra, những người đã tụ họp tại nơi ấy vào lúc ấy và các Thiên nữ đã tụ họp lại, họ đã vẫy khăn chúc mừng.
5083 . Khi tất cả đã được thả ra, hoàng tộc đã có nhiều sự vui mừng, đã reo vang: ‘Tự do khỏi sự trói buộc, giam cầm,’ đã làm cho thành phố tràn ngập niềm hoan hỷ.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Bổn Sanh (Jātaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
542. Umaṅgajātakaṃ (5)
542. The Umaṅga Jātaka (5)
542. Bổn sanh Umaṅga (5)
590.
590.
590.
‘‘Pañcālo sabbasenāya, brahmadattoyamāgato;
Sāyaṃ pañcāliyā senā, appameyyā mahosadha.
‘King Brahmadatta of Pañcāla has come with his whole army. This evening, O Mahosadha, the Pañcāla army is immeasurable.
‘Vua xứ Pañcāla, Brahmadatta này, đã đến với toàn thể quân đội; quân đội của xứ Pañcāla này, hỡi Mahosadha, là không thể đo lường được.
591.
591.
591.
‘‘Vīthimatī † pattimatī, sabbasaṅgāmakovidā;
Ohārinī saddavatī, bherisaṅkhappabodhanā.
‘Well-arrayed and well-ordered, skilled in every battle; imposing and resonant, roused by the sound of drums and conches.’
‘(Quân đội ấy) có các đường đi, có bộ binh, thông thạo mọi cuộc chiến; có thể bao vây, có nhiều tiếng ồn, được đánh thức bởi tiếng trống và tiếng tù và.
592.
592.
592.
‘‘Lohavijjā alaṅkārā, dhajinī vāmarohinī;
Sippiyehi susampannā, sūrehi suppatiṭṭhitā.
‘Adorned with metalwork, bearing banners and beautiful women; well-endowed with artisans, well-established with heroes.’
‘(Quân đội ấy) có các nhà luyện kim, được trang hoàng, có cờ xí, có các kỵ binh ưu tú; được trang bị đầy đủ bởi các thợ thủ công, được thiết lập vững chắc bởi các dũng sĩ.
593.
593.
593.
‘‘Dasettha paṇḍitā āhu, bhūripaññā rahogamā †;
Mātā ekādasī rañño, pañcāliyaṃ pasāsati.
‘Here, they say, are ten wise men, profound in wisdom, who go to secret places. The king’s mother is the eleventh; she governs in Pañcāla.’
‘Ở đây, họ nói có mười vị hiền triết, có trí tuệ rộng lớn, có thể đi vào nơi bí mật; mẹ của đức vua là người thứ mười một, đang cai trị ở xứ Pañcāla.
594.
594.
594.
‘‘Athetthekasataṃ khatyā, anuyantā yasassino;
Acchinnaraṭṭhā byathitā, pañcāliyaṃ † vasaṃ gatā.
‘And here are one hundred Khattiyas, glorious followers, whose realms are intact; though distressed, they have come under the sway of the Pañcāla king.’
‘Và ở đây có một trăm vị Sát-đế-lỵ, những người tùy tùng, có danh tiếng; bị mất nước, bị đau khổ, đã đi đến sự quy phục ở xứ Pañcāla.
595.
595.
595.
‘‘Yaṃvadā-takkarā rañño, akāmā piyabhāṇino;
Pañcālamanuyāyanti, akāmā vasino gatā.
‘Compliant and tribute-payers to the king, though unwilling, speaking pleasantly, they follow the Pañcāla king, unwillingly gone under his control.’
Những kẻ vâng lời, làm theo ý vua, những kẻ nói lời thân ái, dù không muốn, cũng đi theo vua Pañcāla; dù không muốn, cũng đã bị khuất phục.
596.
596.
596.
‘‘Tāya senāya mithilā, tisandhiparivāritā;
Rājadhānī videhānaṃ, samantā parikhaññati.
‘With that army, Mithilā, the capital city of the Videhas, is surrounded at its three junctions and is being trenched on all sides.’
Bởi đạo quân ấy, thành Mithilā, kinh đô của xứ Videha, bị bao vây ở ba điểm giao nhau, và bị đào hào bao quanh khắp nơi.
597.
597.
597.
‘‘Uddhaṃ tārakajātāva, samantā parivāritā;
Mahosadha vijānāhi, kathaṃ mokkho bhavissati’’.
‘Above, like a cluster of stars, it is surrounded on all sides. Mahosadha, understand: how will there be liberation?’
Bị bao vây khắp nơi, giống như các vì sao ở trên cao. Hỡi Mahosadha, hãy biết cho, làm thế nào để có được sự giải thoát?
598.
598.
598.
‘‘Pāde deva pasārehi, bhuñja kāme ramassu ca;
Hitvā pañcāliyaṃ senaṃ, brahmadatto palāyiti’’ †.
‘O king, stretch out your feet, enjoy sensual pleasures and delight. Brahmadatta will flee, abandoning the Pañcāla army.’
Tâu Đại vương, xin hãy duỗi chân ra, hãy hưởng thụ và vui thú với các dục lạc. Từ bỏ đạo quân Pañcāla, vua Brahmadatta sẽ bỏ chạy.
599.
599.
599.
‘‘Rājā santhavakāmo te, ratanāni pavecchati;
Āgacchantu ito † dūtā, mañjukā piyabhāṇino.
‘The king desires intimacy with you; he will send precious gifts. Let messengers come from here, charming and pleasant of speech.’
Nhà vua mong muốn sự thân thiện với ngài, sẽ dâng tặng các báu vật. Mong rằng các sứ giả từ đây sẽ đến, những người có giọng nói ngọt ngào, nói lời thân ái.
600.
600.
600.
‘‘Bhāsantu mudukā vācā, yā vācā paṭinanditā;
Pañcālo ca videho ca †, ubho ekā bhavantu te’’.
‘Let them speak gentle words, words that are welcomed. May Pañcāla and Videha both become one.’
Mong rằng họ nói những lời mềm mỏng, những lời được hoan nghênh. Mong rằng cả Pañcāla và Videha, cả hai sẽ trở thành một.
601.
601.
601.
‘‘Kathaṃ nu kevaṭṭa mahosadhena, samāgamo āsi tadiṅgha brūhi;
Kacci te paṭinijjhatto, kacci tuṭṭho mahosadho’’.
‘How then, Kevaṭṭa, was your meeting with Mahosadha? Tell me that now. Did you reject him? Was Mahosadha satisfied?’
Này Kevatta, cuộc gặp gỡ với Mahosadha đã diễn ra thế nào, xin hãy nói điều ấy. Có phải Mahosadha đã khinh miệt ngươi chăng? Có phải Mahosadha đã hài lòng chăng?
602.
602.
602.
‘‘Anariyarūpo puriso janinda, asammodako thaddho asabbhirūpo;
Yathā mūgo ca badhiro ca, na kiñcitthaṃ abhāsatha’’ †.
‘O great king, he is a person of ignoble nature, unsociable, obstinate, and unseemly; like a mute and a deaf person, he spoke nothing of value.’
Tâu chúa công, người ấy có dáng vẻ không cao thượng, không thân thiện, cứng nhắc, không giống bậc hiền nhân. Giống như người vừa câm vừa điếc, ông ta đã không nói bất cứ điều gì ở đây.
603.
603.
603.
‘‘Addhā idaṃ mantapadaṃ sududdasaṃ, attho suddho naravīriyena diṭṭho;
Tathā hi kāyo mama sampavedhati, hitvā sayaṃ ko parahatthamessati’’.
‘Indeed, this counsel is very hard to understand; its pure meaning is seen through manly effort. For so my body trembles. Having abandoned one’s own, who will go into another’s hand?’
Chắc chắn rằng lời mật nghị này rất khó thấy, ý nghĩa trong sạch đã được thấy bởi sự tinh tấn của bậc anh hùng. Vì thế, thân của ta run rẩy. Ai lại tự mình từ bỏ (chỗ của mình) để đi vào tay của người khác?
604.
604.
604.
‘‘Channañhi ekāva matī sameti, ye paṇḍitā uttamabhūripattā;
Yānaṃ ayānaṃ atha vāpi ṭhānaṃ, mahosadha tvampi matiṃ karohi’’.
‘For us six who are wise, who have attained the highest and most profound wisdom, only one counsel is fitting. Whether to go, not to go, or to stay, Mahosadha, you too make up your mind.’
Quả thật, ý kiến của sáu người là đồng nhất, những người hiền trí đã đạt đến trí tuệ cao tột. Việc đi, không đi, hay là ở lại, hỡi Mahosadha, ngươi cũng hãy quyết định đi.
605.
605.
605.
‘‘Jānāsi kho rāja mahānubhāvo, mahabbalo cūḷanibrahmadatto;
Rājā ca taṃ icchati māraṇatthaṃ †, migaṃ yathā okacarena luddo.
‘O king, you know indeed that Cūḷani Brahmadatta is of great power and great might. And that king desires to kill you, like a cruel hunter a deer in its own haunt.’
Tâu Đại vương, ngài biết rằng vua Cūḷani Brahmadatta có uy lực lớn, có sức mạnh lớn. Và nhà vua ấy muốn giết ngài, giống như người thợ săn (muốn giết) con nai bằng con nai mồi.
606.
606.
606.
‘‘Yathāpi maccho baḷisaṃ, vaṅkaṃ maṃsena chāditaṃ;
Āmagiddho na jānāti, maccho maraṇamattano.
‘Just as a fish, greedy for raw meat, does not recognize the crooked hook concealed by meat, and thus does not recognize its own death.
Giống như con cá, vì tham miếng mồi sống, không biết lưỡi câu cong được bọc bằng thịt, con cá không biết cái chết của chính mình.
607.
607.
607.
‘‘Evameva tuvaṃ rāja, cūḷaneyyassa dhītaraṃ;
Kāmagiddho na jānāsi, macchova maraṇamattano.
‘Just so, O king, greedy for sensual pleasure, you do not recognize the danger from Cūḷani's daughter, just as a fish does not recognize its own death.’
Cũng giống như thế, tâu Đại vương, vì tham muốn con gái của Cūḷaneyya, ngài không biết cái chết của chính mình, giống như con cá vậy.
608.
608.
608.
‘‘Sace gacchasi pañcālaṃ, khippamattaṃ jahissati;
Migaṃ panthānubandhaṃva †, mahantaṃ bhayamessati’’.
‘If you go to Pañcāla, you will quickly lose your life. Like a deer following a path, great fear will come upon you.’
Nếu ngài đi đến Pañcāla, ngài sẽ nhanh chóng từ bỏ mạng sống của mình. Giống như con nai đi theo lối mòn, ngài sẽ gặp phải sự nguy hiểm lớn lao.
609.
609.
609.
‘‘Mayameva bālamhase eḷamūgā, ye uttamatthāni tayī lapimhā;
Kimeva tvaṃ naṅgalakoṭivaḍḍho, atthāni jānāsi yathāpi aññe’’.
‘We indeed are fools, deaf and dumb, who spoke to you about the highest matters. What do you, a mere plow-raised fellow, know of such matters like others?’
Chính chúng ta là những kẻ ngu si, câm như cừu, đã nói những lời có ý nghĩa cao tột cho ngươi. Làm sao một kẻ lớn lên từ đầu lưỡi cày như ngươi lại có thể biết được những điều lợi ích như những người khác?
610.
610.
610.
‘‘Imaṃ gale gahetvāna, nāsetha vijitā mama;
Yo me ratanalābhassa, antarāyāya bhāsati’’.
‘Seizing him by the throat, expel him from my realm! He who speaks to obstruct my gaining of the jewel.’
Hãy tóm cổ tên này, hãy đuổi hắn ra khỏi lãnh thổ của ta. Kẻ nào nói lời gây trở ngại cho việc ta thu được báu vật.
611.
611.
611.
‘‘Tato ca so apakkamma, vedehassa upantikā;
Atha āmantayī dūtaṃ, mādharaṃ † suvapaṇḍitaṃ.
Then, departing from the vicinity of Videha, he addressed a messenger, Mādhara, the wise parrot.
Và rồi, sau khi rời khỏi chỗ của vua Videha, vị ấy đã gọi sứ giả, con vẹt hiền trí Mādhara.
612.
612.
612.
‘‘Ehi samma haritapakkha †, veyyāvaccaṃ karohi me;
Atthi pañcālarājassa, sāḷikā sayanapālikā.
‘Come, friend, green-winged one, perform a service for me. There is a myna bird belonging to the king of Pañcāla, a guardian of the bedchamber.’
Này bạn cánh xanh, hãy đến đây, hãy làm cho ta một việc. Vua Pañcāla có một con chim sáo mái, là người canh giữ phòng ngủ.
613.
613.
613.
‘Taṃ bandhanena † pucchassu, sā hi sabbassa kovidā;
Sā tesaṃ sabbaṃ jānāti, rañño ca kosiyassa ca.
‘Ask her about the plot, for she is skilled in all things. She knows everything about them, both the king’s and Kosiya’s.’
Hãy dùng lời thề để hỏi nó, vì nó thông thạo mọi việc. Nó biết tất cả mọi chuyện của họ, của nhà vua và của Kosiyā.
614.
614.
614.
‘‘‘Āmo’ti so paṭissutvā, mādharo suvapaṇḍito;
Agamāsi haritapakkho †, sāḷikāya upantikaṃ.
‘“Yes,” replied Mādhara, the wise parrot. The green-winged one went near the myna bird.’
Sau khi vâng lời đáp 'Vâng', con vẹt hiền trí Mādhara, con chim cánh xanh, đã đi đến chỗ của con chim sáo mái.
615.
615.
615.
‘‘Tato ca kho so gantvāna, mādharo suvapaṇḍito;
Athāmantayi sugharaṃ, sāḷikaṃ mañjubhāṇikaṃ.
Then, having gone there, Mādhara, the wise parrot, addressed Sughara, the sweet-voiced myna bird.
Và rồi, sau khi đã đến đó, con vẹt hiền trí Mādhara đã nói với con chim sáo mái có giọng nói ngọt ngào, được ở trong ngôi nhà tốt đẹp.
616.
616.
616.
‘Kacci te sughare khamanīyaṃ, kacci vesse anāmayaṃ;
Kacci te madhunā lājā, labbhate sughare tuvaṃ’ †.
‘Is it agreeable for you, Sughara? Is it well with you at home? Are you able to obtain honey and parched grain, O Sughara?’
Này bạn ở nhà đẹp, bạn có được kham nhẫn chăng? Này bạn ở trong nhà, có được vô bệnh chăng? Này bạn ở nhà đẹp, bạn có nhận được cốm với mật ong chăng?
617.
617.
617.
‘Kusalañceva me samma, atho samma anāmayaṃ;
Atho me madhunā lājā, labbhate suvapaṇḍita.
‘It is well for me, friend, and also, friend, I am free from illness. And also, O wise parrot, I obtain honey and parched grain.’
Này bạn, tôi vẫn được an lành, và này bạn, cũng được vô bệnh. Và hỡi con vẹt hiền trí, tôi có nhận được cốm với mật ong.
618.
618.
618.
‘Kuto nu samma āgamma, kassa vā pahito tuvaṃ;
Na ca mesi ito pubbe, diṭṭho vā yadi vā suto’’.
‘From where now, friend, have you come? Or by whom have you been sent? Never before have I seen you here, nor heard of you.’
Này bạn, bạn từ đâu đến, hay bạn là người được ai phái đến? Vì trước đây, tôi chưa từng thấy hay nghe nói về bạn.
619.
619.
619.
‘‘Ahosiṃ sivirājassa, pāsāde sayanapālako;
Tato so dhammiko rājā, baddhe mocesi bandhanā’’.
‘I was a guardian of the bedchamber in King Sivi’s palace. Then that righteous king released those bound in fetters.’
Tôi đã từng là người canh giữ phòng ngủ trong cung điện của vua Sivi. Sau đó, vị vua đức độ ấy đã giải thoát những kẻ bị trói khỏi sự trói buộc.
620.
620.
620.
‘‘Tassa mekā dutiyāsi, sāḷikā mañjubhāṇikā;
Taṃ tattha avadhī seno, pekkhato sughare mama’’.
‘I had a companion, a sweet-voiced myna bird. A hawk slew her there, while I looked on, in my own dwelling.’
Tôi đã có một người bạn đồng hành, một con sáo mái có giọng nói ngọt ngào. Này bạn ở nhà đẹp, một con diều hâu đã giết nó ở đó, trong khi tôi đang nhìn.
621.
621.
621.
‘‘Tassā kāmā hi sammatto, āgatosmi tavantike;
Sace kareyya † okāsaṃ, ubhayova vasāmase’’.
‘Intoxicated with desire for her, I have come into your presence. If you would make an opportunity, we could both live together.’
Vì say đắm trong dục vọng đối với cô ấy, tôi đã đến đây, trước mặt bạn. Nếu bạn tạo cơ hội, cả hai chúng ta có thể sống cùng nhau.
622.
622.
622.
‘‘Suvova suviṃ kāmeyya, sāḷiko pana sāḷikaṃ;
Suvassa sāḷikāyeva †, saṃvāso hoti kīdiso’’.
‘A parrot should desire a she-parrot, and a myna bird a she-myna bird. What kind of union would there be for a parrot with a myna bird?’
Vẹt trống nên yêu vẹt mái, còn sáo trống thì nên yêu sáo mái. Sự chung sống của vẹt trống với sáo mái thì sẽ như thế nào?
623.
623.
623.
‘‘Yoyaṃ kāme † kāmayati, api caṇḍālikāmapi;
Sabbo hi sadiso hoti, natthi kāme asādiso’’.
‘Whoever desires sensual pleasures, even with a Caṇḍāla woman—everyone is indeed alike; there is no dissimilarity in sensual desire.’
Người nào ham muốn các dục lạc, dù là với một phụ nữ thuộc giai cấp Chiên-đà-la, tất cả đều giống nhau. Trong dục vọng, không có sự không tương đồng.
624.
624.
624.
‘‘Atthi jampāvatī † nāma, mātā sivissa † rājino;
Sā bhariyā vāsudevassa, kaṇhassa mahesī piyā.
‘There is one named Jampāvatī, the mother of King Sivi. She was the wife of Vāsudeva, the beloved chief queen of Kaṇha.’
Có một người tên là Jampāvatī, là mẹ của vua Sivi. Bà là vợ của Vāsudeva, là hoàng hậu yêu quý của Kaṇha.
625.
625.
625.
‘‘Raṭṭhavatī † kimpurisī, sāpi vacchaṃ akāmayi;
Manusso migiyā saddhiṃ, natthi kāme asādiso’’.
‘Raṭṭhavatī, the Kimpurisī, she too desired a calf. A man with a doe—there is no dissimilarity in sensual desire.’
Nàng kim-purisī Raṭṭhavatī, nàng ấy cũng đã yêu thương con mình; người đàn ông cùng với con nai cái, trong các dục vọng không có gì là không tương xứng.
626.
626.
626.
‘‘Handa khvāhaṃ gamissāmi, sāḷike mañjubhāṇike;
Paccakkhānupadañhetaṃ, atimaññasi nūna maṃ’’.
‘Well then, I shall go, O sweet-voiced myna bird. This is indeed a word of refusal; surely you despise me.’
Này Sāḷikā có tiếng nói ngọt ngào, thôi ta sẽ đi đây. Đây là hậu quả của sự từ chối, chắc chắn nàng khinh miệt ta.
627.
627.
627.
‘‘Na sirī taramānassa, mādhara suvapaṇḍita;
Idheva tāva acchassu, yāva rājāna dakkhasi †;
Sossi † saddaṃ mudiṅgānaṃ, ānubhāvañca rājino’’.
‘Fortune is not for one who hurries, Mādhara, wise parrot. Stay here for a while, until you see the king. You will hear the sound of drums and see the king’s power.’
Này Mādhara, con vẹt hiền trí, sự may mắn không đến với người vội vã. Hãy ở lại đây một lát, cho đến khi ngài thấy được đức vua; ngài sẽ nghe được tiếng trống mudiṅga, và (thấy được) uy lực của đức vua.
628.
628.
628.
‘‘Yo nu khvāyaṃ tibbo saddo, tirojanapade † suto;
Dhītā pañcālarājassa, osadhī viya vaṇṇinī;
Taṃ dassati videhānaṃ, so vivāho bhavissati’’.
‘Now this piercing sound, heard across the countryside, is for the daughter of the King of Pañcāla, radiant as a medicinal herb. He will give her to the Videhan; that will be the wedding.’
Tiếng động ồn ào này là gì vậy, được nghe thấy ở xứ khác? Con gái của đức vua Pañcāla, xinh đẹp như sao mai; vị ấy sẽ gả nàng cho vua Videha, đó sẽ là lễ cưới.
629.
629.
629.
‘‘Ediso mā † amittānaṃ, vivāho hotu mādhara;
Yathā pañcālarājassa, vedehena bhavissati’’.
‘May such a marriage befall my enemies, Mādhara, as will occur for the King of Pañcāla with the Videhan.’
Này Mādhara, mong rằng lễ cưới như thế này đừng xảy ra cho kẻ thù của chúng ta; giống như (lễ cưới) sẽ diễn ra giữa vua Pañcāla và vua Videha.
630.
630.
630.
‘‘Ānayitvāna vedehaṃ, pañcālānaṃ rathesabho;
Tato naṃ ghātayissati, nassa sakhī bhavissati’’.
‘Having brought Videha, the foremost of Pañcāla’s charioteers will then have him slain; he will not be his friend.’
Sau khi đã đưa vua Videha đến, vị chúa tể của xứ Pañcāla sau đó sẽ cho giết vị ấy, vị ấy sẽ không trở thành bạn hữu.
631.
631.
631.
‘‘Handa kho maṃ anujānāhi, rattiyo sattamattiyo;
Yāvāhaṃ sivirājassa, ārocemi mahesino;
Laddho ca me āvasatho, sāḷikāya upantikaṃ’’ †.
‘Well then, permit me for just seven nights, that I may inform the great sage, King Sivi. And I have obtained lodging near the myna bird.’
Thôi, xin hãy cho phép tôi đi trong vòng bảy đêm thôi; để tôi có thể báo cho đức vua Sivi, bậc đại sĩ. Và tôi đã có được chỗ ở, gần bên nàng Sāḷikā.
632.
632.
632.
‘‘Handa kho taṃ anujānāmi, rattiyo sattamattiyo;
Sace tvaṃ sattarattena, nāgacchasi mamantike;
Maññe okkantasattaṃ † maṃ, matāya āgamissasi’’.
‘Very well, I allow you seven nights. If you do not return to me within seven nights, I shall consider myself to have perished; you will return to find me dead.’
Thôi, ta cho phép ngươi đi trong vòng bảy đêm thôi. Nếu trong bảy đêm mà ngươi không trở lại với ta, ta nghĩ rằng mạng sống của ta đã rời khỏi, ngươi sẽ trở về khi ta đã chết.
633.
633.
633.
‘‘Tato ca kho so gantvāna, mādharo suvapaṇḍito;
Mahosadhassa akkhāsi, sāḷikāvacanaṃ idaṃ’’.
Then, having gone, Mādhara, the wise parrot, reported to Mahosadha these words of the myna bird.
Và sau đó, sau khi đã đi, Mādhara, con vẹt hiền trí, đã thuật lại cho Mahosadha lời nói này của Sāḷikā.
634.
634.
634.
‘‘Yasseva ghare bhuñjeyya bhogaṃ, tasseva atthaṃ puriso careyya’’;
‘‘Handāhaṃ gacchāmi pure janinda, pañcālarājassa puraṃ surammaṃ;
Nivesanāni māpetuṃ, vedehassa yasassino.
‘In whose house one enjoys possessions, for his welfare should a person act.’ ‘Well then, I shall go forth, O lord of men, to the beautiful city of the Pañcāla king, to prepare dwellings for the glorious Videha.’
Người nào hưởng thụ tài sản trong nhà của ai, người ấy nên hành động vì lợi ích của người đó. Thưa đức vua, thôi con đi trước đến kinh thành xinh đẹp của vua Pañcāla, để cho xây dựng các dinh thự cho đức vua Videha lừng danh.
635.
635.
635.
‘‘Nivesanāni māpetvā, vedehassa yasassino;
Yadā te pahiṇeyyāmi, tadā eyyāsi khattiya’’.
‘Having prepared dwellings for the glorious Videha, when I send word to you, then you shall come, O khattiya.’
Sau khi đã cho xây dựng các dinh thự cho đức vua Videha lừng danh, khi nào con gửi tin cho ngài, thưa bậc Sát-đế-lỵ, khi ấy ngài hãy đến.
636.
636.
636.
‘‘Tato ca pāyāsi pure mahosadho, pañcālarājassa puraṃ surammaṃ;
Nivesanāni māpetuṃ, vedehassa yasassino’’.
Then Mahosadha went forth to the delightful city of the King of Pañcāla, to prepare dwellings for the glorious Videha.
Và sau đó, Mahosadha đã khởi hành trước đến kinh thành xinh đẹp của vua Pañcāla, để cho xây dựng các dinh thự cho đức vua Videha lừng danh.
637.
637.
637.
‘‘Nivesanāni māpetvā, vedehassa yasassino;
Athassa pāhiṇī dūtaṃ, † vedehaṃ mithilaggahaṃ †;
Ehi dāni mahārāja, māpitaṃ te nivesanaṃ’’.
Having prepared dwellings for the glorious Videha, he then sent a messenger to Videha, the lord of Mithilā, saying: ‘Come now, great king, your dwelling has been prepared.’
Sau khi đã cho xây dựng các dinh thự cho đức vua Videha lừng danh, sau đó vị ấy đã gửi sứ giả đến vua Videha, chúa tể thành Mithilā: 'Tâu đại vương, bây giờ xin hãy đến, dinh thự của ngài đã được xây dựng xong.'
638.
638.
638.
‘‘Tato ca rājā pāyāsi, senāya caturaṅgiyā †;
Anantavāhanaṃ daṭṭhuṃ, phītaṃ kapiliyaṃ † puraṃ’’.
Then the king set out with his fourfold army to see Anantavāhana and the prosperous city of Kāmpilya.
Và sau đó, đức vua đã khởi hành cùng với bốn binh chủng, để thấy đoàn xe vô tận và kinh thành Kapila thịnh vượng.
639.
639.
639.
‘‘Tato ca kho so gantvāna, brahmadattassa pāhiṇi;
‘Āgato’smi mahārāja, tava pādāni vandituṃ.
Then, having gone there, he sent word to Brahmadatta: ‘I have come, great king, to venerate your feet.’
Và sau đó, sau khi đã đến, vị ấy đã gửi tin đến vua Brahmadatta: 'Tâu đại vương, tôi đã đến để đảnh lễ dưới chân ngài.'
640.
640.
640.
‘Dadāhi dāni me bhariyaṃ, nāriṃ sabbaṅgasobhiniṃ;
Suvaṇṇena paṭicchannaṃ, dāsīgaṇapurakkhataṃ’’’.
‘Give me my wife now, a woman beautiful in every limb, covered with gold, and escorted by a retinue of female servants.’
Bây giờ, xin hãy trao cho tôi người vợ, người phụ nữ xinh đẹp toàn diện, được trang sức bằng vàng, có đoàn nữ tỳ đi theo.
641.
641.
641.
‘‘Svāgataṃ teva † vedeha, atho te adurāgataṃ;
Nakkhattaṃyeva paripuccha, ahaṃ kaññaṃ dadāmi te;
Suvaṇṇena paṭicchannaṃ, dāsīgaṇapurakkhataṃ’’.
‘Welcome to you, Videha, and your coming is most welcome. Just inquire about the auspicious time, and I will give you the maiden, covered with gold and escorted by a retinue of female servants.’
Chào mừng ngài, hỡi vua Videha, và sự đến của ngài thật tốt lành. Xin hãy hỏi về giờ sao tốt, ta sẽ trao cho ngài thiếu nữ, được trang sức bằng vàng, có đoàn nữ tỳ đi theo.
642.
642.
642.
‘‘Tato ca rājā vedeho, nakkhattaṃ paripucchatha †;
Nakkhattaṃ paripucchitvā, brahmadattassa pāhiṇi.
Then King Videha inquired about the auspicious time; having inquired about the auspicious time, he sent word to Brahmadatta.
Và sau đó, vua Videha đã hỏi về giờ sao tốt. Sau khi đã hỏi về giờ sao tốt, vị ấy đã gửi tin đến vua Brahmadatta.
643.
643.
643.
‘‘Dadāhi dāni me bhariyaṃ, nāriṃ sabbaṅgasobhiniṃ;
Suvaṇṇena paṭicchannaṃ, dāsīgaṇapurakkhataṃ’’.
‘Give me my wife now, a woman beautiful in every limb, covered with gold, and escorted by a retinue of female servants.’
Bây giờ, xin hãy trao cho tôi người vợ, người phụ nữ xinh đẹp toàn diện, được trang sức bằng vàng, có đoàn nữ tỳ đi theo.
644.
644.
644.
‘‘Dadāmi dāni te bhariyaṃ, nāriṃ sabbaṅgasobhiniṃ;
Suvaṇṇena paṭicchannaṃ, dāsīgaṇapurakkhataṃ’’.
‘I now give you your wife, a woman beautiful in every limb, covered with gold, and escorted by a retinue of female servants.’
Bây giờ, ta trao cho ngài người vợ, người phụ nữ xinh đẹp toàn diện, được trang sức bằng vàng, có đoàn nữ tỳ đi theo.
645.
645.
645.
‘‘Hatthī assā rathā pattī, senā tiṭṭhanti vammitā †;
Ukkā padittā jhāyanti, kinnu maññanti paṇḍitā.
‘Elephants, horses, chariots, and foot soldiers—the army stands in armor. Blazing torches are burning. What do the wise ones think?’
Voi, ngựa, xe, và bộ binh, quân đội đang đứng trong áo giáp; các ngọn đuốc được thắp sáng đang cháy rực, các bậc hiền trí nghĩ sao đây?
646.
646.
646.
‘‘Hatthī assā rathā pattī, senā tiṭṭhanti vammitā †;
Ukkā padittā jhāyanti, kiṃ nu kāhanti † paṇḍita’’.
‘Elephants, horses, chariots, and foot soldiers—the army stands in armor. Blazing torches are burning. O wise one, what will you do now?’
Voi, ngựa, xe, và bộ binh, quân đội đang đứng trong áo giáp; các ngọn đuốc được thắp sáng đang cháy rực, hỡi bậc hiền trí, họ sẽ làm gì đây?
647.
647.
647.
‘‘Rakkhati taṃ mahārāja, cūḷaneyyo mahabbalo;
Paduṭṭho brahmadattena †, pāto taṃ ghātayissati’’.
‘The mighty Cūḷaneyya protects you, great king. But hostile Brahmadatta will have you slain at dawn.’
Tâu đại vương, Cūḷaneyya đại lực đang canh giữ ngài. Bị vua Brahmadatta xúi giục, vào lúc rạng đông, ông ta sẽ cho giết ngài.
648.
648.
648.
‘‘Ubbedhati me hadayaṃ, mukhañca parisussati;
Nibbutiṃ nādhigacchāmi, aggidaḍḍhova ātape.
‘My heart throbs and my mouth is parched. I find no peace, like one scorched by fire in the sun’s heat.’
Tim tôi run rẩy, và miệng tôi khô lại; tôi không tìm thấy sự an ổn, giống như người bị lửa đốt dưới trời nắng.
649.
649.
649.
‘‘Kammārānaṃ yathā ukkā, anto jhāyati no bahi;
Evampi hadayaṃ mayhaṃ, anto jhāyati no bahi’’.
‘As a blacksmith’s forge burns within but not without, so too my heart burns within but not without.’
Giống như lò rèn của những người thợ, cháy ở bên trong chứ không phải bên ngoài; trái tim của tôi cũng vậy, cháy ở bên trong chứ không phải bên ngoài.
650.
650.
650.
‘‘Pamatto mantanātīto, bhinnamantosi khattiya;
Idāni kho taṃ tāyantu, paṇḍitā mantino janā.
‘Heedless, you have gone beyond counsel; your plans are broken, O khattiya. Now indeed, let your wise counselors protect you!’
Thưa bậc Sát-đế-lỵ, ngài đã buông lung, vượt ngoài lời khuyên, kế hoạch của ngài đã bị phá vỡ. Bây giờ, hãy để những vị mưu sĩ hiền trí bảo vệ ngài.
651.
651.
651.
‘‘Akatvāmaccassa vacanaṃ, atthakāmahitesino;
Attapītirato rājā, migo kūṭeva ohito.
‘Not heeding the word of a minister who seeks his welfare and good, a king who delights in his own pleasure is like a deer caught in a snare.’
Không làm theo lời của vị cận thần, người mong muốn lợi ích và hạnh phúc; đức vua, người vui thích trong sự tự mãn của mình, giống như con nai bị sa vào bẫy.
652.
652.
652.
‘‘Yathāpi maccho baḷisaṃ, vaṅkaṃ maṃsena chāditaṃ;
Āmagiddho na jānāti, maccho maraṇamattano.
‘Just as a fish, greedy for bait, does not perceive the bent hook concealed by meat, that fish does not know its own death.’
Cũng như con cá (thấy) lưỡi câu, cong và được bọc bằng thịt; vì tham mồi, con cá không biết đến cái chết của chính nó.
653.
653.
653.
‘‘Evameva tuvaṃ rāja, cūḷaneyyassa dhītaraṃ;
Kāmagiddho na jānāsi, macchova maraṇamattano.
‘So too, O king, greedy with sensual desire for Cūḷaneyya’s daughter, you do not recognize your own death, just like that fish.’
Cũng như thế ấy, tâu đức vua, (vì) con gái của Cūḷaneyya; do tham đắm dục lạc, ngài không biết, giống như con cá, cái chết của chính mình.
654.
654.
654.
‘‘Sace gacchasi pañcālaṃ, khippamattaṃ jahissasi;
Migaṃ panthānubandhaṃva, mahantaṃ bhayamessati.
‘If you go to Pañcāla, you will quickly lose your life. Great fear will come upon you, like a deer following a track.’
Nếu ngài đi đến xứ Pañcāla, ngài sẽ nhanh chóng từ bỏ mạng sống. Giống như con nai bị theo dấu trên đường, nỗi sợ hãi lớn lao sẽ đến với ngài.
655.
655.
655.
‘‘Anariyarūpo puriso janinda, ahīva ucchaṅgagato ḍaseyya;
Na tena mittiṃ kayirātha dhīro †, dukkho have kāpurisena † saṅgamo.
‘A man of ignoble nature, O lord of men, might bite like a snake taken into one’s lap. A wise person should not form a friendship with him, for association with a base person is indeed painful.’
Thưa đức vua, người có vẻ không cao thượng, giống như con rắn nằm trong lòng rồi sẽ cắn. Người trí không nên kết bạn với kẻ ấy. Thật vậy, giao du với kẻ xấu là đau khổ.
656.
656.
656.
‘‘Yadeva † jaññā purisaṃ † janinda, sīlavāyaṃ bahussuto;
Teneva mittiṃ kayirātha dhīro, sukho have sappurisena saṅgamo’’.
‘Whatever man you might know, O lord of men, to be virtuous and learned, with him a wise person should form a friendship, for association with a good person is indeed a source of happiness.’
Thưa đức vua, khi biết được người nào đó là người có giới hạnh, là bậc đa văn, người trí nên kết bạn với chính người ấy. Thật vậy, giao du với bậc chân nhân là hạnh phúc.
657.
657.
657.
‘‘Bālo tuvaṃ eḷamūgosi rāja, yo uttamatthāni mayī lapittho;
Kimevahaṃ naṅgalakoṭivaḍḍho, atthāni jānāmi † yathāpi aññe.
‘You are a fool, O king, deaf and dumb, who has spoken to me of the highest matters. How could I, raised at the tip of a plough, know of such matters as others do?’
Tâu đại vương, ngài thật khờ dại và câm như cừu, khi đã nói với tôi những điều cao siêu. Làm sao tôi, kẻ lớn lên bên đầu lưỡi cày, lại có thể biết được những điều lợi ích như những người khác?
658.
658.
658.
‘‘Imaṃ gale gahetvāna, nāsetha vijitā mama;
Yo me ratanalābhassa, antarāyāya bhāsati’’.
‘Seize this man by the neck and drive him from my kingdom! He who speaks to create an obstacle to my gaining of the jewel.’
Hãy nắm cổ kẻ này, hãy đuổi hắn ra khỏi lãnh thổ của ta. Kẻ nào đối với việc ta được châu báu, lại nói lời gây trở ngại.
659.
659.
659.
‘‘Mahosadha atītena, nānuvijjhanti paṇḍitā;
Kiṃ maṃ assaṃva sambandhaṃ, patodeneva vijjhasi.
‘Mahosadha, the wise do not brood over the past. Why do you keep piercing me with a goad, as if I were a harnessed horse?’
Này Mahosadha, về việc đã qua, các bậc hiền trí không đâm chọc. Tại sao ngài lại đâm chọc tôi như con ngựa đã bị trói buộc bằng cây gậy nhọn?
660.
660.
660.
‘‘Sace passasi mokkhaṃ vā, khemaṃ vā pana passasi;
Teneva maṃ anusāsa, kiṃ atītena vijjhasi’’.
‘If you see a way of release, or if you see a path to safety, then instruct me with that. Why do you pierce me with what is past?’
Nếu ngài thấy được sự giải thoát, hay thấy được sự an ổn, thì hãy chỉ dạy cho tôi bằng phương cách ấy. Tại sao lại đâm chọc bằng chuyện đã qua?
661.
661.
661.
‘‘Atītaṃ mānusaṃ kammaṃ, dukkaraṃ durabhisambhavaṃ;
Na taṃ sakkomi mocetuṃ, tvaṃ pajānassu † khattiya.
‘A past human deed is difficult to perform and hard to overcome. I am not able to release you from it; understand this, O khattiya.’
Hành vi của con người đã qua, là việc khó làm, khó đạt được. Tôi không thể giải thoát cho ngài khỏi việc ấy. Tâu bậc Sát-đế-lỵ, ngài hãy tự biết lấy.
662.
662.
662.
‘‘Santi vehāyasā † nāgā, iddhimanto yasassino;
Tepi ādāya gaccheyyuṃ, yassa honti tathāvidhā.
‘There are sky-faring nāgas, powerful and glorious; even they could carry away one for whom such things are possible.’
Có những loài rồng bay trên hư không, có thần thông, có danh tiếng. Chúng cũng có thể mang đi người nào có được những loài như vậy.
663.
663.
663.
‘‘Santi vehāyasā assā, iddhimanto yasassino;
Tepi ādāya gaccheyyuṃ, yassa honti tathāvidhā.
‘There are sky-faring horses, powerful and glorious; even they could carry away one for whom such things are possible.’
Có những loài ngựa bay trên hư không, có thần thông, có danh tiếng. Chúng cũng có thể mang đi người nào có được những loài như vậy.
664.
664.
664.
‘‘Santi vehāyasā pakkhī, iddhimanto yasassino;
Tepi ādāya gaccheyyuṃ, yassa honti tathāvidhā.
‘There are sky-faring birds, powerful and glorious; even they could carry away one for whom such things are possible.’
Có những loài chim bay trên hư không, có thần thông, có danh tiếng. Chúng cũng có thể mang đi người nào có được những loài như vậy.
665.
665.
665.
‘‘Santi vehāyasā yakkhā, iddhimanto yasassino;
Tepi ādāya gaccheyyuṃ, yassa honti tathāvidhā.
‘There are sky-faring yakkhas, powerful and glorious; even they could carry away one for whom such things are possible.’
Có những loài dạ-xoa bay trên hư không, có thần thông, có danh tiếng. Chúng cũng có thể mang đi người nào có được những loài như vậy.
666.
666.
666.
‘‘Atītaṃ mānusaṃ kammaṃ, dukkaraṃ durabhisambhavaṃ;
Na taṃ sakkomi mocetuṃ, antalikkhena khattiya’’.
‘A past human deed is difficult to perform and hard to overcome. I am not able to release you through the sky, O khattiya.’
Hành vi của con người đã qua, là việc khó làm, khó đạt được. Tôi không thể giải thoát cho ngài khỏi việc ấy bằng đường hư không, tâu bậc Sát-đế-lỵ.
667.
667.
667.
‘‘Atīradassī puriso, mahante udakaṇṇave;
Yattha so labhate gādhaṃ †, tattha so vindate sukhaṃ.
‘A person unable to see the further shore in the great ocean finds happiness wherever he can get a foothold.’
Người không thấy bờ, ở trong đại dương mênh mông. Nơi nào người ấy tìm được chỗ cạn, nơi ấy người ấy tìm thấy được an lạc.
668.
668.
668.
‘‘Evaṃ amhañca rañño ca, tvaṃ patiṭṭhā mahosadha;
Tvaṃ nosi mantinaṃ seṭṭho, amhe dukkhā pamocaya’’.
‘Even so for us and for the king, you are our support, O Mahosadha. You are the best of our counselors; release us from this suffering!’
Cũng vậy, đối với chúng tôi và đức vua, ngài là chỗ nương tựa, hỡi Mahosadha. Ngài là vị mưu sĩ bậc nhất của chúng tôi. Xin hãy giải thoát chúng tôi khỏi đau khổ.
669.
669.
669.
‘‘Atītaṃ mānusaṃ kammaṃ, dukkaraṃ durabhisambhavaṃ;
Na taṃ sakkomi mocetuṃ, tvaṃ pajānassu senaka’’.
‘A past human deed is difficult to perform and hard to overcome. I am not able to release you from it; understand this, Senaka.’
Hành vi của con người đã qua, là việc khó làm, khó đạt được. Tôi không thể giải thoát cho ngài khỏi việc ấy. Này Senaka, ngài hãy tự biết lấy.
670.
670.
670.
‘‘Suṇohi metaṃ † vacanaṃ, passa senaṃ † mahabbhayaṃ;
Senakaṃ dāni pucchāmi, kiṃ kiccaṃ idha maññasi’’.
‘Listen to my word, behold this army, this great terror. Now I ask Senaka: what do you think should be done here?’
Hãy nghe lời này của ta, hãy nhìn đạo quân đáng kinh sợ. Bây giờ ta hỏi Senaka, ngài nghĩ nên làm gì ở đây?
671.
671.
671.
‘‘Aggiṃ vā dvārato dema, gaṇhāmase vikantanaṃ †;
Aññamaññaṃ vadhitvāna, khippaṃ hissāma jīvitaṃ;
Mā no rājā brahmadatto, ciraṃ dukkhena mārayi’’.
‘Let us either set fire to the gate or take up swords. Slaying one another, let us quickly give up our lives, so that King Brahmadatta does not kill us slowly with suffering.’
Chúng ta hãy đốt lửa ở cửa, hãy cầm lấy gươm. Sau khi giết lẫn nhau, chúng ta hãy nhanh chóng từ bỏ mạng sống. Để vua Brahmadatta không giết chúng ta trong đau khổ kéo dài.
672.
672.
672.
‘‘Suṇohi metaṃ vacanaṃ, passa senaṃ mahabbhayaṃ;
Pukkusaṃ dāni pucchāmi, kiṃ kiccaṃ idha maññasi’’.
‘Listen to my word, behold this army, this great terror. Now I ask Pukkusa: what do you think should be done here?’
Hãy nghe lời này của ta, hãy nhìn đạo quân đáng kinh sợ. Bây giờ ta hỏi Pukkusa, ngài nghĩ nên làm gì ở đây?
673.
673.
673.
‘‘Visaṃ khāditvā miyyāma, khippaṃ hissāma jīvitaṃ;
Mā no rājā brahmadatto, ciraṃ dukkhena mārayi’’.
‘Let us eat poison and die; let us quickly give up our lives, so that King Brahmadatta does not kill us slowly with suffering.’
Chúng ta hãy uống thuốc độc mà chết, hãy nhanh chóng từ bỏ mạng sống. Để vua Brahmadatta không giết chúng ta trong đau khổ kéo dài.
674.
674.
674.
‘‘Suṇohi metaṃ vacanaṃ, passa senaṃ mahabbhayaṃ;
Kāmindaṃ † dāni pucchāmi, kiṃ kiccaṃ idha maññasi’’.
‘Listen to my word, behold this army, this great terror. Now I ask Kāminda: what do you think should be done here?’
Hãy nghe lời này của ta, hãy nhìn đạo quân đáng kinh sợ. Bây giờ ta hỏi Kāminda, ngài nghĩ nên làm gì ở đây?
675.
675.
675.
‘‘Rajjuyā bajjha miyyāma, papātā papatāmase †;
Mā no rājā brahmadatto, ciraṃ dukkhena mārayi’’.
‘Let us hang ourselves with a rope and die, or let us hurl ourselves from a cliff, so that King Brahmadatta does not kill us slowly with suffering.’
Chúng ta hãy thắt cổ bằng dây mà chết, hãy gieo mình xuống vực thẳm. Để vua Brahmadatta không giết chúng ta trong đau khổ kéo dài.
676.
676.
676.
‘‘Suṇohi metaṃ vacanaṃ, passa senaṃ mahabbhayaṃ;
Devindaṃ dāni pucchāmi, kiṃ kiccaṃ idha maññasi’’.
‘Listen to my word, behold this army, this great terror. Now I ask Devinda: what do you think should be done here?’
Hãy nghe lời này của ta, hãy nhìn đạo quân đáng kinh sợ. Bây giờ ta hỏi Devinda, ngài nghĩ nên làm gì ở đây?
677.
677.
677.
‘‘Aggiṃ vā dvārato dema, gaṇhāmase vikantanaṃ;
Aññamaññaṃ vadhitvāna, khippaṃ hissāma jīvitaṃ;
Na no sakkoti mocetuṃ, sukheneva mahosadho’’.
‘Let us either set fire to the gate or take up swords. Slaying one another, let us quickly give up our lives. Mahosadha cannot free us easily.’
Chúng ta hãy đốt lửa ở cửa, hãy cầm lấy gươm. Sau khi giết lẫn nhau, chúng ta hãy nhanh chóng từ bỏ mạng sống. Ngay cả Mahosadha cũng không thể giải thoát chúng ta một cách dễ dàng.
678.
678.
678.
‘‘Yathā kadalino sāraṃ, anvesaṃ nādhigacchati;
Evaṃ anvesamānā naṃ, pañhaṃ najjhagamāmase.
‘Just as one seeking for pith in a banana tree does not find any, so, though we seek his counsel, we cannot fathom this problem.’
Giống như người tìm kiếm lõi cây chuối mà không tìm thấy, cũng vậy, chúng ta tìm kiếm mà không tìm ra được lời giải đáp.
679.
679.
679.
‘‘Yathā simbalino sāraṃ, anvesaṃ nādhigacchati;
Evaṃ anvesamānā naṃ, pañhaṃ najjhagamāmase.
‘Just as one seeking for heartwood in a silk-cotton tree does not find any, so, though we seek his counsel, we cannot fathom this problem.’
Giống như người tìm kiếm lõi cây gòn mà không tìm thấy, cũng vậy, chúng ta tìm kiếm mà không tìm ra được lời giải đáp.
680.
680.
680.
‘‘Adese vata no vuṭṭhaṃ, kuñjarānaṃvanodake;
Sakāse dummanussānaṃ, bālānaṃ avijānataṃ.
‘Alas, we have been living in the wrong place, like elephants in a waterless forest, in the company of dejected, foolish, and ignorant men.’
Than ôi, chúng ta đã sống ở nơi không thích hợp, như những con voi ở trong vùng nước rừng, ở gần những kẻ ác tâm, những kẻ ngu si, không hiểu biết.
681.
681.
681.
‘‘Ubbedhati me hadayaṃ, mukhañca parisussati;
Nibbutiṃ nādhigacchāmi, aggidaḍḍhova ātape.
‘My heart throbs and my mouth is parched. I find no peace, like one scorched by fire in the sun’s heat.’
Tim tôi run rẩy, và miệng tôi khô héo. Tôi không tìm thấy sự an tịnh, giống như người bị lửa đốt dưới trời nắng.
682.
682.
682.
‘‘Kammārānaṃ yathā ukkā, anto jhāyati no bahi;
Evampi hadayaṃ mayhaṃ, anto jhāyati no bahi’’.
‘As a blacksmith’s firebrand burns within but not without, so too my heart burns within but not without.’
Giống như lò rèn của thợ rèn, cháy ở bên trong chứ không phải bên ngoài. Cũng vậy, trái tim của tôi, cháy ở bên trong chứ không phải bên ngoài.
683.
683.
683.
‘‘Tato so paṇḍito dhīro, atthadassī mahosadho;
Vedehaṃ dukkhitaṃ disvā, idaṃ vacanamabravi.
Then that wise, firm, and far-seeing Mahosadha, seeing Vedeha afflicted, spoke this word:
Khi ấy, bậc hiền trí, bậc minh triết ấy, Mahosadha, người thấy rõ lợi ích, thấy vua Vedeha đang đau khổ, đã nói lên lời này.
684.
684.
684.
‘Mā tvaṃ bhāyi mahārāja, mā tvaṃ bhāyi rathesabha;
Ahaṃ taṃ mocayissāmi, rāhuggahaṃva † candimaṃ.
‘Do not fear, great king! Do not fear, O bull among charioteers! I will free you as the moon is freed from Rāhu’s grasp.’
Tâu đại vương, xin ngài đừng sợ hãi, tâu bậc Ngưu vương trên chiến xa, xin ngài đừng sợ hãi. Thần sẽ giải thoát cho ngài, giống như mặt trăng thoát khỏi sự che khuất của Rāhu.
685.
685.
685.
‘Mā tvaṃ bhāyi mahārāja, mā tvaṃ bhāyi rathesabha;
Ahaṃ taṃ mocayissāmi, rāhuggahaṃva sūriyaṃ.
‘Do not fear, great king! Do not fear, O bull among charioteers! I will free you as the sun is freed from Rāhu’s grasp.’
‘Tâu Đại Vương, xin Ngài đừng sợ hãi, tâu bậc chiến sĩ xa, xin Ngài đừng sợ hãi. Thần sẽ giải thoát cho Ngài, giống như mặt trời thoát khỏi La Hầu.
686.
686.
686.
‘‘Mā tvaṃ bhāyi mahārāja, mā tvaṃ bhāyi rathesabha;
Ahaṃ taṃ mocayissāmi, paṅke sannaṃva kuñjaraṃ.
‘Do not fear, great king! Do not fear, O bull among charioteers! I will free you like an elephant sunk in the mud.’
‘‘Tâu Đại Vương, xin Ngài đừng sợ hãi, tâu bậc chiến sĩ xa, xin Ngài đừng sợ hãi. Thần sẽ giải thoát cho Ngài, giống như voi chúa bị sa lầy trong bùn.
687.
687.
687.
‘Mā tvaṃ bhāyi mahārāja, mā tvaṃ bhāyi rathesabha;
Ahaṃ taṃ mocayissāmi, peḷābaddhaṃva pannagaṃ.
‘Do not fear, great king! Do not fear, O bull among charioteers! I will free you like a snake confined in a basket.’
‘Tâu Đại Vương, xin Ngài đừng sợ hãi, tâu bậc chiến sĩ xa, xin Ngài đừng sợ hãi. Thần sẽ giải thoát cho Ngài, giống như con rắn bị nhốt trong giỏ.
688.
688.
688.
† ‘Mā tvaṃ bhāyi mahārāja, mā tvaṃ bhāyi rathesabha;
Ahaṃ taṃ mocayissāmi, pakkhiṃ baddhaṃva pañjare †.
‘Do not fear, great king! Do not fear, O bull among charioteers! I will free you like a bird bound in a cage.’
‘Tâu Đại Vương, xin Ngài đừng sợ hãi, tâu bậc chiến sĩ xa, xin Ngài đừng sợ hãi. Thần sẽ giải thoát cho Ngài, giống như con chim bị nhốt trong lồng.
689.
689.
689.
‘Mā tvaṃ bhāyi mahārāja, mā tvaṃ bhāyi rathesabha;
Ahaṃ taṃ mocayissāmi, macche jālagateriva.
‘Do not fear, great king! Do not fear, O bull among charioteers! I will free you like fish caught in a net.’
‘Tâu Đại Vương, xin Ngài đừng sợ hãi, tâu bậc chiến sĩ xa, xin Ngài đừng sợ hãi. Thần sẽ giải thoát cho Ngài, giống như con cá bị mắc trong lưới.
690.
690.
690.
‘Mā tvaṃ bhāyi mahārāja, mā tvaṃ bhāyi rathesabha;
Ahaṃ taṃ mocayissāmi, sayoggabalavāhanaṃ.
‘Do not fear, great king! Do not fear, O bull among charioteers! I will free you along with your yoked forces and vehicles.’
‘Tâu Đại Vương, xin Ngài đừng sợ hãi, tâu bậc chiến sĩ xa, xin Ngài đừng sợ hãi. Thần sẽ giải thoát cho Ngài, cùng với đoàn tùy tùng, quân đội, và xe cộ.
691.
691.
691.
‘Mā tvaṃ bhāyi mahārāja, mā tvaṃ bhāyi rathesabha;
Pañcālaṃ vāhayissāmi †, kākasenaṃva leḍḍunā.
‘Do not fear, great king! Do not fear, O bull among charioteers! I will drive away the Pañcāla king as one drives away a flock of crows with a clod of earth.’
‘Tâu Đại Vương, xin Ngài đừng sợ hãi, tâu bậc chiến sĩ xa, xin Ngài đừng sợ hãi. Thần sẽ xua đuổi quân Pañcāla, giống như dùng cục đất xua đuổi đàn quạ.
692.
692.
692.
‘Adu paññā kimatthiyā, amacco vāpi tādiso;
Yo taṃ sambādhapakkhandaṃ †, dukkhā na parimocaye’’’.
‘For what use is wisdom, or a minister such as I, if he cannot completely free you from suffering when you have fallen into such distress?’
‘Trí tuệ này để làm gì, hay một vị quan đại thần như thế để làm gì, người mà khi Ngài rơi vào cảnh khốn cùng, lại không giải thoát Ngài khỏi khổ đau?’
693.
693.
693.
‘‘Etha māṇavā uṭṭhetha, mukhaṃ sodhetha sandhino;
Vedeho sahamaccehi, umaṅgena † gamissati’’.
‘Come, young men, arise! Clear the opening of the tunnel. Vedeha with his ministers will go by way of the tunnel.’
‘‘Này các chàng trai, hãy đến, hãy đứng dậy, hãy dọn sạch cửa đường hầm. Vua Vedeha cùng với các quan đại thần sẽ đi qua đường hầm’’.
694.
694.
694.
‘‘Tassa taṃ vacanaṃ sutvā, paṇḍitassānucārino †;
Umaṅgadvāraṃ vivariṃsu, yantayutte ca aggaḷe’’.
Having heard that word of the wise one, his followers opened the tunnel door and its mechanically-fitted bolts.
‘‘Sau khi nghe lời nói ấy của bậc hiền trí, những người tùy tùng của ngài đã mở cửa đường hầm, và các then cài được gắn máy móc’’.
695.
695.
695.
‘‘Purato senako yāti, pacchato ca mahosadho;
Majjhe ca rājā vedeho, amaccaparivārito’’.
Senaka went in front and Mahosadha behind; in the middle was King Vedeha, surrounded by his ministers.
‘‘Senaka đi phía trước, và Mahosadha ở phía sau. Ở giữa là vua Vedeha, được các quan đại thần vây quanh’’.
696.
696.
696.
‘‘Umaṅgā nikkhamitvāna, vedeho nāvamāruhi;
Abhirūḷhañca taṃ ñatvā †, anusāsi mahosadho.
Having come out from the tunnel, Vedeha boarded a ship. And when Mahosadha knew he had boarded, he instructed him:
‘‘Sau khi ra khỏi đường hầm, vua Vedeha đã lên thuyền. Và biết rằng ngài đã lên thuyền, Mahosadha đã chỉ dạy.
697.
697.
697.
‘Ayaṃ te sasuro deva, ayaṃ sassu janādhipa;
Yathā mātu paṭipatti, evaṃ te hotu sassuyā.
‘Here, Your Majesty, is your father-in-law; here, O lord of men, is your mother-in-law. Let your conduct toward your mother-in-law be as your conduct toward your own mother.’
‘Tâu Thiên tử, đây là nhạc phụ của Ngài, tâu bậc chúa tể của dân, đây là nhạc mẫu của Ngài. Sự đối xử đối với mẹ như thế nào, thì đối với nhạc mẫu của Ngài cũng hãy như vậy.
698.
698.
698.
‘Yathāpi niyako bhātā, saudariyo ekamātuko;
Evaṃ pañcālacando te, dayitabbo rathesabha.
‘Just as one’s own uterine brother, born of the same mother, should be cherished, so too, O bull among charioteers, should Pañcālacanda be cherished by you.’
‘Cũng giống như người anh em ruột thịt, cùng một mẹ sinh ra, thì Pañcālacanda đối với Ngài cũng cần được thương yêu như vậy, tâu bậc chiến sĩ xa.
699.
699.
699.
‘Ayaṃ pañcālacandī te, rājaputtī abhicchitā †;
Kāmaṃ karohi te tāya, bhariyā te rathesabha’’’.
‘Here is Pañcālacandī, the princess you desired. Do with her as you wish; she is your wife, O bull among charioteers.’
‘Đây là Pañcālacandī của Ngài, vị công chúa được mong ước. Hãy làm theo ý muốn của Ngài với nàng, nàng là vợ của Ngài, tâu bậc chiến sĩ xa’’’.
700.
700.
700.
‘‘Āruyha nāvaṃ taramāno, kinnu tīramhi tiṭṭhasi;
Kicchā muttāmha dukkhato, yāma dāni mahosadha’’.
‘Having boarded the ship to cross over, why do you stand on the shore? With difficulty we have been freed from suffering. Let us go now, Mahosadha!’
‘‘Đã lên thuyền và đang đi qua, tại sao ngươi lại đứng trên bờ? Chúng ta đã khó khăn thoát khỏi khổ đau, bây giờ chúng ta hãy đi, hỡi Mahosadha’’.
701.
701.
701.
‘‘Nesa dhammo mahārāja, yohaṃ senāya nāyako;
Senaṅgaṃ parihāpetvā, attānaṃ parimocaye.
‘This is not the Dhamma, great king, that I, the leader of the army, should save myself by abandoning a division of the army.’
‘‘Tâu Đại Vương, đây không phải là chánh pháp, rằng thần, người lãnh đạo quân đội, lại từ bỏ một bộ phận quân đội để tự giải thoát cho bản thân.
702.
702.
702.
‘‘Nivesanamhi te deva, senaṅgaṃ parihāpitaṃ;
Taṃ dinnaṃ brahmadattena, ānayissaṃ rathesabha’’.
‘O king, a division of the army has been left behind in your residence, the one given by Brahmadatta. I shall bring it back, O bull among charioteers.’
‘‘Tâu Thiên tử, trong nơi ở của Ngài, một bộ phận quân đội đã bị bỏ lại. Thứ đã được Brahmadatta ban cho, thần sẽ mang về, tâu bậc chiến sĩ xa’’.
703.
703.
703.
‘‘Appaseno mahāsenaṃ, kathaṃ viggayha † ṭhassasi;
Dubbalo balavantena, vihaññissasi paṇḍita’’.
‘With a small army against a large army, how will you stand in battle? Weak against the strong, you will be destroyed, O wise one.’
‘‘Với quân đội nhỏ bé, làm sao ngươi có thể đứng vững và chiến đấu chống lại quân đội hùng mạnh? Kẻ yếu chống lại người mạnh, ngươi sẽ bị tiêu diệt, hỡi bậc hiền trí’’.
704.
704.
704.
‘‘Appasenopi ce mantī, mahāsenaṃ amantinaṃ;
Jināti rājā rājāno, ādiccovudayaṃ tamaṃ’’.
‘A wise king, even with a small army, conquers a king with a large army but without counsel, just as the rising sun conquers the darkness.’
‘‘Dù quân đội nhỏ bé nhưng nếu có mưu sĩ, vẫn có thể chiến thắng quân đội hùng mạnh không có mưu sĩ, một vị vua chiến thắng các vị vua, giống như mặt trời mọc chiến thắng bóng tối’’.
705.
705.
705.
‘‘Susukhaṃ vata saṃvāso, paṇḍitehīti senaka;
Pakkhīva pañjare baddhe, macche jālagateriva;
Amittahatthattagate †, mocayī no mahosadho’’.
‘Very happy indeed is association with the wise, O Senaka! Like birds bound in a cage, or like fish caught in a net, when we had fallen into the hands of our enemies, Mahosadha freed us.’
‘‘Hỡi Senaka, sống chung với bậc hiền trí thật là hạnh phúc. Giống như con chim bị nhốt trong lồng, giống như con cá bị mắc trong lưới, khi chúng ta đã rơi vào tay kẻ thù, Mahosadha đã giải thoát cho chúng ta’’.
706.
706.
706.
‘‘Evametaṃ † mahārāja, paṇḍitā hi sukhāvahā;
Pakkhīva pañjare baddhe, macche jālagateriva;
Amittahatthattagate, mocayī no mahosadho’’.
‘Thus it is, great king, for the wise indeed bring happiness. Like birds bound in a cage, or like fish caught in a net, when we had fallen into the hands of our enemies, Mahosadha released us.’
‘‘Tâu Đại Vương, đúng là như vậy. Thật vậy, bậc hiền trí mang lại hạnh phúc. Giống như con chim bị nhốt trong lồng, giống như con cá bị mắc trong lưới, khi chúng ta đã rơi vào tay kẻ thù, Mahosadha đã giải thoát cho chúng ta’’.
707.
707.
707.
‘‘Rakkhitvā kasiṇaṃ rattiṃ, cūḷaneyyo mahabbalo;
Udentaṃ aruṇuggasmiṃ, upakāriṃ upāgami.
‘Having guarded for the entire night, the mighty Cūḷaneyya, at the rising of the dawn, approached his benefactor.’
‘‘Sau khi canh gác suốt cả đêm, Cūḷaneyya, người rất hùng mạnh, vào lúc bình minh ló dạng, đã tiến đến doanh trại.
708.
708.
708.
‘‘Āruyha pavaraṃ nāgaṃ, balavantaṃ saṭṭhihāyanaṃ;
Rājā avoca pañcālo, cūḷaneyyo mahabbalo.
‘Having mounted the excellent elephant, strong and sixty years old, the Pañcāla king, the mighty Cūḷaneyya, spoke.’
‘‘Sau khi cưỡi lên con voi chúa ưu hạng, mạnh mẽ, sáu mươi tuổi, vua Pañcāla, Cūḷaneyya, người rất hùng mạnh, đã nói.
709.
709.
709.
‘‘Sannaddho maṇivammena †, saramādāya pāṇinā;
Pesiye ajjhabhāsittha, puthugumbe samāgate.
‘Armored in jeweled mail, taking an arrow in his hand, he addressed his attendants who were gathered in a great throng.’
‘‘Mặc áo giáp bằng ngọc, tay cầm lấy mũi tên, ngài đã nói với các sứ giả đã tụ tập thành đám đông.
710.
710.
710.
‘‘Hatthārohe anīkaṭṭhe, rathike pattikārake;
Upāsanamhi katahatthe, vālavedhe samāgate’’.
‘(He addressed the) elephant-riders, vanguard soldiers, charioteers, and infantry; those with practiced hands in archery, hair-splitting archers who were assembled.’
‘‘(Nói với) những người quản tượng, những người chỉ huy, những người đánh xe, những người lính bộ, những người thiện xạ, những người bắn xuyên sợi lông đã tụ tập’’.
711.
711.
711.
‘‘Pesetha kuñjare dantī, balavante saṭṭhihāyane;
Maddantu kuñjarā nagaraṃ, vedehena sumāpitaṃ.
‘Send forth the tusked elephants, strong and sixty years old; let the elephants crush the city well-built by Vedeha.’
‘‘Hãy phái đi những con voi có ngà, mạnh mẽ, sáu mươi tuổi. Hãy để những con voi giày xéo thành phố được vua Vedeha xây dựng tốt đẹp.
712.
712.
712.
‘‘Vacchadantamukhā setā, tikkhaggā aṭṭhivedhino;
Paṇunnā dhanuvegena, sampatantutarītarā.
‘White arrows with points like a calf’s tooth, sharp-tipped, bone-piercing; propelled by the bow’s force, they fly ever so swiftly.’
‘‘(Những mũi tên) màu trắng, có đầu nhọn như răng bê, sắc bén, xuyên thấu xương. Được thúc đẩy bởi lực của cây cung, hãy để chúng bay đi thật nhanh.
713.
713.
713.
‘‘Māṇavā vammino sūrā, citradaṇḍayutāvudhā;
Pakkhandino mahānāgā, hatthīnaṃ hontu sammukhā.
‘Let the young warriors, armored heroes, with decorated bows and weapons, great champions, rush forward to face the elephants.’
‘‘Những chàng trai dũng cảm mặc áo giáp, với gậy và vũ khí được trang trí, xông tới như những con voi lớn, hãy để họ ở phía trước những con voi.
714.
714.
714.
‘‘Sattiyo teladhotāyo, accimantā † pabhassarā;
Vijjotamānā tiṭṭhantu, sataraṃsīva † tārakā.
‘Let the spears, washed with oil, flaming and radiant, stand gleaming like stars with a hundred rays.’
‘‘Những ngọn giáo, được rửa trong dầu, rực lửa và sáng chói, hãy để chúng đứng đó chiếu sáng, giống như những ngôi sao có trăm tia sáng.
715.
715.
715.
‘‘Āvudhabalavantānaṃ, guṇikāyūradhārinaṃ;
Etādisānaṃ yodhānaṃ, saṅgāme apalāyinaṃ;
Vedeho kuto muccissati, sace pakkhīva kāhiti.
‘From such warriors as these—strong in arms, wearing armor, and never fleeing from battle—how will Vedeha escape, even if he could fly away like a bird?’
Làm sao Vedeha có thể thoát khỏi những chiến binh như thế, những người mạnh mẽ về vũ khí, mang giáp trụ bằng da, không chạy trốn trong trận chiến, cho dù vị ấy có thể trở thành như loài chim?
716.
716.
716.
‘‘Tiṃsa me purisanāvutyo, sabbevekekaniccitā;
Yesaṃ samaṃ na passāmi, kevalaṃ mahimaṃ caraṃ.
‘I have thirty champions, all of single, firm resolve. I see no equal to them wandering this entire earth.’
Ta có ba mươi đội quân, tất cả đều được tuyển chọn từng người một. Ta không thấy ai sánh bằng họ, khi đi khắp quả đất này.
717.
717.
717.
‘‘Nāgā ca kappitā dantī, balavanto saṭṭhihāyanā;
Yesaṃ khandhesu sobhanti, kumārā cārudassanā;
‘And there are caparisoned, tusked elephants, mighty and sixty years old, upon whose shoulders shine princes of lovely appearance.’
Và những con voi có ngà được trang bị đầy đủ, mạnh mẽ, sáu mươi tuổi; trên lưng chúng, các vương tử có dung mạo đáng yêu đang tỏa sáng.
718.
718.
718.
‘‘Pītālaṅkārā pītavasanā, pītuttaranivāsanā;
Nāgakhandhesu sobhanti, devaputtāva nandane.
‘With yellow ornaments, yellow garments, and yellow upper and lower robes, they shine on the elephants’ shoulders like sons of gods in the Nandana grove.’
Với trang sức màu vàng, y phục màu vàng, thượng y và hạ y màu vàng, họ tỏa sáng trên lưng voi, giống như các thiên tử ở vườn Nandana.
719.
719.
719.
‘‘Pāṭhīnavaṇṇā nettiṃsā, teladhotā pabhassarā;
Niṭṭhitā naradhīrehi †, samadhārā sunissitā.
‘Swords the color of the Pāṭhīna fish, oiled and radiant, wrought by heroic men, with even edges, well-sharpened.’
Những thanh gươm có màu sắc của cá pāṭhīna, được rửa bằng dầu, sáng chói; được hoàn thiện bởi những người anh hùng, có lưỡi gươm đồng đều, được mài sắc bén.
720.
720.
720.
‘‘Vellālino vītamalā, sikkāyasamayā daḷhā;
Gahitā balavantehi, suppahārappahāribhi.
‘Spears, stainless, made of tempered iron, and sturdy, are grasped by strong men, skilled at striking mighty blows.’
Những cây cung cong, không tì vết, làm bằng thép tôi luyện, vững chắc; được nắm giữ bởi những người mạnh mẽ, bởi những người có thể tung ra những đòn tấn công mãnh liệt.
721.
721.
721.
‘‘Suvaṇṇatharusampannā, lohitakacchupadhāritā;
Vivattamānā sobhanti, vijjuvabbhaghanantare.
‘Endowed with golden hilts, held in red sheaths, they shine as they whirl, like lightning in a dense mass of clouds.’
Được trang bị tay cầm bằng vàng, được giữ bằng những dây đeo màu đỏ; khi xoay chuyển, chúng tỏa sáng, giống như tia chớp ở giữa đám mây dày đặc.
722.
722.
722.
‘‘Paṭākā † vammino sūrā, asicammassa kovidā;
Dhanuggahā sikkhitarā †, nāgakhandhe nipātino †.
‘Armored heroes with banners, skilled with sword and shield; excellent archers, they strike down upon the elephants’ shoulders.’
Những anh hùng mang cờ hiệu và áo giáp, thành thạo về gươm và khiên; những người cầm cung được huấn luyện kỹ càng, có thể bắn hạ (kẻ địch) từ trên lưng voi.
723.
723.
723.
‘‘Etādisehi parikkhitto, natthi mokkho ito tava;
Pabhāvaṃ te na passāmi, yena tvaṃ mithilaṃ vaje’’.
‘Surrounded by such warriors, there is no escape for you from here. I see no power in you by which you might go to Mithilā.’
Bị bao vây bởi những người như thế, ngươi không có lối thoát khỏi nơi đây. Ta không thấy được năng lực của ngươi, mà nhờ đó ngươi có thể đi đến Mithilā.
724.
724.
724.
‘‘Kiṃ nu santaramānova, nāgaṃ pesesi kuñjaraṃ;
Pahaṭṭharūpo āpatasi †, siddhatthosmīti † maññasi.
‘Why now, as if in a great hurry, did you send forth the elephant, O hero? You attack with a joyful appearance, thinking, “I have succeeded!”’
Tại sao ngươi lại vội vã, lại sai phái con voi có ngà? Ngươi đến đây với vẻ mặt vui mừng, ngươi nghĩ rằng: ‘Ta đã thành công’.
725.
725.
725.
‘‘Oharetaṃ dhanuṃ cāpaṃ, khurappaṃ paṭisaṃhara;
Oharetaṃ subhaṃ vammaṃ, veḷuriyamaṇisanthataṃ’’ †.
‘Put down this bow, withdraw the razor-arrow; take off this shining armor, inlaid with beryl and jewels.’
Hãy cởi bỏ cây cung này, cây cung của xạ thủ, hãy thu hồi mũi tên khurappa; hãy cởi bỏ chiếc áo giáp xinh đẹp này, được khảm bằng ngọc bích lưu ly.
726.
726.
726.
‘‘Pasannamukhavaṇṇosi, mitapubbañca bhāsasi;
Hoti kho maraṇakāle, edisī † vaṇṇasampadā’’.
‘Your facial complexion is clear, and you speak friendly words; indeed, at the time of death, such perfection of complexion can occur.’
Ngươi có sắc mặt trong sáng, và ngươi nói những lời nói được bắt đầu bằng nụ cười; thật vậy, vào lúc lâm chung, có được vẻ ngoài rạng rỡ như thế.
727.
727.
727.
‘‘Moghaṃ te gajjitaṃ rāja, bhinnamantosi khattiya;
Duggaṇhosi † tayā rājā, khaḷuṅkeneva † sindhavo.
‘Your roaring is in vain, O king; your counsel is shattered, O warrior. You are hard to restrain, O king, like a thoroughbred with a broken bit.’
Tiếng gầm thét của ngươi là vô ích, hỡi đức vua, mưu kế của ngươi đã bị phá vỡ, hỡi vị Sát-đế-lỵ. Ngươi đã nắm bắt đức vua một cách tồi tệ, giống như con ngựa Sindh bởi dây cương.
728.
728.
728.
‘‘Tiṇṇo hiyyo rājā gaṅgaṃ, sāmacco saparijjano;
Haṃsarājaṃ yathā dhaṅko, anujjavaṃ patissasi’’.
‘Yesterday the king crossed the Ganges with his ministers and retinue. Like a crow chasing a swan king, you will come to ruin.’
Hôm qua, đức vua đã vượt qua sông Hằng, cùng với các vị bộ trưởng và đoàn tùy tùng. Giống như con quạ (đuổi theo) vị vua của loài ngỗng, ngươi sẽ không thể đuổi kịp.
729.
729.
729.
‘‘Siṅgālā rattibhāgena, phullaṃ disvāna kiṃsukaṃ;
Maṃsapesīti maññantā, paribyūḷhā migādhamā.
‘Jackals in the night, seeing a blossoming Kiṃsuka tree and thinking it was a piece of meat, gathered all around it, those wretched beasts.’
Những con chó rừng, vào ban đêm, sau khi nhìn thấy cây kiṃsuka đang nở hoa, chúng đã nghĩ rằng: ‘Đó là một miếng thịt’, những con thú thấp hèn đã tụ tập xung quanh.
730.
730.
730.
‘‘Vītivattāsu rattīsu, uggatasmiṃ divākare †;
Kiṃsukaṃ phullitaṃ disvā, āsacchinnā migādhamā.
‘When the night had passed and the sun had risen, seeing the Kiṃsuka tree in blossom, the hopes of those wretched beasts were cut off.’
Khi đêm đã trôi qua, khi mặt trời đã mọc lên, sau khi nhìn thấy cây kiṃsuka đang nở hoa, những con thú thấp hèn đã bị cắt đứt hy vọng.
731.
731.
731.
‘‘Evameva tuvaṃ rāja, vedehaṃ parivāriya †;
Āsacchinno gamissasi, siṅgālā kiṃsukaṃ yathā’’.
‘Even so, O king, having surrounded Vedeha, you will depart with your hopes cut off, like the jackals at the Kiṃsuka tree.’
Cũng giống như thế, hỡi đức vua, sau khi đã bao vây Vedeha, ngươi sẽ ra đi với hy vọng bị cắt đứt, giống như những con chó rừng đối với cây kiṃsuka.
732.
732.
732.
‘‘Imassa hatthe pāde ca, kaṇṇanāsañca chindatha;
Yo me amittaṃ hatthagataṃ, vedehaṃ parimocayi.
‘Cut off his hands and feet, his ears and nose—he who freed my enemy, Vedeha, who had fallen into my hands.’
Hãy chặt tay và chân, tai và mũi của kẻ này, kẻ đã giải thoát cho Vedeha, kẻ thù của ta đã rơi vào tay ta.
733.
733.
733.
‘‘Imaṃ maṃsaṃva pātabyaṃ †, sūle katvā pacantu naṃ;
Yo me amittaṃ hatthagataṃ, vedehaṃ parimocayi.
‘Let them impale him on a stake and cook him, this one who should be devoured like meat—he who freed my enemy, Vedeha, who had fallen into my hands.’
Hãy xiên kẻ này vào cọc và nướng hắn, giống như thịt để ăn; kẻ đã giải thoát cho Vedeha, kẻ thù của ta đã rơi vào tay ta.
734.
734.
734.
‘‘Yathāpi āsabhaṃ cammaṃ, pathabyā vitaniyyati;
Sīhassa atho byagghassa, hoti saṅkusamāhataṃ.
‘Just as the hide of a bull, a lion, or a tiger is stretched out upon the ground and pierced through with pegs,’
Giống như tấm da của con bò đực, hoặc của con sư tử, hoặc của con cọp, được căng ra trên mặt đất, và bị đóng cọc khắp nơi.
735.
735.
735.
‘‘Evaṃ taṃ vitanitvāna, vedhayissāmi sattiyā;
Yo me amittaṃ hatthagataṃ, vedehaṃ parimocayi’’.
‘Thus, having stretched you out, I will pierce you with spears—you who freed my enemy, Vedeha, who had fallen into my hands.’
Cũng thế, sau khi căng ngươi ra, ta sẽ đâm ngươi bằng những ngọn giáo; ngươi là kẻ đã giải thoát cho Vedeha, kẻ thù của ta đã rơi vào tay ta.
736.
736.
736.
‘‘Sace me hatthe pāde ca, kaṇṇanāsañca checchasi;
Evaṃ pañcālacandassa, vedeho chedayissati.
‘If you cut off my hands and feet, and my ears and nose, then Vedeha will likewise have Pañcālacanda’s cut off.’
Nếu ngươi sẽ chặt tay và chân, tai và mũi của ta, cũng thế, Vedeha sẽ sai người chặt (tay, chân, tai, mũi) của Pañcālacanda.
737.
737.
737.
‘‘Sace me hatthe pāde ca, kaṇṇanāsañca checchasi;
Evaṃ pañcālacandiyā, vedeho chedayissati.
‘If you cut off my hands and feet, and my ears and nose, then Vedeha will likewise have Pañcālacandī’s cut off.’
Nếu ngươi sẽ chặt tay và chân, tai và mũi của ta, cũng thế, Vedeha sẽ sai người chặt (tay, chân, tai, mũi) của Pañcālacandī.
738.
738.
738.
‘‘Sace me hatthe pāde ca, kaṇṇanāsañca checchasi;
Evaṃ nandāya deviyā, vedeho chedayissati.
If you should cut off my hands and feet, and ears and nose, thus will the Videhan have Queen Nandā’s kin cut off.
Nếu ngươi sẽ chặt tay và chân, tai và mũi của ta, cũng thế, Vedeha sẽ sai người chặt (tay, chân, tai, mũi) của hoàng hậu Nandā.
739.
739.
739.
‘‘Sace me hatthe pāde ca, kaṇṇanāsañca checchasi;
Evaṃ te puttadārassa, vedeho chedayissati.
If you were to cut off my hands and feet, ears and nose, thus will the Videhan have your sons and wives cut off.
Nếu ngươi sẽ chặt tay và chân, tai và mũi của ta, cũng thế, Vedeha sẽ sai người chặt (tay, chân, tai, mũi) của các con trai và vợ của ngươi.
740.
740.
740.
‘‘Sace maṃsaṃva pātabyaṃ, sūle katvā pacissasi;
Evaṃ pañcālacandassa, vedeho pācayissati.
If you were to cook me on a spit like meat to be eaten, thus will the Videhan have Pañcālacanda’s kin cooked.
Nếu ngươi sẽ xiên ta vào cọc và nướng ta, giống như thịt để ăn, cũng thế, Vedeha sẽ sai người nướng Pañcālacanda.
741.
741.
741.
‘‘Sace maṃsaṃva pātabyaṃ, sūle katvā pacissasi;
Evaṃ pañcālacandiyā, vedeho pācayissati.
If you were to cook me on a spit like meat to be eaten, thus will the Videhan have Pañcālacandī’s kin cooked.
Nếu ngươi sẽ xiên ta vào cọc và nướng ta, giống như thịt để ăn, cũng thế, Vedeha sẽ sai người nướng Pañcālacandī.
742.
742.
742.
‘‘Sace maṃsaṃva pātabyaṃ, sūle katvā pacissasi;
Evaṃ nandāya deviyā, vedeho pācayissati.
If you were to cook me on a spit like meat to be eaten, thus will the Videhan have Queen Nandā’s kin cooked.
Nếu ngươi sẽ xiên ta vào cọc và nướng ta, giống như thịt để ăn, cũng thế, Vedeha sẽ sai người nướng hoàng hậu Nandā.
743.
743.
743.
‘‘Sace maṃsaṃva pātabyaṃ, sūle katvā pacissasi;
Evaṃ te puttadārassa, vedeho pācayissati.
If you were to cook me on a spit like meat to be eaten, thus will the Videhan have your sons and wives cooked.
Nếu ngươi sẽ xiên ta vào cọc và nướng ta, giống như thịt để ăn, cũng thế, Vedeha sẽ sai người nướng các con trai và vợ của ngươi.
744.
744.
744.
‘‘Sace maṃ vitanitvāna, vedhayissasi sattiyā;
Evaṃ pañcālacandassa, vedeho vedhayissati.
If, having stretched me out, you will pierce me with a spear, thus will the Videhan have Pañcālacanda’s kin pierced.
Nếu sau khi căng ta ra, ngươi sẽ đâm ta bằng những ngọn giáo, cũng thế, Vedeha sẽ sai người đâm Pañcālacanda.
745.
745.
745.
‘‘Sace maṃ vitanitvāna, vedhayissasi sattiyā;
Evaṃ pañcālacandiyā, vedeho vedhayissati.
If, having stretched me out, you will pierce me with a spear, thus will the Videhan have Pañcālacandī’s kin pierced.
‘Nếu ngài cho căng ta ra, rồi dùng giáo đâm ta; Thì Vedeha cũng sẽ đâm nàng Pañcālacandī như vậy.
746.
746.
746.
‘‘Sace maṃ vitanitvāna, vedhayissasi sattiyā;
Evaṃ nandāya deviyā, vedeho vedhayissati.
If, having stretched me out, you will pierce me with a spear, thus will the Videhan have Queen Nandā’s kin pierced.
‘Nếu ngài cho căng ta ra, rồi dùng giáo đâm ta; Thì Vedeha cũng sẽ đâm hoàng hậu Nandā như vậy.
747.
747.
747.
‘‘Sace maṃ vitanitvāna, vedhayissasi sattiyā;
Evaṃ te puttadārassa, vedeho vedhayissati;
Evaṃ no mantitaṃ raho, vedehena mayā saha.
If, having stretched me out, you will pierce me with a spear, thus will the Videhan have your sons and wives pierced. Thus was our secret counsel, between the Videhan and me.
‘Nếu ngài cho căng ta ra, rồi dùng giáo đâm ta; Thì Vedeha cũng sẽ đâm vợ con của ngài như vậy; Việc ấy đã được ta cùng với Vedeha bí mật bàn tính như vậy.
748.
748.
748.
‘‘Yathāpi palasataṃ cammaṃ, kontimantāsuniṭṭhitaṃ †;
Upeti tanutāṇāya, sarānaṃ paṭihantave.
Just as a shield of a hundred layers of leather, well-fitted with handle and straps, serves for the protection of the body, to ward off arrows.
‘Cũng như tấm da một trăm lớp, được hoàn thiện bởi thần chú Kontimantā; Dùng để bảo vệ thân thể, để chống lại các mũi tên.
749.
749.
749.
‘‘Sukhāvaho dukkhanudo, vedehassa yasassino;
Matiṃ te paṭihaññāmi, usuṃ palasatena vā’’.
As a bringer of happiness and a dispeller of suffering for the glorious Videhan, I parry your intention, as one parries an arrow with a hundred-layered shield.
‘Ta là người mang lại hạnh phúc, xua tan đau khổ, cho vua Vedeha lừng danh; Ta sẽ đánh bại ý định của ngài, như tấm khiên trăm lớp (chặn) mũi tên’.
750.
750.
750.
‘‘Iṅgha passa mahārāja, suññaṃ antepuraṃ tava;
Orodhā ca kumārā ca, tava mātā ca khattiya;
Umaṅgā nīharitvāna, vedehassupanāmitā’’.
Come, look, great king, your inner chambers are empty; the harem ladies and princes, and your mother, O warrior, having been brought out of the tunnel, have been led to the Videhan.
‘Này, xin hãy xem, tâu Đại vương, nội cung của ngài trống không; Các cung phi, các hoàng tử, và mẫu hậu của ngài, ôi bậc Sát-đế-lỵ; Đã được đưa ra bằng đường hầm, và đã được dâng đến cho Vedeha’.
751.
751.
751.
‘‘Iṅgha antepuraṃ mayhaṃ, gantvāna vicinātha naṃ;
Yathā imassa vacanaṃ, saccaṃ vā yadi vā musā’’.
Go now to my inner chambers, and search them; see whether his words are true, or if they are false.
‘Này, hãy đi đến nội cung của ta, và hãy điều tra việc ấy; Xem lời nói của người này, là thật hay là dối trá’.
752.
752.
752.
‘‘Evametaṃ mahārāja, yathā āha mahosadho;
Suññaṃ antepuraṃ sabbaṃ, kākapaṭṭanakaṃ yathā’’.
It is so, great king, as Mahosadha has said. The entire inner palace is empty, like a town deserted by crows.
‘Tâu Đại vương, sự việc đúng là như vậy, như lời Mahosadha đã nói; Toàn thể nội cung đều trống không, giống như một thành phố quạ’.
753.
753.
753.
‘‘Ito gatā mahārāja, nārī sabbaṅgasobhanā;
Kosambaphalakasussoṇī †, haṃsagaggarabhāṇinī.
Gone from here, great king, is the woman beautiful in every limb, with lovely hips like a Kosamba plank, and a voice like a cackling swan.
‘Tâu Đại vương, từ nơi đây đã đi mất, một người phụ nữ đẹp toàn diện; Có hông đẹp như tấm ván Kosamba, có giọng nói líu lo như thiên nga.
754.
754.
754.
‘‘Ito nītā mahārāja, nārī sabbaṅgasobhanā;
Koseyyavasanā sāmā, jātarūpasumekhalā.
From here was taken, great king, the dark-hued woman beautiful in every limb, clothed in silk, with a beautiful golden girdle.
‘Tâu Đại vương, từ nơi đây đã bị dẫn đi, một người phụ nữ đẹp toàn diện; Nàng da ngăm, mặc y phục lụa, đeo dây lưng bằng vàng ròng tuyệt đẹp.
755.
755.
755.
‘‘Surattapādā kalyāṇī, suvaṇṇamaṇimekhalā;
Pārevatakkhī sutanū, bimboṭṭhā tanumajjhimā.
With lovely red feet, beautiful, wearing a golden-jeweled girdle; with eyes like a dove, a beautiful body, lips like a bimba fruit, and a slender waist.
‘Nàng xinh đẹp có đôi chân hồng thắm, đeo dây lưng bằng vàng và ngọc; Mắt như chim bồ câu, thân hình tuyệt mỹ, môi như trái bimba, eo thon thả.
756.
756.
756.
‘‘Sujātā bhujalaṭṭhīva, vedīva † tanumajjhimā;
Dīghassā kesā asitā, īsakaggapavellitā.
Graceful, with arms like tender vines, slender-waisted like an altar, with long, black hair, slightly curled at the tips.
‘Nàng sinh ra trong gia đình tốt, cánh tay như những cành cây non, eo thon thả như bệ thờ; Mái tóc của nàng dài và đen, hơi uốn cong ở ngọn.
757.
757.
757.
‘‘Sujātā migachāpāva, hemantaggisikhāriva;
Nadīva giriduggesu, sañchannā khuddaveḷubhi.
Graceful as a young deer, like the flame of a winter fire; like a river in mountain gorges, hidden by small bamboos.
‘Nàng xinh đẹp như một con nai con, như ngọn lửa trong mùa đông; Như dòng sông giữa hẻm núi, được che phủ bởi những bụi tre nhỏ.
758.
758.
758.
‘‘Nāganāsūru kalyāṇī, paramā † timbarutthanī;
Nātidīghā nātirassā, nālomā nātilomasā’’.
Lovely one, with thighs like an elephant's trunk, and breasts supreme like Timbaru fruit; not too tall, not too short, not hairless, nor too hairy.
‘Nàng xinh đẹp có đùi như vòi voi, bộ ngực tuyệt vời như trái timbaru; Không quá cao, không quá thấp, không không có lông, không quá nhiều lông’.
759.
759.
759.
‘‘Nandāya nūna maraṇena, nandasi sirivāhana;
Ahañca nūna nandā ca, gacchāma yamasādhanaṃ’’.
Surely, Sirivāhana, you rejoice at Nandā's death; now Nandā and I will go to Yama's domain.
‘Chắc hẳn ngài Sirivāhana vui mừng, vì cái chết của Nandā; Chắc hẳn cả ta và Nandā, sẽ đi đến cõi của Diêm vương’.
760.
760.
760.
‘‘Dibbaṃ adhīyase māyaṃ, akāsi cakkhumohanaṃ;
Yo me amittaṃ hatthagataṃ, vedehaṃ parimocayi’’.
You master divine illusion, you have performed a trick to delude the eyes, for you have released my enemy, the Videhan, who was in my grasp.
‘Ngươi đã học được ma thuật thần thông, đã tạo ra ảo ảnh làm mê hoặc mắt; Ngươi đã giải thoát cho Vedeha, kẻ thù đã ở trong tay ta’.
761.
761.
761.
‘‘Adhīyanti mahārāja †, dibbamāyidha paṇḍitā;
Te mocayanti attānaṃ, paṇḍitā mantino janā.
Here, great king, the wise study divine illusion. The wise, who are counselors, free themselves.
‘Tâu Đại vương, ở đây các bậc hiền trí học tập ma thuật thần thông; Những người hiền trí, những vị mưu sĩ ấy, tự giải thoát cho chính mình.
762.
762.
762.
‘‘Santi māṇavaputtā me, kusalā sandhichedakā;
Yesaṃ katena maggena, vedeho mithilaṃ gato’’.
I have young men, skilled in making breaches; by the path they made, the Videhan went to Mithilā.
‘Ta có những thanh niên, là những người đào hầm tài giỏi; Nhờ con đường do họ tạo ra, Vedeha đã đi đến Mithilā’.
763.
763.
763.
‘‘Iṅgha passa mahārāja, umaṅgaṃ sādhu māpitaṃ;
Hatthīnaṃ atha assānaṃ, rathānaṃ atha pattinaṃ;
Ālokabhūtaṃ tiṭṭhantaṃ, umaṅgaṃ sādhu māpitaṃ’’ †.
Come, look, great king, at the well-made tunnel— for elephants, and for horses, for chariots, and for foot-soldiers; standing and providing light, the well-made tunnel.
‘Này, xin hãy xem, tâu Đại vương, đường hầm được làm rất khéo léo; Cho voi, rồi cho ngựa, cho xe, rồi cho bộ binh; Đường hầm được làm rất khéo léo, đứng đó như là ánh sáng’.
764.
764.
764.
‘‘Lābhā vata videhānaṃ, yassimedisā paṇḍitā;
Ghare vasanti vijite, yathā tvaṃsi mahosadha’’.
Truly fortunate are the Videhans, in whose kingdom dwell such wise men as you are, Mahosadha.
‘Thật là lợi lộc cho dân Videha, khi họ có được bậc hiền trí như thế này; Sống trong nhà, trong vương quốc, như chính ngài vậy, ôi Mahosadha’.
765.
765.
765.
‘‘Vuttiñca parihārañca, diguṇaṃ bhattavetanaṃ;
Dadāmi vipule bhoge, bhuñja kāme ramassu ca;
Mā videhaṃ paccagamā, kiṃ videho karissati’’.
Livelihood and honors, double food and wages, I give, and abundant wealth. Enjoy sensual pleasures and delight. Do not go back to Videha; what will the Videhan do for you?
‘Ta sẽ ban cho sinh kế và danh dự, bổng lộc gấp đôi; Ta ban cho tài sản dồi dào, hãy hưởng thụ các dục lạc và vui thú; Chớ quay về Videha, Videha có thể làm được gì cho ngươi?’.
766.
766.
766.
‘‘Yo cajetha mahārāja, bhattāraṃ dhanakāraṇā;
Ubhinnaṃ hoti gārayho, attano ca parassa ca;
Yāva jīveyya vedeho, nāññassa puriso siyā.
Whoever, O great king, should abandon his master for the sake of wealth is blameworthy to both himself and to the other. As long as the Videhan lives, I shall not be another’s man.
‘Tâu Đại vương, người nào từ bỏ chủ nhân vì lý do của cải; Người ấy đáng bị cả hai bên chê trách, cả chính mình và người khác; Chừng nào Vedeha còn sống, ta sẽ không là người của kẻ khác.
767.
767.
767.
‘‘Yo cajetha mahārāja, bhattāraṃ dhanakāraṇā;
Ubhinnaṃ hoti gārayho, attano ca parassa ca;
Yāva tiṭṭheyya vedeho, nāññassa vijite vase’’.
Whoever, O great king, should abandon his master for the sake of wealth is blameworthy to both himself and to the other. As long as the Videhan stands, I shall not dwell in another’s realm.
‘Tâu Đại vương, người nào từ bỏ chủ nhân vì lý do của cải; Người ấy đáng bị cả hai bên chê trách, cả chính mình và người khác; Chừng nào Vedeha còn tồn tại, ta sẽ không sống trong vương quốc của kẻ khác’.
768.
768.
768.
‘‘Dammi nikkhasahassaṃ te, gāmāsītiñca kāsisu;
Dāsisatāni cattāri, dammi bhariyāsatañca te;
Sabbaṃ senaṅgamādāya, sotthiṃ gaccha mahosadha.
I give you a thousand gold coins, and eighty villages in Kāsi; I give you four hundred female slaves, and a hundred wives. Taking your entire retinue, go in safety, Mahosadha.
‘Ta ban cho ngươi một ngàn đồng tiền vàng, và tám mươi làng ở xứ Kāsi; Ta ban cho bốn trăm nữ tỳ, và một trăm người vợ; Hãy mang theo tất cả các binh chủng, và hãy đi bình an, ôi Mahosadha.
769.
769.
769.
‘‘Yāva dadantu hatthīnaṃ, assānaṃ diguṇaṃ vidhaṃ;
Tappentu annapānena, rathike pattikārake’’.
Let them give provisions to the elephants, and a double portion to the horses. Let them satisfy the charioteers and foot soldiers with food and drink.
‘Hãy cấp phát khẩu phần gấp đôi cho voi và ngựa; Hãy làm cho các chiến sĩ xa binh và bộ binh được no đủ với thức ăn và thức uống’.
770.
770.
770.
‘‘Hatthī asse rathe pattī, gacchevādāya paṇḍita;
Passatu taṃ mahārājā, vedeho mithilaṃ gataṃ †.
Elephants, horses, chariots, and infantry—take them and go, O wise one. Let the great king, the Videhan, see you when you have arrived in Mithilā.
‘Này bậc hiền trí, hãy mang theo voi, ngựa, xe, bộ binh mà đi; Hãy để Đại vương Vedeha nhìn thấy ngài, đã trở về Mithilā.
771.
771.
771.
‘‘Hatthī assā rathā pattī, senā padissate mahā;
Caturaṅginī bhīsarūpā, kiṃ nu maññasi paṇḍita’’ †.
Elephants, horses, chariots, and infantry—a great army appears, four-fold and terrifying in form. What do you think, O wise one?
‘Voi, ngựa, xe, bộ binh, một đạo quân lớn đang hiện ra; Bốn binh chủng, dáng vẻ đáng sợ, này bậc hiền trí, ngài nghĩ sao?’.
772.
772.
772.
‘‘Ānando te mahārāja, uttamo paṭidissati;
Sabbaṃ senaṅgamādāya, sotthiṃ patto mahosadho’’.
O great king, your supreme joy is manifest. Having taken his entire retinue, Mahosadha has arrived safely.
‘Tâu Đại vương, niềm vui lớn lao, điều tốt lành nhất đang hiện ra cho ngài; Mang theo tất cả các binh chủng, Mahosadha đã đến nơi an toàn’.
773.
773.
773.
‘‘Yathā petaṃ susānasmiṃ, chaḍḍetvā caturo janā;
Evaṃ kapilaye tyamha †, chaḍḍayitvā idhāgatā.
Just as four people abandon a corpse in a charnel ground, so too have we come here, having abandoned Kapila.
‘Giống như bốn người vứt bỏ một xác chết ở nghĩa địa; Cũng vậy, chúng tôi đã bị bỏ rơi ở Kapilā, rồi đã đến đây.
774.
774.
774.
‘‘Atha tvaṃ kena vaṇṇena, kena vā pana hetunā;
Kena vā atthajātena, attānaṃ parimocayi’’.
Then, by what quality, or by what cause, or by what kind of purpose, did you free yourself?
‘Vậy thì, do hình thức nào, hay do nguyên nhân nào; Hoặc do sự việc phát sinh nào, mà ngài đã tự giải thoát cho mình?’.
775.
775.
775.
‘‘Atthaṃ atthena vedeha, mantaṃ mantena khattiya;
Parivārayiṃ † rājānaṃ, jambudīpaṃva sāgaro’’.
I countered purpose with purpose, O Videhan, and counsel with counsel, O warrior. I encompassed the king, as the ocean surrounds Jambudīpa.
Hỡi vị Sát-đế-lỵ, hãy biết lợi ích bằng lợi ích, mưu kế bằng mưu kế. Ta đã bảo vệ đức vua, như biển cả bao bọc cõi Diêm-phù-đề.
776.
776.
776.
‘‘Dinnaṃ nikkhasahassaṃ me, gāmāsīti ca kāsisu;
Dāsīsatāni cattāri, dinnaṃ bhariyāsatañca me;
Sabbaṃ senaṅgamādāya, sotthināmhi idhāgato’’.
A thousand gold coins were given to me, and eighty villages in Kāsi; four hundred female slaves were given, and a hundred wives were given to me. Taking my entire retinue, I have come here safely.
Một ngàn đồng nिक्ख đã được ban cho ta, và tám mươi ngôi làng ở xứ Kāsi; bốn trăm nữ tỳ, và một trăm người vợ đã được ban cho ta. Mang theo tất cả các binh chủng, ta đã đến đây được an toàn.
777.
777.
777.
‘‘Susukhaṃ vata saṃvāso, paṇḍitehīti senaka;
Pakkhīva pañjare baddhe, macche jālagateriva;
Amittahatthattagate †, mocayī no mahosadho’’.
“Happy indeed is living with the wise,” said Senaka. “Like birds bound in a cage, or fish caught in a net, when we had fallen into the enemy’s hands, Mahosadha released us.”
Hỡi Senaka, thật là an lạc thay khi được chung sống với các bậc hiền trí! Như chim bị nhốt trong lồng, như cá bị mắc trong lưới, (chúng tôi) đã rơi vào tay kẻ thù, Mahosadha đã giải thoát cho chúng tôi.
778.
778.
778.
‘‘Evametaṃ mahārāja, paṇḍitā hi sukhāvahā;
Pakkhīva pañjare baddhe, macche jālagateriva;
Amittahatthattagate, mocayī no mahosadho’’.
“Thus it is, O great king, the wise indeed bring happiness. Like birds bound in a cage, like fish caught in a net, Mahosadha released us from the enemy’s hand.”
Tâu Đại vương, việc ấy là như vậy, vì rằng các bậc hiền trí mang lại an lạc. Như chim bị nhốt trong lồng, như cá bị mắc trong lưới, (chúng tôi) đã rơi vào tay kẻ thù, Mahosadha đã giải thoát cho chúng tôi.
779.
779.
779.
‘‘Āhaññantu sabbavīṇā, bheriyo dindimāni ca;
Dhamentu māgadhā saṅkhā, vaggū nadantu dundubhī’’.
“Let all the lutes be struck, and the drums and kettledrums. Let the Magadhan conches be blown, let the melodious war-drums resound.”
Hãy cho gảy tất cả các đàn tỳ bà, các trống bheri và trống dindima. Hãy cho thổi các tù và của xứ Māgadha, hãy cho các trống dundubhi vang lên âm thanh ngọt ngào.
780.
780.
780.
‘‘Orodhā ca kumārā ca, vesiyānā ca brāhmaṇā;
Bahuṃ annañca pānañca, paṇḍitassābhihārayuṃ.
“The women of the inner chambers, the princes, the merchants, and the brahmins offered much food and drink to the wise one.”
Các cung phi và các hoàng tử, các vị Vessiyāna và các vị Bà-la-môn, đã dâng cúng nhiều đồ ăn và thức uống đến bậc hiền trí.
781.
781.
781.
‘‘Hatthārohā anīkaṭṭhā, rathikā pattikārakā;
Bahuṃ annañca pānañca, paṇḍitassābhihārayuṃ.
“Elephant riders, troop leaders, charioteers, and infantrymen offered much food and drink to the wise one.”
Các quản tượng, các tướng lãnh, các chiến sĩ xa binh, các binh sĩ bộ binh, đã dâng cúng nhiều đồ ăn và thức uống đến bậc hiền trí.
782.
782.
782.
‘‘Samāgatā jānapadā, negamā ca samāgatā;
Bahuṃ annañca pānañca, paṇḍitassābhihārayuṃ.
“The country folk assembled, and the townspeople gathered; they offered much food and drink to the wise one.”
Dân chúng trong xứ đã tụ hội, và dân chúng trong thị thành cũng đã tụ hội, đã dâng cúng nhiều đồ ăn và thức uống đến bậc hiền trí.
783.
783.
783.
‘‘Bahujano pasannosi, disvā paṇḍitamāgataṃ;
Paṇḍitamhi anuppatte, celukkhepo avattathā’’ti.
“Many people were filled with faith, seeing the wise one arrive. When the wise one had come, the waving of cloths began.”
Đông đảo dân chúng đã có lòng tịnh tín, khi nhìn thấy bậc hiền trí đã đến. Khi bậc hiền trí đã quang lâm, đã có sự tung vải lên (để tán dương).
Umaṅgajātakaṃ † pañcamaṃ.
The Fifth: The Umaṅga Jātaka.
Chuyện Bổn Sanh Về Đường Hầm, phần thứ năm.