Bản dịch
JA 541 — Chuyện Đại Vương Nimi (Tiền thân Nimi)
4 Nimijātaka
Kìa tóc bạc trên đầu hiện ra…,
Câu chuyện này bậc Đạo Sư kể trong khi trú tại vườn xo ài của vua Makhàdeva gần thành Mithilà, về một nụ cười.
Một buổi chiều nọ, bậc Đạo Sư c ùng hội chúng đông đảo Tỷ- kheo đang dạo chơi trong vườn xo ài, Ngài chợt thấy một nơi hợp ý Ngài. Vì muốn kể lại hành nghiệp của Ngài ở thời quá khứ, ngài liền để lộ một nụ cười tr ên khuôn mặt cho hội chúng chiêm ngưỡng. Khi Tôn giả Ànanda hỏi tại sao ngài mỉm cười, Ngài đáp:
- Này Ànanda, ở chỗ kia, ngày xưa Ta đ ã nhập Thiền định v ào thời vua Makhàdeva.
Rồi theo lời thỉnh cầu của Tôn giả, đức Thế-tôn ngồi xuống nơi Tôn giả mời Ng ài, và kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, ở quốc độ Videha, trong kinh th ành Mithilà có một vị vua tên là Makhàdeva. Khi còn thanh xuân, vua hưởng dục lạc trong khoảng tám mươi bốn ngàn n ăm, kế đó Ng ài làm thái tử trong tám mươi bốn ngàn n ăm rồi Ng ài lên làm vua trong tám mươi bốn ngàn n ăm nữa.
Lúc bấy giờ Ngài bảo người thợ hớt tóc phải báo cho ngài biết ngay khi gã thấy sợi tóc bạc đầu ti ên trên đầu Ng ài. Thời gian qua, khi người ấy thấy sợi tóc bạc liền tâu với vua, vua bảo gã lấy nhíp nhổ ra để l ên tay Ngài, Ngài thấy như thể thần chết đang bám v ào trán Ngài vậy. Ngài nghĩ thầm: "Bây giờ đ ã đến lúc ta phải rời thế tục". V ì thế Ngài cho phép người hớt tóc lựa chọn một làng theo ý gã, còn ngài cho triệu thái tử đến giao việc triều chính cho thái tử, v ì là Ngài sẽ xuất gia.
- Tâu phụ vương, tại sao vậy? Thái tử hỏi.
Ngài đáp:
1. Kìa tóc bạc trên đầu hiện ra, Cướp dần đời sống tháng năm qua, Chúng là thiên sứ nhắc ta nhớ, Nay đến thời ta phải xuất gia.
Cùng với những lời này, Ngài phong vương cho con theo nghi lễ quán đảnh (rảy nước thánh tr ên đầu), huấn dạy tân vương phép trị nước, rồi Ng ài rời kinh thành, sống theo đời của một sa-môn. Suốt tám mươi bốn ng àn n ăm ng ài tu tập Tứ Vô lượng Tâm (bốn phạm trú: Từ, bi, hỷ, xả), rồi Ngài được sinh l ên Phạm thiên giới.
Con của Ngài cũng theo gương cha, xuất thế và được sinh l ên Phạm thiên giới. Các hoàng tử về sau cũng vậy, cứ lần lượt xuất gia bốn mươi tám ngàn vị thiếu hai. Khi thấy sợi tóc bạc đầu ti ên xuất hiện, vị ấy liền ẩn cư trong vườn xoài, hành trì Tứ Vô lượng Tâm và được sinh l ên Phạm thiên giới.
Là vị vua đầu ti ên trong hoàng tộc được sinh c õi này, vua Makhàdeva đứng tr ên Phạm thiên giới nhìn xuống số phận của hoàng tộc, Ngài rất hoan hỷ khi thấy gần tám mươi bốn hoàng tử đ ã xuất gia. Ngài suy nghĩ: "Sẽ có Niết-bàn bây giờ hay không?" Ngài thấy là không thể có được, n ên Ngài quyết định chính Ng ài chứ không ai khác nữa phải kế tục sự nghiệp hoàng gia. Vì thế Ngài từ thiên giới xuống nhập mẫu thai hoàng hậu của vị vua thành Mithilà.
Vào ngày đặt t ên, các nhà tiên tri nhìn các tướng mạo của hài nhi, đồng tâu:
- Tâu Đại vương, vương tử n ày ra đời để kế tục sự nghiệp ho àng gia. Sẽ không có vị nào trong hoàng tộc làm ẩn sĩ nữa.
Nghe vậy, vua bảo:
- Hài nhi này ra đời để nối nghiệp ho àng gia như thể chiếc vành bánh xe vậy.
Vì thế Ngài đặt t ên con là: Nimi-kumàra hay vương tử A Luân.
Từ thuở ấu thơ, vương tử này đ ã chuyên tâm bố thí, làm công đức, giữ giới luật Bồ-tát. Khi vua cha theo lệ thường, trông thấy sợi tóc bạc đầu ti ên, liền ban một ngôi làng cho người hớt tóc, phong vương cho con rồi trở thành ẩn sĩ trong vườn xoài và được sinh l ên Phạm thiên giới.
Còn vua Nimi chuyên tâm bố thí, nên đ ã lập n ăm bố thí đường tại bốn cổng th ành và ngay chính giữa thành để thực h ành đại bố thí. Trong mỗi bố thí đường, Ng ài ban phát một tr ăm ng àn đồng tiền, thế l à Ngài phát ra n ăm trăm ng àn đồng tiền mỗi ng ày. Ngài thường xuyên giữ Ngũ giới, vào các ngày rằm Ngài giữ giới hạnh Bố-tát. Ngài khuyến khích dân chúng bố thí và làm công đức, Ng ài chỉ dạy cho họ con đường đi l ên thiên giới, khiến họ thấy kinh sợ thần chết. Rồi Ngài thuyết pháp cho họ nghe.
Dân chúng tin theo lời thuyết giảng của Ngài, bố thí, làm lành, nên khi từ trần đều lần lượt được sinh l ên thiên giới, vì thế thiên giới trở nên đông đảo, c òn địa ngục như thể trống vắng.
Lúc ấy ở cõi trời Ba mươi ba, chư Thiên đang tụ họp tại Thiện Pháp đường (Sudhamm à) đồng thanh hô to:
- Hoan nghênh bậc sư trưởng của chúng ta, Đại vương Nimi vạn tuế! Chính nhờ Ng ài hành thiện nghiệp, nhờ tri kiến Phật của Ngài mà chúng ta đ ã đạt được an lạc vô bi ên ở thiên giới này.
Như thế họ tán thán công đức của bậc Đại Sĩ. Ngay trong c õi nhân gian tiếng tán thán cũng lan tràn khắp nơi như dầu loang trên mặt biển cả.
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày cho hội chúng Tỷ-kheo qua các vần kệ sau:
2. Quả thật diệu kỳ ở thế gian, Các hiền nhân đ ã được vinh thăng, V ào thời minh chúa Ni-mi ấy, Thánh giả, hiền nhân đ ã ngập tràn. 3. Vi- đề-ha, đại đế ngày xưa, Bậc chiến thắng bao kẻ địch thù, Trong lúc ngài thi hành bố thí, Vẫn thường sinh khởi mối suy tư: "Điều gì đem lại nhiều thành quả, Bố thí? Tu hành? Ai bảo cho?
Lúc ấy cung của Sakka Thiên chủ ( Đế Thích) bỗng nóng rực l ên. Thiên chủ tìm hiểu lý do, thấy vua đang suy nghĩ như vậy, ng ài nói:
- Ta sẽ giải quyết vấn đề n ày.
Rồi ngài ra đi, bỗng chốc đ ã biến hoàng cung thành một vùng sáng lòa, ngài bước vào điện sừng sững tỏa h ào quang rực rỡ và theo lời thỉnh cầu của vua, Ngài làm sáng tỏ mọi sự.
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như sau:
4. Đại đế chư thiên, đấng vạn năng, L à ngài ngàn mắt [*] tỏa hào quang, Nhận ra tư tưởng trong vua ấy, Trước ánh sáng ngài, bóng tối tan.
[*] Sahassakkka: Sakka có ngàn mắt.
Đại đế Nimi tâu Thiên chủ Vàsava (tức Sakka), trong lúc toàn thân rợn thịt da:
5. Ngài là ai, có phải Thiên thần, Hay chính Sak-ka Thiên chủ ch ăng? V ì trẫm chưa từng nghe hoặc thấy, Hào quang như vậy ở trên trần.
Sau đó Thi ên chủ Vàsava nói với vua Nimi, vì biết vua đang rợn cả thịt da:
6. Ta chính Sak-ka Thiên chủ đây, Đến thăm ng ài chính ở nơi này, Hỏi điều ng ài muốn, kìa Hoàng thượng, Chớ rợn thịt da sợ hãi vầy!
Rồi vua Nimi hỏi Thiên chủ Vàsava, khi nghe lời mời này:
7. Sak-ka Thiên chủ đấng to àn n ăng, Giải quyết cho ta nỗi khó khăn: Bố thí hay tu h ành Thánh hạnh, Việc gì đem kết quả nhiều hơn? 8. Rồi Và-sa lại bảo Ni-mi Giải quyết cho vua chính vấn đề, Nói quả tu h ành đời Thánh hạnh, Với nh à vua ấy vẫn vô tri: 9. Người sinh làm một Khat-ti-ya, Kẻ sống đời thanh tịnh bậc ba, Một vị Thi ên thần vào bậc giữa, Thánh hiền bậc nhất đạt tinh hoa. 10. Nhờ bố thí thôi khó đạt th ành, Như vầy những quả vị an lành, Những gì bậc Thánh nhân xuất thế Chứng đắc nhờ tu tập khổ h ành.
Qua các vần kệ này, Ngài làm sáng tỏ thành quả vĩ đại của đời tu h ành, rồi Ngài đọc các b ài kệ khác, nêu tên các vị vua trong quá khứ đ ã không thể vượt qua Dục giới nhờ thực hành đại bố thí, đó l à các vị vua:
11. Du-dì-pa, Sà-ga-ra, Se-la, Mu-ca-lin-da, Bhagì-ra-sa, U-sì-na-ra và At-tha-ka, As-sa-ka và Pu-thuj-ja-na. 12. Các vua, giáo sĩ, Khat-ti-ya, Và biết bao nhiêu kẻ đ ã qua, Vì chỉ chuyên thi hành tế lễ, Không ai vượt khỏi cảnh Pe-ta.
Sau khi giải thích thành quả của đời sống tu h ành cao hơn hẳn thành quả của bố thí. Như vậy ngài nêu rõ những vị ẩn sĩ nhờ sống đời Thánh hạnh đ ã vượt qua thế giới Peta (ma quỷ) và được sinh l ên Phạm thiên giới, rồi ngài nói:
13. Và đây bảy ẩn sĩ hiền nhân, Những vị đ ã siêu thoát cõi trần: Yà-ma-ha-nu, So-ma-yà-ga, Ma-no-ja-va, Sa-mud-da, Mà-gha, Bha-ra-ta, Kà-li-ka-ra. Còn có bốn hiền nhân khác nữa: Kas-sa-pa, An-gì-ra-sa, A-kit-ti, Ki-sa-vac-cha, Thảy đều l ên cõi Phạm thiên thần.
Từ trước đến giờ ng ài theo truyền thuyết mô tả thành quả vĩ đại của đời Thánh hạnh, bây giờ ng ài tiếp tục tuyên bố những gì chính ngài đ ã thấy:
14. Sì-dà phương bắc, một trường giang, Sâu thẳm, thuyền bè khó vượt ngang, Quanh nó, giống như rừng lửa sậy, Sáng ngời các dốc núi màu vàng. 15. Cát đằng bao phủ ở quanh v ùng, Thơm ngát cây trên núi dưới sông, Ở đó mười ng àn nhà ẩn sĩ. Một thời đ ã trú ngụ tu thân. 16. Ta giữ lời nguyền của Thánh nhân, Chuyên tâm tiết dục, tự điều thân, Thực h ành bố thí, đời đơn độc, Chăm sóc tâm từng bước vững v àng. 17. Bất cứ ở trong đẳng cấp n ào, Phải tìm bậc Thánh để theo hầu, V ì con người thảy đều r àng buộc, Do chính mọi hành nghiệp bấy lâu. 18. Xa chánh đạo, tất phải đọa thân, V ào miền địa ngục mọi giai tầng, Mọi giai tầng trở th ành thanh tịnh, Nếu tạo thiện hành, sống chánh chân.
Sau đó ng ài bảo:
- Tuy nhiên, này Đại vương, mặc d ù đời tu h ành đạt kết quả cao hơn bố thí nhiều, các bậc đại nhân đều phải lưu tâm đến cả hai việc n ày: Bố thí và giữ giới hạnh.
Với lời nhủ này, Thiên chủ trở về cảnh giới của ngài.
Lúc ấy hội chúng chư Thiên giới liền hỏi ngài:
- Tâu Thiên chủ, lâu nay chúng con không được yết kiến Thi ên chủ, chẳng hay ngài ở đâu vậy?
- Này các hiền giả, vua Nimi ở thành Mithilà đang có mối ho ài nghi trong lòng nên ta phải đi giải quyết vấn đề để vua khỏi nghi ngờ nữa.
Rồi ngài tả sự việc qua các vần kệ:
19. Này chư Thiên hãy lắng nghe ta, Tất cả đây tề tựu nảy giờ: Các bậc chánh nhân đều khác hẳn, Cả về đẳng cấp lẫn t ài hoa. 20. Ni-mi chúa tể ở phàm trần, Là bậc trí hiền đức, chánh chân, Vua nước Vi-đề, chuy ên bố thí, Là người chiến thắng các cừu nhân. 21. Trong lúc ngài ban phát rộng tay, Khởi sinh trong trí mối nghi này: " Điều g ì kết quả nhiều hơn hẳn, Bố thí? Tu hành? Ai có hay?".
Sau đó Ng ài kể các đức tính của vua, không sót điều g ì khiến chư Thiên mong ước được gặp vua, liền nói:
- Tâu Thiên chủ, vua Nimi là bậc sư trưởng của chúng con, nhờ lời dạy bảo của Ngài, cùng các phương tiện của Ngài, chúng con đ ã đạt được niềm an lạc tr ên Thiên giới. Chúng con ao ước được gặp Ng ài. Vậy xin Thiên chủ hãy cho mời Ngài đến để chúng con được bái yết Ng ài.
Thiên chủ Sakka chấp thuận, truyền gọi thần Màtali đến:
- Này hiền hữu, hãy buộc ngựa vào xa giá của ta, rồi xuống kinh thành Mithilà, rước vua Nimi lên thiên xa và đem Ng ài về đây.
Thần Màtali vâng lệnh ra đi. Trong khi Thi ên chủ Sakka đ àm đạo với chư Thi ên và ra lệnh cho Màtali đem xe xuống trần, tính ra đ ã một tháng trôi qua hạ giới.
Lúc đó đúng ng ày trai giới tr ăng tr òn, vua Nimi mở cửa sổ hướng đông ra, ngồi tr ên lầu, các triều thần vây quanh, suy ngẫm đến công hạnh của m ình. Vừa lúc tr ăng l ên ở hướng đông th ì thiên xa xuất hiện. Dân chúng đ ã ăn cơm tối xong, đang c ùng nhau trò chuyện thong dong trước cửa:
- Ô kìa! Sao hôm nay, lại có đến hai vầng trăng thế? Họ k êu lên.
Trong lúc họ đang b àn tán thì chiếc xe lộ rõ dần:
- Ồ không phải vầng tr ăng, m à là chiếc xe ngựa.
Lúc đó đo àn tuấn mã cả ngàn con của thần Màtali cùng xe của Thiên chủ Sakka xuất hiện, dân chúng tự hỏi: "Xe này dành cho ai đây? Phải rồi, vị vua của họ thật anh minh, chắc Thi ên chủ Sakka dành xe này cho vị vua của họ rồi, chắc Thiên chủ muốn gặp vua".
Vì thế họ hoan hỷ reo hò:
22. Một việc diệu kỳ ở thế gian, Làm ta rợn gáy bởi hân hoan: Vì Vi- đề Đại vương vinh hiển, N ên chiếc thiên xa xuống cõi phàm.
Trong lúc dân chúng đang b àn tán mải mê như vậy thì nhanh như gió, Màtali quay xe lại, dừng xe bên song cửa hoàng cung, mời vua lên xe.
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như sau:
23. Mà-ta-li, đại-lực Thi ên thần, Điều ngự thi ên xa của Ngọc hoàng, Đến thỉnh Vi-đề-ha Chúa tể, Ở Mi-thi điện: "Tấu minh quân, Chúa công dưới thế, l ên xa giá, Thiên chủ In-dra với các thần, Ở cõi B ăm ba, cung Thiện pháp, Đang chờ để yết kiến tôn nhan".
*
Vua suy nghĩ: "Ta sắp viếng cõi trời mà ta chưa từng biết, vậy ta phải tỏ lòng tri ân đối với thần M àtali". Thế rồi ngài bảo các cung phi cùng thần dân:
- Chẳng bao lâu ta sẽ trở về trần thế, vậy các người phải chuyên tâm làm việc thiện và bố thí.
Rồi Ngài lên xe.
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như sau:
24. Khi ấy Vi- đề-ha Đại quân, Vội v àng tiến đến chiếc xe thần, Bước v ào, khi Đại vương an tọa, Thần lái thi ên xa lại hỏi rằng: - Thánh chúa, đường n ào ngài muốn chọn, Nơi người ác ở hoặc hiền nhân?
*
Nghe nói vậy, vua liền nghĩ: "Cả hai chốn này ta đều chưa hề thấy bao giờ cả, vậy ta muốn xem cả hai". Ng ài đáp lại:
25. Mà-ta-li, hỡi quản xa thần, Hai chỗ, ta đều muốn ngắm trông, Nơi chốn bậc hiền nhân trú ngụ, V à nơi kẻ ác đọa đ ày thân.
Màtali suy nghĩ: "Không thể đi xem cả hai nơi c ùng một lúc được, vậy ta phải hỏi lại vua xem sao". Rồi thần ngâm kệ:
26. Chỗ nào đi trước, Đ ại minh quân, Nơi trước tiên ngài muốn ngắm trông, Nơi chốn bậc hiền nhân trú ngụ, Hay nơi kẻ ác đọa đ ày thân?
Vua suy nghĩ thế nào ngài cũng sẽ lên Thiên giới và ngài lại ước mong thấy địa ngục, n ên ngài ngâm kệ:
27. Ta muốn xem nơi của tội nhân, Hãy đưa ta đến ngục sau c ùng, Nơi người đ ã phạm hành vi ác, Nơi kẻ ác nay đan g trú thân.
Lúc ấy Màtali chỉ cho vua thấy dòng sông ở địa ngục, t ên gọi Vetarani.
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày:
28. Thần lái thiên xa chỉ chúa công, Dòng sông hôi thối Ve-ta-ran, Chứa đầy chất nước đang thi êu hủy, Nóng bỏng, phủ toàn lửa cháy bừng.
Vua kinh hoàng khi nhìn thấy những tội nhân bị hành hạ đau đớn trong d òng sông Vetarani, ngài liền hỏi Màtali họ đ ã mắc những tội gì, Màtali liền kể lại:
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như sau:
29. Vua Ni-mi thấy tội nhân sa xuống, Dòng sông sâu, liền hỏi Mà-ta-li : "Ta kinh hoàng thấy cảnh tượng đằng kia, Những kẻ n ày phạm tội gì, xin nói, Mà ngày nay bị sa vào sông thối?". 30. Thần đáp, n êu tội chín, quả liền sinh: - Ai trong đời ỷ sức mạnh ri êng mình, Lại ức hiếp kẻ nghèo hèn, yếu đuối, Kẻ ác kia đ ã gây bao tội lỗi, Bị thả vào dòng nước Ve-ta-ran.
Màtali đáp lời vua như vậy. Khi vua đ ã thấy địa ngục Vetarani rồi, M àtali liền làm cho cảnh này biến mất, rồi lái xe đến xem nơi tội nhân bị các lo ài chó và ác thú khác xâu xé. Thần Màtali đáp lời vua hỏi như sau.
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày :
31. Bầy chó đen, đàn kên kên cùng quạ, Đang đợi mồi kinh khủng, lúc ta trông, Mà-ta-li, ta kinh hãi trong lòng, Tội lỗi gì họ gây ra, xin nói, Quạ rình ai? Mà-ta-li đáp lại: 32. Nếu tội chín muồi v à quả phải mang; - Những kẻ xan tham, sân hận, nói sàm, Làm tổn hại Bà-la-môn, ẩn sĩ, Những kẻ ác đ ã gây bao tội thế, Nay làm mồi cho diều quạ, ngài xem!
*
Những câu hỏi khác của vua cũng đều được thần M àtali đáp lại tương tự như tr ên .
33. Mình rực lửa khi họ nằm phủ phục, Đống than hồng v ùi dập, lúc ta trông, Mà-ta-li, ta hoảng sợ trong lòng. Tội lỗi gì các kẻ này phạm phải, Thần quản xa, nói cho ta biết với, Nay nằm vùi dập dưới đống than hồng? 34. M à-ta-li, thần điều ngự, tỏ tường, N êu tội lỗi chín muồi mang kết quả: - Những kẻ này trên đời đầy gian trá H ành hạ người vô tội, tạo đau thương, Cả nữ nhi c ùng với bọn nam nhân, Những kẻ ác đ ã gây tạo tội lỗi, Nay nằm vùi dưới đống than đỏ ối. 35. Những người kia nằm hố than vật v ã, Gầm thét lên, thân cháy. Lúc ta trông, Mà-ta-li, ta hoảng sợ trong lòng, Bọn này phạm tội gì, cho ta rõ, Ai nằm vẫy vùng trong hầm lửa đỏ? 36. M à-ta-li, thần điều ngự, đáp lời, N êu quả mang khi tội đ ã chín muồi: - Những người trước đám đông dân chúng, L àm chứng nhân sai, nợ nần lật lọng, Làm hại người như vậy, tấu Anh quân, Những ác nhân này phạm tội bất nhân, Nay nằm đó vẫy v ùng trong hố lửa. 37. Khói lửa rực trời một hầm than đỏ, Ta thấy k ìa chảo sắt lớn gớm ghê, Khi ta nhìn, lòng sợ hãi tràn trề, Mà-ta-li, nói cho ta biết với, Tội lỗi gì các kẻ này mắc phải, Nay bị thả vào chảo sắt khổng lồ? 38. Mà-ta-li, thần điều ngự, đáp vua: N êu tội lỗi chín muồi mang kết quả: - Kẻ làm hại Bà-la-môn, hiền giả, Kẻ xấu xa làm hại các thiện nhân, Những ác nhân mang ác nghiệp vào thân, Nay phải chịu rơi đầu v ào chảo sắt. 39. Cổ bị tóm thả vào trong chảo sắt, Đầy nước sôi s ùng sục thật kinh hồn, Mà-ta-li, ta sợ hãi từng cơn, Tội lỗi nào những kẻ này mắc phải, Giờ đây đầu nát tan nằm chịu tội? 40. M à-ta-li, thần điều ngự, đáp vua : N êu tội chín muồi nên quả sinh ra; - Đó l à những ác nhân trên hạ giới, Bắt chim muông, rồi lại còn sát hại, Và sát sinh như vậy, hỡi Quân vương, Do ác hành gây tội lỗi đau thương, Nay nằm đó với cổ đầu siết chặt. 41. D òng sông kia sâu thẳm, bờ nông cạn, Dễ đi qua bờ b ên ấy, thế nhân, Nóng như thiêu, liền uống, nhưng vừa dùng, Nước thành trấu lửa, khi ta nhìn thấy, Mà-ta-li, lòng ta đầy kinh h ãi, Nói cho ta, tội lỗi của thế nhân, Sao uống vào, nước hóa trấu cháy bừng? 42. Mà-ta-li, thần quản xa, đáp lại, N êu tội chín muồi và nay mang trái: - Đây những người trộn gạo với trấu tro, Đem bán gian cho những kẻ đi mua, N ên giờ phải chịu khát thiêu cổ họng, Nhưng uống vào, nước hóa ra trấu nóng. 43. Bao gươm giáo cung tên đâm xuy ên thủng, Hai bên sườn những kẻ nọ thét gào, Mà-ta-li,ta kinh hãi, nói mau, Tội lỗi gì các kẻ kia đ ã tạo, Nên ngày nay chịu biết bao gươm giáo, Phải nằm kia hứng lấy mọi cung tên? 44. Mà-ta-li, thần điều ngự, đáp liền, Tả tội chín muồi v à nay mang quả; - Kìa những thế nhân lòng đầy gian trá, Đ ã lấy của người để sống gi àu sang, Trâu, dê, cừu, ngựa, thóc, lúa, bạc, vàng, Những ác nhân này gieo trồng tội báo, Nên giờ đây nằm hứng bao gươm giáo. 45. Những kẻ n ày bị cột cổ là ai, Kẻ xé thịt, người chặt xương từng mảng, Mà-ta-li, lòng ta đầy kinh hoảng, Nói cho ta tội tạo bởi chúng sinh, Đang nằm kia thân bị xé tan t ành? 46. Mà-ta-li, thần quản xa, đáp lại, N êu tội chín muồi và nay mang trái: - Dân chài, hàng thịt, s ăn bắn hươu nai, Kẻ giết trâu d ê đem bán ở đời, Những ác nhân đ ã gây bao tội ác, Nay nằm kia với tấm thân tan nát. 47. Hồ hôi đầy phân bẩn ở đằng kia, M ùi thối xông lên, bao người chết đói, Ăn đồ dơ! L òng ta đầy kinh h ãi, Khi ta nhìn, hãy nói, Mà-ta-li, Các thế nhân kia mắc tội lỗi gì, Nay ta thấy ăn to àn đồ dơ thối? 48. M à-ta-li, thần quản xa, đáp lại, Nếu tội chín muồi nay quả phải mang: - Những kẻ tinh ma ích kỷ hại nhân, Sống với bạn m à đem l òng hại bạn, Những ác nhân này đ ã gây nghiệp chướng, Nay ăn đồ dơ bẩn tội t ình thay. 49. Hồ đằng kia đầy máu đỏ hôi tanh, M ùi thối xông lên, kìa đám sinh linh, Khát thi êu họng, uống vào! Ta kinh hãi, Khi ta nhìn, Mà-ta-li, hãy nói Bọn người kia đ ã tạo lỗi lầm gì, Nên bây giờ phải uống dòng máu kia? 50. Mà-ta-li, thần quản xa, đáp lại, N êu tội chín muồi và nay mang trái: - Những kẻ này đ ã giết mẹ hoặc cha, Chúng phải tôn sùng, tội ngỗ nghịch mà, Bọn ác này đ ã tạo ra trọng tội, Chúng đang uống đằng kia d òng máu thối. 51. Kìa lưỡi xuyên ngang bằng cái móc câu, Như tr ăm mũi gai tr ên gỗ cắm vào, Ai vẫy vùng như cá nằm trên cạn? Khi thấy người đang thét g ào lảm nhảm, Ta kinh hoàng, hãy nói, Mà-ta-li, Tội lỗi gì phạm bởi đám người kia, Nay nằm đó nuốt móc câu như vậy? 52. M à-ta-li, thần lái xe, đáp lại, N êu tội chín muồi và quả phải mang: - Những thế nhân kia buôn bán chợ hàng, Tranh giành mua rẻ vì tham tư lợi, Tưởng đâu che được bao tr ò gian dối, Như người câu cá. Nhưng kẻ dối đời, Phải lâm nguy, bởi nghiệp cũ theo ho ài, Bọn gian ác này đ ã gây tội ấy, Đang nằm kia, nuốt móc câu như vậy. 53. Những nữ nhân, tơi tả, đứng giơ tay, G ào thét lên, khốn khổ, máu bôi đầy, Như thú trong l ò. Thân vùi đến ngực, C òn nửa người trên lửa thiêu rừng rực! Ta kinh hoàng cho biết, Mà-ta-li, Đám nữ nhân kia phạm tội ác g ì, Nay phải đứng chôn v ùi trên mặt đất, Nửa người tr ên lửa đang thi êu hừng hực, Phần nằm sâu dưới đất đến nửa người? 54. M à-ta-li, khi ấy vội đáp lời, N êu tội chín muồi và nay mang trái: - Những kẻ kia cao sang trên thế giới, Đời sống dâm ô, gây nghiệp bất nhân, Phản bội, trốn chồng l àm việc vô luân, Để thoả m ãn những tấm lòng tham dục, Họ phung phí cuộc đời trong trụy lạc; Giờ đây m ình rực lửa đứng chôn thân. 55. Sao những kẻ kia bị người lôi cẳng, V à thả vào dòng nước Na-ra-ka? Lòng kinh hoàng, Mà-ta-li, nói ra, Tội lỗi gì những thế nhân tạo vậy, Nên ngày nay trôi vào dòng sông ấy? 56. Mà-ta-li, thần điều ngự, đáp lời, N êu nghiệp nhân mang quả đ ã chín muồi: - Những kẻ kia trên thế gian độc ác, Trộm báu vật, tư thông vợ người khác, N ên giờ đây bị thả xuống d òng sông, Chịu khổ hình trong địa ngục muôn năm, Không an lạc cho người gây tội lỗi, V ì nó luôn bị nghiệp mình theo dõi. Những ác nhân này gây tạo lỗi lầm, Nên ngày nay bị thả xuống dòng sông.
Nói xong, Màtali làm cho cảnh địa ngục biến mất rồi tiếp tục lái xe tiến l ên, chỉ cho vua xem địa ngục h ành hình kẻ theo tà giáo. Theo lời vua yêu cầu, thần Màtali giải thích:
57. Ta chứng kiến bao nghiệp nhân gây quả, Thật kinh hoàng trong địa ngục, khi trồng, Mà-ta-li, ta sợ hãi trong lòng, Tội lỗi gì những thế nhân phạm phải, Nên ngày nay bị trầm luân khổ ải, Rất đau thương, thống thiết, khó vượt qua? 58. M à-ta-li, thần điều ngự, đáp vua, N êu tội chín muồi và nay mang trái: Bọn ác tà kiến kia trên thế giới, Đặt l òng tin vào vọng tưởng hư danh, Buộc tha nhân phải tín ngưỡng theo mình. Vì tà kiến đ ã gây bao tội lỗi, Nên ngày nay phải chịu bao khổ ải, Rất đau thương, th ống thiết, khó vượt qua.
Bấy giờ trên thiên giới, chư Thiên đang tụ tập tại Sudhamma (Thiện pháp đường) chờ đợi nh à vua đến. Thi ên chủ Sakka nghĩ thầm: "Màtali đ ã đi lâu lắm rồi" v à khi xét thấy lý do, ngài bảo:
Màtali đang đi v òng quanh làm vị hướng dẫn, chỉ các cảnh giới địa ngục cho nh à vua xem và giải thích các tội lỗi đ ã đưa đường đến mỗi địa ngục ấy.
Rồi cho gọi một vị Thiên đồng trẻ tuổi nhanh nhẹn, ng ài bảo vị này:
- Hãy đi bảo M àtali mang nhà vua đến đây ngay. Vị ấy đang ti êu phí hết cuộc đời của nh à vua đấy, không n ên đi quanh các địa ngục quá lâu như vậy.
Lập tức vị Thiên đồng ra đi, truyền lệnh của Thi ên chủ cho Màtali. Nghe xong Màtali đáp:
- Chúng tôi không dám chậm trễ nữa.
Rồi trong một thoáng nhanh như chớp, thần chỉ tất cả mọi cảnh giới địa ngục rộng lớn cho vua xem khắp bốn phương v à ngâm kệ sau:
59. Giờ Đại v ương đ ã chứng kiến nhiều nơi, Của thế nhân mắc tội lỗi trên đời, N ên đọa đ ày và đây Minh quân hỡi, Nhanh l ên th ăm Đại đế của cõi trời.
Nói xong thần quay xe lên thiên giới. Khi ấy vua thấy trên không tòa lâu đ ài của một thiên nữ, tên là Bìrani, với các đỉnh tháp đầy ngọc v àng, được trang ho àng thật lộng lẫy, có hoa viên và hồ hoa sen súng cùng những cây quý bao quanh xứng đáng với cảnh đẹp ấy. Thi ên nữ này ngồi trên đó tọa s àng trong c ăn ph òng có đỉnh tháp hướng ra phía trước v à được cả ng àn tiên nữ hầu hạ chung quanh, bà đang nh ìn ra cửa sổ. Vua liền hỏi Màtali nữ thần ấy là ai và Màtali giải thích như sau:
60. Ngắm lâu đ ài kia với n ăm đỉnh tháp, Đầy tràn hoa tô điểm, ngự tọa sàng, Một nữ thần thật diễm lệ huy hoàng, Muôn vẻ uy nghi, muôn phần kỳ lực, Mà-ta-li, lòng ta vui náo nức, Nói ta nghe những thiện nghiệp của nàng, Khiến nàng nay hạnh phúc ở thiên đàng. 61. Mà-ta-li, thần quản xa, đáp lại : Nêu thiện nghiệp chín muồi nay mang trái: Ngài nghe ch ăng ở xứ B ì-ra-ni, Một Bà-la-môn có một nô tỳ, Tiếp một khách đúng thời, l òng niềm nở Như mẹ đón con m ình, nên từ đó, Cao sang, trong sạch , sống hưởng lâu đ ài.
Nói xong, Màtali lái xe tiến lên và chỉ vua xem bảy lâu đ ài bằng vàng của Thiên thần Sonadanna. Vua thấy cảnh tượng huy hoàng của Thiên thần này, liền xin Màtali giải thích:
62. Kia bảy lâu đ ài sáng ngời chói lọi, Một thiên nhân đang ngự trị huy ho àng, Cùng các vợ tiên trú ngự thiên đường. Ta hoan hỷ nhìn, Mà-ta-li hỡi, Thiện nghiệp nào thế nhân kia vun xới, Mà bây giờ lạc trú cảnh thiên đ ình? 63. Mà-ta-li, thần điều ngự, lại tr ình, Tuyên thiện nghiệp chín muồi và mang quả: - So-na-din-na trước làm vua đ ã, Đem cúng dường với đại lượng quân vương, Bảy am tu c ùng tất cả đồ d ùng, Cung cấp đủ tâm th ành và vật thực: Sàng tọa, đ èn, hương, cùng nhiều y phục, Hoan hỷ, tam hòa với các chánh nhân, Ngài giữ ngày trai giới, mỗi hai tuần: Mồng tám, mười tư, ngày rằm tr ăng sáng, Thanh tịnh bước đường, điều thân, độ lượng, N ên bây giờ tận hưởng lạc thiên cung.
Màtali kể rõ các thiện nghiệp của vua Sonadinna xong, liền lái xe tiến tới nữa. Rồi thần lại chỉ một lâu đ ài bằng pha lê, cao ngất đến hai mươi lăm dặm, có h àng tr ăm cột trụ l àm bằng thất bảo, hằng tr ăm đỉnh tháp, rải rác các r èm treo và chuông nhỏ. Một chiếc cờ bằng bạc và vàng đang phất phới, cạnh đó l à một công viên đầy hoa lá tốt tươi, một hồ thả hoa súng xinh xinh, các nữ thần y êu kiều ca hát muôn điệu nhạc. Khi vua thấy cảnh n ày liền hỏi các nữ thần này đ ã tạo những thiện nghiệp gì, Màtali đáp:
64. Kìa cung pha lê sáng ngời, rực rỡ, Các đỉnh cao chất ngất đến tầng mây, Thức uống, đồ ăn la liệt đủ đầy, Thi ên nữ kỳ tài cả đo àn tuyệt sắc, Đang tr ình diễn múa ca cùng tiếng hát. Ta hân hoan, hãy nói, Màtali, Các nữ nhân này đ ã tạo nghiệp gì, Nay an trú lâu đ ài đầy hoan lạc? 65. M à-ta-li, thần quản xa, liền đáp, Tả những thiện duy ên mang lại quả lành; - Các nữ nhân này Thánh hạnh tu hành, Tín nữ tại gia giữ ngày Bố-tát, Rộng lượng, điều thân, tịnh tâm, tịnh giác, N ên giờ đây hạnh phúc ở Thi ên cung, Mà Đại vương đ ã tận mắt ngắm trông.
Rồi thần lái xe tiến lên, chỉ một lâu đ ài bằng ngọc bích, sừng sững trên một nơi bằng phẳng, hùng vĩ như ngọn núi ngọc bích sáng ngời, các Thiên tử đang nô đ ùa ca hát khúc nhạc thiên đường. Thấy cảnh n ày, vua liền hỏi về các thiện nghiệp của các Thiên tử này và vị kia đáp lại:
66. Lâu đ ài ngọc kia tỏa đầy ánh sáng, Cảnh nguy nga, tráng lệ, thật huy ho àng, Nhạc du dương đang trổi khúc thi ên đường, Đ àn ca trống âm vang theo vũ khúc, Ta chưa từng nhìn cảnh nào ngoạn mục, Âm thanh kia êm dịu chẳng hề nghe, Lòng hân hoan, hãy nói, Mà-ta-li, Nghiệp lành nào những vị này tạo tác, Nay hạnh phúc trong thiên cung hoan lạc? 67. Mà-ta-li, thần điều ngự, đáp lời, N êu thiện duyên nay đem quả chín muồi: - Đây các vị tại gia trong đời trước, Bố thí nhiều vườn cây v à giếng nước, Kéo nước và thành tín cúng Thánh nhân: Y phục, thức ăn, tọa cụ, vật cần, L òng hoan hỷ cùng chân nhân chính trực, Cứ mỗi hai tuần giữ ngày Bố-tát: Mùng tám, mười tư cùng với ngày rằm, Rộng lượng, điều thân, theo bước Thánh nhân, Nay an trú trong lâu đ ài hoan lạc.
Như vậy, khi đ ã nêu các thiện nghiệp của các vị Thiên thần kia, Màtali liền lái xe đến một lâu đ ài pha lê khác, với nhiều đỉnh tháp, hoa thơm cỏ lạ v à cây xinh đẹp mọc khắp nơi, vang dội muôn tiếng chim ca, b ên cạnh một dòng sông trong vắt. Đó l à nơi cư ngụ của một thiện nhân, có cả một đo àn tiên nữ hầu hạ quanh mình. Thấy cảnh tượng này, nhà vua lại hỏi Màtali về các nghiệp quả của vị ấy và được giải thích như sau:
68. Kìa cung pha lê chói ngời ánh sáng, Các đỉnh cao chất ngất đến từng mây, Thức uống đồ ăn la liệt, cả bầy, Thi ên nữ diễm kiều đủ t ài múa hát; Bao hoa lá viền đôi bờ sông mát. Ta hân hoan, hãy nói, Mà-ta-li, Nam nhân này đ ã tạo nghiệp lành gì? Nay thọ hưởng lâu đ ài đầy thi ên lạc? 69. Mà-ta-li, thần lái xe, liền đáp, N êu nghiệp lành, nay quả tốt sinh ra: - Một chủ nhà ở tại Kim-bi-là, Hào phóng cúng các vườn cây, giếng nước, Kéo nước dâng Thánh nhân lòng thành thực: Y phục, thức ăn, tọa cụ, vật cần, L òng hân hoan cùng các bậc chánh nhân, Ngày Bố-tát giữ hai lần nửa tháng: Mùng tám, mười tư, ngày rằm tr ăng sáng, Điều thân, rộng lượng, theo bước Thánh h ành, Nay trú an trong lạc thú thiên đ ình.
Như vậy, sau khi tả nghiệp lành của Thiện nhân này xong, thần lái xe đi nữa, rồi thần chỉ cho vua một lâu đ ài pha lê khác: Lâu đ ài này lại còn nhiều cỏ cây hoa trái muôn màu bao quanh hơn các lâu đ ài trước nữa. Thấy vậy vua liền hỏi các thiện nghiệp của vị Thiên thần đầy diễm phúc kia v à Màtali liền đáp:
70. Kìa ngọc cung đang tỏa đầy ánh sáng, Các đỉnh cao chất ngất đến từng mây, Thức uống đồ ăn b ày la liệt, cả bầy, Thiện nữ diễm kiều đủ t ài múa hát, Bao hoa lá viền đôi bờ sông mát: S à-la, xoài, tượng, vương giả cây cao, Pi-yal, tin-duk, đ ào đỏ ngọt ng ào, Vườn cây trái mọi nơi sinh quả quý. Mà-ta-li, nói đi, ta hoan hỷ, Thi ên nhân này đ ã tạo nghiệp lành gì, Nay hưởng lâu đ ài thiên lạc tràn trề? 71. Mà-ta-li, thần lái xe, đáp lại, N êu thiện nghiệp chín muồi và mang trái: - Một chủ nhà ở tại Mi-thi-là, Hào phóng, đem cho giếng nước, vườn hoa, Kéo nước, cúng Thánh nhân, l òng ngưỡng mộ: Y phục, thức uống ăn v à tọa cụ, Mọi nhu cầu, hòa hợp với chánh nhân, Người giữ ngày trai giới mỗi hai tuần, Mồng tám, mười tư, ngày rằm tr ăng sáng, Thanh tịnh bước đường, điều thân, độ lượng, Nên giờ đây an trú l ạc thiên cung.
Tả xong thiện nghiệp của vị này như vậy, thần tiếp tục lái xe đi đến một lâu đ ài bằng ngọc, giống lâu đ ài đầu ti ên, và vua lại yêu cầu thần kể các hành nghiệp của vị Thiên thần đang hưởng lạc tại đây:
72. Kìa ngọc cung đang chiếu đầy ánh sáng, Cảnh nguy nga tráng lệ thật huy ho àng, Nhạc du dương đang trổi khúc thi ên đường, Đ àn ca trống âm vang theo vũ khúc, Ta chưa từng thấy cảnh nào ngoạn mục, Âm thanh êm dịu quá chẳng hề nghe. Lòng hân hoan, hãy nói, Mà-ta-li, Các nghiệp lành những vị này tạo tác, Nay hạnh phúc trong thiên cung hoan lạc? 73. Mà-ta-li, thần điều ngự, đáp lời, N êu thiện duyên nay mang quả chín muồi: - Một vị tại gia ở thành Bê-na-rét, Bố thí nhiều vườn cây cùng giếng nước, Kéo nước và dâng cúng Thánh nhân: Y phục, thức ăn, tọa cụ, vật cần, L òng hòa hợp cùng thiện nhân chánh trực, Mỗi tháng hai lần giữ ngày Bố-tát, Mồng tám, mười tư, cùng với ngày rằm, Rộng lượng, điều thân, theo bước Thánh nhân, Nay an trú trong lâu đ ài an lạc.
Vừa lái thiên xa tiến lên, thần vừa chỉ một lâu đ ài bằng vàng, như mặt trời đang tỏa ánh sáng v à theo lời thỉnh cầu của nhà vua, thần kể các thiện nghiệp của vị Thiên nhân đang an trú ở đấy:
74. Ngắm lâu đ ài kia sáng ngời ánh lửa, Đỏ như mặt trời đang lúc l ên cao, Mà-ta-li, long hoan hỷ, nói mau, Thiện nghiệp gì thế nhân này vun xới, Nay an trú hưởng lâu đ ài trên thiên giới? 75. Mà-ta-li, thần điều ngự, đáp lời, N êu thiện duyên nay mang quả chín muồi: - Một chủ nhà xưa ở thành Xá-vệ, Giếng nước, vườn cây, rộng lòng bố thí, Kéo nước, dâng các Thánh với tín tâm: Thức uống ăn v à y phục, tọa sàng, Vật cần thiết, tâm hòa người chánh trực, Mỗi tháng hai lần giữ ngày Bố- tát, Mùng tám, mười tư, cùng với ngày rằm, Rộng lượng, điều thân, theo bước Thánh nhân, Nay an trú lâu đ ài đầ y hoan lạc.
Trong khi thần Màtali tả cảnh tám lâu đ ài này, Sakka Thiên chủ, Đại đế của chư Thi ên, tưởng rằng Màtali còn lâu lắm mới trở về, nên đ ã phái một Thiên tử nhanh chân khác đi đưa tin triệu hồi. M àtali nghe lệnh, thấy không thể nào trì hoãn được nữa, liền trong một thoáng nhanh như chớp, thần chỉ một lượt nhiều lâu đ ài và nêu cho vua thấy những thiện nghiệp của các Thiên nhân ở trong đó :
76. Nhìn những lâu đ ài rực sáng trên không, Như tia chớp xuyên qua đám mây hồng. L òng hoan hỷ, Mà-ta-li, hãy nói, Thiện nghiệp gì các vị này vun xới, Nên bây giờ an hưởng cảnh thiên đường? 77. M à-ta-li đáp lại đấng quân vương, N êu thiện nghiệp chín muồi và mang quả: - Sống hướng thiện, tín thành và thức giả, Thi hành những lời dạy của Đạo Sư, Nhờ sống như Phật Đại Giác dạy cho, Nay l ên các thiên cung ngài đang ngắm!
Sau khi đ ã chỉ cho nhà vua các lâu đ ài trên không, thần lên đường trở về yết kiến Sakka Thi ên chủ với những lời này:
78. Ngài đ ã thấy cảnh người lành, kẻ dữ, Giờ ta mau bái yết đấ ng Thiên hoàng.
Nói xong, thần tiếp tục lái xe đi v à chỉ cho nhà vua xem bảy ngọn đồi bao quanh núi Sineru (Tu-di) l àm thành một vòng tròn, rồi để giải thích cách vua hỏi M àtali khi thấy cảnh này, bậc Đạo Sư nói:
79. Khi Đạ i vương du hành lên thiên giới, Ngự thiện xa ngàn thiên mã kéo đi Thấy những đỉnh non cao ngất đằng kia, Trên biển cả Si-dà, ngài liền hỏi: - Núi đồi n ày là gì xin hãy nói, Nghe vua Nimi hỏi, thần Màtali đáp: 80. Núi hùng vĩ Sudassara, Karavìka, Ìsadhara, Yugandhaka, Nemindhara, Yinatara Assakanna, Những đồi n ày ở Sìdantara, Theo lớp hàng đồi núi đứng gần xa, Cao sừng sững giữa không gian chất ngất, Mà Đại vương đang ng ắm nhìn tận mắt.
Rồi thần chỉ thiên giới của Tứ đại Thi ên vương và tiếp tục đi cho đến lúc thấy các tượng thần Indra đứng sừng sững quanh Đại Thi ên môn Cittakùta ở cõi trời Ba mươi ba.
Thấy cảnh tượng này, vua liền hỏi và Màtali đáp lại:
81. Cảnh đẹp tinh vi , tráng lệ, huy hoàng, Tượng thần Indra sừng sững thiên môn, Như thần hổ đứng canh, ta nh ìn kỹ, Mà-ta-li, lòng ta đầy hoan hỷ, Nói cho ta t ên cảnh đẹp tuyệt vời. 82. M à-ta-li, thần điều ngự, đáp lời, N êu thiện nghiệp chín muồi nay mang trái: - Ci-ta-kù-ta, nơi ngài chiêm bái, Cổng đi v ào cung Đại đế Thi ên hoàng, Đây Đại môn quan của ngọn Mỹ Sơn, Diễm lệ, huy ho àng, bao quanh sừng sững, Với tượng Indra như bầy hổ đứng. Mời Hiền vương v ào chốn thanh tịnh này.
Nói xong Màtali dẫn vua vào trong, và việc ấy được tả lại như sau:
83.Khi Đại vương ngự giá chiếc thiên xa, Được cả ng àn tuấn mã kéo đi qua, Nh à vua ngắm nơi chư Thiên hội họp.
Trong khi Ngài đi ngang qua, ngắm nơi chư Thi ên hội họp tại Thiện pháp đường Sudhamm à, Ngài liền hỏi và Màtali đáp lại:
84. Như mùa thu, trời cả một màu xanh, Tòa lâu đ ài ngọc bích hiện nguyên hình, Lòng hoan hỷ, Mà-ta-li, hãy nói, Tên lâu đ ài mà ta đang chi êm bái? 85. Mà-ta-li, thần điều ngự, đáp lời, N êu thiện duyên đem quả tốt chín muồi: - Đây Thiện pháp đường chư Thi ên tụ tập, Trụ đứng nguy nga, công tr ình mỹ thuật, Tám bề xây bằng ngọc bích, bảo trân, Tam thập tam thiên với đấng Ngọc ho àng, Đại đế In-dra cầu mong lạc phước, Cho trời, người; mời Đại vương h ãy bước, Chốn diễm kiều, nơi trú ngụ chư Thiên.
Các vị Thiên lúc ấy đang ngồi đợi vua đến. Khi nghe tin, họ bước ra đón ng ài với hoa hương cõi trời thơm tỏa ngào ngạt đến tận cổng Cittak ùta ấy và mời ngài vào Thiện pháp đường. Vua xuống xe v ào sảnh đường, chư Thi ên mời ngài ngồi và Sakka Thiên chủ cũng ban tặng ngài đủ mọi hoan lạc của thi ên giới.
*
Bậc Đạo Sư giải thích việc n ày như sau:
86. Chư Thiên ngắm đứ c vua vừa mới đến, Đồng ch ào mừng vị quý khách Minh quân: - Cung nghênh ngài! Thiên chủ rất hân hoan, Được diện kiến! B ên Sak-ka Thiên chủ, Chúng Thiên đồng kính mời Minh quân ngự. 87. Thi ên chủ mời Đại đế Vi-đề-ha, Vị Minh quân ngự trị Mi-thi-l à, Và-sa-va liền tặng ngài tất cả, Thiên lạc và thỉnh Minh quân an tọa. 88. - Giữa các quân vương cai trị cõi đời, Xin cung ngh ênh chúa tể đến cung trời, An trú với chư Thi ên, này Chúa tể, Ngài sẽ được mọi ước nguyền như ý, Hưởng trường xuân n ơi Tam thập tam thiên.
Như vậy Thiên chủ Sakka ban ngài các thiên lạc, nhưng vua từ chối khéo và đáp lại:
89.- Như khi ta đượ c ngự giá xe tiên, Hay được tặng phỉ nguyền bao phúc lạc, Chính l à hưởng đặc ân từ kẻ khác. 90. Ta không m àng những phúc lạc đặc ân, Nhận từ tay do kẻ khác phát phân, Các thiện nghiệp đều của ta duy nhất, Tr ên các nghiệp riêng, ta luôn vững chắc. 91. Ta sẽ đi l àm thiện nghiệp cho người, Bố thí cúng dường ở khắp mọi nơi, Ta sẽ bước theo con đường giới đức, Tập ph òng hộ và tự thân điều phục, Người thực h ành như vậy sẽ hân hoan, Không còn lo phải gặp lúc ăn năn.
Như vậy bậc Đại sĩ thuyết Pháp cho chư Thi ên với âm thanh ngọt như mật. Ngài ở lại đó bảy ng ày theo ước tính của loài người, đem đến niềm hân hoan cho Thi ên chúng. Rồi đứng giữa các vị Thi ên thần, ngài nêu rõ công đức của M àtali:
92. Mà-ta-li, thần quản xa thiên giới, Là vị thần đặc biệt đ ã ban ân, Vị ấy chỉ cho ta thấy rõ ràng Nơi kẻ dữ, người lành đang cư trú.
Rồi vua từ giã Thiên chủ Sakka, nói rằng ngài muốn trở về hạ giới. Sau đó Thi ên chủ bảo:
- Này hiền hữu Màtali, hãy rước Đại vương Nimi về th ành Mithilà ngay lập tức.
Xa giá đ ã sẵn sàng và vua đáp lại những lời chúc tụng thân hữu của chư Thi ên rồi tạ từ lên xe. Màtali lái xe về hướng đông, đến th ành Mithilà. Dân chúng thấy thiên xa, hoan hỷ biết vua đ ã trở về. Một đám người vây quanh vua v à hỏi ngài cảnh Thiên giới. Ngài tả cho họ nghe cảnh an lạc của chư Thiên và Thiên chủ Sakka, rồi khuyến dụ họ làm lành, bố thí để được tái sinh l ên cõi trời.
Sau đó khi người thợ hớt tóc thấy sợi tóc bạc đầu ti ên và bảo cho ngài hay, ngài liền bảo gã cất sợi tóc bạc ấy, rồi ban cho gã một ngôi làng. Ngài muốn rời thế tục nên phong vương cho con ngài. Khi được hỏi tại sao ng ài muốn xuất thế, ngài đọc câu kệ:
Kìa tóc bạc trên đầu hiện ra ...
Và cũng như các vua trước, ngài xuất gia, vào sống trong vườn xoài, tu tập Tứ Vô lượng tâm, rồi được sinh l ên cõi Phạm thiên .
Việc xuất gia của ngài được các bậc Đạo Sư tả trong vần kệ cuối c ùng:
93. Ni-mi, Chúa tể Mi-thi-là, Khi đ ã làm Đạo Sự xuất gia, Ng ài bước vào con đường Thánh hạnh. Bản thân chế ngự với Thiền na.
Và con ngài, vua Kalàra-Janaka, cũng xuất gia, chấm dứt cả triều đại của ng ài.
*
Khi bậc Đạo Sư thuyết giảng xong, Ng ài nói:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải lần đầu ti ên Như Lai xuất thế, mà Như Lai đ ã xuất thế trong đời trước.
Rồi ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ Sakka là Anuruddha (A-na-luật- đ à), Màtali là Ànanda (A-nan), tám mươi bốn vị vua là đệ tử đức Phật v à vua Nimi chính là Ta vậy.
-ooOoo- Đầu trang | Mục lục | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 Chân thành cám ơn đạo hữu HT đã giúp đánh máy bản vi tính, và đạo hữu PCC & NQ đã giúp dò soát (Bình Anson, 12-2005).
[ Mục lục Tiểu Bộ ][ Thư Mục Tổng Quát ]
last updated: 02-01-2006
BuddhaSasana Home Page This document is written in Vietnamese, with Unicode Times font
Tiểu Bộ Kinh - Tập IX
Chuyện Tiền Thân Đức Phật (VII)
Giáo sư Trần Phương Lan dịch Việt
Chương XXII Đại Phẩm (tiếp theo)
-ooOoo-
Bản dịch: Trần Phương Lan
Dịch bởi Trần Phương Lan. Trích từ Chuyện Tiền Thân Đức Phật (Jātaka), Tiểu Bộ Kinh. Nguồn: http://www.budsas.net/.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Accheraṃ vata lokasmiṃ, uppajjanti vicakkhaṇā;
Yadā ahu nimirājā, paṇḍito kusalatthiko.
How wonderful, indeed, in the world that discerning ones arise! Such was King Nimi, a wise man seeking what is wholesome.
Thật kỳ diệu thay ở trên đời, các bậc hiền trí đã xuất hiện; Như đã có vua Nimi, là bậc thông thái, người tìm cầu điều thiện.
422.
422.
422.
‘‘Rājā sabbavidehānaṃ, adā dānaṃ arindamo;
Tassa taṃ dadato dānaṃ, saṅkappo udapajjatha;
Dānaṃ vā brahmacariyaṃ vā, katamaṃ su mahapphalaṃ.
The king of all the Videhas, the foe-subduer, gave gifts. As he was giving those gifts, a thought arose in him: 'Between giving and the holy life, which has the greater fruit?'
Vị vua của toàn cõi Videha, bậc nhiếp phục kẻ thù, đã thực hành bố thí; Trong khi đang bố thí như vậy, một ý nghĩ đã khởi lên trong ngài; Bố thí hay là phạm hạnh, cái nào có quả lớn hơn?
423.
423.
423.
Tassa saṅkappamaññāya, maghavā devakuñjaro;
Sahassanetto pāturahu, vaṇṇena vihanaṃ † tamaṃ.
Knowing his thought, Maghavā, the elephant among the gods, the thousand-eyed one, appeared, dispelling the darkness with his radiance.
Biết được ý định của vị ấy, đấng Maghavā, vị trời oai dũng, bậc Ngàn Mắt đã hiện ra, với dung sắc xua tan bóng tối.
424.
424.
424.
Salomahaṭṭho manujindo, vāsavaṃ avacā nimi;
‘‘Devatā nusi gandhabbo, adu sakko purindado.
With his hair standing on end, Nimi, lord of men, said to Vāsava: 'Are you a deity, a gandhabba, or Sakka, the giver of cities?'
Vị vua của loài người, lông tóc dựng đứng, Nimi đã nói với Vāsava: ‘Ngài là vị trời, là càn-thát-bà, hay là Sakka, đấng Purindada?’
425.
425.
425.
‘‘Na ca me tādiso vaṇṇo, diṭṭho vā yadi vā suto;
† Ācikkha me tvaṃ bhaddante, kathaṃ jānemu taṃ mayaṃ’’ †.
Never have I seen or heard of such an appearance. Tell me, good sir, how are we to know you?
‘Dung sắc như thế này của ngài, tôi chưa từng thấy hoặc chưa từng nghe; thưa ngài tôn quý, xin ngài hãy cho tôi biết, làm sao chúng tôi có thể biết được ngài?’
426.
426.
426.
Salomahaṭṭhaṃ ñatvāna, vāsavo avacā nimiṃ;
‘‘Sakkohamasmi devindo, āgatosmi tavantike;
Alomahaṭṭho manujinda, puccha pañhaṃ yamicchasi’’.
Knowing his hair stood on end, Vāsava said to Nimi: 'I am Sakka, the lord of gods; I have come into your presence. Let your hair not stand on end, O lord of men, and ask whatever question you desire.'
Biết được (vua) đang dựng lông tóc, Vāsava đã nói với Nimi: ‘Ta là Sakka, vua của chư Thiên, đã đến nơi ở của ngài. Thưa vị vua của loài người, xin ngài đừng dựng lông tóc, hãy hỏi câu hỏi nào ngài mong muốn.’
427.
427.
427.
So ca tena katokāso, vāsavaṃ avacā nimi;
‘‘Pucchāmi taṃ mahārāja †, sabbabhūtānamissara;
Dānaṃ vā brahmacariyaṃ vā, katamaṃ su mahapphalaṃ’’.
And having been given leave by him, Nimi addressed Vāsava: ‘I ask you, O great king, sovereign lord of all beings: Which is of greater fruit, giving or the holy life?’
Và vị ấy, được vị kia cho phép, Nimi đã nói với Vāsava: ‘Thưa Đại vương, tôi xin hỏi ngài, bậc chúa tể của tất cả chúng sanh: Bố thí hay là phạm hạnh, cái nào có quả lớn hơn?’
428.
428.
428.
So puṭṭho naradevena, vāsavo avacā nimiṃ;
‘‘Vipākaṃ brahmacariyassa, jānaṃ akkhāsijānato.
Asked by the lord of men, Vāsava spoke to Nimi; knowing the result of the holy life, he explained it to him who was discerning.
Vị ấy, được vị vua của loài người hỏi, Vāsava đã nói với Nimi: ‘Biết được quả của phạm hạnh, ta sẽ giải thích cho người hiểu biết.’
429.
429.
429.
‘‘Hīnena brahmacariyena, khattiye upapajjati;
Majjhimena ca devattaṃ, uttamena visujjhati.
‘By an inferior holy life, one is reborn among khattiyas; by a middling one, one attains divinity; by the supreme, one is purified.’
‘Với phạm hạnh hạ liệt, người ấy sanh vào dòng Sát-đế-lỵ; với phạm hạnh trung bình, (sanh vào) cõi trời; với phạm hạnh cao thượng, người ấy được thanh tịnh.’
430.
430.
430.
‘‘Na hete sulabhā kāyā, yācayogena kenaci;
Ye kāye upapajjanti, anāgārā tapassino.
‘These bodies are not easily obtained by any kind of entreaty; those who are reborn in such bodies are homeless ascetics.’
‘Những thân này không dễ dàng có được, bằng bất cứ sự cầu xin nào; những thân mà trong ấy các vị tu sĩ không nhà, các nhà khổ hạnh, được sanh vào.’
431.
431.
431.
‘‘Dudīpo † sāgaro selo, mujakindo † bhagīraso;
Usindaro † kassapo ca †, asako ca puthujjano.
‘Dudīpa, Sāgara, Sela, Mujakinda, Bhagīrasa, Usindara, Kassapa, and Asaka, the worldling.’
‘Dudīpa, Sāgara, Selo, Mujakinda, Bhagīrasa; và Usindara, Kassapa, và Asaka, người phàm phu.’
432.
432.
432.
‘‘Ete caññe ca rājāno, khattiyā brāhmaṇā bahū;
Puthuyaññaṃ yajitvāna, petattaṃ † nātivattisuṃ.
‘These and many other kings, khattiyas, and brahmins, having performed various sacrifices, did not transcend the state of the departed.’
‘Những vị vua này và các vị khác, nhiều người thuộc dòng Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, sau khi đã thực hiện các cuộc tế lễ rộng lớn, đã không vượt qua được cảnh giới ngạ quỷ.’
433.
433.
433.
‘‘Atha yīme † avattiṃsu, anāgārā tapassino;
Sattisayo yāmahanu, somayāmo † manojavo.
‘But those who lived as homeless ascetics—Sattisaya, Yāmahanu, Somayāma, and Manojava—’
‘Còn những vị này đã sống, là những nhà khổ hạnh không nhà: Sattisayo, Yāmahanu, Somayāmo, Manojavo.’
434.
434.
434.
‘‘Samuddo māgho bharato ca, isi kālapurakkhato †;
Aṅgīraso kassapo ca, kisavaccho akatti † ca.
‘Samudda, Māgha, Bharata, and the sage Kālapurakkhato; Aṅgīrasa, Kassapa, Kisavaccha, and Akatti.’
‘Samudda, Māgha, và Bharata, vị ẩn sĩ Kālapurakkhato; Aṅgīrasa và Kassapa, và Kisavaccha, và Akatti.’
435.
435.
435.
‘‘Uttarena nadī sīdā, gambhīrā duratikkamā;
Naḷaggivaṇṇā jotanti, sadā kañcanapabbatā.
‘To the north is the river Sīdā, deep and difficult to cross. The golden mountains always shine, radiant like reed-flames.’
‘Về phía bắc có sông Sīdā, sâu thẳm và khó vượt qua; các ngọn núi vàng luôn luôn chiếu sáng với màu sắc của ngọn lửa trên cây sậy.’
436.
436.
436.
‘‘Parūḷhakacchā tagarā, rūḷhakacchā vanā nagā;
Tatrāsuṃ dasasahassā, porāṇā isayo pure.
‘With dense thickets of tagara shrubs, with dense undergrowth in forests and mountains; there, in former times, were ten thousand ancient seers.’
‘Cây tagarā mọc um tùm trong vùng đầm lầy, cây cối trong rừng mọc um tùm trong vùng đầm lầy; ở nơi ấy, vào thời xưa, đã có mười ngàn vị ẩn sĩ cổ xưa.’
437.
437.
437.
‘‘Ahaṃ seṭṭhosmi dānena, saṃyamena damena ca;
Anuttaraṃ vataṃ katvā, pakiracārī samāhite.
‘I am foremost in giving, restraint, and self-control; having undertaken the unsurpassed observance, I wandered about, composed.’
‘Ta là bậc tối thắng về bố thí, về sự tự chế và sự điều phục; sau khi đã thực hành lời nguyện vô thượng, ta đi đây đó trong sự định tĩnh.’
438.
438.
438.
‘‘Jātimantaṃ ajaccañca, ahaṃ ujugataṃ naraṃ;
Ativelaṃ namassissaṃ, kammabandhū hi māṇavā †.
‘To a man of high birth and one of low birth, if he has gone straight, I would bow down exceedingly, for beings have their actions as their kin.’
‘Ta sẽ hết lòng tôn kính người có dòng dõi, thuộc gia thế cao sang, người sống ngay thẳng; vì rằng các chúng sanh là quyến thuộc của nghiệp.’
439.
439.
439.
‘‘Sabbe vaṇṇā adhammaṭṭhā, patanti nirayaṃ adho;
Sabbe vaṇṇā visujjhanti, caritvā dhammamuttamaṃ’’.
‘All classes, if unrighteous, fall downwards into hell; all classes are purified by practicing the supreme Dhamma.’
‘Tất cả các giai cấp đứng trong phi pháp, đều rơi xuống địa ngục bên dưới; tất cả các giai cấp đều được thanh tịnh, sau khi đã thực hành Chánh pháp tối thượng.’
440.
440.
440.
Idaṃ vatvāna maghavā, devarājā sujampati;
Vedehamanusāsitvā, saggakāyaṃ apakkami.
Having spoken thus, Maghavā, king of the gods, Sujampati, having instructed the King of Videha, departed to the heavenly host.
Sau khi nói điều này, đấng Maghavā, vua của chư Thiên, chồng của bà Sujā, sau khi đã giáo huấn vua xứ Videha, đã đi đến cõi trời.
441.
441.
441.
‘‘Imaṃ bhonto nisāmetha, yāvantettha samāgatā;
Dhammikānaṃ manussānaṃ, vaṇṇaṃ uccāvacaṃ bahuṃ.
‘Listen to this, good sirs, as many as are gathered here: the varied and abundant praise of righteous people.’
‘Này các hiền hữu, tất cả những ai đã tụ hội ở đây, hãy lắng nghe điều này: lời tán thán nhiều và đa dạng về những con người sống đúng theo Chánh pháp.’
442.
442.
442.
‘‘Yathā ayaṃ nimirājā, paṇḍito kusalatthiko;
Rājā sabbavidehānaṃ, adā dānaṃ arindamo.
‘How this King Nimi, wise, seeking what is wholesome, king of all the Videhas, the foe-subduer, gave alms.’
‘Như thế nào vua Nimi này, bậc hiền trí, người tìm cầu điều thiện, vị vua của tất cả dân Videha, bậc chinh phục kẻ thù, đã thực hành bố thí.’
443.
443.
443.
‘‘Tassa taṃ dadato dānaṃ, saṅkappo udapajjatha;
Dānaṃ vā brahmacariyaṃ vā, katamaṃ su mahapphalaṃ’’.
‘As he was giving that gift, this thought arose in him: “Which is of greater fruit, giving or the holy life?”’
‘Trong khi vị ấy đang thực hành bố thí, một ý định đã khởi lên: Bố thí hay là phạm hạnh, cái nào có quả lớn hơn?’
444.
444.
444.
Abbhuto vata lokasmiṃ, uppajji lomahaṃsano;
Dibbo ratho pāturahu, vedehassa yasassino.
A wonder indeed, a hair-raising event, arose in the world: a divine chariot appeared for the glorious King of Videha.
Thật là một điều kỳ diệu đã khởi lên ở thế gian, làm cho lông tóc dựng đứng; một cỗ xe chư thiên đã hiện ra cho vị vua vinh quang của xứ Videha.
445.
445.
445.
Devaputto mahiddhiko, mātali devasārathi;
Nimantayittha rājānaṃ, vedehaṃ mithilaggahaṃ.
A divine being of great power, Mātali, the charioteer of the gods, invited the king, the Videhan lord of Mithilā.
Vị con của trời, có đại thần lực, Mātali, người đánh xe của chư thiên, đã thỉnh mời đức vua, người Videha, chúa tể của thành Mithilā.
446.
446.
446.
‘‘Ehimaṃ rathamāruyha, rājaseṭṭha disampati;
Devā dassanakāmā te, tāvatiṃsā saindakā;
Saramānā hi te devā, sudhammāyaṃ samacchare’’.
‘Come, ascend this chariot, O best of kings, lord of the land. The Tāvatiṃsa gods, with Indra, wish to see you; indeed, remembering you, the gods are gathered in the Sudhammā Hall.’
‘Thưa bậc vua chúa cao quý, chúa tể của xứ sở, xin hãy đến và lên cỗ xe này. Chư Thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba cùng với vua Indra đang mong muốn được gặp ngài. Vì rằng, trong khi tưởng nhớ đến ngài, chư Thiên đang tụ hội ở pháp đường Sudhammā.’
447.
447.
447.
Tato rājā taramāno, vedeho mithilaggaho;
Āsanā vuṭṭhahitvāna, pamukho rathamāruhi.
Then the king, the Videhan lord of Mithilā, hastening, rose from his seat and, as the chief, mounted the chariot.
Khi ấy, đức vua, người Videha, chúa tể của thành Mithilā, một cách vội vã, sau khi đã đứng dậy từ chỗ ngồi, đã hướng về và bước lên cỗ xe.
448.
448.
448.
Abhirūḷhaṃ rathaṃ dibbaṃ, mātali etadabravi;
‘‘Kena taṃ nemi maggena, rājaseṭṭha disampati;
Yena vā pāpakammantā, puññakammā ca ye narā’’.
When he had mounted the divine chariot, Mātali said this to him: ‘By which path shall I lead you, O best of kings, lord of the land: that taken by evil-doers, or by those people who have done meritorious deeds?’
Với vị (vua) đã lên cỗ xe chư thiên, Mātali đã nói điều này: ‘Thưa bậc vua chúa cao quý, chúa tể của xứ sở, tôi nên dẫn ngài đi theo con đường nào? Con đường của những người làm điều ác, hay của những người làm điều phước thiện?’
449.
449.
449.
‘‘Ubhayeneva maṃ nehi, mātali devasārathi;
Yena vā pāpakammantā, puññakammā ca ye narā’’.
‘Lead me by both ways, Mātali, divine charioteer: that taken by evil-doers, and by those people who have done meritorious deeds.’
‘Thưa Mātali, người đánh xe của chư thiên, xin hãy dẫn tôi đi bằng cả hai con đường: con đường của những người làm điều ác, và của những người làm điều phước thiện.’
450.
450.
450.
‘‘Kena taṃ paṭhamaṃ nemi, rājaseṭṭha disampati;
Yena vā pāpakammantā, puññakammā ca ye narā’’.
‘By which shall I lead you first, O best of kings, lord of the land: that taken by evil-doers, or by those people who have done meritorious deeds?’
‘Thưa bậc vua chúa cao quý, chúa tể của xứ sở, tôi nên dẫn ngài đi theo con đường nào trước tiên? Con đường của những người làm điều ác, hay của những người làm điều phước thiện?’
451.
451.
451.
‘‘Niraye † tāva passāmi, āvāse † pāpakamminaṃ;
Ṭhānāni luddakammānaṃ, dussīlānañca yā gati’’.
‘First I shall see the hells, the abodes of evil-doers, the places of those of cruel deeds, and the destination of the immoral.’
‘Trước tiên, tôi muốn xem các địa ngục, nơi ở của những người làm điều ác; những nơi chốn của những người có hành động tàn bạo, và là cảnh giới của những người theo ác giới.’
452.
452.
452.
Dassesi mātali rañño, duggaṃ vetaraṇiṃ nadiṃ;
Kuthitaṃ khārasaṃyuttaṃ, tattaṃ aggisikhūpamaṃ †.
Mātali showed the king the river Vetaraṇī, difficult to cross, foul, mixed with caustic substances, heated, resembling a flame of fire.
Mātali đã chỉ cho đức vua thấy sông Vetaraṇī khó đi qua; nước sôi sùng sục, hòa lẫn với nước kiềm, nóng bỏng, giống như ngọn lửa.
453.
453.
453.
Nimī have mātalimajjhabhāsatha †, disvā janaṃ patamānaṃ vidugge;
‘‘Bhayañhi maṃ vindati sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Ime nu maccā kimakaṃsu pāpaṃ, yeme janā vetaraṇiṃ patanti’’.
Nimi then addressed Mātali, seeing people falling into that dreadful place: ‘Indeed, fear seizes me, charioteer, upon seeing this. I ask you, Mātali, divine charioteer: What evil, pray, have these mortals done, that these people fall into the Vetaraṇī?’
Vua Nimi đã nói với Mātali, sau khi thấy chúng sanh đang rơi vào nơi khốn khổ: 'Này người đánh xe, sau khi thấy (cảnh này), sự sợ hãi quả thật đến với ta. Ta hỏi ông, Mātali, người đánh xe của chư Thiên: Những người này đã làm điều ác gì, mà khiến họ rơi vào sông Vetaraṇī?'
454.
454.
454.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ pāpakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
Asked by him, Mātali, the divine charioteer, explained; knowing the result of evil deeds, he declared it to the discerning king.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, người biết (việc ấy), đã giải thích cho người muốn biết về quả báo của các ác nghiệp.
455.
455.
455.
‘‘Ye dubbale balavantā jīvaloke, hiṃsanti rosanti supāpadhammā;
Te luddakammā pasavetva pāpaṃ, teme janā vetaraṇiṃ patanti’’.
‘Those strong ones in the world of the living who, being of exceedingly evil ways, harm and anger the weak—those cruel-doers, having generated evil—those people fall into the Vetaraṇī.’
'Những kẻ mạnh nào ở trong thế gian, là những kẻ có ác pháp, làm tổn hại và sân hận những người yếu đuối; những kẻ có hành vi tàn ác ấy, sau khi đã tạo ra điều ác, chính những người ấy rơi vào sông Vetaraṇī.'
456.
456.
456.
‘‘Sāmā ca soṇā sabalā ca gijjhā, kākolasaṅghā adanti † bheravā;
Bhayañhi maṃ vindati sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Ime nu maccā kimakaṃsu pāpaṃ, yeme jane kākolasaṅghā adanti’’.
‘Black dogs and spotted dogs and vultures, and terrifying flocks of crows devour them. Indeed, fear seizes me, charioteer, upon seeing this. I ask you, Mātali, divine charioteer: What evil, pray, have these mortals done, that flocks of crows devour these people?’
'Những con chó đen, chó đốm, kền kền, và bầy quạ đáng sợ đang ăn thịt (họ). Này người đánh xe, sau khi thấy (cảnh này), sự sợ hãi quả thật đến với ta. Ta hỏi ông, Mātali, người đánh xe của chư Thiên: Những người này đã làm điều ác gì, mà khiến họ bị bầy quạ ăn thịt?'
457.
457.
457.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ pāpakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
Asked by him, Mātali, the divine charioteer, explained; knowing the result of evil deeds, he declared it to the discerning king.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, người biết (việc ấy), đã giải thích cho người muốn biết về quả báo của các ác nghiệp.
458.
458.
458.
‘‘Ye kecime maccharino kadariyā, paribhāsakā samaṇabrāhmaṇānaṃ;
Hiṃsanti rosanti supāpadhammā, te luddakammā pasavetva pāpaṃ;
Teme jane kākolasaṅghā adanti’’.
‘Those who are stingy and miserly, revilers of ascetics and brahmins, who, being of exceedingly evil ways, harm and anger them—those cruel-doers, having generated evil—flocks of crows devour those people.’
'Bất cứ những ai là người bỏn xẻn, keo kiệt, những người phỉ báng Sa-môn và Bà-la-môn; những kẻ có ác pháp, làm tổn hại và sân hận; những kẻ có hành vi tàn ác ấy, sau khi đã tạo ra điều ác, chính những người ấy bị bầy quạ ăn thịt.'
459.
459.
459.
‘‘Sajotibhūtā pathaviṃ kamanti, tattehi khandhehi ca pothayanti;
Bhayañhi maṃ vindati sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Ime nu maccā kimakaṃsu pāpaṃ, yeme janā khandhahatā sayanti’’.
‘Having become fiery, they walk on the earth and strike with heated logs. Indeed, fear seizes me, charioteer, upon seeing this. I ask you, Mātali, divine charioteer: What evil, pray, have these mortals done, that these people lie struck down by logs?’
'(Họ) đi trên mặt đất rực lửa, và bị đánh đập bằng những khúc cây nung đỏ. Này người đánh xe, sau khi thấy (cảnh này), sự sợ hãi quả thật đến với ta. Ta hỏi ông, Mātali, người đánh xe của chư Thiên: Những người này đã làm điều ác gì, mà khiến họ nằm đó, bị những khúc cây đánh đập?'
460.
460.
460.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ pāpakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
Asked by him, Mātali, the divine charioteer, explained; knowing the result of evil deeds, he declared it to the discerning king.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, người biết (việc ấy), đã giải thích cho người muốn biết về quả báo của các ác nghiệp.
461.
461.
461.
‘‘Ye jīvalokasmi supāpadhammino, narañca nāriñca apāpadhammaṃ;
Hiṃsanti rosanti supāpadhammā †, te luddakammā pasavetva pāpaṃ;
Teme janā khandhahatā sayanti’’.
‘Those in the world of the living of exceedingly evil ways who harm and anger a blameless man or woman—those cruel-doers, having generated evil—those people lie struck down by logs.’
'Những kẻ có ác pháp nào ở trong thế gian, làm tổn hại và sân hận người nam và người nữ vô tội; những kẻ có hành vi tàn ác ấy, sau khi đã tạo ra điều ác, chính những người ấy nằm đó, bị những khúc cây đánh đập.'
462.
462.
462.
‘‘Aṅgārakāsuṃ apare phuṇanti †, narā rudantā paridaḍḍhagattā;
Bhayañhi maṃ vidanti sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Ime nu maccā kimakaṃsu pāpaṃ, yeme janā aṅgārakāsuṃ phuṇanti’’.
‘Others sink into a pit of embers, people weeping, with their bodies scorched. Indeed, fear seizes me, charioteer, upon seeing this. I ask you, Mātali, divine charioteer: What evil, pray, have these mortals done, that these people sink into a pit of embers?’
'Những người khác đang sàng sảy trong hố than hồng, họ khóc lóc, thân thể bị cháy sém. Này người đánh xe, sau khi thấy (cảnh này), sự sợ hãi quả thật đến với ta. Ta hỏi ông, Mātali, người đánh xe của chư Thiên: Những người này đã làm điều ác gì, mà khiến họ sàng sảy trong hố than hồng?'
463.
463.
463.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ pāpakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
Asked by him, Mātali, the divine charioteer, explained; knowing the result of evil deeds, he declared it to the discerning king.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, người biết (việc ấy), đã giải thích cho người muốn biết về quả báo của các ác nghiệp.
464.
464.
464.
‘‘Ye keci pūgāya dhanassa † hetu, sakkhiṃ karitvā iṇaṃ jāpayanti;
Te jāpayitvā janataṃ janinda, te luddakammā pasavetva pāpaṃ;
Teme janā aṅgārakāsuṃ phuṇanti’’.
‘Those who, for the sake of a guild or for wealth, bear false witness and enforce a debt—having made people pay, O lord of men—those cruel-doers, having generated evil, those people sink into a pit of embers.’
'Tâu đại vương, bất cứ ai, vì tài sản của một tập thể, sau khi làm chứng lại chối bỏ món nợ; sau khi lừa dối dân chúng, những kẻ có hành vi tàn ác ấy, sau khi đã tạo ra điều ác, chính những người ấy sàng sảy trong hố than hồng.'
465.
465.
465.
‘‘Sajotibhūtā jalitā padittā, padissati mahatī lohakumbhī;
Bhayañhi maṃ vindati sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Ime nu maccā kimakaṃsu pāpaṃ, yeme janā avaṃsirā lohakumbhiṃ patanti’’.
‘Fiery, blazing, and aflame, a great iron cauldron appears. Indeed, fear seizes me, charioteer, upon seeing this. I ask you, Mātali, divine charioteer: What evil, pray, have these mortals done, that these people fall headfirst into the iron cauldron?’
'Một cái vạc sắt lớn được trông thấy, rực lửa, cháy bừng, bốc cháy. Này người đánh xe, sau khi thấy (cảnh này), sự sợ hãi quả thật đến với ta. Ta hỏi ông, Mātali, người đánh xe của chư Thiên: Những người này đã làm điều ác gì, mà khiến họ đầu chúc xuống, rơi vào vạc sắt?'
466.
466.
466.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ pāpakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
Asked by him, Mātali, the divine charioteer, explained; knowing the result of evil deeds, he declared it to the discerning king.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, người biết (việc ấy), đã giải thích cho người muốn biết về quả báo của các ác nghiệp.
467.
467.
467.
‘‘Ye sīlavantaṃ † samaṇaṃ brāhmaṇaṃ vā, hiṃsanti rosanti supāpadhammā;
Te luddakammā pasavetva pāpaṃ, teme janā avaṃsirā lohakumbhiṃ patanti’’.
'Those who harm or anger a virtuous ascetic or brahmin, being of exceedingly evil ways—those cruel-doers, having generated evil—those people fall headfirst into the iron cauldron.'
'Những kẻ có ác pháp nào làm tổn hại và sân hận Sa-môn hay Bà-la-môn có giới hạnh; những kẻ có hành vi tàn ác ấy, sau khi đã tạo ra điều ác, chính những người ấy đầu chúc xuống, rơi vào vạc sắt.'
468.
468.
468.
‘‘Luñcanti gīvaṃ atha veṭhayitvā †, uṇhodakasmiṃ pakiledayitvā †;
Bhayañhi maṃ vindati sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Ime nu maccā kimakaṃsu pāpaṃ, yeme janā luttasirā sayanti’’.
'They tear at their necks, then twist them, having soaked them in hot water. Indeed, fear seizes me, charioteer, seeing this. I ask you, Mātali, divine charioteer: What evil, pray, have these mortals done, that these people lie with severed heads?'
'(Các ngục tốt) vặn cổ (họ), rồi quấn lại, sau khi nhúng vào nước nóng. Này người đánh xe, sau khi thấy (cảnh này), sự sợ hãi quả thật đến với ta. Ta hỏi ông, Mātali, người đánh xe của chư Thiên: Những người này đã làm điều ác gì, mà khiến họ nằm đó, đầu bị cắt đứt?'
469.
469.
469.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ pāpakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
Asked by him, Mātali, the divine charioteer, explained; knowing the result of evil deeds, he spoke to one who was capable of knowing.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, người biết (việc ấy), đã giải thích cho người muốn biết về quả báo của các ác nghiệp.
470.
470.
470.
‘‘Ye jīvalokasmi supāpadhammino, pakkhī gahetvāna viheṭhayanti te;
Viheṭhayitvā sakuṇaṃ janinda, te luddakāmā pasavetva pāpaṃ;
Teme janā luttasirā sayanti.
'Those in the world of the living who are of exceedingly evil ways, who catch birds and torment them—having tormented birds, O lord of men—those of cruel desires, having generated evil, those people lie with severed heads.'
'Tâu đại vương, những kẻ có ác pháp nào ở trong thế gian, họ bắt chim rồi làm hại chúng; sau khi làm hại loài chim, những kẻ có ham muốn tàn ác ấy, sau khi đã tạo ra điều ác, chính những người ấy nằm đó, đầu bị cắt đứt.'
471.
471.
471.
‘‘Pahūtatoyā anigādhakūlā †, nadī ayaṃ sandati suppatitthā;
Ghammābhitattā manujā pivanti, pītañca † tesaṃ bhusa hoti pāni.
'Abundant in water, with deep banks, this river flows with good fords. People scorched by heat drink, and what they drink becomes chaff.'
'Dòng sông này có nhiều nước, bờ không sâu, chảy với những bến nước tốt. Những người bị nóng bức hành hạ, họ uống nước, và nước họ uống trở thành trấu.'
472.
472.
472.
‘‘Bhayañhi maṃ vindati sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Ime nu maccā kimakaṃsu pāpaṃ, pītañca tesaṃ bhusa hoti pāni’’.
'Indeed, fear seizes me, charioteer, seeing this. I ask you, Mātali, divine charioteer: What evil, pray, have these mortals done, that what they drink becomes chaff?'
'Này người đánh xe, sau khi thấy (cảnh này), sự sợ hãi quả thật đến với ta. Ta hỏi ông, Mātali, người đánh xe của chư Thiên: Những người này đã làm điều ác gì, mà nước họ uống trở thành trấu?'
473.
473.
473.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ pāpakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
Asked by him, Mātali, the divine charioteer, explained; knowing the result of evil deeds, he spoke to one who was capable of knowing.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, người biết (việc ấy), đã giải thích cho người muốn biết về quả báo của các ác nghiệp.
474.
474.
474.
‘‘Ye suddhadhaññaṃ palāsena missaṃ, asuddhakammā kayino dadanti;
Ghammābhitattāna pipāsitānaṃ, pītañca tesaṃ bhusa hoti pāni’’.
'Those merchants of impure deeds who give pure grain mixed with chaff—for them, when oppressed by heat and thirsty, what they drink becomes chaff.'
'Những kẻ buôn bán có hành vi bất tịnh nào, cho (bán) lúa tốt trộn lẫn với trấu; (vì nghiệp ấy) đối với họ, những người (nay) bị nóng bức và khát khao hành hạ, nước họ uống trở thành trấu.'
475.
475.
475.
‘‘Usūhi sattīhi ca tomarehi, dubhayāni passāni tudanti kandataṃ;
Bhayañhi maṃ vindati sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Ime nu maccā kimakaṃsu pāpaṃ, yeme janā sattihatā sayanti’’.
'With arrows, spears, and javelins, they pierce both sides of the wailing ones. Fear grips me, O charioteer, seeing this. I ask you, Mātali, divine charioteer: What evil have these mortals done, that these people lie here struck by spears?'
'(Họ) bị đâm vào cả hai bên sườn bằng tên, giáo, và lao, trong khi đang la khóc. Này người đánh xe, sau khi thấy (cảnh này), sự sợ hãi quả thật đến với ta. Ta hỏi ông, Mātali, người đánh xe của chư Thiên: Những người này đã làm điều ác gì, mà khiến họ nằm đó, bị giáo đâm?'
476.
476.
476.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ pāpakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
Asked by him, Mātali, the divine charioteer, explained; knowing the result of evil deeds, he spoke to one who was capable of knowing.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, người biết (việc ấy), đã giải thích cho người muốn biết về quả báo của các ác nghiệp.
477.
477.
477.
‘‘Ye jīvalokasmi asādhukammino, adinnamādāya karonti jīvikaṃ;
Dhaññaṃ dhanaṃ rajataṃ jātarūpaṃ, ajeḷakañcāpi pasuṃ mahiṃsaṃ †;
Te luddakammā pasavetva pāpaṃ, teme janā sattihatā sayanti’’.
'Those in the world of the living who act unrighteously, taking what is not given to make their living—grain, wealth, silver, gold, and also goats, sheep, cattle, and buffalo—those cruel-doers, having generated evil, these people lie here struck by spears.'
'Những kẻ có hành vi bất thiện nào ở trong thế gian, lấy của không cho để sinh sống, (lấy) lúa, tài sản, bạc, vàng, và cả dê, cừu, gia súc, trâu; những kẻ có hành vi tàn ác ấy, sau khi đã tạo ra điều ác, chính những người ấy nằm đó, bị giáo đâm.'
478.
478.
478.
‘‘Gīvāya baddhā kissa ime puneke, aññe vikantā † bilakatā sayanti †;
Bhayañhi maṃ vindati sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Ime nu maccā kimakaṃsu pāpaṃ, yeme janā bilakatā sayanti’’.
'Why are some here bound by the neck, while others lie carved up, cut into pieces? Fear grips me, charioteer, seeing this. I ask you, Mātali, divine charioteer: What evil have these mortals done, that these people lie here cut into pieces?'
'Tại sao lại có những người này bị trói ở cổ, còn những người khác thì bị cắt xẻ ra từng mảnh và nằm đó? Này người đánh xe, sau khi thấy (cảnh này), sự sợ hãi quả thật đến với ta. Ta hỏi ông, Mātali, người đánh xe của chư Thiên: Những người này đã làm điều ác gì, mà khiến họ nằm đó, bị cắt xẻ ra từng mảnh?'
479.
479.
479.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ pāpakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
Asked by him, Mātali, the divine charioteer, explained; knowing the result of evil deeds, he spoke to one who was capable of knowing.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, người biết (việc ấy), đã giải thích cho người muốn biết về quả báo của các ác nghiệp.
480.
480.
480.
‘‘Orabbhikā sūkarikā ca macchikā, pasuṃ mahiṃsañca ajeḷakañca;
Hantvāna sūnesu pasārayiṃsu, te luddakammā pasavetva pāpaṃ;
Teme janā bilakatā sayanti.
'Sheep-butchers, pork-butchers, and fishermen, having killed cattle, buffalo, goats, and sheep, and laid them out for sale in the slaughterhouses—those cruel-doers, having generated evil, these people lie here cut into pieces.'
'Những người đồ tể giết cừu, giết heo, và những người đánh cá, (họ giết) gia súc, trâu, và cả dê, cừu; sau khi giết, họ đã bày bán ở các cửa hàng; những kẻ có hành vi tàn ác ấy, sau khi đã tạo ra điều ác, chính những người ấy nằm đó, bị cắt xẻ ra từng mảnh.'
481.
481.
481.
‘‘Rahado ayaṃ muttakarīsapūro, duggandharūpo asuci pūti vāti;
Khudāparetā manujā adanti, bhayañhi maṃ vindati sūta disvā;
Pucchāmi taṃ mātali devasārathi, ime nu maccā kimakaṃsu pāpaṃ;
Yeme janā muttakarīsabhakkhā’’.
'This lake is filled with urine and excrement, foul-smelling, impure, and stinking. People afflicted by hunger eat it. Fear grips me, charioteer, seeing this. I ask you, Mātali, divine charioteer: What evil have these mortals done, that these people feed on urine and excrement?'
“Hồ nước này đầy nước tiểu và phân, hình tướng hôi thối, không trong sạch, bốc mùi xú uế. Những người bị đói hành hạ đang ăn (thứ ấy). Này người đánh xe, sau khi nhìn thấy, sự kinh sợ quả thật khởi lên trong tôi. Tôi hỏi ông, này Mātali, người đánh xe của chư Thiên, những người phải chết này đã làm điều ác gì, những người này là những kẻ ăn nước tiểu và phân?”
482.
482.
482.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ pāpakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
Asked by him, Mātali, the divine charioteer, explained; knowing the result of evil deeds, he spoke to one who was capable of knowing.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, đã giải thích. Biết được quả báo của các ác nghiệp, vị ấy đã nói cho người muốn biết.
483.
483.
483.
‘‘Ye kecime kāraṇikā virosakā, paresaṃ hiṃsāya sadā niviṭṭhā;
Te luddakammā pasavetva pāpaṃ, mittadduno mīḷhamadanti bālā.
'Those who are torturers and sowers of discord, always intent on harming others—those cruel-doers, having generated evil, those fools and betrayers of friends devour filth.'
“Những ai là kẻ tra tấn, kẻ gây phiền nhiễu, luôn luôn chú tâm vào việc hãm hại người khác; những kẻ có hành động tàn ác ấy, sau khi đã tạo ra điều ác, những kẻ phản bạn, những kẻ ngu si ấy ăn đồ dơ bẩn.”
484.
484.
484.
‘‘Rahado ayaṃ lohitapubbapūro, duggandharūpo asuci pūti vāti;
Ghammābhitattā manujā pivanti, bhayañhi maṃ vindati sūta disvā;
Pucchāmi taṃ mātali devasārathi, ime nu maccā kimakaṃsu pāpaṃ;
Yeme janā lohitapubbabhakkhā’’.
'This lake is filled with blood and pus, foul-smelling, impure, and stinking. People scorched by heat drink from it. Fear grips me, charioteer, seeing this. I ask you, Mātali, divine charioteer: What evil have these mortals done, that these people feed on blood and pus?'
“Hồ nước này đầy máu và mủ, hình tướng hôi thối, không trong sạch, bốc mùi xú uế. Những người bị nóng bức hành hạ đang uống (thứ ấy). Này người đánh xe, sau khi nhìn thấy, sự kinh sợ quả thật khởi lên trong tôi. Tôi hỏi ông, này Mātali, người đánh xe của chư Thiên, những người phải chết này đã làm điều ác gì, những người này là những kẻ ăn máu và mủ?”
485.
485.
485.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ pāpakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
Asked by him, Mātali, the divine charioteer, explained; knowing the result of evil deeds, he spoke to one who was capable of knowing.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, đã giải thích. Biết được quả báo của các ác nghiệp, vị ấy đã nói cho người muốn biết.
486.
486.
486.
‘‘Ye mātaraṃ vā pitaraṃ vā jīvaloke †, pārājikā arahante hananti;
Te luddakammā pasavetva pāpaṃ, teme janā lohitapubbabhakkhā’’.
'Those in the world of the living who kill their mother or father, or who kill Arahants who have reached the final goal—those cruel-doers, having generated evil, these people feed on blood and pus.'
“Những ai ở trong thế gian, những kẻ phạm tội trọng, đã giết mẹ, hoặc cha, hoặc các vị A-la-hán; những kẻ có hành động tàn ác ấy, sau khi đã tạo ra điều ác, những người ấy là những kẻ ăn máu và mủ.”
487.
487.
487.
‘‘Jivhañca passa baḷisena viddhaṃ, vihataṃ yathā saṅkusatena cammaṃ;
Phandanti macchāva thalamhi khittā, muñcanti kheḷaṃ rudamānā kimete.
'See their tongues pierced by a hook, struck like a hide with a hundred spikes. They writhe like fish cast on land; weeping, they drool. What have these people done?'
“Hãy xem lưỡi bị móc câu đâm thủng, bị kéo căng như tấm da với trăm mũi nhọn. Họ giãy giụa như cá bị quăng trên đất liền, họ khóc lóc, nhỏ nước dãi. Họ là ai vậy?”
488.
488.
488.
‘‘Bhayañhi maṃ vindati sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Ime nu maccā kimakaṃsu pāpaṃ, yeme janā vaṅkaghastā sayanti’’.
'Fear grips me, charioteer, seeing this. I ask you, Mātali, divine charioteer: What evil have these mortals done, that these people lie here, devoured by hooks?'
“Này người đánh xe, sau khi nhìn thấy, sự kinh sợ quả thật khởi lên trong tôi. Tôi hỏi ông, này Mātali, người đánh xe của chư Thiên, những người phải chết này đã làm điều ác gì, những người này là những kẻ nằm bị móc câu nuốt?”
489.
489.
489.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ pāpakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
Asked by him, Mātali, the divine charioteer, explained; knowing the result of evil deeds, he spoke to one who was capable of knowing.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, đã giải thích. Biết được quả báo của các ác nghiệp, vị ấy đã nói cho người muốn biết.
490.
490.
490.
‘‘Ye keci sandhānagatā † manussā, agghena agghaṃ kayaṃ hāpayanti;
Kuṭena kuṭaṃ dhanalobhahetu, channaṃ yathā vāricaraṃ vadhāya.
'Those people who engage in conspiracy, who defraud in trade by falsifying value, cheating with deceit for the sake of greed for wealth, like one in hiding for the slaughter of a water-creature—'
“Những người nào tham gia vào việc thương lượng, vì lòng tham của cải đã làm giảm giá trị của món hàng được mua bán, dùng sự gian trá đổi lấy sự gian trá, giống như (người thợ săn) che giấu để giết hại loài sống dưới nước.”
491.
491.
491.
‘‘Na hi kūṭakārissa bhavanti tāṇā, sakehi kammehi purakkhatassa;
Te luddakammā pasavetva pāpaṃ, teme janā vaṅkaghastā sayanti’’.
'Indeed, for the deceitful, driven by their own deeds, there is no refuge. Those cruel-doers, having generated evil, these people lie here, devoured by hooks.'
“Quả thật, không có sự bảo vệ nào cho kẻ gian lận, kẻ bị các hành vi của chính mình dẫn dắt. Những kẻ có hành động tàn ác ấy, sau khi đã tạo ra điều ác, những người ấy là những kẻ nằm bị móc câu nuốt.”
492.
492.
492.
‘‘Nārī imā samparibhinnagattā, paggayha kandanti bhuje dujaccā;
Sammakkhitā † lohitapubbalittā, gāvo yathā āghātane vikantā;
Tā bhūmibhāgasmiṃ sadā nikhātā, khandhātivattanti sajotibhūtā.
'These women, their bodies completely torn apart, wail with their arms upraised, these ill-born ones. Smeared and anointed with blood and pus, they are like cattle carved up in a slaughterhouse. They are forever buried in the earth, visible past their shoulders, blazing.'
“Những người nữ này thân thể bị xé nát hoàn toàn, những người hạ tiện giơ tay lên mà khóc lóc. Họ bị bôi trét, phết đầy máu và mủ, giống như những con bò bị xẻ thịt ở lò mổ. Họ luôn bị chôn vùi trong một khu đất, thân thể bốc cháy lên đến vai.”
493.
493.
493.
‘‘Bhayañhi maṃ vindati sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Imā nu nāriyo kimakaṃsu pāpaṃ, yā bhūmibhāgasmiṃ sadā nikhātā;
Khandhātivattanti sajotibhūtā’’.
'Fear grips me, charioteer, seeing this. I ask you, Mātali, divine charioteer: What evil have these women done, that they are forever buried in the earth, visible past their shoulders, blazing?'
“Này người đánh xe, sau khi nhìn thấy, sự kinh sợ quả thật khởi lên trong tôi. Tôi hỏi ông, này Mātali, người đánh xe của chư Thiên, những người nữ này đã làm điều ác gì, mà họ luôn bị chôn vùi trong một khu đất, thân thể bốc cháy lên đến vai?”
494.
494.
494.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ pāpakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
Asked by him, Mātali, the divine charioteer, explained; knowing the result of evil deeds, he spoke to one who was capable of knowing.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, đã giải thích. Biết được quả báo của các ác nghiệp, vị ấy đã nói cho người muốn biết.
495.
495.
495.
‘‘Kolitthiyāyo † idha jīvaloke, asuddhakammā asataṃ acāruṃ;
Tā dittarūpā † pati vippahāya, aññaṃ acāruṃ ratikhiḍḍahetu;
Tā jīvalokasmiṃ ramāpayitvā, khandhātivattanti sajotibhūtā.
'These women of good family, here in the world of the living, were of impure deeds and unlovely, wicked conduct. Abandoning their husbands, they went with other men for the sake of pleasure and sport. Having enjoyed themselves in the world of the living, they are now visible past their shoulders, blazing.'
“Những phụ nữ thuộc gia đình quyền quý ở thế gian này, có hành vi không trong sạch, không trinh tiết, hạnh kiểm xấu xa. Những người có dung sắc rực rỡ ấy, sau khi đã từ bỏ chồng, đã hành xử sai trái với người khác vì mục đích vui chơi thỏa thích. Họ, sau khi đã vui hưởng ở thế gian, (nay) thân thể bốc cháy lên đến vai.”
496.
496.
496.
‘‘Pāde gahetvā kissa ime puneke, avaṃsirā narake pātayanti;
Bhayañhi maṃ vindati sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Ime nu maccā kimakaṃsu pāpaṃ, yeme janā avaṃsirā narake pātayanti’’.
'Having seized them by the feet, why are some cast headfirst into hell? Fear grips me, charioteer, seeing this. I ask you, Mātali, divine charioteer: What evil have these mortals done, that these people are cast headfirst into hell?'
“Tại sao những người khác này bị nắm chân, rồi bị ném đầu xuống địa ngục? Này người đánh xe, sau khi nhìn thấy, sự kinh sợ quả thật khởi lên trong tôi. Tôi hỏi ông, này Mātali, người đánh xe của chư Thiên, những người phải chết này đã làm điều ác gì, những người này là những kẻ bị ném đầu xuống địa ngục?”
497.
497.
497.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ pāpakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
Asked by him, Mātali, the divine charioteer, explained; knowing the result of evil deeds, he spoke to one who was capable of knowing.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, đã giải thích. Biết được quả báo của các ác nghiệp, vị ấy đã nói cho người muốn biết.
498.
498.
498.
‘‘Ye jīvalokasmi asādhukammino, parassa dārāni atikkamanti;
Te tādisā uttamabhaṇḍathenā, teme janā avaṃsirā narake pātayanti.
'Those in the world of the living who act unrighteously, who transgress against the wives of others—such people, thieves of the highest treasure, are cast headfirst into hell.'
“Những ai ở trong thế gian là những kẻ làm điều bất thiện, xâm phạm vợ của người khác; những kẻ như thế, những kẻ trộm cắp vật báu tối thượng, những người ấy bị ném đầu xuống địa ngục.”
499.
499.
499.
‘‘Te vassapūgāni bahūni tattha, nirayesu dukkhaṃ vedanaṃ vedayanti;
Na hi pāpakārissa † bhavanti tāṇā, sakehi kammehi purakkhatassa;
Te luddakammā pasavetva pāpaṃ, teme janā avaṃsirā narake pātayanti’’.
'There, for many multitudes of years, they experience painful feelings in the hells. Indeed, for the evil-doer, driven by their own actions, there is no refuge. Those cruel-doers, having generated evil, these people are cast headfirst into hell.'
“Họ ở nơi ấy trong nhiều năm dài, ở trong các địa ngục, cảm nhận những cảm thọ đau khổ. Quả thật, không có sự bảo vệ nào cho kẻ làm ác, kẻ bị các hành vi của chính mình dẫn dắt. Những kẻ có hành động tàn ác ấy, sau khi đã tạo ra điều ác, những người ấy bị ném đầu xuống địa ngục.”
500.
500.
500.
‘‘Uccāvacāme vividhā upakkamā, nirayesu dissanti sughorarūpā;
Bhayañhi maṃ vindati sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Ime nu maccā kimakaṃsu pāpaṃ, yeme janā adhimattā dukkhā tibbā;
Kharā kaṭukā vedanā vedayanti’’.
'These various and diverse torments are seen in the hells, of exceedingly horrible form. Fear grips me, charioteer, seeing this. I ask you, Mātali, divine charioteer: What evil have these mortals done, that these people experience such excessive, intense, harsh, and bitter painful feelings?'
“Những phương cách hành hạ đa dạng, cao thấp khác nhau, với hình tướng rất khủng khiếp này được nhìn thấy ở các địa ngục. Này người đánh xe, sau khi nhìn thấy, sự kinh sợ quả thật khởi lên trong tôi. Tôi hỏi ông, này Mātali, người đánh xe của chư Thiên, những người phải chết này đã làm điều ác gì, những người này là những kẻ cảm nhận các cảm thọ quá mức đau đớn, mãnh liệt, khắc nghiệt, cay đắng?”
501.
501.
501.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ pāpakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
Asked by him, Mātali, the divine charioteer, explained; knowing the result of evil deeds, he spoke to one who was capable of knowing.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, đã giải thích. Biết được quả báo của các ác nghiệp, vị ấy đã nói cho người muốn biết.
502.
502.
502.
‘‘Ye jīvalokasmi supāpadiṭṭhino, vissāsakammāni karonti mohā;
Parañca diṭṭhīsu samādapenti, te pāpadiṭṭhiṃ † pasavetva pāpaṃ;
Teme janā adhimattā dukkhā tibbā, kharā kaṭukā vedanā vedayanti.
Those in this world of the living who hold very evil views, who through delusion perform treacherous deeds and establish others in their views—they, having generated evil from their evil view, these people experience feelings that are exceedingly painful, intense, sharp, and bitter.
“Những ai ở trong thế gian có tà kiến rất xấu xa, do si mê mà làm những việc phản trắc, và còn khiến người khác chấp nhận các tà kiến ấy; họ, những người có tà kiến, sau khi đã tạo ra điều ác, những người ấy cảm nhận các cảm thọ quá mức đau đớn, mãnh liệt, khắc nghiệt, cay đắng.”
503.
503.
503.
‘‘Viditā te mahārāja, āvāsā pāpakamminaṃ;
Ṭhānāni luddakammānaṃ, dussīlānañca yā gati;
Uyyāhi dāni rājīsi, devarājassa santike’’.
Great king, you have seen the dwellings of those of evil deeds, the haunts of the cruel, and the destiny of the immoral. Now, O king, go forth to the presence of the king of gods.
“Tâu Đại vương, ngài đã biết rõ nơi ở của những kẻ làm ác, chỗ ở của những kẻ có hành động tàn ác, và cảnh giới của những người vô giới. Bây giờ, xin mời bậc vua hiền thánh hãy khởi hành đến nơi ở của vua chư Thiên.”
504.
504.
504.
‘‘Pañcathūpaṃ dissatidaṃ vimānaṃ, mālāpiḷandhā sayanassa majjhe;
Tatthacchati nārī mahānubhāvā, uccāvacaṃ iddhi vikubbamānā.
Behold this five-spired celestial mansion. There, in the middle of a couch, dwells a woman of great power, adorned with garlands, displaying diverse psychic powers.
“Lâu đài này có năm bảo tháp được nhìn thấy, (vị nữ nhân) trang điểm vòng hoa, ở giữa giường nằm. Ở nơi ấy có một người nữ có đại oai lực, đang biểu hiện các loại thần thông cao thấp khác nhau.”
505.
505.
505.
‘‘Vittī hi maṃ vindati sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Ayaṃ nu nārī kimakāsi sādhuṃ, yā modati saggapattā vimāne’’.
Indeed, joy finds me, O charioteer, upon seeing this. I ask you, Mātali, divine charioteer: What good deed did this woman do, that she rejoices in a celestial mansion, having attained heaven?
“Này người đánh xe, sau khi nhìn thấy, niềm hoan hỷ quả thật khởi lên trong tôi. Tôi hỏi ông, này Mātali, người đánh xe của chư Thiên, người nữ này đã làm thiện sự gì, mà sau khi đã đến được cõi trời, lại hoan hỷ trong lâu đài?”
506.
506.
506.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ puññakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
When asked, Mātali, the divine charioteer, knowing the result of meritorious deeds, explained it to the one who knew.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, đã giải thích. Biết được quả báo của các phước nghiệp, vị ấy đã nói cho người muốn biết.
507.
507.
507.
‘‘Yadi te sutā bīraṇī jīvaloke, āmāyadāsī ahu brāhmaṇassa;
Sā pattakāle † atithiṃ viditvā, mātāva puttaṃ sakimābhinandī;
Saṃyamā saṃvibhāgā ca, sā vimānasmi modati.
If you have heard of Bīraṇī in the world of the living, she was a servant girl of a brahmin. Recognizing a guest at the proper time, she rejoiced in him as a mother in her own son. Through restraint and sharing, she now delights in the celestial mansion.
“Nếu ngài đã từng nghe về Bīraṇī ở thế gian, nàng là nữ tỳ trung thành của một vị Bà-la-môn. Nàng, vào giờ khất thực, khi biết có vị khách, đã một lần hoan nghênh vị ấy như mẹ đối với con. Và nhờ sự tự chế và sự chia sẻ, nàng hoan hỷ trong lâu đài của mình.”
508.
508.
508.
‘‘Daddallamānā ābhenti †, vimānā satta nimmitā;
Tattha yakkho mahiddhiko, sabbābharaṇabhūsito;
Samantā anupariyāti, nārīgaṇapurakkhato.
Shining brightly, seven created celestial mansions illuminate. There, a yakkha of great psychic power, adorned with all ornaments, moves about on all sides, attended by a host of women.
“Bảy lâu đài được tạo ra, chiếu sáng rực rỡ, tỏa hào quang. Ở nơi ấy có một vị dạ-xoa có đại thần lực, được trang hoàng với tất cả đồ trang sức, đi vòng quanh khắp nơi, có đoàn tùy nữ đi trước.”
509.
509.
509.
‘‘Vittī hi maṃ vindati sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Ayaṃ nu macco kimakāsi sādhuṃ, yo modati saggapatto vimāne’’.
Indeed, joy finds me, O charioteer, upon seeing this. I ask you, Mātali, divine charioteer: What good deed did this mortal do, that he rejoices in a celestial mansion, having attained heaven?
“Này người đánh xe, khi nhìn thấy, niềm hoan hỷ quả thật đến với tôi. Hỡi Mātali, người đánh xe của chư Thiên, tôi xin hỏi ngài: Người này đã làm điều thiện gì, mà được sanh lên cõi trời, hoan hỷ trong thiên cung này?”
510.
510.
510.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ puññakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
When asked, Mātali, the divine charioteer, knowing the result of meritorious deeds, explained it to the one who knew.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, đã giải thích. Vị ấy biết và đã nói cho người muốn biết về quả báo của các nghiệp phước thiện.
511.
511.
511.
‘‘Soṇadinno gahapati, esa dānapatī ahu;
Esa pabbajituddissa, vihāre satta kārayi.
Soṇadinno the householder was a master of giving. For the sake of those who had gone forth, he had seven monasteries built.
“Vị gia chủ Soṇadinna này đã là một thí chủ. Vị này, vì mục đích cho các vị xuất gia, đã cho xây dựng bảy ngôi tịnh xá.”
512.
512.
512.
‘‘Sakkaccaṃ te upaṭṭhāsi, bhikkhavo tattha vāsike;
He respectfully attended to the monks residing there,
“Vị ấy đã cung kính phục vụ các vị Tỳ khưu cư ngụ tại nơi ấy;”
Acchādanañca bhattañca, senāsanaṃ padīpiyaṃ.
with clothing and food, lodging and lamps.
“Cả y phục và vật thực, chỗ ở và đèn đuốc.”
Adāsi ujubhūtesu, vippasannena cetasā.
He gave to the upright ones with a serene mind.
“Vị ấy đã dâng cúng đến các bậc ngay thẳng với tâm ý trong sạch, hoan hỷ.”
513.
513.
513.
‘‘Cātuddasiṃ pañcadasiṃ, yā ca † pakkhassa aṭṭhamī †;
Pāṭihāriyapakkhañca, aṭṭhaṅgasusamāhitaṃ.
On the fourteenth, the fifteenth, and the eighth day of the fortnight, and during the special observance fortnight, well-composed in the eight factors,
“Vào ngày mười bốn, ngày rằm, và ngày mùng tám của mỗi nửa tháng, và các ngày đặc biệt của kỳ trai giới, vị ấy đã khéo an trú trong tám giới.”
514.
514.
514.
‘‘Uposathaṃ upavasī, sadā sīlesu saṃvuto;
Saṃyamā saṃvibhāgā ca, so vimānasmi modati.
He observed the Uposatha, ever restrained in virtue; through restraint and sharing, he delights in the celestial mansion.
“Vị ấy đã thực hành ngày trai giới, luôn luôn thu thúc trong các giới. Nhờ sự tự chế và sự chia sẻ, vị ấy hoan hỷ trong thiên cung.”
515.
515.
515.
‘‘Pabhāsati midaṃ byamhaṃ, phalikāsu sunimmitaṃ;
Nārīvaragaṇākiṇṇaṃ, kūṭāgāravarocitaṃ;
Upetaṃ annapānehi, naccagītehi cūbhayaṃ.
This mansion shines forth, well-constructed of crystal, crowded with the finest groups of women, adorned with excellent peaked-roof buildings, endowed with food and drink, and with both dance and song.
“Lâu đài này tỏa sáng, được khéo làm bằng pha lê, đông đảo các tiên nữ tuyệt vời, được trang hoàng bởi các lầu gác tráng lệ, đầy đủ đồ ăn thức uống, cùng với cả ca vũ và âm nhạc.”
516.
516.
516.
‘‘Vittī hi maṃ vindati sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Ime nu maccā kimakaṃsu sādhuṃ, ye modare saggapattā vimāne’’.
Indeed, joy finds me, O charioteer, upon seeing this. I ask you, Mātali, divine charioteer: What good deeds did these mortals do, that they rejoice in a celestial mansion, having attained heaven?
“Này người đánh xe, khi nhìn thấy, niềm hoan hỷ quả thật đến với tôi. Hỡi Mātali, người đánh xe của chư Thiên, tôi xin hỏi ngài: Những người này đã làm điều thiện gì, mà được sanh lên cõi trời, hoan hỷ trong thiên cung này?”
517.
517.
517.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ puññakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
When asked, Mātali, the divine charioteer, knowing the result of meritorious deeds, explained it to the one who knew.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, đã giải thích. Vị ấy biết và đã nói cho người muốn biết về quả báo của các nghiệp phước thiện.
518.
518.
518.
‘‘Yā kāci nāriyo idha jīvaloke, sīlavantiyo upāsikā;
Dāne ratā niccaṃ pasannacittā, sacce ṭhitā uposathe appamattā;
Saṃyamā saṃvibhāgā ca, tā vimānasmi modare.
Whatever women there are here in the world of the living, virtuous female lay disciples, delighting in giving, always with serene minds, established in truth, diligent in the Uposatha; through restraint and sharing, they rejoice in the celestial mansion.
“Bất cứ những người nữ nào ở tại thế gian này, là những nữ cận sự có giới hạnh, ưa thích bố thí, luôn có tâm trong sạch, an trú trong sự thật, không dể duôi trong ngày trai giới; nhờ sự tự chế và sự chia sẻ, các vị ấy hoan hỷ trong thiên cung.”
519.
519.
519.
‘‘Pabhāsati midaṃ byamhaṃ, veḷuriyāsu nimmitaṃ;
Upetaṃ bhūmibhāgehi, vibhattaṃ bhāgaso mitaṃ.
This mansion shines forth, made of beryl, endowed with terraces, divided into measured sections.
“Lâu đài này tỏa sáng, được làm bằng ngọc lưu ly, có nhiều tầng đất, được phân chia và đo lường thành từng khu vực.”
520.
520.
520.
‘‘Āḷambarā mudiṅgā ca, naccagītā suvāditā;
Dibbā saddā niccharanti, savanīyā manoramā.
Āḷambara and mudiṅgā drums, dance and song well-played; divine sounds issue forth, pleasant to hear and delightful.
“Trống lớn và trống nhỏ, ca vũ được trình diễn khéo léo; các âm thanh cõi trời phát ra, nghe thật êm tai và làm vui thích tâm ý.”
521.
521.
521.
‘‘Nāhaṃ evaṃgataṃ jātu †, evaṃsuruciraṃ pure;
Saddaṃ samabhijānāmi, diṭṭhaṃ vā yadi vā sutaṃ.
Never before have I known such a sound, so very delightful, whether seen or heard.
“Trước đây, tôi chưa từng biết đến âm thanh nào như thế này, tuyệt diệu đến như vậy, dù là đã được thấy hay đã được nghe.”
522.
522.
522.
‘‘Vittī hi maṃ vindati sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Ime nu maccā kimakaṃsu sādhuṃ, ye modare saggapattā vimāne’’.
Indeed, joy finds me, O charioteer, upon seeing this. I ask you, Mātali, divine charioteer: What good deeds did these mortals do, that they rejoice in a celestial mansion, having attained heaven?
“Này người đánh xe, khi nhìn thấy, niềm hoan hỷ quả thật đến với tôi. Hỡi Mātali, người đánh xe của chư Thiên, tôi xin hỏi ngài: Những người này đã làm điều thiện gì, mà được sanh lên cõi trời, hoan hỷ trong thiên cung này?”
523.
523.
523.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ puññakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
When asked, Mātali, the divine charioteer, knowing the result of meritorious deeds, explained it to the one who knew.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, đã giải thích. Vị ấy biết và đã nói cho người muốn biết về quả báo của các nghiệp phước thiện.
524.
524.
524.
‘‘Ye keci maccā idha jīvaloke, sīlavantā † upāsakā;
Ārāme udapāne ca, papā saṅkamanāni ca;
Arahante sītibhūte †, sakkaccaṃ paṭipādayuṃ.
Whatever mortals here in the world of the living, virtuous male lay disciples, respectfully provided parks, wells, water-sheds, and walkways for the Arahants who have become cool.
“Bất cứ những người nào ở tại thế gian này, là những nam cận sự có giới hạnh, đã cung kính sắm sửa các khu vườn, giếng nước, nhà uống nước, và cầu cống cho các bậc A-la-hán, những vị đã tịch tịnh.”
525.
525.
525.
‘‘Cīvaraṃ piṇḍapātañca, paccayaṃ sayanāsanaṃ;
Adaṃsu ujubhūtesu, vippasannena cetasā.
They gave robes, almsfood, medicine, and lodging to the upright ones, with a serene mind.
“Các vị ấy đã dâng cúng y phục, vật thực khất thực, các vật dụng, và chỗ ăn ở đến các bậc ngay thẳng với tâm ý trong sạch, hoan hỷ.”
526.
526.
526.
‘‘Cātuddasiṃ pañcadasiṃ, yā ca pakkhassa aṭṭhamī;
Pāṭihāriyapakkhañca, aṭṭhaṅgasusamāhitaṃ.
On the fourteenth, the fifteenth, and the eighth day of the fortnight, and during the special observance fortnight, well-composed in the eight factors,
“Vào ngày mười bốn, ngày rằm, và ngày mùng tám của mỗi nửa tháng, và các ngày đặc biệt của kỳ trai giới, các vị ấy đã khéo an trú trong tám giới.”
527.
527.
527.
‘‘Uposathaṃ upavasuṃ, sadā sīlesu saṃvutā;
Saṃyamā saṃvibhāgā ca, te vimānasmi modare.
They observed the Uposatha, always restrained in virtue; through restraint and sharing, they rejoice in the celestial mansion.
“Các vị ấy đã thực hành ngày trai giới, luôn luôn thu thúc trong các giới. Nhờ sự tự chế và sự chia sẻ, các vị ấy hoan hỷ trong thiên cung.”
528.
528.
528.
‘‘Pabhāsati midaṃ byamhaṃ, phalikāsu sunimmitaṃ;
Nārīvaragaṇākiṇṇaṃ, kūṭāgāravarocitaṃ.
This mansion shines forth, well-constructed of crystal, crowded with the finest groups of women, adorned with excellent peaked-roof buildings.
“Lâu đài này tỏa sáng, được khéo làm bằng pha lê, đông đảo các tiên nữ tuyệt vời, được trang hoàng bởi các lầu gác tráng lệ.”
529.
529.
529.
‘‘Upetaṃ annapānehi, naccagītehi cūbhayaṃ;
Najjo cānupariyāti, nānāpupphadumāyutā.
Endowed with food and drink, and with both dance and song; and a river flows nearby, lined with trees of various flowers.
“Đầy đủ đồ ăn thức uống, cùng với cả ca vũ và âm nhạc; và các dòng sông chảy quanh, với nhiều loại cây trổ hoa.”
530.
530.
530.
‘‘Vittī hi maṃ vindati sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Ayaṃ nu macco kimakāsi sādhuṃ, yo modatī saggapatto vimāne’’.
Indeed, joy finds me, O charioteer, upon seeing this. I ask you, Mātali, divine charioteer: What good deed did this mortal do, that he rejoices in a celestial mansion, having attained heaven?
“Này người đánh xe, khi nhìn thấy, niềm hoan hỷ quả thật đến với tôi. Hỡi Mātali, người đánh xe của chư Thiên, tôi xin hỏi ngài: Người này đã làm điều thiện gì, mà được sanh lên cõi trời, hoan hỷ trong thiên cung này?”
531.
531.
531.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ puññakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
When asked, Mātali, the divine charioteer, knowing the result of meritorious deeds, explained it to the one who knew.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, đã giải thích. Vị ấy biết và đã nói cho người muốn biết về quả báo của các nghiệp phước thiện.
532.
532.
532.
‘‘Mithilāyaṃ gahapati, esa dānapatī ahu;
Ārāme udapāne ca, papā saṅkamanāni ca;
Arahante sītibhūte, sakkaccaṃ paṭipādayi.
In Mithilā, this householder was a master of giving. He respectfully provided parks, wells, water-sheds, and walkways for the Arahants who have become cool.
“Vị gia chủ ở thành Mithilā này đã là một thí chủ. Vị ấy đã cung kính sắm sửa các khu vườn, giếng nước, nhà uống nước, và cầu cống cho các bậc A-la-hán, những vị đã tịch tịnh.”
533.
533.
533.
‘‘Cīvaraṃ piṇḍapātañca, paccayaṃ sayanāsanaṃ;
Adāsi ujubhūtesu, vippasannena cetasā.
He gave robes, almsfood, medicine, and lodging to the upright ones, with a serene mind.
“Vị ấy đã dâng cúng y phục, vật thực khất thực, các vật dụng, và chỗ ăn ở đến các bậc ngay thẳng với tâm ý trong sạch, hoan hỷ.”
534.
534.
534.
‘‘Cātuddasiṃ pañcadasiṃ, yā ca pakkhassa aṭṭhamī;
Pāṭihāriyapakkhañca, aṭṭhaṅgasusamāhitaṃ.
On the fourteenth, the fifteenth, and the eighth day of the fortnight, and during the special observance fortnight, well-composed in the eight factors,
“Vào ngày mười bốn, ngày rằm, và ngày mùng tám của mỗi nửa tháng, và các ngày đặc biệt của kỳ trai giới, vị ấy đã khéo an trú trong tám giới.”
535.
535.
535.
‘‘Uposathaṃ upavasī, sadā sīlesu saṃvuto;
Saṃyamā saṃvibhāgā ca, so vimānasmi modati’’.
He observed the Uposatha, ever restrained in virtue; through restraint and sharing, he delights in the celestial mansion.
“Vị ấy đã thực hành ngày trai giới, luôn luôn thu thúc trong các giới. Nhờ sự tự chế và sự chia sẻ, vị ấy hoan hỷ trong thiên cung.”
536.
536.
536.
‘‘Pabhāsati midaṃ byamhaṃ, phalikāsu sunimmitaṃ †;
Nārīvaragaṇākiṇṇaṃ, kūṭāgāravarocitaṃ.
This mansion shines forth, well-constructed of crystal, crowded with the finest groups of women, adorned with excellent peaked-roof buildings.
“Lâu đài này tỏa sáng, được khéo làm bằng pha lê, đông đảo các tiên nữ tuyệt vời, được trang hoàng bởi các lầu gác tráng lệ.”
537.
537.
537.
‘‘Upetaṃ annapānehi, naccagītehi cūbhayaṃ;
Najjo cānupariyāti, nānāpupphadumāyutā.
Endowed with food and drink, and with both dance and song; and a river flows nearby, lined with trees of various flowers.
Được trang bị với đồ ăn thức uống, và cả ca vũ; Và các dòng sông chảy quanh, có nhiều loại cây hoa.
538.
538.
538.
‘‘Rājāyatanā kapitthā ca, ambā sālā ca jambuyo;
Tindukā ca piyālā ca, dumā niccaphalā bahū.
Rājāyatana trees, wood apples, mangoes, sal trees, rose-apples, tinduka trees, and piyāla trees—many trees always bearing fruit.
Cây rājāyatana và cây kapittha, cây xoài, cây sala và cây jambu; Cây tinduka và cây piyāla, có nhiều cây luôn luôn có quả.
539.
539.
539.
‘‘Vittī hi maṃ vindati sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Ayaṃ nu macco kimakāsi sādhuṃ, yo modatī saggapatto vimāne’’.
Indeed, joy finds me, O charioteer, upon seeing this. I ask you, Mātali, divine charioteer: What good deed did this mortal do, that he rejoices in a celestial mansion, having attained heaven?
Này người đánh xe, sau khi nhìn thấy, niềm hoan hỷ quả thật đến với tôi, tôi hỏi ông, Mātali, người đánh xe của chư Thiên; Người này đã làm điều thiện gì, mà được hoan hỷ, đã đạt đến cảnh trời, ở trong lâu đài này?
540.
540.
540.
‘‘Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ puññakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
Being questioned by him, Mātali, the divine charioteer, knowing the result of meritorious deeds, explained it to one who knows.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, đã giải thích; biết được quả báu của các nghiệp phước thiện, đã nói cho người đang muốn biết.
541.
541.
541.
‘‘Mithilāyaṃ gahapati, esa dānapatī ahu;
Ārāme udapāne ca, papā saṅkamanāni ca;
Arahante sītibhūte, sakkaccaṃ paṭipādayi.
In Mithilā, this householder was a generous donor. He respectfully provided parks, wells, drinking spots, and walkways for the Arahants who had become cool.
Vị này là một gia chủ ở Mithilā, đã là một thí chủ; Vị ấy đã xây dựng các khu vườn, các giếng nước, các nhà nghỉ mát và các cầu cống; và đã kính cẩn cúng dường đến các bậc A-la-hán, những vị đã được tịch tịnh.
542.
542.
542.
‘‘Cīvaraṃ piṇḍapātañca, paccayaṃ sayanāsanaṃ;
Adāsi ujubhūtesu, vippasannena cetasā.
He gave robes, almsfood, requisites, and lodging to the upright ones, with a mind of serene confidence.
Y phục và vật thực khất thực, dược phẩm và chỗ ở; Vị ấy đã cúng dường đến những bậc ngay thẳng, với tâm ý trong sạch.
543.
543.
543.
‘‘Cātuddasiṃ pañcadasiṃ, yā ca pakkhassa aṭṭhamī;
Pāṭihāriyapakkhañca, aṭṭhaṅgasusamāhitaṃ.
On the fourteenth, the fifteenth, and the eighth day of the fortnight, and during the special observance fortnight, well-established in the eight factors,
Vào ngày mười bốn, ngày rằm, và ngày mồng tám của mỗi nửa tháng; và những ngày đặc biệt của nửa tháng, vị ấy đã khéo an trú trong tám giới.
544.
544.
544.
‘‘Uposathaṃ upavasī, sadā sīlesu saṃvuto;
Saṃyamā saṃvibhāgā ca, so vimānasmi modati’’.
He observed the Uposatha, ever restrained in virtue. Through self-control and sharing, he rejoices in the heavenly mansion.
Vị ấy đã thực hành ngày trai giới, luôn luôn thu thúc trong các giới; Do sự tự chế và do sự chia sẻ, vị ấy được hoan hỷ trong lâu đài này.
545.
545.
545.
‘‘Pabhāsati midaṃ byamhaṃ, veḷuriyāsu nimmitaṃ;
Upetaṃ bhūmibhāgehi, vibhattaṃ bhāgaso mitaṃ.
This mansion shines brightly, made of beryl, endowed with terraces, divided into measured sections.
Lâu đài này tỏa sáng, được làm bằng ngọc lưu ly; Được trang bị với các tầng lầu, được phân chia thành các phần cân đối.
546.
546.
546.
‘‘Āḷambarā mudiṅgā ca, naccagītā suvāditā;
Dibyā saddā niccharanti, savanīyā manoramā.
Āḷambara and mudiṅga drums, dance, song, and well-played music—divine sounds issue forth, pleasant to hear and delightful.
Trống āḷambara và trống mudiṅga, ca vũ được trình diễn khéo léo; Những âm thanh của chư Thiên vang lên, dễ nghe và làm vui thích tâm ý.
547.
547.
547.
‘‘Nāhaṃ evaṃgataṃ jātu †, evaṃsuruciyaṃ pure;
Saddaṃ samabhijānāmi, diṭṭhaṃ vā yadi vā sutaṃ.
Never before have I known such a state, so delightful; nor do I recall such a sound, whether seen or heard.
Trước đây, tôi chưa bao giờ nhận biết được âm thanh nào như thế này, tuyệt vời như thế này, hoặc đã thấy hoặc đã nghe.
548.
548.
548.
‘‘Vittī hi maṃ vindati sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Ayaṃ nu macco kimakāsi sādhuṃ, yo modati saggapatto vimāne’’.
Joy arises in me upon seeing this, O charioteer. I ask you, Mātali, divine charioteer: What good deed did this mortal do, who, having attained heaven, rejoices in this mansion?
Này người đánh xe, sau khi nhìn thấy, niềm hoan hỷ quả thật đến với tôi, tôi hỏi ông, Mātali, người đánh xe của chư Thiên; Người này đã làm điều thiện gì, mà được hoan hỷ, đã đạt đến cảnh trời, ở trong lâu đài này?
549.
549.
549.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ puññakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
Being questioned by him, Mātali, the divine charioteer, knowing the result of meritorious deeds, explained it to one who knows.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, đã giải thích; biết được quả báu của các nghiệp phước thiện, đã nói cho người đang muốn biết.
550.
550.
550.
‘‘Bārāṇasiyaṃ gahapati, esa dānapatī ahu;
Ārāme udapāne ca, papā saṅkamanāni ca;
Arahante sītibhūte, sakkaccaṃ paṭipādayi.
In Bārāṇasī, this householder was a generous donor. He respectfully provided parks, wells, drinking spots, and walkways for the Arahants who had become cool.
Vị này là một gia chủ ở Bārāṇasī, đã là một thí chủ; Vị ấy đã xây dựng các khu vườn, các giếng nước, các nhà nghỉ mát và các cầu cống; và đã kính cẩn cúng dường đến các bậc A-la-hán, những vị đã được tịch tịnh.
551.
551.
551.
‘‘Cīvaraṃ piṇḍapātañca, paccayaṃ sayanāsanaṃ;
Adāsi ujubhūtesu, vippasannena cetasā.
He gave robes, almsfood, requisites, and lodging to the upright ones, with a mind of serene confidence.
Y phục và vật thực khất thực, dược phẩm và chỗ ở; Vị ấy đã cúng dường đến những bậc ngay thẳng, với tâm ý trong sạch.
552.
552.
552.
‘‘Cātuddasiṃ pañcadasiṃ, yā ca pakkhassa aṭṭhamī;
Pāṭihāriyapakkhañca, aṭṭhaṅgasusamāhitaṃ.
On the fourteenth, the fifteenth, and the eighth day of the fortnight, and during the special observance fortnight, well-established in the eight factors,
Vào ngày mười bốn, ngày rằm, và ngày mồng tám của mỗi nửa tháng; và những ngày đặc biệt của nửa tháng, vị ấy đã khéo an trú trong tám giới.
553.
553.
553.
‘‘Uposathaṃ upavasī, sadāsīlesu saṃvuto;
Saṃyamā saṃvibhāgā ca, so vimānasmi modati.
He observed the Uposatha, ever restrained in virtue. Through self-control and sharing, he rejoices in the heavenly mansion.
Vị ấy đã thực hành ngày trai giới, luôn luôn thu thúc trong các giới; Do sự tự chế và do sự chia sẻ, vị ấy được hoan hỷ trong lâu đài này.
554.
554.
554.
‘‘Yathā udayamādicco, hoti lohitako mahā;
Tathūpamaṃ idaṃ byamhaṃ, jātarūpassa nimmitaṃ.
Just as the rising sun is great and red, so is this mansion, made of refined gold.
Giống như mặt trời đang mọc, có màu đỏ rực và to lớn; Lâu đài này cũng tương tự như vậy, được làm bằng vàng.
555.
555.
555.
‘‘Vittī hi maṃ vindati sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Ayaṃ nu macco kimakāsi sādhuṃ, yo modatī saggapatto vimāne’’.
Joy arises in me upon seeing this, O charioteer. I ask you, Mātali, divine charioteer: What good deed did this mortal do, who, having attained heaven, rejoices in this mansion?
Này người đánh xe, sau khi nhìn thấy, niềm hoan hỷ quả thật đến với tôi, tôi hỏi ông, Mātali, người đánh xe của chư Thiên; Người này đã làm điều thiện gì, mà được hoan hỷ, đã đạt đến cảnh trời, ở trong lâu đài này?
556.
556.
556.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ puññakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
Being questioned by him, Mātali, the divine charioteer, knowing the result of meritorious deeds, explained it to one who knows.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, đã giải thích; biết được quả báu của các nghiệp phước thiện, đã nói cho người đang muốn biết.
557.
557.
557.
‘‘Sāvatthiyaṃ gahapati, esa dānapatī ahu;
Ārāme udapāne ca, papā saṅkamanāni ca;
Arahante sītibhūte, sakkaccaṃ paṭipādayi.
In Sāvatthī, this householder was a generous donor. He respectfully provided parks, wells, drinking spots, and walkways for the Arahants who had become cool.
Vị này là một gia chủ ở Sāvatthī, đã là một thí chủ; Vị ấy đã xây dựng các khu vườn, các giếng nước, các nhà nghỉ mát và các cầu cống; và đã kính cẩn cúng dường đến các bậc A-la-hán, những vị đã được tịch tịnh.
558.
558.
558.
‘‘Cīvaraṃ piṇḍapātañca, paccayaṃ sayanāsanaṃ;
Adāsi ujubhūtesu, vippasannena cetasā.
He gave robes, almsfood, requisites, and lodging to the upright ones, with a mind of serene confidence.
Y phục và vật thực khất thực, dược phẩm và chỗ ở; Vị ấy đã cúng dường đến những bậc ngay thẳng, với tâm ý trong sạch.
559.
559.
559.
‘‘Cātuddasiṃ pañcadasiṃ, yā ca pakkhassa aṭṭhamī;
Pāṭihāriyapakkhañca, aṭṭhaṅgasusamāhitaṃ.
On the fourteenth, the fifteenth, and the eighth day of the fortnight, and during the special observance fortnight, well-established in the eight factors,
Vào ngày mười bốn, ngày rằm, và ngày mồng tám của mỗi nửa tháng; và những ngày đặc biệt của nửa tháng, vị ấy đã khéo an trú trong tám giới.
560.
560.
560.
‘‘Uposathaṃ upavasī, sadā sīlesu saṃvuto;
Saṃyamā saṃvibhāgā ca, so vimānasmi modati.
He observed the Uposatha, ever restrained in virtue. Through self-control and sharing, he rejoices in the heavenly mansion.
Vị ấy đã thực hành ngày trai giới, luôn luôn thu thúc trong các giới; Do sự tự chế và do sự chia sẻ, vị ấy được hoan hỷ trong lâu đài này.
561.
561.
561.
‘‘Vehāyasā me bahukā, jātarūpassa nimmitā;
Daddallamānā ābhenti, vijjuvabbhaghanantare.
Many mansions in the sky, made of gold, shine resplendently, illumining the space amidst lightning and dense clouds.
Nhiều lâu đài của tôi ở trên không, được làm bằng vàng; Chúng chiếu sáng rực rỡ, giống như tia chớp ở giữa đám mây.
562.
562.
562.
‘‘Vittī hi maṃ vindati sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Ime nu maccā kimakaṃsu sādhuṃ, ye modare saggapattā vimāne’’.
Joy arises in me upon seeing this, O charioteer. I ask you, Mātali, divine charioteer: What good deed did these mortals do, who, having attained heaven, rejoice in their mansions?
Này người đánh xe, sau khi nhìn thấy, niềm hoan hỷ quả thật đến với tôi, tôi hỏi ông, Mātali, người đánh xe của chư Thiên; Những người này đã làm điều thiện gì, mà được hoan hỷ, đã đạt đến cảnh trời, ở trong lâu đài?
563.
563.
563.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ puññakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
Being questioned by him, Mātali, the divine charioteer, knowing the result of meritorious deeds, explained it to one who knows.
Được vị ấy hỏi, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, đã giải thích; biết được quả báu của các nghiệp phước thiện, đã nói cho người đang muốn biết.
564.
564.
564.
‘‘Saddhāya suniviṭṭhāya, saddhamme suppavedite;
Akaṃsu satthu vacanaṃ, sammāsambuddhasāsane †;
Tesaṃ etāni ṭhānāni, yāni tvaṃ rāja passasi.
With faith well-established in the well-expounded Good Dhamma, they followed the Teacher’s word in the dispensation of the Perfectly Enlightened One. These are their abodes, O king, which you now see.
Với đức tin được an lập vững chắc trong Chánh pháp đã được khéo giảng dạy, họ đã thực hành lời dạy của bậc Đạo Sư trong giáo pháp của bậc Chánh Đẳng Giác; Đây là những trú xứ của họ, mà ngài, tâu đức vua, đang nhìn thấy.
565.
565.
565.
‘‘Viditā te mahārāja, āvāsā pāpakamminaṃ;
Atho kalyāṇakammānaṃ, ṭhānāni viditāni te;
Uyyāhi dāni rājīsi, devarājassa santike’’.
Known to you, great king, are the dwellings of evil-doers; and the abodes of those who do good are also known to you. Now proceed, O royal sage, to the presence of the King of Devas.
Thưa Đại vương, ngài đã biết rõ các trú xứ của những người làm điều ác; và các nơi ở của những người làm điều thiện cũng đã được ngài biết rõ. Giờ đây, xin bậc vương giả hãy lên đường, đến diện kiến Thiên vương.
566.
566.
566.
‘‘Sahassayuttaṃ hayavāhiṃ, dibbayānamadhiṭṭhito;
Yāyamāno mahārājā, addā sīdantare nage;
Disvānāmantayī sūtaṃ, ‘‘ime ke nāma pabbatā’’.
Mounted on a divine chariot drawn by a thousand horses, the great king, while traveling, saw the mountains in the Sīdantara sea. Having seen them, he addressed his charioteer: 'What are these mountains called?'
Ngự trên thiên xa, được thắng bởi một ngàn con ngựa, trong khi đang đi, vị Đại vương đã nhìn thấy các ngọn núi ở biển Sīdantara. Sau khi nhìn thấy, ngài hỏi người đánh xe: ‘Những ngọn núi này tên là gì?’
567.
567.
567.
† Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ puññakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato †.
Being questioned by him, Mātali, the divine charioteer, knowing the result of meritorious deeds, explained it to one who knows.
Khi được hỏi như thế, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, đã giải thích; vị ấy biết và đã nói cho người đang muốn biết về quả báo của các phước nghiệp.
568.
568.
568.
‘‘Sudassano karavīko, īsadharo † yugandharo;
Nemindharo vinatako, assakaṇṇo girī brahā.
Sudassana, Karavīka, Īsadhara, Yugandhara, Nemindhara, Vinataka, and Assakaṇṇa—these are the great mountains.
‘Sudassana, Karavīka, Īsadhara, Yugandhara; Nemindhara, Vinataka, Assakaṇṇa là những ngọn núi lớn.
569.
569.
569.
‘‘Ete sīdantare nagā, anupubbasamuggatā;
Mahārājānamāvāsā, yāni tvaṃ rāja passasi.
These are the mountains of Sīdantara, rising in succession, the abodes of the Great Kings, which you, O king, now behold.
‘Những ngọn núi này ở trong biển Sīdantara, tuần tự mọc lên; là nơi ở của các vị Đại Vương, những nơi mà ngài, hỡi đức vua, đang nhìn thấy.
570.
570.
570.
‘‘Anekarūpaṃ ruciraṃ, nānācitraṃ pakāsati;
Ākiṇṇaṃ indasadisehi, byaggheheva surakkhitaṃ †.
Manifold in form and lovely, it shines with various wonders, crowded with beings like Indra, well-guarded as if by tigers.
‘Nó hiện ra với nhiều hình dạng, đẹp đẽ, đa dạng và rực rỡ; đầy dẫy những vị giống như trời Đế Thích, được bảo vệ kỹ lưỡng bởi các vị Dạ-xoa.
571.
571.
571.
‘‘Vittī hi maṃ vindati sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Imaṃ nu dvāraṃ kimabhaññamāhu †, (manorama dissati dūratova.) †
Joy arises in me upon seeing this, O charioteer. I ask you, Mātali, divine charioteer: What, indeed, do they call this gate? (It appears delightful from afar.)
‘Hỡi người đánh xe, khi nhìn thấy, niềm vui sướng đến với tôi. Tôi hỏi ngài, Mātali, người đánh xe của chư Thiên; Cổng này được gọi là gì vậy, (trông thật đẹp lòng từ xa.)
572.
572.
572.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ puññakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
Being questioned by him, Mātali, the divine charioteer, knowing the result of meritorious deeds, explained it to one who knows.
Khi được hỏi như thế, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, đã giải thích; vị ấy biết và đã nói cho người đang muốn biết về quả báo của các phước nghiệp.
573.
573.
573.
‘‘Citrakūṭoti yaṃ āhu, devarājapavesanaṃ;
Sudassanassa girino, dvārañhetaṃ pakāsati.
This is what they call Citrakūṭa, the entrance for the king of the devas; it is the shining gateway of the mountain Sudassana.
‘Cái mà họ gọi là Citrakūṭa, lối vào của Vua Trời; đây là cổng của núi Sudassana hiện ra.
574.
574.
574.
‘‘Anekarūpaṃ ruciraṃ, nānācitraṃ pakāsati;
Ākiṇṇaṃ indasadisehi, byaggheheva surakkhitaṃ;
Pavisetena rājīsi, arajaṃ bhūmimakkama’’.
Manifold in form and lovely, it shines with various wonders, crowded with beings like Indra, well-guarded as if by tigers. Enter by this gate, O royal sage, and tread upon this dustless ground.
‘Nó hiện ra với nhiều hình dạng, đẹp đẽ, đa dạng và rực rỡ; đầy dẫy những vị giống như trời Đế Thích, được bảo vệ kỹ lưỡng bởi các vị Dạ-xoa; xin bậc vương giả hãy đi vào bằng lối này, hãy bước lên vùng đất không bụi bặm’.
575.
575.
575.
‘‘Sahassayuttaṃ hayavāhiṃ, dibbayānamadhiṭṭhito;
Yāyamāno mahārājā, addā devasabhaṃ idaṃ.
Mounted on a divine chariot drawn by a thousand horses, the great king, while traveling, saw this assembly of the devas.
‘Đứng trên cỗ xe trời được kéo bởi một ngàn con ngựa, trong khi đang đi, vị Đại Vương đã nhìn thấy pháp đường của chư Thiên này.
576.
576.
576.
‘‘Yathā sarade ākāse †, nīlobhāso padissati;
Tathūpamaṃ idaṃ byamhaṃ, veḷuriyāsu nimmitaṃ.
Just as in the autumn sky a blue glow appears, so is this mansion, fashioned of beryl.
‘Giống như bầu trời vào mùa thu, ánh sáng xanh hiện ra; tòa lâu đài này cũng tương tự như thế, được làm bằng ngọc lưu ly.
577.
577.
577.
‘‘Vittī hi maṃ vindati sūta disvā, pucchāmi taṃ mātali devasārathi;
Imaṃ nu byamhaṃ kimabhaññamāhu †, (manorama dissati dūratova.) †
Joy arises in me upon seeing this, O charioteer. I ask you, Mātali, divine charioteer: What is this mansion called? (It appears delightful from afar.)
‘Hỡi người đánh xe, khi nhìn thấy, niềm vui sướng đến với tôi. Tôi hỏi ngài, Mātali, người đánh xe của chư Thiên; Tòa lâu đài này được gọi là gì vậy, (trông thật đẹp lòng từ xa.)
578.
578.
578.
Tassa puṭṭho viyākāsi, mātali devasārathi;
Vipākaṃ puññakammānaṃ, jānaṃ akkhāsijānato.
Being questioned by him, Mātali, the divine charioteer, knowing the result of meritorious deeds, explained it to one who knows.
Khi được hỏi như thế, Mātali, người đánh xe của chư Thiên, đã giải thích; vị ấy biết và đã nói cho người đang muốn biết về quả báo của các phước nghiệp.
579.
579.
579.
‘‘Sudhammā iti yaṃ āhu, passesā † dissate sabhā;
Veḷuriyārucirā citrā, dhārayanti sunimmitā.
What they call Sudhammā—behold, this assembly hall is seen! Beautiful, varied, and well-constructed, it is supported by beryl pillars.
‘Cái mà họ gọi là Sudhammā, hãy xem, pháp đường đang hiện ra; đẹp đẽ bằng ngọc lưu ly, rực rỡ, được chống đỡ bởi (những cột trụ) được khéo làm.
580.
580.
580.
‘‘Aṭṭhaṃsā sukatā thambhā, sabbe veḷuriyāmayā;
Yattha devā tāvatiṃsā, sabbe indapurohitā.
‘Octagonal, well-made pillars, all of lapis lazuli; where the Tāvatiṃsa gods, all with Indra as their chief, gather.
‘Những cột trụ hình tám cạnh, được làm khéo léo, tất cả đều bằng ngọc lưu ly; nơi mà các vị trời Tāvatiṃsā, tất cả đều có trời Đế Thích dẫn đầu.
581.
581.
581.
‘‘Atthaṃ devamanussānaṃ, cintayantā samacchare;
Pavisetena rājīsi, devānaṃ anumodanaṃ’’.
‘Reflecting on the welfare of gods and humans, they assemble harmoniously; enter, royal sage, to the gods’ approval.’
‘Họ tụ họp lại, suy tư về lợi ích của chư Thiên và loài người; xin bậc vương giả hãy đi vào bằng lối này, (để nhận) sự hoan nghênh của chư Thiên’.
582.
582.
582.
‘‘Taṃ devā paṭinandiṃsu, disvā rājānamāgataṃ;
‘‘Svāgataṃ te mahārāja, atho te adurāgataṃ;
Nisīda dāni rājīsi, devarājassa santike’’.
‘The gods rejoiced, seeing the king arrived: “Welcome, great king! Your coming is indeed opportune. Sit now, royal sage, near the king of gods.”’
‘Chư Thiên đã hoan nghênh vị ấy, khi thấy đức vua đã đến: ‘Xin chào mừng ngài, hỡi Đại Vương, và chuyến đi của ngài thật tốt đẹp; bây giờ, xin bậc vương giả hãy ngồi xuống, ở gần bên Vua Trời’.
583.
583.
583.
‘‘Sakkopi paṭinandittha †, vedehaṃ mithilaggahaṃ;
Nimantayittha † kāmehi, āsanena ca vāsavo.
‘Sakka too welcomed Vedeha, the lord of Mithilā. Vāsava invited him with sensual pleasures and a seat.
‘Trời Đế Thích cũng đã hoan nghênh vị vua xứ Videha, chúa tể của Mithilā; Vāsava đã mời mọc vị ấy với các dục lạc và với chỗ ngồi.
584.
584.
584.
‘‘Sādhu khosi anuppatto, āvāsaṃ vasavattinaṃ;
Vasa devesu rājīsi, sabbakāmasamiddhisu;
Tāvatiṃsesu devesu, bhuñja kāme amānuse’’.
‘Well have you arrived at the abode of the sovereign. Dwell among the gods, royal sage, amidst the fulfillment of all desires; among the Tāvatiṃsa gods, enjoy divine pleasures.’
‘Thật tốt thay, ngài đã đến được nơi ở của các bậc tự tại; xin bậc vương giả hãy sống giữa chư Thiên, những vị thành tựu mọi dục lạc; giữa các vị trời Tāvatiṃsa, hãy hưởng thụ các dục lạc phi nhân’.
585.
585.
585.
‘‘Yathā yācitakaṃ yānaṃ, yathā yācitakaṃ dhanaṃ;
Evaṃsampadamevetaṃ, yaṃ parato dānapaccayā.
‘Like a borrowed chariot, like borrowed wealth, such is this attainment that comes from gifts from others.’
‘Giống như cỗ xe đi mượn, giống như của cải đi mượn; sự thành tựu này cũng giống như vậy, là cái do sự bố thí của người khác làm duyên.
586.
586.
586.
‘‘Na cāhametamicchāmi, yaṃ parato dānapaccayā;
Sayaṃkatāni puññāni, taṃ me āveṇikaṃ † dhanaṃ.
‘I do not desire that which comes from gifts from others. My own merits, self-made, that is my exclusive treasure.’
‘Và tôi không mong muốn điều này, là cái do sự bố thí của người khác làm duyên; các phước nghiệp do chính tôi đã làm, đó là tài sản riêng của tôi.
587.
587.
587.
‘‘Sohaṃ gantvā manussesu, kāhāmi kusalaṃ bahuṃ;
Dānena samacariyāya, saṃyamena damena ca;
Yaṃ katvā sukhito hoti, na ca pacchānutappati’’.
‘So I, going among humans, will perform many wholesome deeds: through generosity, even conduct, restraint, and self-control. Having done which, one is happy and does not later regret.’
‘Tôi ấy, sau khi đi đến cõi người, sẽ làm nhiều điều thiện; bằng sự bố thí, sự hành xử bình đẳng, sự tự chế, và sự điều phục; việc mà sau khi làm, người ta được an lạc, và không hối hận về sau’.
588.
588.
588.
‘‘Bahūpakāro no bhavaṃ, mātali devasārathi;
Yo me kalyāṇakammānaṃ, pāpānaṃ paṭidassayi’’ †.
‘You have been of great service to me, Mātali, divine charioteer, for you have shown me the fruits of wholesome and evil deeds.’
‘Ngài đã giúp đỡ tôi rất nhiều, Mātali, người đánh xe của chư Thiên; ngài là người đã chỉ cho tôi (quả báo của) các nghiệp thiện và các nghiệp ác’.
589.
589.
589.
‘‘Idaṃ vatvā nimirājā, vedeho mithilaggaho;
Puthuyaññaṃ yajitvāna, saṃyamaṃ ajjhupāgamī’’ti.
‘Having said this, King Nimi, Vedeha, the lord of Mithilā, having performed an extensive sacrifice, undertook self-restraint.’
‘Sau khi nói điều này, vua Nimi, người xứ Videha, chúa tể của Mithilā; sau khi đã thực hiện nhiều sự cúng dường, đã đi đến sự tự chế’.
Nimijātakaṃ † catutthaṃ.
The Nimi Jātaka, the Fourth.
Bổn sanh Nimi, thứ tư.